Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây ở nước ta có một bộ phận không nhỏ học sinh – sinh viên có biểu hiện lệch lạc về nhân cách và về đạo đức, thiếu kỹ năng sống: thụ động trong cu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN TIẾN DŨNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỎ THÔNG THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ,
TỈNH ĐIỆN BIÊN TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN TIẾN DŨNG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỎ THÔNG THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ,
TỈNH ĐIỆN BIÊN TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VŨ BÍCH HIỀN
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các Quý thầy, Quý cô và
sự nỗ lực của bản thân, tác giả đã hoàn thành luận văn khoa học này
Tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo, cán bộ Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu của mình
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới
TS Nguyễn Vũ Bích Hiền, người hướng dẫn khoa học, đầy trách nhiệm, tận
tâm đã giúp đỡ tác giả trong việc định hướng nghiên cứu cũng như trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn các cán bộ quản lý, các nhà giáo, các em học sinh và cha mẹ học sinh của trường Ttrung học phổ thông thành phố Điện Biên Phủ, gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, cộng tác và ủng hộ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình
Mặc dù đã nỗ lực hết mình trong học tập, nghiên cứu lý luận, khảo sát thực tiễn, nhưng chắc chắn tác giả không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp và tất cả những
ai quan tâm đến đề tài này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Tiến Dũng
Trang 4và Văn hóa Liên hợp quốc
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt ii
Danh mục các bảng vii
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Câu hỏi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Phương pháp nghiên cứu 4
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
10 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Ở ngoài nước 6
1.1.2 Ở trong nước 9
1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài 11
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục 11
1.2.2 Quản lý trường học 16
1.2.3 Kỹ năng sống 17
1.2.4 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống 19
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống 19
Trang 61.3 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường trung học
phổ thông 20
1.3.1 Mục đích của giáo dục kỹ năng sống 20
1.3.2 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT 20
1.3.3 Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng cho học sinh THPT 27
1.3.4 Các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT 32
1.3.5 Yêu cầu về cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường THPT 33
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT 34
1.4.1 Quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường – vai trò của Hiệu trưởng nhà trường 34
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống 36
1.5 Yếu tố tác động tới hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường THPT trong bối cảnh hiện nay 40
1.5.1 Các yếu tố thuộc về chương trình giáo dục trung học phổ thông 40
1.5.2 Các yếu tố thuộc về môi trường gia đình và xã hội 43
1.5.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT 45
Tiểu kết chương 1 47
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT TP ĐIỆN BIÊN PHỦ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 48
2.1 Sơ lược tình hình giáo dục của tỉnh Điện Biên 48
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên 48
2.1.2 Tình hình giáo dục của tỉnh Điện Biên 49
2.1.3 Khái quát về Giáo dục ở trường THPT TP Điện Biên Phủ của tỉnh Điện Biên 54
Trang 72.2 Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường THPT TP
Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 58
2.2.1 Nhận thức của cha mẹ học sinh và học sinh về vai trò của hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường 59
2.2.2 Thực trạng thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống 61
2.2.3 Vai trò và sự phối hợp của các lực lượng giáo dục 70
2.2.4 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 72
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường THPT TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 72
2.3.1 Thực trạng quản lý chương trình giáo dục kỹ năng sống của BGH nhà trường 72
2.3.2 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo các lực lượng giáo dục tham gia tổ chức hoạt động giáo dục KNS 74
2.3.3 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất và tài chính cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống 79
2.4 Đánh giá thực trạng 79
2.4.1 Điểm mạnh 79
2.4.2 Điểm yếu 80
2.4.3 Thời cơ 81
2.4.4 Thách thức 81
Tiểu kết chương 2 82
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT TP ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN 84
3.1 Một số nguyên tắc xây dựng các biện pháp 84
3.1.1 Đảm bảo tính thống nhất thực hiện mục tiêu GDTHPT 84
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 85
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 86
Trang 83.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 87
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường THPT TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 88
3.2.1 Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục kỹ năng sống phù hợp với học sinh và điều kiện thực tế của nhà trường 88
3.2.2 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức, kỹ năng tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho thầy và trò nhà trường 90
3.2.3 Chỉ đạo xây dựng chương trình tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào các bộ môn 93
3.2.4 Chỉ đạo tăng cường thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 96
3.2.5 Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục KNS cho học sinh của BGH nhà trường 100
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 103
3.4 Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 105
Tiểu kết chương 3 110
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 117
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Trình độ đào tạo của cán bộ QLGD 52
Bảng 2.2 Trình độ đào tạo của giáo viên 52
Bảng 2.3 Thống kê số lớp, số học sinh 55
Bảng 2.4 Thống kê kết quả xếp loại hạnh kiểm, học lực 57
Bảng 2.5 Nhận thức của CMHS và HS về sự cần thiết của hoạt động GDKNS 60
Bảng 2.6 Mức độ thực hiện một số kỹ năng sống của học sinh 61
Bảng 2.7 Thực trạng giáo viên sử dụng phương pháp trong giáo dục KNS 63
Bảng 2.8 Đánh giá mức độ thực hiện GDKNS thông qua việc tích hợp vào các bộ môn văn hóa 64
Bảng 2.9 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục KNS của GVCN 65
Bảng 2.10 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục kỹ năng sống của BCH Đoàn trường 67
Bảng 2.11 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện giáo dục kỹ năng sống thông qua HĐGDNGLL 69
Bảng 2.12 Đối tượng khảo sát 70
Bảng 2.13 Đánh giá về vai trò của các lực lượng giáo dục 70
Bảng 2.14 Thực trạng về việc phối hợp giữa các lực lượng giáo dục 71
Bảng 2.15 Thực trạng quản lý GV bộ môn tích hợp hoạt động GDKNS 74
Bảng 2.16 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo GVCN tham gia hoạt động GDKNS 75
Bảng 2.17 Thực trạng tổ chức, chỉ đạo BCH Đoàn trường tham gia HĐ GDKNS 77
Bảng 2.18 Thực trạng quản lý việc tích hợp GDKNS thông qua hoạt động GDNGLL 78
Bảng 3.1: Kế hoạch dạy học tích hợp GDKNS vào bộ môn Sinh lớp 11 95
Bảng 3.2: Kế hoạch dạy học tích hợp GDKNS vào bộ môn GDCD lớp 10 95
Bảng 3.3: Kế hoạch tích hợp GDKNS vào hoạt động GDNGLL 97
Bảng 3.4 Đối tượng khảo sát 105
Bảng 3.5 Kết quả kiểm chứng về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh nhà trường 106
Bảng 3.6 Tổng hợp khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng HSG 108
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Nhận thức của CMHS và HS về sự cần thiết của hoạt động GDKNS 60 Biểu đồ 3.1 Mối liên quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 109
Sơ đồ 1.1 Khái quát quá trình quản lý 13
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục
KNS cho học sinh ở Trường THPT TP Điện Biên Phủ 104
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây ở nước ta có một bộ phận không nhỏ học sinh – sinh viên có biểu hiện lệch lạc về nhân cách và về đạo đức, thiếu kỹ năng sống: thụ động trong cuộc sống hàng ngày, không thể hiện được khả năng bản thân, có thái độ tiêu cực khi mâu thuẫn với bè bạn, gia đình, thầy cô giáo, lúng túng khi xử lý các tình huống phát sinh trong cuộc sống, có lối sống không khoa học, hiệu quả…thậm chí còn có xu thế phát triển lệch lạc về nhân cách: thờ ơ, vô cảm trước nỗi đau của đồng loại, thiên tai, bệnh dịch, nghèo đói Đáng lo là có những biểu hiện suy đồi đạo đức và vi phạm pháp luật Vì vậy, với mục tiêu của giáo dục là; đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục nước ta đã và đang đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là tiếp cận giáo dục giá trị
sống, hình thành kỹ năng sống cho người học đó là: "Học để biết, Học để làm, Học
để khẳng định mình và Học để cùng chung sống” [33]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: "Phát triển giáo dục là
quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt" [13]
Điều 2 Luật giáo dục được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày
14 tháng 6 năm 2005 đã ghi rõ: "Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH); hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [21]
Theo Quyết định số 537/QĐ-UBND ngày 26 tháng 6 năm 2012 của Uỷ ban
Trang 12nhân dân tỉnh Điện Biên về việc phê duyệt đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh Điện Biên đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, một trong các nhiệm vụ chủ
yếu của ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên là “Tập trung thực hiện đồng
bộ, quyết liệt các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục “mũi nhọn”, coi trọng cả ba khâu: Dạy làm người, dạy chữ và dạy nghề …” [30]
Như vậy, hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các trường Trung học phổ thông (THPT) là phù hợp với mục tiêu chung của ngành giáo dục và đào tạo, góp phần đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước
Trường THPT thành phố (TP) Điện Biên Phủ được thành lập năm 1962 Trong hơn 50 năm xây dựng và phát triển, trường đã vinh dự được đón nhận nhiều phần thưởng cao quí của Đảng và nhà nước, của địa phương và của ngành Hiện tại, nhà trường có vị trí tại trung tâm thành phố Điện Biên Phủ, nơi có trình độ dân trí tương đối cao so với mặt bằng chung của tỉnh Điện Biên, đa số gia đình học sinh quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất cho con em học tập, đồng thời cũng đặt nhiều kỳ vọng vào nhà trường Hiện nhà trường đang trong lộ trình xây dựng và phấn đấu trở thành trường trọng điểm về chất lượng của ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Điện Biên
Trong những năm học gần đây, công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được xác định là một mục tiêu quan trọng trong hoạt động giáo dục của nhà trường Kết quả của hoạt động đó được xem là thước đo hiệu quả, chất lượng đào tạo Sự cố gắng phấn đấu của mỗi giáo viên, học sinh và cũng là chỉ số quan trọng hàng đầu trong việc xác định chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường
Tuy nhiên, hiện nay nhận thức về kỹ năng sống cũng như việc thể chế hóa giáo dục kỹ năng sống trong giáo dục phổ thông ở nước ta nói chung và ở trường THPT TP Điện Biên Phủ nói riêng chưa thật cụ thể Việc hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở các cấp học, bậc học còn nhiều hạn chế Các chương trình giáo dục kỹ năng trong các nhà trường hiệu quả không cao, công
tác quản lý chưa sát sao Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn rất lúng
túng, việc quản lý và chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng sống chưa triệt để, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống còn đơn điệu, chưa thực sự thu hút được học sinh tích cực tham gia hoạt động
Trang 13Xuất phát từ những đòi hỏi thực tiễn về giáo dục KNS cho học sinh của nhà
trường chúng tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay”
để nghiên cứu và thực hiện trong thời gian học tập của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tác giả đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên để nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận của việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường phổ thông làm cơ sở lý luận của đề tài
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay nhằm nâng cao kết quả giáo dục toàn diện của nhà trường
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý Hoạt động giáo dục ở trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT
5 Câu hỏi nghiên cứu
Bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay đặt ra những thuận lợi, thách thức gì mới cho hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường THPT?.Thực tế hiện nay các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống có những bất cập và hạn chế gì? Phải có những biện pháp quản lý nào mới và phù hợp để quản lý hoạt động giáo dục
kĩ năng sống cho học sinh ở Trường THPT thành phố Điện Biên Phủ trong bối cảnh hiện nay đạt hiệu quả cao nhất?
6 Giả thuyết khoa học
Trang 14Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở Trường THPT thành phố Điện Biên Phủ trong những năm học qua đã đạt được những thành tích đáng khích
lệ, tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, hoạt động này còn gặp phải những khó khăn
nhất định dẫn tới việc chưa có hiệu quả cao Vì vậy, nếu xây dựng được các biện
pháp quản lý phù hợp như: kế hoạch hóa hoạt động giáo dục kỹ năng sống phù hợp với đặc điểm của nhà trường, chỉ đạo phối hợp các lực lượng đồng bộ cùng tham gia thực hiện hoạt động và cập nhật phương hướng đổi mới giáo dục trong quản lý trong hoạt động giáo dục kỹ năng sống thì hoạt động này sẽ đạt được chất lượng, hiệu quả cao, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường
- Giới hạn thời gian nghiên cứu: Từ năm học 2009-2010 đến 2013-2014
- Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Trường THPT TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
- Giới hạn khách thể khảo sát: 15 cán bộ quản lý (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn), 15 đồng chí trong ban chấp hành Đoàn trường, 70 giáo viên, 100 học sinh và 100 phụ huynh học sinh trường THPT TP Điện Biên Phủ
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: các văn bản về chủ chương, chính sách, quy định, định hướng của Đảng, chính phủ, của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở Giáo dục và Đào tạo Tỉnh Điện Biên về việc quản
lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh; các sách báo, các bài viết của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục học,….làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: xây dựng bảng hỏi nhằm tìm hiểu
thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT TP Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay
* Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: nhằm phân tích kết quả của
hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh để khẳng định tính hiệu quả của các
Trang 15biện pháp quản lý
* Phương pháp quan sát: dùng để thu thập thông tin có liên quan đến thực
trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT
TP ĐIện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
* Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: trao đổi và lấy ý kiến đánh giá, nhận
xét từ các chuyên gia về vấn đề nghiên cứu của đề tài
* Phương pháp phỏng vấn: tiến hành trao đổi trực tiếp với học sinh, với thầy
cô giáo và các nhà quản lý giáo dục trong nhà trường về việc triển khai và quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THPT TP Điện Biên Phủ
* Phương pháp thống kê toán học: phương pháp thống kê toán học được sử
dụng để xử lý và phân tích các kết quả nghiên cứu Phần mềm được sử dụng trong
đề tài là: Excell
9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
9.1 Ý nghĩa lý thuyết của đề tài
Đề tài góp phần tổng kết, bổ sung những lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh ở trường THPT
9.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục kĩ năng sống nói riêng, chất lượng giáo dục toàn diện nói chung của Trường THPT thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng để vận dụng vào điều kiện thực tế của các trường THPT khác trong tỉnh và cả nước
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở Lý luận của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh ở Trường Trung học phổ thông trong bối cảnh hiện nay
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh ở Trường Trung học phổ thông Thành Phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
ở Trường Trung học phổ thông Thành Phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên trong bối cảnh hiện nay
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG NHÀ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở ngoài nước
Ngay từ thời xã hội nguyên thủy hay còn gọi là công xã thị tộc là một tổ chức
xã hội sơ khai đầu tiên của loài người Con người đã có kỹ năng sống để thích nghi với cuộc sống và quan hệ trong cộng đồng Kỹ năng sống được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua cách truyền miệng cho các thế hệ sau về cách săn bắn, trồng trọt và cách trốn tránh kẻ thù…Với cách truyền khẩu như vậy con người
đã ngày càng tiến hóa và mở rộng vốn hiểu biết của mình và xây dựng một xã hội văn minh như ngày nay Như vậy, có thể khẳng định kỹ năng sống của con người đã được hình thành khi con người hình thành xã hội Ngày nay xã hội càng ngày càng phát triển thì kỹ năng sống cũng mở rộng phạm vi không chỉ là bản năng sống mà còn là khả năng thích ứng với xã hội Trong đó, mỗi chế độ xã hội bao giờ cũng có
tư tưởng giáo dục chính thống phục vụ cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ quyền lợi cho một số ít hoặc số đông các thành viên trong xã hội Nhưng dù
ở chế độ xã hội nào thì mục tiêu cuối cùng của giáo dục là nhằm phát triển toàn diện nhân cách của người được giáo dục theo chuẩn mực của xã hội đó qui định Sự phát triển toàn diện nhân cách bao gồm sự phát triển về thể chất (thể lực, thể hình, thể năng), tâm trí (trí tuệ, tình cảm) và năng lực thực tiễn (theo Các Mác thì đó là năng lực kỹ thuật tổng hợp, phương tây gọi là kỹ năng xã hội, UNESCO gọi là KNS) Để đạt được mục tiêu đó, người học (học sinh) không chỉ là khách thể mà cuối cùng phải là chủ thể của quá trình nhận thức và quá trình tự giáo dục, tự hoàn thiện nhân cách Vì vậy mà việc giáo dục không chỉ diễn ra trên lớp, trong trường học mà còn phải được thực hiện ở ngoài lớp, ngoài nhà trường theo phương thức kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội thông qua các hình thức hoạt động trong môi trường thiên nhiên, sinh hoạt tập thể
Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa nội dung GDKNS vào trong nhà
Trang 17trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau trong đó đã có 143 nước đưa vào chương trình chính khóa ở bậc tiểu học và bậc trung học [9]
Ở các nước phương Tây, kỹ năng sống từ lâu đã được quan tâm Mô hình giáo dục của Pháp thế kỷ XXI theo đề xuất của Edgard Morin là phải giảng dạy về hoàn cảnh con người (hiểu rõ con người là gì, con người sống và hoạt động như thế nào, trong những điều kiện nào, con người xử lý bằng cách nào), và học cách sống Triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỉ XXI cũng cho rằng cần nâng cao kỹ năng giao lưu qua nói, đọc, nghe, viết, cần phát triển khả năng suy ngẫm… còn người Nhật đi vào thế kỉ XXI với mô hình không đánh giá học sinh, sinh viên qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn [3, Tr.203 ]
Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.S Department of Labor) và Hiệp hội đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây
đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc:
1 Kỹ năng học và tự học (learning to learn)
2 Kỹ năng lắng nghe (Listening skills)
3 Kỹ năng thuyết trình (Oral communication skills)
4 Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
5 Kỹ năng tư duy sáng tạo (Creative thinking skills)
6 Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem)
7 Kỹ năng đặt mục tiêu, tạo động lực làm việc (Goal setting, motivation skills)
8 Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp (Personal and career development skills)
9 Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (Interpersonal skills)
10 Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork)
11 Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills)
12 Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả (Organizational effectiveness)
13 Kỹ năng lãnh đạo bản thân (Leadership skills)
Tại Úc, Hội đồng kinh doanh Úc (The Business Council of Australia – BCA)
và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce
and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (the
Trang 18Department of Education, Science and Training – DEST) và Hội đồng giáo dục
quốc gia Úc (the Australian National Training Authority -ANTA) đã xuất bản cuốn
“Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002) Cuốn sách cho thấy các kỹ năng và
kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có Kỹ năng hành nghề (employability skills), là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8
kỹ năng như sau:
1 Kỹ năng giao tiếp (Communication skills)
2 Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork skills)
3 Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills)
4 Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills)
5 Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills)
6 Kỹ năng quản lý bản thân (Self-management skills)
7 Kỹ năng học tập (Learning skills)
8 Kỹ năng công nghệ (Technology skills)
Chính phủ Canada cũng có một bộ phụ trách về việc phát triển kỹ năng cho người lao động Bộ Phát triển Nguồn Nhân lực và Kỹ năng Canada (Human Resources and Skills Development Canada – HRSDC), có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lực cạnh tranh, giúp người Canada nâng cao năng lực ra quyết định và năng suất làm việc để nâng cao chất lượng cuộc sống Bộ này cũng có những nghiên cứu đề đưa ra danh sách các kỹ năng cần thiết đối với người lao động Conference Board of Canada là một tổ chức phi lợi nhuận của Canada dành riêng cho nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, cũng như năng lực hoạt động các tổ chức và các vấn đề chính sách công cộng Tổ chức này cũng đã có nghiên cứu và đưa ra danh sách các kỹ năng hành nghề cho thế kỷ 21 (Employability Skills 2000+) bao gồm các kỹ năng như:
1 Kỹ năng giao tiếp (Communication)
2 Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving)
3 Kỹ năng tư duy và hành vi tích cực (Positive attitudes and behaviours)
4 Kỹ năng thích ứng (Adaptability)
Trang 195 Kỹ năng làm việc với con người (Working with others)
6 Kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán (Science, technology and mathematics skills)[17]
Việc giáo dục kỹ năng sống ở khu vực đã được nghiên cứu và triển khai ở nhiều nước Ở Lào, giáo dục kỹ năng sống được lồng ghép vào chương trình đào tạo chính qui, không chính qui và các trường sư phạm đào tạo giáo viên từ năm 1997 Tại Campuchia chương trình giáo dục chính qui đã thực hiện việc tích hợp dạy kỹ năng sống vào bài học của các môn cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12 Tại Malaysia, Bộ
GD coi KNS là môn kỹ năng của cuộc sống [7]
Tháng 12 / 2003 tại Bali – Inđônesia đã diễn ra hội thảo về giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy với sự tham gia của 15 nước Qua báo cáo của các nước cho thấy có nhiều điểm chung và cũng có nhiều điểm riêng trong quan niệm
về giáo dục KNS của các nước Mục tiêu của giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy ở hội thảo Bali là nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống [7]
lý giáo dục "Học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội", Bác đã từng nói: "Giáo dục phải theo hoàn cảnh và điều kiện" và
"Một chương trình nhỏ mà được thực hành hẳn hoi còn hơn một trăm chương trình lớn mà không làm được"[2]
Trong xu thế hội nhập, nhiệm vụ giáo dục của các nước là đào tạo thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng lực
Trang 20tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội Nói cách khác là đào tạo một lớp người mới tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng thích ứng cao với những biến động của cuộc sống
Ở Việt Nam, mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được qui định tại điều 27 -
Luật Giáo dục 2005 như sau: "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc" [21] Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương
trình của UNICEF (1996) [34]: "Giáo dục KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống
HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường" Giai đoạn đầu của
chương trình, khái niệm KNS được giới thiệu chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như:
Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu Ở giai đoạn này chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khoẻ của thanh thiếu niên Giai đoạn hai của
chương trình mang tên: "Giáo dục sống khoẻ mạnh và KNS" trong đó nội dung của
khái niệm KNS và giáo dục KNS đã được phát triển sâu sắc hơn Ngành Giáo dục
đã triển khai chương trình đưa giáo dục KNS vào hệ thống giáo dục chính qui và không chính qui Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục KNS Các nội dung giáo dục KNS cơ bản đã được triển khai ở các cấp THCS gồm năng lực thích nghi, năng lực hành động, năng lực ứng xử, năng lực tự học suốt đời; định hướng học sinh: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định
Việc giáo dục KNS ở các bậc học THCS và THPT được thực hiện chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt động giáo dục của nhà trường cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ Cụ thể với cấp THCS những môn học được khai thác nhằm giáo dục KNS cho học sinh là môn Giáo dục công dân, môn Công nghệ, Sinh học…
Đã có một số công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến vấn đề KNS nói
chung và KNS trong nhà trường nói riêng như: “Kỹ năng sống cho tuổi vị thành
Trang 21niên” của tác giả Nguyễn Thị Oanh [26]; “Cẩm nang tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh thiếu niên” của tác giả Phạm Văn Nhân [24]; Kỹ năng thanh niên tình nguyện” của tác giả Trần Thời “Giáo dục kỹ năng sống trong môn Giáo dục công dân ở trường THCS” của tác giả Đặng Thúy Anh – Lê Minh Châu Trong cuốn
“Chuyên đề giáo dục KNS” - tác giả Nguyễn Thanh Bình (2009)[7] đã đề cập đến
vấn đề xã hội hoá giáo dục Mầm non, Tiểu học và THCS, THPT trên địa bàn xã phường Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ
Phương Liên với tài liệu “Phương pháp giáo dục Giá trị sống – Kỹ năng sống cho
học sinh phổ thông” [19] và Bài giảng “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THCS” của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Đinh Thị Kim Thoa- Đặng
Hoàng Minh…[20] Đặc biệt trong các tài liệu này vấn đề quản lý nhà nước được đề cập đến trong bối cảnh xã hội hoá giáo dục và đặt ra những vấn đề liên quan đến giáo dục pháp luật, giáo dục KNS[15] Đẩy mạnh và tăng cường giáo dục KNS đồng thời phải tổ chức giáo dục KNS cho các em theo tinh thần xã hội hoá Có thể nhận thấy ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề giáo dục KNS, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu một số lĩnh vực nội dung và phương thức giáo dục KNS, các đề tài đã phân tích làm rõ thực trạng trước tính cấp bách của vấn đề giáo dục KNS, một số đề tài đã đề cập đến những hình thức giáo dục kỹ năng sống cụ thể trong nhà trường phổ thông, đề xuất các biện pháp giáo dục KNS cho học sinh, sinh viên Tuy nhiên hiện nay ở các trường THPT việc giáo dục KNS cho học sinh mới chỉ được thực hiện ở mức độ tích hợp ở một số môn học: Giáo dục công dân, Công nghệ, mà chưa khai thác hết nội lực của việc giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động tập thể, hoạt động GDNGLL trong nhà trường để thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục KNS cho học sinh THPT trong bối cảnh hiện nay
1.2 Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài
1.2.1 Quản lý và quản lý giáo dục
1.2.1.1 Quản lý
Quản lý (thuật ngữ tiếng Anh là Management, tiếng latinh manum agere -
điều khiển bằng tay) đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay
Trang 22đổi các nguồn tài nguyên [1]
Khái niệm “quản lý” được hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri
thức nhân loại cũng như nhu cầu của thực tiễn nó được xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô
và vi mô Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung
Chính vì thế quản lý được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau:
- Cách tiếp cận theo thực tiễn
Trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm thông thường qua các trường hợp cụ thể Từ việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng, để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự
- Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống
Cách tiếp cận này cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối liên hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định
- Cách tiếp cận theo thuyết hành vi
Dựa trên những ý tưởng cho rằng quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu
thì “con người nên hiểu con người” Với học thuyết này giúp con người quản lý
ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền.Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: định nghĩa quản lý một cách kinh điển
nhất là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý)
đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức
Trang 23vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12, tr.9]
Ngày nay hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình
đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo), và kiểm tra”
Theo tác giả Trần Khánh Đức:“Quản lý là hoạt động có ý thức của con
người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất” [14]
Bất cứ một xã hội nào cũng được xem như là một hệ quản lý: một nhà máy, một xí nghiệp, một trường học hay một quốc gia Mỗi hệ quản lý bao gồm hai bộ phận gắn bó khăng khít với nhau:
+ Bộ phận quản lý (giữ vai trò chủ thể quản lý) có chức năng điều khiển hệ quản lý, làm cho nó vận hành với mục tiêu đã đặt ra
+ Bộ phận bị quản lý (đối tượng quản lý - giữ vai trò khách thể quản lý) gồm những người thừa hành trực tiếp sản xuất và bản thân quá trình sản xuất
Trong quản lý chủ thể quản lý và đối tượng quản lý lại có mối quan hệ hữu
cơ, tác động qua lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Khi mục tiêu của
tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua chủ thể quản lý
Từ sự phân tích cách tiếp cận và quan niệm của các học giả đã nêu ta có thể
hiểu: “Quản lý là tác động có định hướng có chủ định của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu đã định và làm cho nó vận hành tiến lên một trạng thái mới về chất” [12, tr.9]
Quá trình quản lý có thể được khái quát bằng sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1.1 Khái quát quá trình quản lý
Trang 24Theo quan điểm của tổ chức UNESCO, hệ thống các chức năng quản lý bao gồm 8 vấn đề sau: xác định nhu cầu – thẩm định và phân tích dữ liệu – xác định mục tiêu kế hoạch hoá (bao gồm cả phân công trách nhiệm, phân phối các nguồn lực, lập chương trình hành động) – triển khai công việc – điều chỉnh – đánh giá – sử
dụng liên hệ và tái xác định các vấn đề cho quá trình quản lý tiếp theo
Theo quan điểm quản lý hiện đại, từ các hệ thống chức năng quản lý nêu trên,
có thể khái quát một số chức năng cơ bản sau:
1 Kế hoạch
2 Tổ chức
3 Chỉ đạo (bao gồm cả sửa chữa, uốn nắn và phối hợp)
4 Kiểm tra (bao gồm cả thanh tra, kiểm soát và kiểm kê)
Như vậy, tuy có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau (khác về
số lượng chức năng và tên gọi các chức năng) Suy về thực chất các hoạt động có những bước đi giống nhau để đạt tới các mục tiêu Ngày nay còn có thể có các tác giả trình bày chức năng quản lý nói chung (hoặc chức năng QLGD nói riêng) theo những quan điểm phân loại khác nhau, nhưng nền tảng của vấn đề vẫn là 4 chức năng cơ bản theo quan điểm quản lý hiện đại
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Nếu xem quản lý là một thuộc tính bất biến, nội tại của mọi hoạt động xã hội, thì quản lý giáo dục cùng là một thuộc tính tất yếu của mọi hoạt động giáo dục có mục đích
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý giáo dục, song thường người ta đưa ra quan niệm quản lý giáo dục theo hai cấp độ chủ yếu:
QLGD Vĩ mô
Vi mô
Quản lý cấp vĩ mô:
Quản lý vĩ mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nền giáo dục (hệ thống
giáo dục) và quản lý vi mô tương ứng với khái niệm về quản lý một nhà trường
“Ở cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống giáo dục quốc dân nhằm huy động và tổ chức thực hiện có hiệu quả các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát
Trang 25triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia”
Như vậy, quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm làm cho toàn bộ hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra
Chủ thể quản lý điều khiển các thành tố trong hệ thống quản lý thông qua hoạt động của các tổ chức thành viên trong hệ thống đó
Tính chất chỉ huy – chấp hành là đặc trưng nổi trội trong quan hệ quản lý Tuy nhiên, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều có mục đích chung
Quản lý giáo dục có nhiệm vụ tạo ra và duy trì một môi trường thuận lợi để mỗi cá nhân có thể hoạt động đạt được hiệu quả cao trong quá trình đạt đến mục đích chung
Ở cấp độ vi mô
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào hệ thống tổ chức giáo dục của nhà trường nhằm điều khiển các thành tố trong hệ thống phối hợp hoạt động theo đúng chức năng, đúng kế hoạch, đảm bảo cho quá trình giáo dục đạt được mục đích, mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao nhất”
Tiếp cận theo góc độ điều khiển học, có thể hiểu quá trình quản lý giáo dục là hoạt động tổ chức và điều khiển quá trình giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích, mục tiêu giáo dục của nhà trường
Theo khái niệm trên, quá trình quản lý giáo dục được hiểu như một quá trình vận động của các thành tố có mối quan hệ tương tác lẫn nhau trong hệ thống tổ chức của nhà trường Hệ thống đó bao gồm các thành tố cơ bản là: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, nội dung, phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý Các thành tố đó luôn vận động trong mối liên hệ tương tác lẫn nhau, đồng thời diễn ra trong sự chi phối, tác động qua lại với môi trường kinh tế, chính trị, xã hội chung quanh
+ Như vậy, thuật ngữ “quản lý nhà trường” có thể xem là đồng nghĩa với
quản lý giáo dục ở tầm vi mô Song cần nhận rõ tác động của chủ thể quản lý đến nhà trường có hai loại tác động từ bên ngoài và tác động bên trong nhà trường
+ Tác động từ bên ngoài nhà trường là tác động của các cơ quan quản lý giáo
Trang 26dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường
+ Tác động từ bên trong là hoạt động của các chủ thể quản lý của chính nhà trường nhằm huy động, điều phối, giám sát các lực lượng giáo dục của nhà trường thực hiện có chiến lược, có hiệu quả các nhiệm vụ dạy học và giáo dục đặt ra
Đó là sự tác động của thủ trưởng, người chỉ huy cấp trên đối với các tổ chức cấp dưới thuộc quyền Sự tác động đó phải có mục đích, có kế hoạch và phải tuân theo các nguyên tắc quản lý
Tóm lại: Quá trình quản lý giáo dục là hoạt động của các chủ thể quản lý và
đối tượng quản lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu nhất định nhằm đưa hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu dự kiến và tiến lên trạng thái mới về chất Quản lý giáo dục vừa là một hiện tượng xã hội (hiện tượng hoạt động, lao động, công tác), vừa là một loại quá trình xã hội (quá trình quản lý) đồng thời cũng là một hệ thống
xã hội (hệ thống quản lý)
1.2.2 Quản lý trường học
“Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và
tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [35, tr.205]
Có nhiều cấp quản lý trường học, cấp cao nhất là Bộ GD - ĐT, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô Có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở GD -
ĐT ở tỉnh, thành phố và các Phòng Giáo dục ở các quận, huyện Cấp quản lý quan trọng trực tiếp của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý trong các nhà trường
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có, tiến lên một trạng thái phát triển mới, bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục
Công tác quản lý trong nhà trường bao gồm quản lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và sự tác động qua lại giữa nhà trường với các hoạt động ngoài xã hội Quản lý nhà trường như là quản lý một hệ thống bao gồm các thành tố:
- Thành tố tinh thần: mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, các kế hoạch, biện pháp giáo dục
- Thành tố con người: cán bộ giáo viên, nhân viên và học sinh
Trang 27- Thành tố vật chất: cơ sở vật chất, tài chính, các trang thiết bị, phương tiện phục
vụ giảng dạy và học tập
Trọng tâm quản lý nhà trường phổ thông là quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội trên những nội dung sau đây:
- Quản lý hoạt động dạy học
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
- Quản lý hoạt động lao động và hướng nghiệp
- Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp
- Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của đoàn thể
- Quản lý tài chính và quản lý sử dụng cơ sở vật chất
Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống của hiệu trưởng có trong tất cả các thành tố nói trên của quản lý nhà trường Thực chất quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THPT là hướng tới quản lý các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục giúp học sinh hình thành các khả năng tâm lý xã hội, để học sinh nâng cao hiểu biết, củng cố mở rộng kiến thức đã học với đời sống thực tiễn, củng cố các kỹ năng, hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu như: năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực tổ chức, quản lý, hợp tác và cạnh tranh, năng lực hoạt động chính trị xã hội
1.2.3 Kỹ năng sống
Có nhiều quan niệm về KNS do các tổ chức quốc tế, các chuyên gia trong và ngoài nước đưa ra, trong đó có những quan điểm đáng lưu ý sau đây:
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): "KNS là những kỹ năng mang tính tâm lý
xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong các tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày"
Theo Quĩ cứu trợ Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF): "KNS là cách tiếp cận
giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng" [34, tr 113]
Theo Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hoá liên hiệp quốc (UNESCO):
"KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: Học để biết - Học để làm - Học để chung sống - Học để làm người Theo đó KNS được định nghĩa là những năng lực
Trang 28cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày"[33, tr 62]
KNS là những kỹ năng tâm lý xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân
có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống
KNS là một tập hợp các kỹ năng mà con người có được thông qua giảng dạy hoặc kinh nghiệm trực tiếp được sử dụng để xử lý những vấn đề và những câu hỏi thường gặp trong đời sống hàng ngày của con người
Như vậy KNS được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm khả năng năng lực tâm lý xã hội mà còn cả những kỹ năng vận động, KNS được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những năng lực tâm lý xã hội
Từ các khái niệm nêu trên có thể đưa ra khái niệm KNS như sau: “là năng lực cá nhân mà con người có được thông qua giáo dục hoặc kinh nghiệm trực tiếp, nó giúp cho con người có cách ứng xử tích cực và có hiệu quả, đáp ứng mọi biến đổi của đời sống xã hội, sống khoẻ mạnh, an toàn hơn”
Nói đến KNS là nói đến khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp cho con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày Điều đó có nghĩa là người có KNS không chỉ có năng lực thích ứng với những thách thức của cuộc sống mà còn cần phải có sự thay đổi một cách phù hợp và mang tính tích cực
"KNS vừa mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân, nhưng cũng mang tính xã hội vì KNS phụ thuộc vào giai đoạn phát triển lịch sử, các điều kiện kinh tế- xã hội" [2] KNS của mỗi con người được hình thành qua một quá trình xây
dựng những hành vi lành mạnh, thay đổi những hành vi thói quen tiêu cực thông qua trải nghiệm và qua giáo dục Qua trải nghiệm, qua phương pháp thử đúng sai thì đòi hỏi phải lâu dài và nhiều lúc phải trả giá bằng sự thất bại đau đớn Giáo dục, rèn luyện có chủ đích là con đường ngắn nhất để hình thành KNS cho học sinh
"Hoạt động giáo dục là những hoạt động do nhà giáo dục và các cơ sở giáo dục tổ chức theo kế hoạch, chương trình giáo dục, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về chúng để tạo môi trường cho người học tiến hành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc, mục tiêu, chuẩn mực giá trị chung và những biện pháp
Trang 29chung để đạt được trình độ phát triển nhân cách theo yêu cầu mà xã hội đặt ra tương ứng với độ tuổi và trình độ giáo dục mà người học được thụ hưởng" [15]
1.2.4 Hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Giáo dục kỹ năng sống là trang bị cho học sinh những KNS cơ bản, giúp các
em vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng được những cơ hội quý giá trong cuộc sống, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội
Giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh có hiểu biết sâu sắc hơn về động cơ và trách nhiệm có liên quan tới những sự lựa chọn của cá nhân và xã hội một cách tích cực, trở nên mạnh dạn, cởi mở và tự tin hơn
Học sinh biết kiềm chế, giải quyết vấn đề theo hướng tích cực, không bị lôi kéo, vững vàng trước những áp lực tiêu cực của cuộc sống đương đại
Thông qua hoạt động giáo dục kỹ năng sống, học sinh được rèn luyện năng lực tư duy, chất lượng các môn học cũng như chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường được nâng lên
Có rất nhiều KNS mà con người cần học trong suốt cuộc đời, nhưng đối với học sinh THPT, nội dung giáo dục kỹ năng sống cần tập trung vào một số kỹ năng
cơ bản cần thiết sau: kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng từ chối, phòng ngừa cám
dỗ, kỹ năng biết sống lành mạnh, phòng chống tai tệ nạn xã hội, kỹ năng biết tự nhận thức đúng bản thân, kỹ năng biết xác định mục tiêu phù hợp, kỹ năng tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề, kỹ năng kiên định
Có hai cách tiếp cận trong giáo dục kỹ năng sống:
- Các hoạt động tập trung vào kỹ năng cốt lõi như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp ứng xử Theo cách này, bằng hoạt động với chủ đề kỹ năng cụ thể, người học sẽ hiểu về kỹ năng sống đó và vận dụng để giải quyết các tình huống
- Mỗi kỹ năng gắn với một vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và cần vận dụng những kỹ năng khác nhau để giải quyết
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
Quản lý hoạt động giáo dục KNS là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới các đối tượng quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục KNS đạt được kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất Quản lý hoạt động giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường THPT là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý lên
Trang 30tất cả các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục KNS nhằm thực hiện
có hiệu quả mục tiêu giáo dục
Quản lý hoạt động giáo dục KNS là bộ phận của quản lý trường học, bao gồm hàng loạt những hoạt động tiến hành lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của nhà quản lý, của tập thể sư phạm, của các lực lượng giáo dục theo kế hoạch chủ động và chương trình giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết
1.3 Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường trung học phổ thông
1.3.1 Mục đích của giáo dục kỹ năng sống
Theo UNESCO ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: kiến thức,
kỹ năng và thái độ Hai yếu tố sau thuộc về kỹ năng sống, có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh và sự thành công của mỗi người
Bởi vậy, kỹ năng sống sẽ là hành trang không thể thiếu đối với mỗi cá nhân
và đặc biệt là các em học sinh – những chủ nhân tương lai của đất nước
Mục đích của hoạt động giáo dục KNS giúp học sinh hình thành các khả năng tâm lý xã hội, để học sinh nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại, củng cố mở rộng kiến thức đã học với đời sống thực tiễn, củng cố các kỹ năng, hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu (năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực tổ chức, quản lý, hợp tác và cạnh tranh, năng lực hoạt động chính trị xã hội ) giải quyết tốt các vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân
Mục đích hoạt động giáo dục KNS cho học sinh nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của học sinh từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực, có hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng cuộc sống
1.3.2 Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường THPT
Theo công văn số 463/BGDĐT-GDTX ngày 28 tháng 1 năm 2015 về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên thì nội dung giáo dục KNS là:
Giáo dục cho người học những kỹ năng cơ bản, cần thiết, hướng tới hình
Trang 31thành những thói quen tốt giúp người học thành công, đảm bảo vừa phù hợp với thực tiễn và thuần phong mỹ tục Việt Nam vừa hội nhập quốc tế trong giai đoạn công nghiệp hoá đất nước Nội dung giáo dục KNS phải phù hợp với từng lứa tuổi
và tiếp tục được rèn luyện theo mức độ tăng dần Đối với giáo dục phổ thông, việc giáo dục KNS cần tập trung vào những nội dung sau:
Tiếp tục rèn luyện những kỹ năng đã được học ở tiểu học, THCS, tập trung giáo dục những KNS cốt lõi, có ý nghĩa thiết thực cho người học như: kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy phản biện và sáng tạo, kỹ năng giao tiếp và hợp tác, kỹ năng tự nhận thức và cảm thông, kỹ năng quản lý cảm xúc và đương đầu với áp lực, kỹ năng tự học
Như vậy có rất nhiều KNS mà con người cần phải học trong suốt cả cuộc đời Trên cơ sở thực trạng của GDKNS cho học sinh trong nhà trường THPT trong những năm qua và hướng dẫn GDKNS của bộ Giáo dục, có thể đề xuất những nội dung GDKNS cho học sinh THPT bao gồm một số KNS cơ bản sau:
1.3.2.1 Kĩ năng tự nhận thức
Tự nhận thức là tự mình nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân Kĩ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình, như cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,… của bản thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng
Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản của con người, là nền tảng để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả với người khác cũng như để có thể cảm thông được với người khác Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người mới có thể cớ những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu xã hội Ngược lại, đánh giá không đúng về bản thân
có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống và trong giao tiếp với người khác
Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác
1.3.2.2 Kĩ năng xác định giá trị
Trang 32Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ, và thậm chí là thành kiến đối với một điều gì đó…
Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, có thể thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế…
Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình Kĩ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định của mỗi người Kĩ năng này còn giúp người khác biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và niềm tin khác
Giá trị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo các giai đoạn trưởng thành của con người Giá trị phụ thuộc vào giáo dục vào nền văn hóa, vào môi trường sống, học tập và làm việc của cá nhân
1.3.2.3 Kĩ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân
và đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một các phù hợp Kĩ năng xử lý cảm xúc còn có nhiều tên gọi khác như: xử lý cảm xúc, kiềm chế cảm xúc, làm chủ cảm xúc, quản lí cảm xúc
Một người biết kiểm soát cảm xúc thì sẽ góp phần giảm căng thẳng giúp giao tiếp và thương lượng hiệu quả hơn, giải quyết mâu thuẫn một cách hài hòa và mang tính xây dựng hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn
Kĩ năng quản lý cảm xúc cần sự kết hợp với kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng ứng xử với người khác và kĩ năng ứng phó với căng thẳng, đồng thời góp phần củng
cố các kĩ năng này
1.3.2.4 Kĩ năng thể hiện sự tự tin
Tự tin là có niềm tin vào bản thân, tự hài lòng với bản thân, tin rằng mình có thể trở thành một người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ
Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp cá nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày
tỏ suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc ra quyết định và giải quyết
Trang 33vấn đề, thể hiện sự kiên định, đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc sống
Kĩ năng thể hiện sự tự tin là yếu tố cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, ra quyết định, đảm nhận trách nhiệm
1.3.2.5 Kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn
và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn cần thiết
Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại gây tổn thương cho người khác Kĩ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình, nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta, đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống Kĩ năng này cũng giúp kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng
Kĩ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kĩ năng khác như bày tỏ sự cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn, kiếm soát cảm xúc Người có kĩ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối với mong đợi của những người khác, có cách ứng xử khi làm việc cùng và ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những điều người khác quan tâm
và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính đáng
1.3.2.6 Kĩ năng thể hiện sự cảm thông
Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và đặt mình trong hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu và chấp nhận người khác vốn là những người rất khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ
Kĩ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp và ứng xử với người khác, cải thiện các mối quan hệ giao tiếp xã hội, đặc biệt trong bối
Trang 34cảnh đa văn hóa, đa sắc tộc Kĩ năng thể hiện sự cảm thông cũng giúp khuyến khích thái độ quan tâm và hành vi thân thiện, gần gũi với những người cần sự giúp đỡ
Kĩ năng thể hiện sự cảm thông được dựa trên kĩ năng tự nhận thức và kĩ năng xác định giá trị, đồng thời là yếu tố cần thiết trong kĩ năng giao tiếp, giải quyết vấn
đề, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, kiên định và kiềm chế cảm xúc
1.3.2.7 Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn
Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay nhiều người về một vấn đề nào đó
Mâu thuẫn trong cuộc sống hết sức đa dạng thường bắt nguồn từ sự khác nhau về quan điểm, chính kiến, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa,… Mâu thuẫn thường có ảnh hưởng tiêu cực tới những mối quan hệ của các bên
Có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn Mỗi người sẽ có cách giải quyết mâu thuẫn riêng tùy thuộc vào vốn hiểu biết, quan niệm, văn hóa và cách ứng xử cũng như khả năng phân tích tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn
Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình
Yêu cầu trước hết của kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là phải luôn kiềm chế cảm xúc, tránh bị kích động, nóng vội, giữ bình tĩnh trước mọi sự việc để tìm ra nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn cũng như tìm ra cách giải quyết tốt nhất
Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là một dạng đặc biệt của kĩ năng giải quyết vấn
đề Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn cần được sử dụng kết hợp với nhiều kĩ năng liên quan khác như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng ra quyết định…
Trang 35- Tôn trọng mục đích, mục tiêu hoạt động chung của nhóm; tôn trọng những quyết định chung, những điều đã cam kết
- Biết giao tiếp hiệu quả, tôn trọng, đoàn kết và cảm thông, chia sẻ với các thành viên khác trong nhóm
- Biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm Đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm
- Nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt nhiệm
vụ đã được phân công Đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động
- Biết cùng cả nhóm đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn, vướng mắc để hoàn thành mục đích, mục tiêu hoạt động chung
- Có trách nhiệm về những thành công hay thất bại của nhóm, về những sản phẩm do nhóm tạo ra
Có kĩ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với người công dân trong một xã hội hiện đại, bởi vì:
- Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng Sự hợp tác trong công việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn cho công việc chung
- Trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau; mỗi người như một cái chi tiết của một cỗ máy lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ
- Kĩ năng hợp tác còn giúp cá nhân sống hài hòa và tránh xung đột trong quan
hệ với người khác
Để có được sự hợp tác hiệu quả, chúng ta cần vận dụng tốt nhiều KNS khác như: tự nhận thức, xác định giá trị, giao tiếp, thể hiện sự cảm thông, đảm nhận trách nhiệm, ra quyết định, giải quyết mâu thuẫn, kiên định, ứng phó với căng thẳng…
1.3.2.9 Kĩ năng ra quyết định
Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với những tình huống, những vấn đề cần giả quyết buộc chúng ta phải lực chọn, đưa ra quyết định hành động
Kĩ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn
Trang 36phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời
Mỗi cá nhân phải tự mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông chờ, phụ thuộc vào người khác, mặc dù có thể tham khảo ý kiến của những người tin cậy trước khi ra quyết định
Để đưa ra quyết định phù hợp chúng ta cần:
- Xác định vấn đề hoặc tình huống mà chúng ta đang gặp phải
- Thu thập thông tin hoặc vấn đề về tình huống đó
- Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đã có
- Hình dung đây đủ về kết quả sẽ xảy ra nếu chúng ta lựa chọn mỗi phương
án giải quyết
- Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu giải quyết theo từng phương án đó
- So sánh giữa các phương án để quyết định lựa chọn phương án tối ưu
- Kĩ năng ra quyết định rất cần thiết trong cuộc sống, giúp cho con người có được sự lựa chọn phù hợp và kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống Ngược lại, nếu khôn có kĩ năng ra quyết định, con người ta có thể có những quyết định sai lầm hoặc chậm trễ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ, đến công việc và tương lai cuộc sống của bản thân, đồng thời còn có thể làm ảnh hưởng đến gia đình, bạn bè và những người có liên quan
- Để ra được quyết định một cách phù hợp, cần phối hợp với những KNS khác như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng thu thập thông tin,
kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo…
- Kĩ năng ra quyết định là phần rất quan trọng của kĩ năng giải quyết vấn đề
1.3.2.10 Kĩ năng giải quyết vấn đề
Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống Giải quyết vấn đề có liên quan tới kĩ năng ra quyết định và cần nhiều KNS khác như: giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán,
tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định…
Để giải quyết vấn đề có hiệu quả, chúng ta cần:
Trang 37- Xác định rõ vấn đề hoặc tình huống đang gặp phải, kể cả tìm kiếm thông tin cần thiết
- Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đã có
- Hình dung đầy đủ về kết quả xảy ra nếu ta lựa chọn phương án giải quyết nào đó
- Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu thực hiện phương án giải quyết đó
- So sánh các phương án để đưa ra quyết định cuối cùng
- Hành động theo quyết định đã lựa chọn
- Kiểm định lại kết quả để rút kinh nghiệm cho những lần quyết định và giải quyết vấn đề sau
Cũng như kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giải quyết vấn đề rất quan trọng, giúp con người có thể ứng phó tích cực và hiệu quả trước những vấn đề, tình huống của cuộc sống
Một số lưu ý:
Nội dung giáo dục KNS cho HS trong nhà trường phổ thông tập trung vào các kĩ năng tâm lý – xã hội là những kĩ năng được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống Việc hình thành những kĩ năng này không loại bỏ mà ngược lại phải gắn kết và song hành với việc hình thành các kĩ năng học tập (study skills) như: đọc, viết, tính toán, máy tính,…
Nội dung giáo dục KNS cần được vận dụng linh hoạt tùy theo từng lứa tuổi, cấp học, môn học, hoạt động giáo dục và điều kiện cụ thể Ngoài các KNS cơ bản trên, tùy theo đặc điểm vùng, miền, địa phương GV có thể lựa chọn thêm một số KNS khác để giáo dục cho HS của trường, lớp mình cho phù hợp
1.3.3 Phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng cho học sinh THPT
1.3.3.1 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT
Các tiếp cận chính (phương pháp tiếp cận) trong giáo dục KNS cho học sinh THPT đã được khái quát gồm [7; 26]:
- Phương pháp tiếp cận cùng tham gia: tạo sự tương tác giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh và tăng cường sự tham gia của học sinh trong học tập, thực hành kĩ năng
Trang 38- Phương pháp tiếp cận hướng vào người học: dựa vào kinh nghiệm sống
và đáp ứng nhu cầu của học sinh
- Phương pháp tiếp cận hoạt động: tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động để xây dựng hành vi/ thay đổi hành vi
Với các phương pháp tiếp cận trên, các phương pháp dạy học cụ thể được sử dụng trong giáo dục KNS cho học sinh THPT là: phương pháp động não, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đóng vai, phương pháp nghiên cứu tình huống, phương pháp trò chơi
Cụ thể phần giới thiệu mục tiêu thường được thực hiện bằng phương pháp
thuyết trình, trao đổi giữa giáo viên và học sinh, dưới dạng lấy phiếu nhu cầu, dưới dạng trò chơi, câu đố… Các phương pháp lựa chọn cần tạo ra sự thu hút và nảy sinh động cơ nhu cầu ở người học
Với mục đích làm cho người học tích cực và chủ động sáng tạo tham gia vào quá trình giáo dục, phương pháp kích não (động não, bão não, khởi động…) Người học phải đưa ra ý kiến của mình về vấn đề đã có chút ít kinh nghiệm, hiểu biết, hoặc
về một vấn đề mới trên cơ sở được cung cấp một số thông tin cơ bản, cần thiết
Động não là phương pháp giúp cho người học trong một thời gian ngắn nảy sinh
được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Đây là một phương pháp
có ích để thu thập một danh sách các thông tin
Bên cạnh phương pháp động não, trong bước này còn hay dùng Phương
pháp nghiên cứu tình huống Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện
được viết nhằm tạo ra một tình huống “thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn
đề Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện qua quan sát băng video hay một băng catsset mà không phải ở dạng văn bản Tình huống sử dụng cần phản ánh tính da dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân
vật và những hoàn cảnh khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản
Phương pháp trò chơi cũng là phương pháp hiệu quả ở bước này
Phương pháp trò chơi là tổ chức cho người học chơi một trò chơi nào đó
để thông qua đó mà tìm hiểu một vấn đề, biểu hiện thái độ hay thực hiện hành động, việc làm
Phương pháp trò chơi có ưu điểm sau:
Trang 39- Qua trò chơi, người học có cơ hội để thể nghiệm những thái độ, hành vi, bởi con người thể hiện như thế nào trong trò chơi thì phần lớn nó thể hiện như thế trong cuộc sống thực Chính nhờ sự thể nghiệm này, sẽ hình thành được ở họ niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực, tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống
- Qua trò chơi, người học sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống
- Qua trò chơi, người học được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện
kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi
- Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động; không khô khan, nhàm chán Người học được lôi cuốn vào quá trình học tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải trừ được những
mệt mỏi, căng thẳng trong học tập
- Trò chơi còn giúp tăng cường khả năng giao tiếp giữa người học với người học, giữa người dạy với người học
Để tăng cường sự trải nghiệm và để đưa ra cách giải quyết theo kinh nghiệm
và hiểu biết ở người học thì các hoạt động ngoài giờ lên lớp được thực hiện trong mối quan hệ cộng đồng, trong đó mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm có
một vai trò hết sức quan trọng Thông thường ở bước này thường sử dụng Phương
pháp nhóm Thực chất của phương pháp này là để người cùng tham gia trao đổi
hay cùng làm về một vấn đề nào đó theo nhóm nhỏ Thảo luận hay cùng làm một
việc gì đó theo nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi người tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho người học có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến kỹ năng cần hình thành Các nghiên cứu về phương pháp nhóm đã chứng minh rằng, nhờ hoạt
Trang 40trong việc trình bày ý kiến của mình và biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn
- Trong làm việc nhóm các thành viên đều phải tham gia thực hiện nhiệm vụ
với tinh thần trách nhiệm cao nhất theo tinh thần hợp tác chặt chẽ vì họ sẽ "Cùng
chìm, hoặc cùng nổi" với nhau
- Khi phân tích tình huống, mỗi cá nhân lại phải sử dụng tư duy phê phán, tư duy sáng tạo để lựa chọn và ra quyết định chung của nhóm
- Việc luân phiên các vai trò đảm nhiệm trong nhóm: nhóm trưởng, thư kí và các vai trò khác cũng là một yếu tố khuyến khích vai trò chủ thể, tích cực của người học
Những điểm chủ yếu trong làm việc nhóm bao gồm:
- Các mối quan hệ của người học hình thành một mạng lưới đa dạng và phức tạp
- Mỗi người là một thành viên của cộng đồng và là một mắt xích trong quá trình trao đổi thông tin
- Sự trao đổi thông tin thể hiện qua cả hoạt động chính thức lẫn không chính thức
- Cả cộng đồng / tập thể như một đơn vị chuyển tải thông tin chứ không phải mỗi cá nhân học sinh
Đây chính là bước học cách giải quyết vấn đề, học kỹ năng sống để giải quyết vấn đề trong tình huống đặt ra
Sau khi đã cùng người học tìm ra mô hình mẫu của hành vi trong tình huống giả định chứa đựng kỹ năng sống cần dạy, cần tiếp tục đặt người học vào tình huống
phải vận dụng kỹ năng sống vừa học để thực hành chúng Trong bước này Phương
pháp đóng vai thường hay được sử dụng
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, “làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giảng
dạy nhằm giúp người học suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà họ quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy
Phương pháp đóng vai có nhiều ưu điểm như:
- Người học được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
- Gây hứng thú và chú ý cho người học
- Phát triển sự sáng tạo của người học