1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân

124 391 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thư viện là một trong những yếu tố rất đáng được quan tâm vì đây là trung tâm tri thức của một trường ĐH, là bộ phận không thể thiếu trong việc cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho ngườ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HỒNG

QUẢN LÝ HOA ̣T ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA

Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ CÔNG AN NHÂN DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DU ̣C CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HỒNG

QUẢN LÝ HOA ̣T ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA

Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ CÔNG AN NHÂN DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DU ̣C CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Hữu Hoan

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, công tác thông tin nói chung và TT-TV nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực GD-ĐT Việc khai thác hiệu quả thông tin

đã trở thành một trong những nhân tố hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ một quốc gia nào Thư viện là cầu nối giữa thông tin và người sử dụng, là một trong những yếu tố căn bản và quan trọng, là thước đo đánh giá vai trò, chức năng, nhiệm vụ, hiệu quả đào tạo của trường

ĐH và không thể tách rời trường ĐH

Trong trường ĐH, thư viện góp phần đào tạo nguồn nhân lực có tri thức cho đất nước, thúc đẩy tiến bộ xã hội, phát triển sản xuất và các khoa học công nghệ Thư viện cung cấp cho xã hội những TTKH mới mẻ, đặc biệt là thành quả của những công trình NCKH Đây là dạng thông tin mang tính đặc thù và đôi khi là những thông tin duy nhất, khó tìm thấy ở nơi khác

Thư viện bổ sung và cập nhật những kiến thức mới, những phương pháp giảng dạy tiên tiến làm cho việc học tập và giảng dạy thêm sinh động và hấp dẫn Thư viện mở rộng điều kiện học tập cho học viên cả về không gian, thời gian và các lĩnh vực tri thức hơn so với khuôn khổ qui định về nội dung, chương trình và kế hoạch đào tạo của nhà trường

Đặc biệt, quá trình ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy - học tập, NCKH, thư viện trở thành những trung tâm thông tin thực sự, góp phần đắc lực biến thông tin thành tri thức bằng cách liên kết các nguồn tài nguyên thông tin với nhau, đồng thời mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu tin của mọi đối tượng qua sự hợp tác liên thông và chia sẻ NLTT một cách nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm cả thời gian và vật chất cho người sử dụng Thư viện còn góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho CBTV, vấn đề này được thể hiện rõ nét qua việc hướng dẫn, giảng dạy về các kỹ năng tìm kiếm, hỗ trợ cho người sử dụng thông tin khai thác hiệu quả nguồn thông tin sẵn có

Trang 4

Hiện nay, yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đòi hỏi các trường ĐH phải đổi mới cơ bản, toàn diện mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy - học, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và trang thiết

bị dạy học Thư viện là một trong những yếu tố rất đáng được quan tâm vì đây

là trung tâm tri thức của một trường ĐH, là bộ phận không thể thiếu trong việc cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho người học phát triển toàn diện, là nơi mà thầy và trò cùng phát huy tinh thần "tự học, học liên tục, học suốt đời" Bởi vậy, trước sự đổi mới của nền giáo dục ĐH buộc các nhà quản lý thư viện ĐH phải nắm bắt và kịp thời tự điều chỉnh hoạt động quản lý của mình để nhanh chóng đón nhận và đáp ứng với sự đổi mới đó

Với hoạt động chuyển giao tri thức và NCKH, một trong những nhân tố đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng chuyển giao tri thức và NCKH là khả năng cung cấp nguồn tin để thúc đẩy việc tự học, tự nghiên cứu trước hết của các nhà quản lý, giảng viên, học viên trong trường ĐH Đây chính là sứ mệnh của hoạt đô ̣ng TT-TV trong các trường ĐH Vì vậy quá trình đổi mới giáo dục ĐH phải đồng nghĩa với quá trình đổi mới hoa ̣t đ ộng TT-TV ở trường ĐH nhằm thoả mãn tốt nhất như cầu thông tin cho người sử dụng thông tin ở mọi lúc, mọi nơi

Đối với Học viện Chính trị Công an nhân dân - cơ sở giáo dục ĐH công lập trực thuộc Bộ Công an, được thành lập theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tiếp nhận toàn

bộ đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất của Trường Bồi dưỡng nghiệp vụ CAND; đồng thời tiếp nhận nhiều cán bộ lãnh đạo chỉ huy và giảng viên từ các cơ sở giáo dục ĐH trong và ngoài lực lượng CAND Học viện Chính trị Công an nhân dân có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ ĐH, sau ĐH và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chỉ huy thuộc lĩnh vực xây dựng lực lượng CAND; đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng CAND; thực hiện nhiệm vụ hợp tác với các ngành về giáo dục, đào tạo;

là trung tâm NCKH của lực lượng CAND

Trang 5

Đơn vị thực hiện chức năng TT-TV trong Học viện Chính trị CAND được gọi là Trung tâm TTKH và TLGK với các chức năng cụ thể như sau: Giúp Giám đốc Học viện quản lý, thực hiện các hoạt động về công tác TTKH; quản lý, bổ sung, khai thác có hiệu quả hệ thống thư viện, TLGK; in sao, nhân bản ấn phẩm phục vụ yêu cầu công tác, giảng dạy, NCKH, học tập và giải trí cho cán bộ, giảng viên, công nhân viên và học viên của Học viện

Tuy mới được thành lập cùng với các đơn vị khác thuộc Học viện nhưng với chức năng quan trọng nêu trên, Trung tâm TTKH và TLGK, luôn được nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng uỷ, Ban Giám đốc Học viện

và xem là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng, một công cụ đắc lực không thể thiếu trong quá trình GD-ĐT, NCKH

Cùng với việc tiếp nhận lại cơ sở vật chất sẵn có của thư viện trường Bồi dưỡng nghiệp vụ CAND, từ khi thành lập đến nay hoạt động c ủa Trung tâm TTKH và TLGK đã hỗ trợ rất tốt cho quá trình học tập của học viên cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên Tuy nhiên, là đơn

vị mới nên trong hoạt động vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ trong cơ chế hoạt động và cơ sở vật chất, hạ tầng chưa được đầu tư nhiều Trước yêu cầu của thực tiễn, để cùng với các đơn vị thuộc Học viện chung tay, góp phần thực hiện tốt các chức năng, yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của Học viện, Trung tâm TTKH và TLGK cần phải được tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và không ngừng đổi mới hoạt động, phát triển VTL thư viện đa dạng và phong phú, đặc biệt phát triển dạng tài liệu điê ̣n t ử, cải tiến phương thức phục vụ, đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong tất cả các mặt hoạt động Đó là những yêu cầu cấp bách trên lĩnh vực này đòi hỏi Học viện Chính trị CAND phải tìm ra các giải pháp và hướng đi phù hợp đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới

Về mặt lý luận, quản lý hoạt động TT-TV thuộc một cơ sở giáo dục ĐH

đã có một số công trình nghiên cứu dưới những góc độ là một bộ phận của biện pháp phát triển một cơ sở giáo dục ĐH Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, cụ thể về quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH và

Trang 6

TLGK ở Học viện Chính trị CAND nói riêng và trong một trường ĐH thuộc BCA nói chung

Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa ở Học viện Chính tr ị Công an nhân dân” làm luận văn thạc sĩ là thực sự cần thiết, có ý nghĩa cả về

mặt lý luận và thực tiễn

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý TT - TV trong cơ sở giáo dục đại học, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động của trung tâm TTKH và TLGK của Học viện Chính trị CAND, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH và TLGK ở Học viện Chính trị CAND, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phục vụ của Trung tâm trong thời gian tới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động của TT- TV trong cơ sở giáo dục đại học nói chung

- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa ở Học viện Chính trị Công an nhân dân

- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa ở Học viện Chính trị CAND

- Tổ chức khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất trong luận văn

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động TT- TV của Trung tâm TTKH & TLGK trong các cơ sở giáo dục đại học ngành Công an

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động ở Trung tâm Thông tin khoa h ọc và Tư liệu giáo khoa ở Học viện Chính trị CAND

Trang 7

6 Giả thuyết khoa học

Thời gian qua, công tác quản lý hoa ̣t đô ̣ng c ủa Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa ở Học viện Chính tr ị Công an nhân dân đã đáp ứng được nhiệm vụ phục vụ GD - ĐT và NCKH của Ho ̣c viê ̣n Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu chức năng và nhiệm vụ của Học viện Chính trị CAND, công tác quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH và TLGK còn nhiều hạn chế

và bất cập Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp quản lý một cách triệt để và đồng bộ sẽ góp phần đổi mới hoạt động của trung tâm TTKH và TLGK, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Học viện Chính trị CAND

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận như: Hệ thống hóa, khái quát hóa những tài liệu lý luận có liên quan đến đề tài như các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an về công tác TT -

TV trong trường Đại học nói chung

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp tư liệu, số liệu về công tác quản lý hoạt động Trung tâm TTKH và TLGK; các tài liệu chỉ đạo, văn bản của Đảng

và Nhà nước và Bộ Công an về công tác TT- TV ở các trường Đại học nói chung và trường Đại học ngành Công an nói riêng

Trang 8

7.2.2 Điều tra, khảo sát

Tác giả tiến hành điều tra, khảo sát ý kiến của cán bộ quản lý, giảng viên và học viên bằng bảng hỏi về công tác quản lý hoạt động của Trung tâm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp GD-ĐT và NCKH Mục đích điều tra khảo sát bằng phiếu hỏi là thu thập các thông tin, thực trạng quản lý hoạt động Trung tâm TTKH và TLGK thông qua các câu hỏi

7.2.3 Phỏng vấn, trao đổi

Tác giả tiến hành phỏng vấn, trao đổi và tranh thủ ý kiến đóng góp của lãnh đạo, cán bộ quản lý, giảng viên và học viên về thực trạng trong công tác quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH và TLGK, những thuận lợi và khó khăn, những quan điểm của các nhà quản lý để bổ sung, hoàn thiện đề tài luận văn

7.3 Phương pháp thống kê phân tích số liệu

Tác giả tiến hành thống kê bằng bảng biểu số liệu, sử dụng các công thức toán thống kê như trung bình cộng, hệ số tương quan, số trung vị, độ lệch chuẩn để định lượng kết quả nghiên cứu cho đề tài luận văn

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong có 3 chương:

Chương l Cơ sở lý luận về quản lý hoa ̣t đô ̣ng của Trung tâm TTKH & TLGK ở trường đại học

Chương 2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH

& TLGK ở Học viện Chính trị Công an nhân dân

Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH & TLGK

ở Học viện Chính trị CAND

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOA ̣T ĐỘNG CỦA

TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƯ LIỆU GIÁO KHOA

TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Cách đây vài thế kỷ, thư viện đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới

đề cập và nghiên cứu đến Qua khảo sát cho thấy có một số nghiên cứu tiêu biểu sau:

Đầu thế kỷ XIX (vào khoảng từ 1808-1892), nhà thư viện học người Đức M.Sretinge lần đầu tiên sử dụng từ “Thư viện học”

Ở Liên Xô (trước đây), các nhà khoa học như A Trernhiac, L.B Khapkina; Ia.V.Ripin; Parôxki… đã có nhiều công trình nghiên cứu và đưa ra các khái niệm về “Thư viện”, “Thư viện học”, “Khách thể của thư viện học”,

“Đối tượng của thư viện học”,

Ở Mỹ có một số nhà khoa học đã nghiên cứu về sự hình thành và phát triển cũng như nghiên cứu những khía cạnh hoạt động của hệ thống thư viện đại học một cách công phu và nghiêm túc, đáng kể nhất là những tác phẩm như The Academic Library (thư viện học tập) của John Budd; The University Library in the United States (its Origins and Development) (Thư viện trường đại học ở Mỹ, nguồn gốc và sự phát triển) của Arthur Hamlin; New history of United State (Lịch sử mới của nước Mỹ) của Eric Foner

Ở các nước Phương Tây, đặc biệt là Mỹ, Anh có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả: Ch Dane, Đ.G Phoxkét, S.Simsova; M.Macki về

“thư viện so sánh” Theo các tài liệu Anh, Mỹ thì khái niệm “Thư viện học so sánh và quốc tế” gồm những công việc sau: Tập hợp tư liệu sự kiện; Hoạt động thư mục và dịch thuật; Hoạt động trong phạm vi quốc tế; Hoạt động nghiên cứu khoa học và xuất bản

Trang 10

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về thư viện, trong đó

có những công trình nghiên cứu, những bài báo của tác giả Lê Văn Viết đề cập đến những vấn đề cơ bản của thư viện như: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, các yếu tố cấu thành thư viện, về cách tổ chức, vận hành các loại thư viện khác nhau trên thế giới và trong nước

Tác giả Nguyễn Huy Chương đã nghiên cứu “Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống TT - TV đại học Mỹ, định hướng vận dụng một số kinh nghiệm vào thư viện đại học Việt Nam” Trong công trình nghiên cứu này, tác

giả vận dụng một số kinh nghiệm của thư viện đại học Mỹ vào quá trình phát triển và hoàn thiện hệ thống thư viện đại học Việt Nam Đặc biệt tác giả đã đưa ra một số giải pháp thúc đẩy và xây dựng mô hình tổ chức hoạt động thông tin thư viện ở các trường đại học.[2, tr.24]

Tác giả Nguyễn Văn Hành đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý trung tâm TT - TV, Đại học Quốc gia Hà Nội” đã đưa ra những phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới mô hình

trung tâm TT-TV Đại học Quốc gia [9, tr.18]

Như vậy, ở Việt Nam công tác thư viện đã được các nhà khoa học nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn thư viện ở Việt Nam Những công trình này đóng góp đáng kể cho sự hình thành và phát triển của thư viện trong nước, nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả đối với sự phát triển giáo dục và đào tạo, nghiên cứu khoa học ở các trường ĐH

1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Quản lý và chức năng quản lý

+ Quản lý

Từ khi loài người xuất hiện đã có sự phân công lao động, đây là dạng lao động mang tính đặc thù bao gồm việc tổ chức, điều kiển các hoạt động của con người, mọi hoạt động đều cần tới quản lý

Trang 11

Theo từ điển Tiếng Việt “Quản lý là trông coi, gìn giữ theo những yêu cầu nhất định Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định"

Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tổ chức, điều khiển, chỉ huy của chủ thể quản lý đến khác thể quản lý một cách phù hợp nhằm làm cho

tổ chức vận hành đại hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra Quá trình Quản và Lý là hai quá trình tích hợp, trong quá trình Quản phải có Lý và trong Lý phải có Quản để trạng thái của chúng ở thế cân bằng động và vận động chúng một cách phù hợp và hiệu quả tùy thuộc vào người quản lý nó

Theo quan niệm truyền thống: Quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý bằng cách vạch ra mục tiêu, tìm ra các biện pháp tác động để đạt được mục tiêu đã xác định

Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật trong việc điều kiển hệ thống

xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô Quản lý là quá trình tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo yêu cầu, mục đích của tổ chức đề ra

Quản lý là hoạt động của con người tác động vào người khác để phối hợp điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung Hơn nữa, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, tổ chức, phải chịu một sự quản lý chung để đạt được mục tiêu đã đề ra

Quản lý bao hàm nghĩa ý nghĩa rất rộng và phức tạp Vì vậy, tùy theo cách tiếp cận mà ta có các quan niệm khác nhau về Quản lý như:

- F.W Taylor và Henri Fayol thường được xem như là cha đẻ của thuyết

quản lý khoa học Các ông đã khẳng định “Hoạt động quản lý ở bất kì tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin” [18,tr.32]

- H.Koontz (người Mỹ) cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu,

nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường

mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [19, tr.33]

Trang 12

- Ở nước ta, tác giả Nguyễn Quốc Chí: “Quản lý giáo dục là được hiểu như việc thực hành đầy đủ các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên cả những phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa” [1, tr.16]

- Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10, tr.16]

- Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” ” [9, tr.15]

- Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: “Quản lý là sự tác động có mục đích với tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước”

- Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [7, tr.74]

Như vậy, bản chất của quản lý là sự tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các

cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra Quản lý có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển hay trì trệ của tổ chức mặc dù quản lý vừa khó khăn lại vừa phức tạp Nếu quản lý một cách đúng đắn sẽ giúp cho các tổ chức có thể khắc phục những hạn chế của mình, liên kế gắn bó mọi người trong tổ chức, tạo niềm tin, sức mạnh của tổ chức

+ Chức năng quản lý

Trong quá trình quản lý, chức năng quản lý có vai trò và vị trí quan trọng trong việc duy trì và phát triển của tổ chức Có nhiều cách phân chia các chức năng quản lý giáo dục đối với mỗi cấp độ khác nhau, vì vậy chức năng quản lý giáo dục và tầm quan trọng của mỗi chức năng cũng không hoàn toàn giống nhau bao gồm bốn chức năng chủ yếu, cơ bản sau: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo - lãnh đạo và kiểm tra

Trang 13

- Kế hoạch hóa

Kế hoạch hóa là một trong những nội dung được quy định trong chức năng quản lý, là khâu đầu tiên của một chu trình Mọi hoạt động quản lý đều được bắt đầu từ khâu xây dựng kế hoạch “Kế hoạch hóa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đại được mục tiêu, mục đích đó”

Kế hoạch hóa là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lý vào công tác kế hoạch và chỉ rõ các mục tiêu, bước đi, biện pháp thực hiện để đảm bảo đạt mục tiêu đã đề ra

- Tổ chức

Là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực hợp lý để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu kế hoạch đề ra Đồng thời tổ chức có nghĩa là tạo nên mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nếu quá trình tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể sử dụng, điều phối tốt các nguồn lực Tổ chức

có nghĩa là phải xây dựng cơ cấu phù hợp, xác định nhiệm vụ cụ thể, những quyền hạn của từng thành viên trong tổ chức

- Lãnh đạo - chỉ đạo

Sau khi đã xây dựng kế hoạch, cơ cấu bộ máy đã hình thành thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Lãnh đạo là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên, đồng thời phải điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh việc một cách hợp lý, nhịp nhàng, động viên, khuyến khích các thành viên trong tổ chức hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục tiêu mà tổ chức đề ra

- Kiểm tra

Kiểm tra là chức năng quản lý quan trọng trong quá trình quản lý Sau khi đã xác định được mục tiêu, quyết định những biện pháp tốt nhất để đạt tới mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để thực hiện kế hoạch hóa các mục tiêu đó cần phải hoạt động kiểm tra để xem xét việc triển khai các quyết định trong thực tiễn đồng thời xác định rõ việc nào làm tốt, việc nào chưa làm tốt để kịp thời uốn nắn và sửa chữa để đạt được mục tiêu đã đề ra

Trang 14

1.2.2 Khái niệm thông tin

Thông tin là một trong những khái niệm cơ bản của một ngành khoa học, chuyên nghiên cứu các cách thức tổ chức, xử lý, lưu trữ, truyền tải thông tin Nhưng đến ngày nay, khái niệm thông tin vẫn chưa được thống nhất và là quy chuẩn Có rất nhiều định nghĩa, cách hiểu, quan điểm khác nhau về thông tin, ví dụ:

Trong cuốn Oxford English Dictionary thì thông tin được coi là tri thức, tin tức

Trong từ điển Random House Dictionary of English Language, thông tin được định nghĩa là tri thức được giao lưu hoặc được thu nhận có liên quan đến sự kiện hoặc hoàn cảnh đặc biệt

K.E.Shennon nhà toán học người Mỹ định nghĩa thông tin “Thông tin là quá trình liên hệ nhằm loại bỏ sự bất định”

Trong từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết của Liên Xô trước đây, thông tin được định nghĩa là “Tin tức được truyền từ người này qua người khác bằng lời nói, chữ viết hay bằng một phương tiện nào đó”

Đối với thông tin trong công tác thư viện được hiểu là công tác thông tin - thư mục, là tổng hợp các quá trình biên soạn thư mục và phục vụ thông tin - thư mục nghĩa là tạo ra và phổ biến các thông tin về tài liệu

1.2.3 Khái niệm thư viê ̣n

Thư viện được xuất phát từ chữ Hy Lạp “bibliotheca” được cấu thành bởi hai từ “Biblion – sách và “theca - nơi bảo quản” Như vậy nghĩa ban đầu có

nghĩa là nơi bảo quản sách, là nơi tàng trữ sách Trong từ điển Tiếng việt, thư viện được định nghĩa là “nơi tàng trữ, giữ gìn sách báo, tài liệu và tổ chức cho bạn đọc sử dụng” Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thư viện:

Ở Liên Bang Nga, thư viện được định nghĩa như sau: “Thư viện là cơ quan

tư tưởng, văn hóa và TTKH, tổ chức việc sử dụng sách có tính chất xã hội”

Ở Mỹ, thư viện được định nghĩa: “Thư viện - một sưu tập những tài liệu

đã được tổ chức để đáp ứng nhu cầu của một nhóm người mà thư viện có bổn

Trang 15

phận phục vụ, để cho học có thể sử dụng cơ sở của thư viện, truy dụng thư tịch, cũng như trau dồi kiến thức của họ”

UNESCO năm 1970 đã định nghĩa: “Thư viện không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe - nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, NCKH, giáo dục hoặc giải trí”

Ở nước ta khái niệm thư viện được định nghĩa như sau: Thư viện là nơi thực hiện chức năng thu thập, xử lý, bảo quản tài liệu và phục vụ bạn đọc đồng thời tiến hành tuyên truyền, giới thiệu các tài liệu

- Từ khái niệm đã nêu ra cho ta thấy, thư viện được hiểu là gồm có 04 thành phần cơ bản: Vốn tài liệu; Cán bộ thư viện; người sử dụng thư viện và

cơ sở vật chất - kỹ thuật Cụ thể:

Vốn tài liệu: Là bộ sưu tập có hệ thống các tài liệu phù hợp với chức năng, loại hình và đặc điểm của từng thư viện, được phản ánh trong bộ máy tra cứu, cũng như để bảo quản lâu dài trong suốt thời gian được người đọc quan tâm

Vốn tài liệu là tài sản quý giá, là tiềm lực và là sức mạnh, niềm tự hào của thư viện Nguồn tài liệu phong phú, đa dạng sẽ đáp ứng yêu cầu của bạn đọc và có sức lôi cuốn bạn đọc đến thư viện

Vốn tài liệu còn là di sản văn hóa của dân tộc, là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa của cả nhân loại, là thước đo trình độ phát triển về mọi mặt của mỗi nước, trên bình diện xã hội thì vốn tài liệu là bộ nhớ của toàn nhân loại

Vốn tài liệu là những tài liệu mang tính chất tổng hợp, đa ngành và vốn tài liệu chuyên biệt

Cán bộ thư viện: Đây là linh hồn của thư viện, thực hiện nhiệm vụ quan trọng và phức tạp Đối với tài liệu, cán bộ thư viện phải chọn lựa, bảo quản và sắp xếp chúng theo trật tự nhất định; đối với bạn đọc, CBTV không những tuyên truyền tích cực cho tài liệu mà còn nghiên cứu nhu cầu đọc, hướng dẫn

Trang 16

đọc phù hợp với nhu cầu, đồng thời tạo ra các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu đọc; với cơ sở vật chất - kỹ thuật, CBTV tiến hành trang bị chuyên biệt cho các diện tích và luôn được giữ gìn, bảo quản cơ sở vật chất - kỹ thuật trong tình trạng tốt nhất

Người sử dụng (bạn đọc, độc giả): Một thư viện mà không có bạn đọc thì nó sẽ không bao giờ trở thành thư viện theo đúng nghĩa của nó, cho dù chúng ta có VTL phong phú, có CBTV, có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cũng giống như trong nhà trường có thầy, có cơ sở trường học nhưng không

có học sinh thì cũng không thể được coi là trường học Vì thế, bạn đọc, độc giả có vị trí vô cùng quan trọng, giúp cho mọi hoạt động trở nên hiệu quả, khoa học hơn Nói cách khác thì tất cả các yếu tố trên nhằm phục vụ nhu cầu

và lợi ích của bạn đọc Chúng có mối quan hệ gắn bó, khăng khít với nhau để tạo thành một thư viện hoàn chỉnh

Cơ sở vật chất - kỹ thuật: Là yếu tố vô cùng quan trọng của thư viện

Đó là diện tích và những trang thiết bị phục vụ công tác thư viện Đối với tài liệu, nó là nơi chứa đựng, tàng trữ và bảo quản tài liệu; đối với bạn đọc, nó là nơi bạn đọc có thể làm việc với tài liệu, tiếp xúc các nguồn thông tin ở khắp mọi nơi; là nơi trao đổi, giao lưu, gặp gỡ về những vấn đề mà các bạn đọc quan tâm; đối với CBTV, đây là ngôi nhà thứ hai của họ, là nơi họ thể hiện vai trò CBTV, những ước mơ, hoài bão, những kiến thức đã học được trong trường và trong thực tiễn, cơ sở vật chất - kỹ thuật khang trang thể hiện sức mạnh của nhà trường và của tất cả con người trong đó, đồng thời cũng tạo được uy tín, vị thế của nhà trường với xã hội

Như vậy, mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thư viện nhưng tổng kết lại thì thư viện là nơi lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa của loài người, là tòa lâu đài trí tuệ của nhân loại, được lưu giữ và truyền từ thế hệ này sáng thế hệ khác, là kho tàng quý giá của dân tộc cần phải giữ gìn và phát triển nó

Trang 17

1.2.4 Khái niệm tư liệu giáo khoa

Là các nguồn sách giáo khoa được tổng hợp, chọn lọc đến người dùng tin Nó cũng là thông tin về các tài liệu có trong chương trình giảng dạy, học tập Các tài liệu được tổng hợp lại qua chương trình sách giáo khoa và được

Bộ giáo dục xuất bản thành các tư liệu giáo khoa

1.2.5 Quá trình phát triển của thư viện

1.2.5.1 Sự phát triển của thư viện trên thế giới

Lịch sử phát triển thư viện trên thế giới trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, mỗi thời kỳ là những bước phát triển vượt bậc Khái niệm thư viện được xuất hiện từ rất sớm khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III trước Công nguyên và trải qua nhiều quá trình hình thành và phát triển

+ Thời kỳ cổ đại

Qua quá trình khảo cổ, các nhà khảo cổ học, các nhà khoa học trên thế giới đã phát hiện ra các ký hiệu được tạo nên bằng đất sét, mai rùa, gỗ, tre, da, giấy cho thấy thư viện đã xuất hiện từ 3000 năm trước Công nguyên ở vùng Châu thổ Lưỡng Hà được phát hiện

Vào thế kỷ thứ VII trước công nguyên, thư viện của nhà vua Atxuabanipan đã được thành lập với 20.000 cuốn sách được viết bằng đất sét

Thư viện Pergam được hình thành từ thế kỷ III trước công nguyên và thế kỷ I với 200.000 cuốn sách ghi chép bằng tay

Vào thế kỷ thứ III trước Công nguyên, xuất hiện thư viện của đất nước

Ai Cập, thư viện mang tên là Alexcandria, đây là thư viện công cộng sớm nhất của loài người gồm có 700.000 bản sách Pariut gồm nhiều môn học khác nhau

Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ 5 sau công nguyên, khoảng 30 loại hình thư viện công cộng đã xuất hiện ở Rôm để phục vụ cho tu sĩ, chủ nô

+ Thời kỳ phong kiến

Đây là thời kỳ khó khăn của xã hội loài người, các thế lực phong kiến luôn tìm mọi cách để kìm hãm sự phát triển của con người, lợi dụng các vấn

Trang 18

đề về tôn giáo, dân tộc và sự hiểu biết của con người để chi phối, nhằm kìm hãm sự phát triển của nó Vì vậy thư viện trên thế giới trong giai đoạn này phát triển chậm Thư viện trong giai đoạn này chủ yếu phục vụ trong các trường học, chùa chiền, nhà thờ và các thế lực tôn giáo

Ở thế kỷ VII, thư viện được xuất hiện đầu tiên ở các trường ĐH như: Thư viện trường ĐH Tổng hợp Xoocbon-năm 1253, Thư viện ĐH Tổng hợp Pari - năm 1150 Ở Đức, thế kỷ XV đã phát minh kỹ thuật in (tipo) của Gutenberg lượng sách báo đã tăng nhanh chóng, vì vậy thư viện mới phát triển mạnh và có những đóng góp tích cực, đem lại nhiều hữu ích cho xã hội

+ Thời kỳ cận đại (Từ thế kỉ XVIII – sau Thế chiến II)

Thời kỳ này khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển như vũ bão, cùng với sư phát triển của xã hội, kéo theo con người cũng phải được đào tạo và nâng cao trình độ, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khoa học, công nghệ Điều đó cũng tạo nên sự phát triển của giáo dục, thư viện góp phần làm tốt vai trò giáo dục trong nhà trường và thư viện cũng đạt được những thành tựu to lớn như:

Thời kỳ này đã xuất hiện các loại hình thư viện bao gồm: Thư viện công cộng, Thư viện Quốc gia, thư viện chuyên ngành

Xuất hiện nhiều văn bản mang tính pháp lý thư viện, trong Hiến pháp bang Michigan 1835 có những thư viện không thu tiền Năm 1845 bang NewYork ban hành luật về thư viện công cộng

Thế kỷ XIX thư viện được hình thành và phát triển như một môn khoa học, có đối tượng nghiên cứu, có hệ thống chương trình giáo dục riêng, CBTV được đào tạo và phát triển mạnh ở một số nước điển hình như trường thư viện đầu tiên được thành lập ở Mỹ vào năm 1887, tại trường ĐH Columbia ban đầu chỉ có 20 sinh viên, sau đó có nhiều nước trên thế giới cũng mở các trường thư viện như: Liên Xô, Mỹ và đào tạo cả trình độ thạc sỹ, tiến sỹ Năm 1892 lần đầu tiên thuật ngữ “Thư viện học” được nhà khoa học người Đức là M.Sretinger nêu ra

Trang 19

+ Thời kỳ hiện đại

Ở thời kỳ này, thư viện được phát triển một cách nhanh chóng, cùng với

xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và thời kỳ CNTT phát triển vượt bậc thì thư viện được xây dựng hiện đại như thư viện điện tử, thư viện ảo, thư viện

số, thư viện đa phương tiện mới đáp ứng đầy đủ như cầu phát triển của xã hội như: Liên Xô có hơn 360.000 thư viện với nhiều loại hình khác nhau, thu hút

số lượng đông đảo người dân tham gia đọc sách, ở Mỹ có khoảng hơn 15.000 thư viện công cộng phục vụ khoảng hơn 80% người dân,

Về cơ sở đào tạo nhân viên thư viện ở Mỹ có khoảng hơn 100 cơ sở đào tạo, ở Liên Xô có 27 cơ sở đào tạo nhân viên thư viện ở bậc ĐH, hàng năm Liên Xô đào tạo hơn 12.000 nhân viên thư viện có trình độ chuyên môn

Như v ậy, sự hình thành và phát triển của thư viện trên thế giới trải qua những thời kỳ khác nhau, mỗi thời kỳ có những phát triển vượt bậc đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khoa học, công nghệ thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người

1.2.5.2 Sự phát triển của thư viện ở Việt Nam

Sự hình thành và phát triển thư viện ở Việt Nam cũng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau:

+ Giai đoạn từ thế kỷ XI đến năm 1858

Thời kỳ này đã xuất hiện nhiều thư viện Lúc này, Phật giáo là quốc giáo nên phần lớn các thư viện có nhiều loại sách viết về Phật giáo Ở thời nhà

Lý đã cho xây dựng các nhà như: Tàng kinh Trấn Phúc, Bắc Giáp, Trung Hưng

Thế kỷ XIII, vua Trần Nhân Tông cho xây dựng “Lãn Kha thư viện” và

cử Trần Tông vừa dạy học vừa trông coi thư viện

Thế kỷ XV, lúc này Nho giáo trở thành quốc giáo, vua Lê Thái Tổ sai các quan đại thần sưu tập, thu thập các sách vở trong nhân dân để tổ chức thư viện, vua Lê Thánh Tông cho xây dựng lại Văn Miếu, lập Nha Thái học ở sau Văn Miếu vừa là giảng đường, vừa là thư viện

Trang 20

Thời Lê – Trịnh năm 1762, Quốc Tử Giám khôi phục lại và lấy tên là

“Thư viện Thái học” do nhà bác học Lê Quý Đôn phụ trách

Vào thế kỷ XIX đã xây dựng “Tàng thư lầu” và “Từ khuê thư viện” bởi nhà Nguyễn

+ Giai đoạn từ 1858 đến 1954

Thời kỳ này nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, chữ quốc ngữ được sử dụng chủ yếu, vì vậy thư viện đã bổ sung những cuốn được viết bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp Thời kỳ này thư viện đã được xây dựng như thư viện trung ương xứ Đông Dương, Thư viện Hội nghiên cứu Đông Dương ví dụ như “Bibliographie Annamte (1867), Bibliotheca Indosinica (1912-1915) của Henri Cordier

+ Giai đoạn từ 1954 đến nay

Từ năm 1954, sau khi miền Bắc hòa bình, sự nghiệp thư viện Việt Nam mới có điều kiện phát triển, số lượng thư viện tăng lên đáng kể với nhiều loại hình thư viện khác nhau như thư viện công cộng, hệ thống thư viện khoa học,

hệ thống thư viện trường học và số lượng đội ngũ cán bộ tăng lên nhanh chóng, nhiều cán bộ không những được đào tạo trong nước mà còn ra cả nước ngoài học tập về chuyên ngành thư viện

Trong thời kỳ này, thư viện Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn bởi thư viện học Xô Viết và tiếp nhận những thành tựu đó vào thư viện của Việt Nam Họ

đã cử cán bộ, chuyên gia về thư viện để hướng dẫn, chỉ đạo và xây dựng hệ thống thư viện ở Việt Nam Hiện nay, nước ta có khoảng 27.000 thư viện với các loại hình khác nhau để phục vụ nhu cầu đọc, nghiên cứu của con người

1.3 Hoạt động Thông tin - Thư viện trong trường đại học

1.3.1 Những quan điểm về hoạt động Thông tin - Thư viện

+ Quan điểm của V.I Lênin

Hiện nay, chúng ta còn lưu giữ hơn 500 tác phẩm do Lê Nin viết về công tác thư viện Trong những tác phẩm này đã thể hiện đầy đủ các quan điểm của ông về công tác thư viện

Trang 21

Về vai trò của thư viện: Lê Nin đánh giá cao vai trò của thư viện, nó có

ý nghĩa quan trọng hàng đầu về văn hóa, chỉ kém trường học Ông cho rằng mức độ phát triển của sự nghiệp thư viện là biểu hiện của trình độ văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Tri thức là sức mạnh khổng lồ và để tiếp thu được tri thức của loài người thì phương tiện tốt nhất là sách và thư viện

Trong bài báo: “Có thể làm gì cho nền giáo dục quốc dân” Lê Nin đã viết: “Niềm hãnh diện và niềm tự hào của thư viện công cộng không phải ở chỗ có bao nhiêu cuốn sách quý, có bao nhiêu bộ sách xuất bản hồi thế kỷ XVI hay có bao nhiêu tác phẩm viết tay từ hồi thế kỷ X mà là ở chỗ sách được chuyển đọc trong nhân dân rộng rãi đến mức nào, đã thu hút được bao nhiêu bạn đọc mới, mọi việc hỏi mượn sách được giải quyết nhanh hay chậm, có bao nhiêu sách cho mượn về nhà đọc, có bao nhiêu trẻ em được thu hút vào việc đọc sách và sử dụng thư viện ”

Thư viện trường học là một trong những yếu tố cơ sở vật chất quan trọng của nhà trường, là phương tiện không thể thiếu được để phục vụ cho việc dạy và học Lê Nin đã chỉ rõ “sự nghiệp thư viện là một bộ phận quan trọng của cách mạng văn hóa và tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân”

Lê Nin cũng nói “Không có sách thì không có tri thức, không có tri thức thì không có chủ nghĩa Cộng sản”

Tính Đảng của công tác thư viện: Sự nghiệp thư viện là sự nghiệp của Đảng, nên công tác thư viện phải mang tính Đảng được Lê Nin đề cập đến trong tác phẩm “Tổ chức Đảng, tài liệu của Đảng” năm 1905 Hơn nữa, thư viện phải tuyên truyền cho chủ nghĩa Mác - Lê Nin, đấu tranh chống mọi hệ tư tưởng thù địch với chủ nghĩa Mác - Lê Nin, với đường lối của Đảng và Nhà nước, phục vụ các nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước

Tính phổ cập của các thư viện: Thư viện xây dựng để phục vụ mọi tầng lớp nhân dân, phải xây dựng thư viện rộng khắp, thống nhất và phát triển có

kế hoạch đồng thời yêu cầu nhân dân phải tham gia tích cực vào việc xây dựng và phát triển của thư viện

Trang 22

+ Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoạt động thông tin - thư viện

Ngay sau khi thành lập, Đảng ta rất quan tâm đến công tác sách báo, coi đó

là công cụ để giáo dục cách mạng cho người dân bằng những việc làm cụ thể như: mua sách, phê bình sách, hướng dẫn đọc sách Chỉ thị đầu tiên về công tác sách

báo, thư viện ngày 30/03/1937 của Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Vấn đề tuyên truyền cổ động, mỗi một chi bộ phải lập một chỗ “bình dân thư xã” hay một cơ quan tương đương để mua sách báo công khai và làm tài liệu nghiên cứu ”

Chỉ thị số 109-TT-TW ngày 21/10/1958 “Về tăng cường công tác văn hóa” của Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam nêu rõ: “Phải biết sử dụng mọi hình thức, mọi phương pháp của công tác văn hóa như chú ý đến phong trào sinh hoạt văn hóa quần chúng, đến nhà văn hóa đến công tác đọc sách, công tác thư viện” để đẩy mạnh văn hóa, hưởng thụ văn hóa trong nhân dân

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960 chỉ rõ: “Về công tác thư viện, cần mở rộng các thư viện hiện có, xây dựng thêm một số thư viện ở các khu công nhân, các thị xã và mở rộng phong trào quần chúng đọc sách”

Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VIII: “Tích cực xây dựng trường sở, tăng thêm các thiết bị và thư viện, tủ sách cho các trường bổ túc văn hóa và trường phổ thông”

Nghị quyết Trung ương 2 – Khóa VIII: “Tất cả các trường phổ thông đều có tủ sách, thư viện và các trang thiết bị tối thiểu để thực hiện các thí nghiệm trong chương trình Sớm chấm dứt tình trạng “dạy chay” ”

Điều 1- Quy chế thư viện kèm theo Quyết định 61/1998/QĐ-BGD&ĐT ngày 6/11/1998 của Bộ GD& ĐT cũng đã xác định: “Thư viện trường phổ thông là một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, trung tâm sinh hoạt văn hóa và khoa học của nhà trường Thư viện trường phổ thông thuộc thư viện khoa học chuyên ngành giáo dục và đào tạo, nằm trong hệ thống thư viện chung và thực hiện nghiêm chỉnh những văn bản quy phạm pháp luật về công tác thư viện của Nhà nước”

Trang 23

Như vậy, ngay từ khi Đảng ra đời đã xác định đúng đắn việc giác ngộ cách mạng cho quần chúng nhân dân thông qua công cụ là sách báo, sách báo

là phương tiện để truyền tải thông tin của Đảng và Nhà nước đến người dân một cách nhanh chóng Vì vậy, Đảng ta đề cao vai trò quan trọng của thư viện

và đầu tư để phát triển mạng lưới thư viện rộng khắp các tổ chức, cơ quan và việc đọc sách trở thành một thói quen của mọi người dân, để từ đó các giá trị văn hóa của nhân loại được phổ biến và tiếp thu rộng rãi

1.3.2 Đặc điểm nguồn lực thông tin trong trường đại học

Nguồn lực thông tin trong trường đại học t ập trung chủ yếu trong thư viê ̣n, Trung tâm Thông tin – Thư viện trường, còn được gọi là VTL thư viện VTL là nơi cung cấp thông tin cần thiết và chúng có giá trị vô cùng to lớn đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo cũng như sự phát triển của xã hội

Hiệu quả của hoạt động TT-TV phụ thuộc vào 4 yếu tố, chúng có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó với nhau trong quá trình hoạt động

- Nguồn lực thông tin;

- Cán bộ Thông tin – Thư viện;

- Người sử dụng thông tin;

- Cơ sở vật chất - kỹ thuật, phương tiện thông tin

Trong 4 yếu tố trên , yếu tố nguồn lực thông tin là tài sản quý giá, là tiềm lực của bất kỳ thư viện nào Để đánh giá được thư viện của trường đó mạnh hay yếu thì người ta đánh giá dựa trên NLTT Nguồn lực thông tin càng phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu tin càng lớn và do vậy càng có sức lôi cuốn đối với người dùng tin

Căn cứ vào đặc điểm, tính chất, hình thức thể hiện thông tin, người ta phân chia NLTT thành 2 loại:

- Nguồn lực thông tin truyền thống (còn gọi là NLTT dạng in ấn) là các dạng tài liệu in ấn như: sách, báo, tạp chí, sách chuyên khảo, đề tài, luận án, luận văn, các văn bản về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đời sống, xã hội

Trang 24

- Nguồn lực thông tin điện tử (còn gọi là NLTT số hoá): Các sản phẩm thông tin được thể hiện nhờ vào ứng dụng CNTT như: tài liệu âm thanh, hình ảnh, cơ sở dữ liệu mà người sử dụng thông tin có thể tiếp cận thông qua các thiết bị tin học trong môi trường phát triển CNTT Trong thời đại ngày nay, NLTT điện tử là NLTT tích cực của xã hội hiện đại

- Đối với thư viện trường ĐH, nguồn lực thông tin chủ yếu là các tài liệu tham khảo, sách giáo trình, báo, tạp chí, CSDL về các lĩnh vực thuộc chuyên ngành đào tạo của trường ĐH Bên cạnh đó, NLTT còn dưới dạng các đồ án, luận văn tốt nghiệp, luận án tiến sỹ, các đề tài cấp Bộ, cơ sở, báo cáo khoa học, các bài giảng, hội nghị, hội thảo khoa học, kỷ yếu đây là NLLT phong phú, có giá trị vô cùng quan trọng, phản ánh sức mạnh của các trường ĐH

1.3.3 Đặc điểm đối tượng sử dụng thông tin trong trường đại học

Trong trường đại học, với chức năng và nhiệm vụ là GD - ĐT và NCKH, đây là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu thông tin cũng như người sử dụng thông tin là yếu tố vô cùng quan trọng, tác động đến sự phát triển và tồn tại mọi hoạt động của thư viện Vì vậy, thư viện thường xuyên phải có sự thay đổi, nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của bạn đọc để đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm và dịch vụ của thư viện trên cơ sở những đặc điểm sau của người sử dụng thông tin:

Người sử dụng thông tin là người trực tiếp sử dụng nguồn thông tin và các sản phẩm, dịch vụ thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu dùng tin của mình và mỗi người có những cách tiếp cận thông tin khác nhau để sử dụng thông tin hiệu quả nhất

Người sử dụng thông tin và nhu cầu thông tin trong trường ĐH chủ yếu

là giảng viên, cán bộ nghiên cứu và học viên Đây là lực lượng đông đảo và có

vị trí quan trọng trong việc phát triển trung tâm, là thước đo để đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu trong tất cả mọi hoạt động Nếu chúng ta có NLTT phong phú mà người đọc không có nhu cầu sử dụng thông tin và không tiếp nhận

Trang 25

những thông tin thì thông tin đó cũng chỉ ở trong sách vở mà không được ứng dụng vào cuộc sống

- Đối với giáo viên: Đặc điểm người sử dụng thông tin trong trường ĐH chiếm số lượng lớn nhất vẫn là giáo viên, họ là người truyền đạt kiến thức, kỹ năng cho học viên, muốn đạt được hiệu quả trong quá trình giảng dạy, người giáo viên phải nắm được nhiều thông tin, hiểu và phân tích những thông tin để phục vụ cho công việc của mình Những thông tin của giáo viên phải được cập nhật, phải chính thống thì mới thu hút được học viên tham gia

- Đối với cán bộ quản lý, cán bộ nghiên cứu khoa học: Nhu cầu tin của CBQL, cán bộ nghiên cứu phục vụ cho việc quản lý và NCKH, những đề tài cấp Bộ, cấp cơ sở cần phải thu thập nhiều thông tin, các thông tin đó phải liên quan đến lĩnh vực họ phụ trách

- Đối với học viên: Đây là lược lượng đông đảo nhất, chiếm khoảng 85% trong nhà trường nên lượng thông tin mà học viên cần rất đa dạng và phong phú được viết trong giáo trình, tài liệu tham khảo, và các tạp chí chuyên ngành Đối với những sinh viên năm cuối, học viên sau ĐH , nhu cầu dùng tin rất nhiều để phục vụ cho việc làm đồ án tốt nghiệp, luận án, luận văn Ngoài

80-ra, thông tin còn được cập nhật trong các tạp chí, ấn phẩm trong và ngoài nước, nhằm mở rộng kiến thức

Như vậy, đặc điểm người sử dụng thông tin trong trường ĐH được bó hẹp trong khuôn khổ trường ĐH, nó không giống các thư viện công cộng là phục vụ tất

cả những ai có nhu cầu thông tin Vì thế, nghiên cứu người đặc điểm người sử dụng thông tin để cung cấp nhu cầu thông tin một cách có hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, góp phần xây dựng thư viện ngày càng phát triển hơn, lôi cuốn bạn đọc hứng thú vào hoạt động chung của thư viện

1.3.4 Nguyên tắc quản lý hoạt động Thông tin - Thư viện

Nguyên tắc quản lý là những quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà công tác quản lý bất kỳ cấp nào đều phải tuân theo khi thực hiện chỉ đạo và điều hành công việc quản lý của mình Các nguyên tắc quản lý một tổ chức gồm:

Trang 26

+ Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý

Việc quản lý các thư viện, cơ quan thông tin phải tuân theo nguyên tắc này Một trong những nhiệm vụ quan trọng của các tổ chức Đảng ở cơ sở là cùng với chính quyền chăm lo công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, bố trí sắp xếp cán bộ một cách hợp lý nhằm phát huy được năng lực, nhiệt tình của đội ngũ cán bộ

+ Nguyên tắc tập trung dân chủ

Là nguyên tắc kết hợp lãnh đạo tập trung của các cấp lãnh đạo với việc phát huy tính chủ động sáng tạo của cán bộ, tập thể cán bộ trong thư viện Mọi công việc trong thư viện đều được mọi người biết và bàn, từ đó giao trách nhiệm cho một người điều hành và mọi người phải tuân theo sự điều hành đó

+ Nguyên tắc thủ trưởng lãnh đạo

Là nguyên tắc đảm bảo quyền lãnh đạo tối cao tập trung cho một cá nhân

là thủ trưởng cơ quan Người đó có đủ quyền hành cần thiết để chỉ đạo, điều khiển, ổn định công việc và phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan trước Nhà nước và pháp luật Tất cả cán bộ, nhân viên trong cơ quan phải phục tùng lệnh điều hành của thủ trưởng cơ quan Để tránh độc đoán, cửa quyền, người lãnh đạo phải biết kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể cùng tham gia quản lý, phát huy tinh thần làm chủ tập thể của cán bộ dưới quyền

+ Nguyên tắc kiểm tra thường xuyên, kịp thời

Là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình quản lý Mục đích của việc kiểm tra là giúp người quản lý bao quát được tất cả công việc của đơn vị bảo đảm kết quả đạt được phù hợp với mục tiêu, kế hoạch đề ra; bảo đảm sử dụng các nguồn lực một cách hữu hiệu; phát hiện kịp thời những vấn đề sai sót

để chấn chỉnh, sửa sai

+ Nguyên tắc khuyến khích vật chất và tinh thần

Các biện pháp khích lệ tinh thần cũng như v ật chất có tác dụng to lớn kích thích người lao động, góp phần tăng năng suất lao động và cống hiến hết mình cho công việc thể hiện qua việc khuyến khích động viên tinh thần bằng

Trang 27

các danh hiệu thi đua và các phần thưởng vật chất phải luôn được chú trọng đồng thời

1.3.5 Yêu cầu quản lý hoạt động Thông tin – Thư viện

Quản lý hoạt động TT-TV là hoạt động quản lý hành chính sự nghiệp,

nó phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về cơ chế quản lý hoạt động của TT-TV trong trường ĐH, thỏa mãn những yêu cầu sau:

Một là, phải thiết lập một cơ cấu thích hợp đảm bảo tổ chức sử dụng, khai thác VTL thư viện một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất Tức là phải xây dựng được hệ thống các bộ phận bên trong thư viện - đơn vị thực hiện chức năng TT-TV trong trường ĐH cho hợp lý với điều kiện của từng trường ĐH

Hai là, phải quản lý tốt nhất các nguồn lực được nhà trường giao cho công tác Thông tin – Thư viện gồm: Cán bộ thư viện, vốn tài liệu, nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất - kỹ thuật

Ba là, cơ chế hoạt động Thông tin – thư viện không trái với luật pháp hiện hành như Luật Giáo dục, Pháp lệnh Thư viện, Quy định về tổ chức, cơ chế hoạt động của đơn vị thực hiện chức năng TT- TV và phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan chủ quản là trường ĐH

1.3.6 Phương pháp quản lý hoạt động Thông tin – Thư viện

Hiện nay có rất nhiều phương pháp quản lý hoạt động của Trung tâm TT-TV đang được áp dụng rộng rãi và đạt hiệu quả cao Nhìn chung quản lý là một phương thức làm cho hoạt động của một tổ chức nhằm khuyến khích, động viên cá nhân, tập thể hoàn thành công việc một cách hiệu quả nhất

Các phương pháp quản lý cơ quan TT-TV bao gồm những phương pháp sau:

+ Phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng

Phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ làm công tác thư viện tạo điều kiện cho họ nắm vững những chủ trương, đường lối và chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, từ đó người lao động xác định được trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của mình đối với công việc, đồng thời nâng

Trang 28

cao tính tự giác trong công việc, tự nguyện chấp hành công việc và phát huy được tính sáng tạo để hoàn thành tốt công việc

+ Phương pháp tâm lý – xã hội

Lãnh đạo dùng phương pháp tâm lý – xã hội tác động vào tâm tư, tình cảm của người lao động, tạo ra bầu không khí hồ hởi, yêu thích và tự nguyện gắn bó công việc, với tập thể, hăng say công việc, giải quyết những yêu cầu, thắc mắc trong công việc cũng như việc động viên, giúp đỡ họ khi gặp khó khăn trong cuộc sống, những yếu tố tâm lý, tình cảm tác động mạnh mẽ đến hiệu quả của công việc

+ Phương pháp hành chính – luật pháp

Đây là cách thức tác động trực tiếp của cơ quan quản lý cấp trên đối với cấp dưới bằng các mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định bắt buộc cấp dưới phải thực hiện đúng, tuân thủ đầy đủ và triệt để

+ Phương pháp tổ chức – điều khiển

Đây là cách thức tác động kết hợp việc tổ chức với việc điều khiển, chỉ đạo sát sao để thúc đẩy toàn bộ đơn vị, cơ quan doanh nghiệp, tổ chức hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu mà tổ chức đã đặt ra

+ Phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế được sử dụng một cách có hiệu quả khi nhà quản

lý sử dụng nó để kích thích cá nhân, tập thể và toàn xã hội phấn đấu đưa năng suất lên cao theo mục tiêu đã đặt ra và có trách nhiệm với công việc đó

Tóm lại, có rất nhiều phương pháp quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa mà các nhà quản lý sử dụng Các phương pháp này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và phải sử dụng hài hòa, kết hợp nhiều phương pháp với nhau để đạt hiệu quả cao nhất

1.3.7 Cơ chế quản lý hoạt động của Thông tin – Thư viện

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thư viện;

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về thư viện;

Trang 29

- Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý Nhà nước về thư viện

Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước trong việc phối hợp với

Bộ Văn hóa thông tin thực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về thư viện

- Trường ĐH thực hiện quản lý các hoạt động của trung tâm TTKH và TLGK theo sự phân công của trường

1.4 Hoạt động của Trung tâm thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa trong trường đại học

1.4.1 Hình thức tổ chức hoạt động của Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa trong trường đại học

Trong các trường ĐH nói chung, hệ thống TT-TV luôn được quan tâm xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nâng cao kiến thức của cán bộ, giáo viên và học viên Đồng thời, góp phần xây dựng các trường ĐH trở thành cái nôi để đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, là nguồn lực quan trọng phát triển đất nước

Hiện nay, đơn vị thực hiện chức năng TT-TV trong hệ thống các trường

ĐH được thành lập với tên gọi là Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Ngoài những nội dung quản lý hoạt động TT-TV trong một trường

ĐH nói chung như đã nghiên cứu ở trên, với mục tiêu cuối cùng là nâng cao kiến thức, kỹ năng cho người đọc để phục vụ cho công tác; phục vụ cho NCKH Hơn nữa, Trung tâm TTKH và TLGK ở trường ĐH còn là phương tiện phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục chính trị tư tưởng, là công cụ đấu tranh sắc bén trên mặt trận văn hóa, tư tưởng, đấu tranh với mọi thế lực thù địch, góp phần giữ gìn an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội

Bên cạnh đó, hàng năm Thư viện được đầu tư kinh phí để trang bị phương tiện dạy và học hiện đại góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, trong đó thư viện là nơi được quan tâm đầu tư rất nhiều vì thư viện là

Trang 30

trung tâm của trường học, là cơ sở để đánh giá chất lượng của trường bộ mặt của trường Nhìn vào thư viện để đánh giá ngôi trường đó có phát triển hay không Điều quan trọng hơn hết, hoạt động TT-TV trong ngành Công an có những đặc thù riêng và đối tượng phục vụ của thư viện cũng có những điểm riêng Đối tượng phục vụ chủ yếu của thư viện là cán bộ lãnh đạo chỉ huy, cán

bộ NCKH các cấp, giảng viên, sinh viên, cán bộ chiến sĩ, sỹ quan nghiệp vụ,

hạ sỹ quan, công nhân viên công an và trình độ nhận thức của người sử dụng thông tin rất đa dạng Do đó, tùy thuộc vào tính chất, mức độ nhận thức và yêu cầu tính bảo mật mà sử dụng những hình thức, biện pháp cung cấp thông tin, dung lượng phù hợp với từng đối tượng cụ thể Nguyên tắc bảo mật là một trong những yêu cầu quan trọng được đặt hàng đầu trong quản lý hoạt động của thư viện Để bảo đảm nguyên tắc này, công tác phổ biến, cung cấp thông tin là đối tượng điều chỉnh trực tiếp của pháp chế về bảo mật: Pháp lệnh bảo

vệ bí mật Nhà nước ngày 28/12/2000, Quy chế bảo vệ tài liệu mật, ban hành kèm theo Quyết định số 07/2014/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ Tuyệt mật và Tối mật của Trung ương Đảng và Văn phòng Trung ương Đảng, Luật Báo chí (1999), Hướng dẫn số 537/KH-CT ngày 23/12/1997 của Tổng cục Chính trị về việc bảo vệ bí mật Nhà nước trong tiếp xúc và hoạt động báo chí

Hình thức phổ biến, cung cấp thông tin được sử dụng thông qua việc tìm hiểu nhu cầu dùng tin của người sử dụng thông tin, người quản lý xác định được nhu cầu dùng tin để cung cấp, phổ biến thông tin sao cho phù hợp và đảm bảo đúng nguyên tắc cũng như quy định của bảo mật thông tin, tài liệu Các hình thức phổ biến, cung cấp thông tin:

- Thông tin ấn phẩm;

- Thông tin bằng phim ảnh, băng ghi âm, băng ghi hình;

- Thông tin qua báo cáo viên (thông tin báo cáo miệng);

- Thông tin qua mạng máy tính nội bộ của đơn vị;

- Phục vụ kiểu thư viện;

Trang 31

- Phổ biến thông tin thông qua hội nghị, hội thảo;

- Phổ biến thông tin thông qua triển lãm;

- Các hệ thống tra cứu thông tin;

- Thư mục;

- Tạp chí tóm tắt;

- Cơ sở dữ liệu;

- Băng hình/phim tư liệu, khoa học

Các hình thức quản lý hoạt động của TT-TV với mục đích là cung cấp cho người sử dụng thông tin những thông tin cần thiết để phục vụ cho việc dạy

và học cũng như NCKH Các hình thức phổ biến, cung cấp thông tin đảm bảo tính chính xác, khách quan nhưng cũng phải đảm bảo tính bí mật của thông tin, không để tình trạng lộ, lọt thông tin Hình thức cung cấp, phổ biến thông tin đa dạng, phong phú và phù hợp với yêu cầu của lực lượng vũ trang

1.4.2 Yêu cầu đối với hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa trong trường đại học Công an

+ Về cơ sở vật chất

- Phòng đọc và cho mượn: Được chia thành hai khu riêng biệt, có phòng đọc dành cho sinh viên và phòng đọc cho cán bộ chiến sĩ, giáo viên; phòng đọc phải trang bị đủ chỗ ngồi và ánh sáng

- Trang thiết bị chuyên dùng phải đầy đủ, bố trí một cách khoa học và hợp lý, có giá sách, tủ, thư mục, máy vi tính, các phương tiện nghe nhìn khác

- Kho sách: Được chia thành các bộ phận như: sách giáo trình; sách tham khảo; sách nghiệp vụ CAND; các loại báo chí, tạp chí, tập san của ngành

- Phòng in ấn, xuất bản đảm bảo máy in, phô tô để phục vụ công tác

+ Về nguồn lực thông tin và dịch vụ thông tin

- Nguồn lực thông tin phải thống nhất trong một hệ thống của toàn trường

- Tăng cường cả về lượng và chất của nguồn thông tin, cung cấp đầy đủ nguồn thông tin phục vụ giảng dạy và học tập, NCKH

Trang 32

- Cấu trúc, tổ chức lại nguồn lực thông tin hợp lý với nhiều hình thức khác nhau, nhằm khai thác thông tin hiệu quả và thoả mãn nhu cầu tin của bạn đọc/ người sử dụng thông tin một cách đầy đủ nhất

- Cung cấp thêm các hình thức tổ chức bạn đọc có hiệu quả với nhiều cách tiếp cận, truy cập tài liệu, thông tin phong phú, áp dụng thông tin đó vào thực tiễn công tác

- Đẩy mạnh công tác đào tạo người sử dụng thông tin Cung cấp cho người sử dụng thông tin các kiến thức cũng như kỹ năng sử dụng các tài liệu ở thư viện một cách hiệu quả để phục vụ công việc học tập, nghiên cứu

+ Về số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ TT-TV

- Xây dựng đội ngũ cán bộ TT-TV đảm bảo đủ về số lượng và hợp lý

về cơ cấu nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của phục vụ bạn đọc Vì vậy, lãnh đạo Học viện hết sức quan tâm xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ thư viện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Học viện

- Về chất lượng đội ngũ cán bộ thư viện:

+ Về trình độ chuyên môn: Tuyển chọn những cán bộ có trình độ chuyên môn về nghiệp vụ thư viện; Thường xuyên đào tạo và bồi dưỡng cán

bộ có trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ thư viện để nắm bắt các nguồn thông tin ngày càng phong phú, đa dạng, đồng thời có khả năng phân tích tổng hợp thông tin nhằm hướng dẫn tư vấn thông tin cho người đọc, người sự dụng thông tin; Có kiến thức về CNTT, có khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật hiện đại và thông thạo ngoại ngữ, nhất là tiếng anh; Có năng lực

tổ chức, quản lý và vận hành hoạt động TT-TV hiện đại

+ Về phẩm chất chính trị, tư tưởng: Phải có phẩm chất chính trị vững

vàng, đạo đức trong sáng và lương tâm nghề nghiệp, lòng yêu nghề và có trách nhiệm với công việc, phải luôn thể hiện tích cực, chủ động xử lý những tình huống bất ngờ xảy ra trong công tác

Trang 33

1.5 Nội dung quản lý hoạt động Trung tâm Thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa trong trường Đại học

1.5.1 Tổ chức lập kế hoạch hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học

và Tư liệu giáo khoa

Lập kế hoạch hoạt động của Trung tâm TTKH và TLGK là việc lựa chọn những chương trình hành động trong tương, xác định được những công việc cần ưu tiên làm trước, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm để đạt được mục tiêu đề ra

Lập kế hoạch hoạt động phải dựa vào những yếu tố chủ quan và khách quan, yếu tố về môi trường, điều kiện hoàn cảnh của đơn vị để đưa ra một kế hoạch phù hợp và người quản lý dựa vào những yếu tố đó để đưa ra các quyết định chính xác, phù hợp

Lập kế hoạch hoạt động là quá trình quan trọng để duy trì hoạt động chung của tổ chức Dựa vào những kế hoạch này, tổ chức sẽ xác định được mục tiêu cần làm để đạt được kế hoạch đặt ra, xác định được nguồn lực phù hợp để kế hoạch đó thành công

1.5.2 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa

Sau khi kế hoạch được vạch ra, để thực hiện được kế hoạch đó, người quản lý cú quyền lực cao nhất trong đơn vị là Giỏm đốc Trung tõm đứng ra điều hành và chỉ đạo mọi hoạt động của Trung tõm Công tác chỉ đạo quản

lý hoạt động của Trung tâm TTKH và TLGK phụ thuộc vào mục tiêu của Trung tâm đó đặt ra Mục tiêu quản lý công tác TTKH và TLGK phải được xác định trên cơ sở nhiệm vụ của Trung tâm TTKH và TLGK và xuất xứ tình hình thực tế nhà trường Từ nhiệm vụ đó xác định rõ mục tiêu quản lý cho từng giai đoạn phát triển của Trung tâm TTKH và TLGK Để đạt được mục tiêu quản lý công tác của Trung tâm, người quản lý phải thể hiện vai trò của người quản lý biến trạng thái hiện tại của Trung tâm TTKH và TLGK sang trạng thái mục tiêu

Trang 34

Như vậy, công tác chỉ đạo trong Trung tâm TTKH và TLGK là một quá trình tác động đến các thành viên trong Trung tâm bao gồm các hoạt động phân công, hướng dẫn, đôn đốc, động viên, thúc đẩy làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt mục tiêu của Trung tâm Nhiệm vụ của người quản

lý khi thực hiện chức năng chỉ đạo là: Ra các mệnh lệnh, thông báo truyền đạt mệnh lệnh, hướng dẫn, động viên, giúp đỡ cấp dưới thực hiện mệnh lệnh, hướng dẫn, điều chỉnh những lệch lạc, sai sót xuất hiện trong quá trình thực hiện, huấn luyện cán bộ và nhân viên dưới quyền

Sự chỉ đạo trong Trung tâm TTKH và TLGK phải đảm bảo các nguyên tắc:

- Nguyên tắc đảm bảo quản lý nhà nước: Quản lý nhà nước trong Trung tâm là quản lý bằng luật lệ, điều lệ, quy định, quy chế

- Nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân: Trong công tác quản lý Trung tâm, công tác quản lý công tác TTKH và TLGK là quan trọng nhất Để xác định trách nhiệm của cán bộ, nhân viên, người quản lý cần phải dựa vào các quy định có tính chất nhà nước đối với các công việc cụ thể của cán bộ và nhân viên

- Nguyên tắc phân công công việc, giao nhiệm vụ hợp lý, phù hợp với năng lực cán bộ, nhân viên, sát với thực tế Để đảm bảo nguyên tắc này người quản lý cần nắm chắc thực trạng tình hình Trung tâm, đội ngũ cán bộ, nhân viên, điều kiện, năng lực của mỗi cán bộ, nhân viên trong Trung tâm

- Nguyên tắc phối hợp tốt các lực lượng trong và ngoài Trung tâm Phối hợp các đoàn thể: Công đoàn, Đoàn Thanh niên, giáo viên, sinh viên, chính quyền dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ nhà trường sẽ tạo sức mạnh tổng hợp trên cơ sở xây dựng các mối quan hệ

Về nội dung công tác chỉ đạo bao gồm: Chỉ đạo lập kế hoạch, chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch và chỉ đạo kiểm tra, đánh giá, giữa chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau

Trang 35

1.5.3 Triển khai thực hiện kế hoạch hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa

Triển khai thực hiện kế hoạch hoạt động của Trung tâm là khâu rất quan trọng trong mọi hoạt động của Trung tâm Sau khi xây dựng được kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch, lãnh đạo Trung tâm phải bắt tay vào việc triển khai thực hiện kế hoạch sao cho hiệu quả và đạt được mục tiêu mà đơn vị đã đặt ra Việc triển khai thực hiện kế hoạch có nghĩa là người quản lý phải phân công thực hiện, sắp xếp nhân lực hợp lý và cần xác định chính xác vấn đề nào cần được ưu tiên, lên kế hoạch cụ thể và chi tiết cho việc thực hiện các việc đã nêu trong kế hoạch

Giao kế hoạch cho các bộ phận, giải thích và truyền đạt những thông tin cũng như yêu cầu cho các cá nhân thực hiện kế hoạch đó

1.5.4 Kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa

Công tác kiểm tra, giám sát là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện ra những thiếu sót để kịp thời điều chỉnh nhằm đạt tới mục tiêu đã đặt ra, góp phần đưa toàn bộ hệ thống quản lý lên trình độ cao hơn Kiểm tra, giám sát thực hiện kế hoạch để người quản lý có thể nắm bắt được chính xác, kịp thời tình hình hoạt động của Trung tâm trên

cơ sở đó đánh giá thực trạng của các hoạt động thực tiễn ở mức độ tốt, bình thường, xấu, phát hiện được những cái tốt để khuyến khích, động viên, đồng thời phát hiện những sai phạm, thiếu sót để kịp thời uốn nắn và điều chỉnh Tìm ra những nguyên nhân và đưa ra những biện pháp hoạt động có hiệu quả

để đạt được mục tiêu của Trung tâm đã đề ra

Công tác báo cáo là công việc rất quan trọng của người quản lý Lãnh đạo Trung tâm theo định kỳ phải gửi các loại báo cáo theo quy định lên Giám đốc Học viện để báo cáo những công việc mình đã làm, những tồn tại, yếu kém đồng thời đề ra các biện pháp, phương hướng phát triển trong thời gian tới

Trang 36

Đánh giá chất lượng ở từng khâu là việc làm hết sức cần thiết, qua kiểm tra, báo cáo sẽ đánh giá được chất lượng trong tất cả các mặt hoạt động, để xem mặt nào được đánh giá tốt, mặt nào chưa tốt thông qua đó để rút kinh nghiệm

Thực trạng việc kiểm tra, báo cáo và đánh giá chất lượng các mặt hoạt động của Trung tâm ở mức độ TB Công việc kiểm tra chủ yếu chỉ diễn ra ở các khâu quan trọng, kiểm tra qua loa, đại khái, chưa thật sự đi sâu đi sát với tình hình thực tế của đơn vị, vẫn còn tình trạng trong quá trình kiểm tra phát hiện những sơ hở, thiếu sót nhưng vẫn chưa thực sự có những biện pháp kịp thời để khắc phục Và kiểm tra thường được báo trước nên xuất hiện những việc chỉ mang tính chất đối phó

Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa thường xuyên báo cáo lên lãnh đạo cấp trên những công việc mình đã làm, những hạn chế, thiếu sót và đề xuất những biện pháp khắc phục được các đồng chí trong Ban Giám đốc nhiệt tình ủng hộ Hàng tuần, tháng, quý Trung tâm đều gửi các báo cáo lên lãnh đạo cấp trên để tranh thủ được uy tín cũng như sự ủng hộ của cấp trên đối với Trung tâm Thông qua báo cáo đó, Giám đốc Học viện và Giám đốc Trung tâm có thể nắm rõ được tất cả các hoạt động của Trung tâm, công việc

mà Trung tâm đã làm, đang làm qua đó biết được những thuận lợi cũng như những khó khăn, vướng mắc, đề xuất Ban Giám đốc đưa ra các biện pháp để giải quyết và có những hướng phát triển tốt hơn cho Trung tâm

Khâu đánh giá chất lượng là khâu yếu nhất trong tất cả các mặt hoạt động của Trung tâm TTKH và TLGK Đánh giá chất lượng trong hoạt động của Trung tâm là khâu cuối cùng và rất quan trọng nhưng hiện nay vẫn đang xem nhẹ và không thường xuyên quan tâm kể cả lãnh đạo và cán bộ trực tiếp làm công tác Nguyên nhân là do tư tưởng chủ quan, nghĩ rằng các mặt hoạt động này chỉ mang tính chất tương đối, xem đây là công việc hàng ngày cần phải làm mà chưa thật sự tâm huyết với công việc đó, vì thế việc đánh giá chất lượng của cán bộ Trung tâm đối với các mặt hoạt động của thư viện còn nhiều bất cập và hạn chế và được đánh giá là yếu nhất

Trang 37

1.6 Yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa trong trường đại học

1.6.1 Về nhân lực quản lý

Con người là nguồn lực quan trọng nhất duy trì mọi hoạt động của tổ chức, nếu không có con người thì tổ chức sẽ không tồn tại và phát triển Sự thành, bại của tổ chức phụ thuộc vào nhân tố con người Nhân lực phải được

bố trí hợp lý, sắp xếp đủ về số lượng để phục vụ công tác hiệu quả hơn

1.6.2 Năng lực quản lý

Đội ngũ cán bộ quản lý chưa được đào tạo bài bản và nhiều kinh nghiệm về công tác TT –TV còn nhiều hạn chế Số lượng cán bộ làm công tác TT – TV chủ yếu từ các trường Đại học khác mà chưa qua lớp đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ thư viện nên năng lực quản lý nhìn chung còn yếu kém Cán bộ quản lý chủ yếu làm theo kinh nghiệm, dò dẫm mà chưa thật sự có kiến thức và trình độ chuyên môn Năng lực còn thấp, thụ động với công việc Bên cạnh đó còn có sự sắp xếp công việc chưa hợp lý, chưa đánh giá đúng khả năng của mỗi người Năng lực về lãnh đạo, quản lý còn yếu kém ảnh hưởng đến rất nhiều hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa

1.6.3 Môi trường hoạt động

- Lãnh đạo Học viện và lãnh đạo Trung tâm chưa thật sự chỉ đạo quyết liệt và chưa quan tâm nhiều đến chế độ chính sách của cán bộ làm công tác thư viện Chính vì thế, cán bộ chưa thật sự tâm huyết với nghề Yếu tố này cũng ảnh hưởng rất lớn đến những hoạt động của Trung tâm

- Môi trường hoạt động của Trung tâm thuộc các trường đại học ngành Công an cũng có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển Trường đại học ngành Công

an có môi trường hoạt động khép kín, sinh viên ở trong trường nên những hoạt động của Trung tâm cũng có sự ảnh hưởng Ngoài giờ lên lớp, sinh viên phải lên thư viện đọc sách, học tập và nghiên cứu tài liệu, vì vậy cán bộ quản lý của Trung tâm cũng phải phục vụ ngoài giờ, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác

- Phải tạo được không khí học tập và nghiên cứu khoa học thoải mái nhất, độc giả có thể đến thư viện đọc sách, nghiên cứu tài liệu, đọc báo có đủ chỗ ngồi, đủ ánh sáng Nếu thiếu những nhân tố đó thì thư viện sẽ không thu

Trang 38

hút được người đọc đến học tập và nghiên cứu, điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến n.hững hoạt động quản lý của thư viện

Trang 40

30 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trên cơ sở phân tích lý luận về quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH

và TLGK, chúng tôi nhận thấy rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của công tác TTKH và TLGK trong sự nghiệp GD-ĐT và NCKH ở các trường ĐH

1 Thư viện là công cụ truyền bá tri thức một cách hiệu quả nhất, là nơi truyền tải thông tin một cách nhanh nhất trong thời kỳ vũ bão của CNTT, đó cũng là nơi lưu giữ, bảo quản những tài liệu quý hiếm, qua nó người đọc có thể khai thác những thông tin bổ ích phục vụ học tập và đời sống

Đối với trường đại học, TTKH và TLGK đáp ứng yêu cầu việc cung cấp thông tin cho công tác GD- ĐT và NCKH

2 Trung tâm TTKH và TLGK ở các trường ĐH có chức năng và nhiệm vụ cung cấp tài liệu, thông tin phục vụ cho giảng dạy, học tập và NCKH Chủ thể quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH và TLGK ở trường ĐH gồm: với chủ thể quản lý trực tiếp là Hiệu trưởng/Giám đốc trường ĐH; chủ thể quản lý gián tiếp là

Bộ Văn hóa – Thông tin thông qua cơ quan quản lý ngành là Vụ Thư viện

3 Trung tâm TTKH và TLGK của trường ĐH là cơ quan hành chính sự nghiệp, tất cả các hoạt động đều mang tính thiết chế văn hóa và phải đảm bảo các yêu cầu chung của trường ĐH

Tóm lại Chương 1 đã trình bày các khái niệm cơ bản, các chức năng quản

lý và các vấn đề về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và quản lý các hoạt động của Trung tâm TTKH và TLGK trong trường ĐH Đồng thời chương 1 cũng nêu bật được các yếu tố tác động đến việc quản lý từ đó là cơ sở để đánh giá

và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH và TLGK ở Học viện Chính trị CAND

Ngày đăng: 10/06/2016, 11:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Lê Văn Viết (2006), Thư viện học - Những bài viết chọn lọc, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư viện học - Những bài viết chọn lọc
Tác giả: Lê Văn Viết
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2006
15. Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch (2007), “Quyết định số 10/2007/QĐ- BVHTTDL ngày 04/5/2007 phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTTDL ngày 04/5/2007 phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch
Năm: 2007
16. Bộ Công an (2014), “Quyết định số 1636/QĐ-BCA, ngày 02/4/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị CAND” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1636/QĐ-BCA, ngày 02/4/2014 quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Học viện Chính trị CAND
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2014
17. Thủ tướng Chính phủ (2014), “Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Học viện Chính trị CAND”.B. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Học viện Chính trị CAND
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2014
18. Fzredrick Winslow Taylor (1991), “The scientific management principles” Sách, tạp chí
Tiêu đề: The scientific management principles
Tác giả: Fzredrick Winslow Taylor
Năm: 1991
19. Harold Koontz, Cyri O’donnell, Heinz Weihrich (1994) “The crucial issue of management "; Publishing scientific and technical, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: The crucial issue of management
Tác giả: Harold Koontz, Cyri O’donnell, Heinz Weihrich
Nhà XB: Publishing scientific and technical
Năm: 1994
20. Mulhem, J. (2002), "Current issues in higher education quality assurance: An introduction for academic library administrators", Advances in Library Administration and Organization, Volume 19 pp. 137-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Current issues in higher education quality assurance: An introduction for academic library administrators
Tác giả: Mulhem, J
Nhà XB: Advances in Library Administration and Organization
Năm: 2002
21. Owusu-Ansah, E.K. (2004), "Information Literacy and Higher Education: Placing the Academic Library in the Center of a Comprehensive Solution", The Journal of Academic Librarianship, Volume 30 (1), pp. 3-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Information Literacy and Higher Education: Placing the Academic Library in the Center of a Comprehensive Solution
Tác giả: Owusu-Ansah, E.K
Nhà XB: The Journal of Academic Librarianship
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức và bộ máy của Học viện Chính trị CAND - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức và bộ máy của Học viện Chính trị CAND (Trang 45)
Bảng 2.1. Quy mô và ngành nghề đào tạo - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Bảng 2.1. Quy mô và ngành nghề đào tạo (Trang 46)
Bảng 2.2. Thống kê số lƣợng cán bộ Trung tâm TTKH và TLGK - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Bảng 2.2. Thống kê số lƣợng cán bộ Trung tâm TTKH và TLGK (Trang 53)
Bảng 2.6. Đánh giá thực trạng các nội dung quản lý qui trình kỹ thuật - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Bảng 2.6. Đánh giá thực trạng các nội dung quản lý qui trình kỹ thuật (Trang 62)
Bảng 2.7. Trình độ của cán bộ, nhân viên - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Bảng 2.7. Trình độ của cán bộ, nhân viên (Trang 63)
Bảng 2.8. Kết quả công tác đào tạo, bồi dƣỡng ca ́ n bô ̣ về nghiệp vụ, - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Bảng 2.8. Kết quả công tác đào tạo, bồi dƣỡng ca ́ n bô ̣ về nghiệp vụ, (Trang 65)
Bảng 2.9. Bảng khảo sát nhu cầu sử dụng tài liệu, thông tin của Học viện - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Bảng 2.9. Bảng khảo sát nhu cầu sử dụng tài liệu, thông tin của Học viện (Trang 68)
Bảng 2.10. Mức độ sử dụng các loại hình phục vụ tại thƣ viê ̣n - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Bảng 2.10. Mức độ sử dụng các loại hình phục vụ tại thƣ viê ̣n (Trang 71)
Bảng  2.11. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động  của Trung tâm - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
ng 2.11. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động của Trung tâm (Trang 76)
Bảng 2.12. Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của  Trung tâm - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Bảng 2.12. Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của Trung tâm (Trang 78)
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp đề xuất - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp đề xuất (Trang 107)
Bảng 3.2. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp đề xuất - Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân
Bảng 3.2. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp đề xuất (Trang 109)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w