Tuy nhiên, trong kinh doanh rừng tự nhiên nhiệt đới trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, việc khai thác rừng được các nhà khoa học đề xuất đều tập trung vào các chỉ tiêu: cườ
Trang 11
MỞ ẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Rừng tự nhiên nước ta thể hiện rõ những đặc trưng cơ bản của rừng mưa nhiệt đới, phần lớn là rừng thường xanh, kín tán, nhiều tầng, hỗn giao nhiều loài cây, khác tuổi với các loài cây gỗ chiếm ưu thế, có quá trình sinh trưởng, tái sinh liên tục
Điều kiện tự nhiên nhiệt đới nói chung cũng như ở nước ta nói riêng làm cho các hệ sinh thái trong đó có hệ sinh thái rừng sinh sôi phát triển mạnh mẽ nhanh chóng Nhưng nếu chúng bị suy thoái thì tốc độ suy thoái cũng rất nhanh và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng rất khó khắc phục
Có nhiều nguyên nhân làm cho diện tích rừng nước ta bị thu hẹp Sự suy thoái của rừng đã giảm sút nhiều khả năng cung cấp lâm sản và tác dụng phòng hộ của rừng Theo đó là sự gia tăng tác hại của thiên tai, như bão, lũ, hạn, úng dẫn đến tổn thất lớn về tài sản, tính mạng con người
Tầng cây gỗ là thành phần chính tạo lập nên hệ sinh thái rừng, nó đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập tiểu hoàn cảnh rừng, sản lượng gỗ và chức năng sinh thái của rừng Bất cứ biến đổi đáng kể nào của tầng cây gỗ cũng dẫn đến sự thay đổi về năng suất, sản lượng cũng như vai trò sinh thái của rừng
Sự thay đổi tầng cây gỗ của rừng là kết quả của quá trình diễn thế rừng, và
do nhiều nguyên nhân gây ra như các yếu tố thuộc nội tại hoàn cảnh rừng, cũng như các yếu tố tác động bên ngoài Khai thác rừng là một nhân tố bên ngoài ảnh hưởng
cả trực tiếp và gián tiếp đến cấu trúc và tổ thành rừng, đặc biệt là tầng cây gỗ Hoạt động khai thác ảnh hưởng trực tiếp đến tầng cây gỗ (tức là tác động trực tiếp đến cấu trúc rừng), và ảnh hưởng gián tiếp đến tiểu hoàn cảnh rừng, do vậy khai thác sẽ ảnh hưởng rõ đến tầng cây gỗ cả trung gian và dài hạn trong kinh doanh rừng Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, tổ thành và mức đa dạng tầng cây gỗ có quan hệ chặt chẽ không chỉ với trữ lượng gỗ mục đích mà còn có ảnh hưởng rõ rệt đến sự ổn định
và chức năng sinh thái của rừng Việc đánh giá sự thay đổi về tổ thành và sự đa
Trang 22
dạng tầng cây gỗ trước và sau khai thác vì thế có ý nghĩa quan trọng cho đề xuất biện pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng sau khai thác nhằm đảm bảo kinh doanh rừng bền vững (hướng tới bền vững về sản lượng, duy trì và phát huy chức năng sinh thái rừng)
Tây Nguyên là vùng có đất đai màu mỡ, khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài cây So với cả nước thì trữ lượng rừng ở đây còn tương đối cao Kinh doanh khai thác rừng bền vững đang mở ra cho vùng một hướng đi và cơ hội phát triển mới Để quản lý cũng như sử dụng bền vững tài nguyên rừng thì rất cần có những công trình nghiên cứu cụ thể và sâu sắc về những vấn đề có liên quan đến tài nguyên rừng tại đây Một trong những lĩnh vực nghiên cứu có liên quan cần thiết là nghiên cứu về sự thay đổi cấu trúc tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác Tuy nhiên, trong kinh doanh rừng tự nhiên nhiệt đới trên thế giới nói chung và
ở Việt Nam nói riêng, việc khai thác rừng được các nhà khoa học đề xuất đều tập trung vào các chỉ tiêu: cường độ, luân kỳ, lượng khai thác, xác định loài cây mục đích khai thác mà ít chú ý đến tổ thành và sự đa dạng của tầng cây gỗ Việc xác định các biện pháp nuôi dưỡng rừng chủ yếu dựa theo các quy định kỹ thuật chung chung thiếu cơ sở khoa học dẫn đến việc khai thác không hợp lý và nuôi dưỡng rừng kém hiệu quả
Xuất phát từ thực tiễn đó, luận án “Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực Tây Nguyên” được thực hiện là rất cần thiết và có ý nghĩa Kết quả nghiên cứu của đề
tài là cơ sở khoa học cho việc khai thác và nuôi dưỡng rừng một cách bền vững cho khu vực Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
a Về khoa học
Bổ sung những thông tin khoa học làm sáng tỏ sự thay đổi về tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác Đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh
sau khai thác ở vùng Tây Nguyên
Trang 33
b Về thực tiễn
- Làm sáng tỏ được sự thay đổi về tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau
khai thác
- Đưa ra được các biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng, phục hồi rừng
tự nhiên lá rộng thường xanh sau khai thác ở vùng Tây Nguyên
3 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu chung
Đánh giá được sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực Tây Nguyên làm cơ sở khoa học cho đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh sau
khai thác ở vùng Tây Nguyên
b Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được sự thay đổi về tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác
- Đánh giá được sự thay đổi về đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác
- Đề xuất được biện pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng sau khai thác đảm bảo cho rừng phát triển bền vững và duy trì sự đa dạng cây gỗ
4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu: Rừng tự nhiên lá rộng thường xanh là rừng sản xuất đang đưa vào khai thác chính tại Tây Nguyên
b Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận án, chỉ tiến hành nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh sau khai thác ở vùng Tây Nguyên
- Về địa điểm nghiên cứu: Chỉ tiến hành nghiên cứu một số địa phương có khai thác gỗ tại vùng Tây Nguyên là: Gia Lai và Đắk Lắk loại hình khai thác chọn; Kon Tum loại hình khai thác tác động thấp
- Về thời điểm thu thập số liệu: Trước và ngay sau khi khai thác xong
- Về thời gian nghiên cứu: Từ 2013 đến 2016
Trang 44
5 Những đóng góp của luận án
- Về mặt học thuật: Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu bổ sung vào giáo
trình, bài giảng phục vụ cho giảng dạy ở bậc đại học trở lên
- Về mặt lý luận: Bổ sung những thông tin khoa học làm sáng tỏ sự thay đổi
về tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác Đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên
lá rộng thường xanh sau khai thác ở vùng Tây Nguyên
- Những luận điểm mới rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án
+ Đã xác định và đánh giá được một số thay đổi cơ bản về tổ thành và phân tích được tính đa dạng loài tầng cây gỗ trước và sau khai thác chọn cho kiểu rừng lá rộng thường xanh tại khu vực Tây Nguyên
+ Đã xây dựng được cơ sở và đề xuất được một cách tương đối hệ thống các biện pháp kỹ thuật từ thiết kế khai thác, xác định các chỉ tiêu kỹ thuật cho khai thác đến các biện pháp xử lý lâm sinh phục hồi rừng sau khai thác theo định hướng điều chế rừng một cách bền vững
- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu;
- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu;
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận;
- Phần kết luận, tồn tại, khuyến nghị: Các kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế, tồn tại của luận án và các khuyến nghị về nghiên cứu tiếp theo
Ngoài ra còn có hệ thống 38 bảng, 04 biểu, 18 hình vẽ, biểu đồ minh họa Tham khảo 118 tài liệu trong đó 86 tài liệu tiếng Việt, 32 tài liệu tiếng nước ngoài,
có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và phần phụ lục gồm các bảng biểu minh họa kết quả điều tra và tính toán
Trang 55
Chương 1 TỔNG QUAN VẤ Ề NGHIÊN CỨU
1.1 Ở nước ngoài
1.1.1 Phương thức khai thác
Rất nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về phương thức khai thác chọn, kết quả nghiên cứu đã đem lại những cống hiến và công trình có giá trị như Baur G.N (1964) [2]: Cơ sở sinh thái học kinh doanh rừng mưa Meyenfeldt von C.M (1978) [105] Stocker G.C (1985) [112] đã nghiên cứu các vấn đề kinh doanh rừng mưa, phục hồi rừng về tái sinh vệt và quản lý rừng mưa nhiệt đới dưới các góc độ khác nhau đã xác định mức độ phù hợp của phương thức khai thác chọn trong kinh doanh rừng mưa nhiệt đới
Theo Baur G.N (1964) [2] những lý do để lựa chọn phương thức khai thác duy trì rừng khác tuổi nhiệt đới là: trong khai thác chỉ cần lấy ra những cây gỗ thành thục và quá thành thục, những cây gỗ có kích thước nhỏ hơn và bất kỳ cây gỗ nào cao to hơn còn lành mạnh mà theo tình hình thông thường là vô dụng song có triển vọng thành loài có giá trị hàng hóa đều được chừa lại; cần tiếp tục bảo vệ đất, tránh xói mòn sau khi mở tán rừng có thể xảy ra mạnh; chống các bất trắc do yếu tố khí hậu có thể xảy ra; những lý do về mỹ quan trong cảnh quan chung của vùng, đặc điểm là những nơi liền kề với các diện tích rừng dùng làm nơi vui chơi, giải trí hay
du lịch Trong nhiều trường hợp, tất cả các lý lẽ trên có thể hoàn toàn được chấp nhận để duy trì một quần xã không đều tuổi Tuy nhiên, cũng cần phải cân nhắc các
lý lẽ này trước khi quyết định đưa ra những xử lý lâm sinh bởi phần lớn các loài cây
gỗ rừng nhiệt đới đều có xu hướng là loài ưa sáng Mặt khác, khác thác chọn nếu số lần khai thác ít, cường độ cao và tập trung sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt hơn là khai thác cường độ thấp số lần khai thác nhiều Hơn nữa, nhiều loài cây đặc biệt là
ở rừng mưa nhiệt đới thường có tán lá cực lớn có thể tạo ra hệ số đổ vỡ cao khi khai thác những cây này [22]
Trang 66
Một số phương thức chặt chọn được coi là có nhiều hứa hẹn với những thành
công ban đầu phải kể đến là: i) Phương thức chặt chọn ở Surinam (Nam Mỹ), một
chương trình thử nghiệm chặt chọn ở Surinam được tiến hành trong 17 năm với sự hợp tác giữa trường Đại học tổng hợp Surinam và trường Đại học nông nghiệp Wagenigen (Hà Lan) đã xây dựng một phương thức xử lý rừng có tên gọi là
“phương thức kinh doanh Celos” (CMS – Celos Management System) CMS là một phương thức nhằm khai thác một cách chọn lọc tại rừng mưa nhiệt đới với những xáo trộn nhỏ nhất trong hệ sinh thái rừng trong quá trình bảo tồn những giá trị kinh tế của rừng Đây là một phương thức đa chu kỳ, bởi vì một số thế hệ của những cây gỗ hiện có trong quần xã được chặt hạ trong các chu kỳ khai thác khác nhau khoảng 20 – 30 năm CMS có ưu điểm chính là bảo toàn được cấu trúc rừng
có hầu hết các cấp tuổi gần với trạng thái cân bằng cấp kính ii) Chặt chọn ở
Puecto-Rico (Nam Mỹ), chặt chọn ở đây được xác định trước hết là biện pháp xử lý
nhằm cải thiện quần xã và đưa rừng vào các điều kiện thích hợp để kinh doanh, đưa lại năng suất ổn định theo một phương thức chặt chọn chân chính Bởi vậy, phương thức này còn được gọi là phương thức chặt cải thiện tuyển chọn (selection improvement cutting) Điểm đáng chú ý của phương thức chặt này là, lúc đầu chu
kỳ chặt quy định 5 năm nhưng sau đó tăng lên 10 năm Đây là điều khó tránh khỏi
vì cường độ nhẹ, chu kỳ ngắn đã làm tăng các phí tổn trong khai thác Tuy nhiên, việc kéo dài chu kỳ chặt này không làm đảo lộn ý định chung trong một phương thức chặt chọn mặc dù điều đó có thể làm cho sản lượng hàng năm có thể bị rút bớt bởi qua chu kỳ dài mật độ của quần xã sẽ phải biến động ở mức cách xa hơn mức
mật độ tối ưu cần có (Baur G.N 1964) [2] iii) Chặt chọn ở Indonesia, cũng như
nhiều nước Đông Nam Á khác, rừng mưa ở Indonesia ưu thế thuộc về các loài cây
họ Dầu (Dipterocarpaceae) Các quần xã rừng mưa có giá trị thương mại của quốc
đảo này tập trung chủ yếu ở hai đảo lớn là Kalimantan và Xumatra Những công
việc lâm sinh trước đây của Indonesia tập trung vào kinh doanh rừng Tếch (Tectona
grandis) rộng lớn và rất tốt ở vùng phân mùa rõ rệt, đặc biệt là ở Jawa Tuy nhiên,
gần đây các cơ quan lâm nghiệp của nước này đã chú ý đến việc kinh doanh rừng
Trang 77
mưa Với đối tượng này, phương thức chặt chọn và trồng lại theo ngôn ngữ của Indonesia là TPTI (Tebang Pilihdan Taman Indonesia) được áp dụng rộng rãi Một cách tổng quát, TPTI là một phương thức khai thác chọn với chu kỳ 35 năm và giới hạn dưới của cỡ kính được phép khai thác là 50cm Số lượng cây lấy đi trong một lần chặt được khống chế bằng một chỉ số sao cho ít nhất phải chừa lại 25 cây trên một hecta cho chu kỳ sau Thông thường, mỗi lần chặt không lấy đi quá 10 cây/hecta Tại các khoảng trống hình thành sau khai thác được trồng bổ sung cây con sau khi thu hoạch từ một đến hai năm Ở nơi có cây tái sinh sau hai thác dày chỉ
chăm sóc, phát quang cho cây mục đích và tỉa thưa những cây kém giá trị [22] iv)
Chặt chọn ở Ấn Độ, một trong những chế độ quản lý rừng sớm nhất và còn được
chấp nhận rộng rãi nhất là phương thức chặt chọn, nó bao gồm việc khai thác có chọn lọc các cây gỗ có giá trị và dựa vào tái sinh tự nhiên là chủ yếu Phương thức này được áp dụng ở những nơi có các loài cây có giá trị với tỷ lệ thấp; nơi thiếu thông tin về sử dụng đầu ra, khó tiếp cận hoặc có yêu cầu về bảo vệ môi trường Những xử lý sau này của Ấn Độ có cải biến thêm là sử dụng phương thức khai thác chọn, kết hợp với các biện pháp nhằm cải thiện thúc đẩy cây tái sinh có sẵn phát triển lên Về kỹ thuật, chu kỳ chặt chọn khá dài (25 đến 45 năm), không mở tánmạnh bằng cách quy định các giới hạn về đường vanh thân cây và hạn chế số cây lấy ra trên một hecta đồng thời xem xét đến cự ly giữa các cây gỗ chặt hạ Tùy thuộc vào tình hình tái sinh nơi khai thác, có thể bổ sung cây tái sinh thông qua tái sinh nhân tạo nơi không có đủ cây con Sau khai thác, tiến hành chăm sóc, phát quang cho lớp cây tái sinh đã mọc và nâng dần tầm cao của vòm lá Ở quần xã
Dipterocarpus spp và Mesua ferre, dùng kỹ thuật ken cây tầng giữa để nâng cao
vòm lá lên khoảng 9 mét, chăm sóc cây tái sinh, sau 10 năm, cây tái sinh có chiều cao từ 0,3 mét đã sinh trưởng đạt tới 2,25 mét Còn ở nơi không dùng kỹ thuật nâng cao vòm lá, cây tái sinh cùng tuổi chỉ sinh trưởng được 0,3 mét sau khai thác lên 0,75 mét (Baur G.N 1964) [2]
Kỹ thuật khai thác tác động thấp (LIL – Low Impact Logging) hay còn được gọi là khai thác giảm thiểu tác động (RIL - Reducing Impact Logging) đã được
Trang 88
chứng minh làm giảm thiểu tác động đến môi trường đến 50% so với phương pháp khai thác thông thường, các khu vực rừng sau khai thác công nghệ RIL có tốc độ phục hồi nhanh hơn, Pinard and Putz (1997) [100] Viện sinh học và khoa học môi trường Malaysia đã tiến hành nghiên cứu đề tài sự tác động của khai thác và khả năng phục hồi CO2 sau khai thác tác động thấp, kết quả cho thấy tỷ lệ cây bị tác động (tổn thương) ở phương pháp thông thường cao hơn RIL Sau khai thác độ che phủ của RIL duy trì ở mức 81%, phương pháp thông thường là 51% Lượng lưu trữ
CO2 sau khai thác RIL cao hơn đến 41%, Philippa R Lincoln (2008) [99]
1.1.2 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Lịch sử quản lý rừng nhiệt đới được phát triển từ những năm đầu của thế kỷ XIX ở Ấn Độ, Mianma và nhanh chóng lan rộng sang nhiều khu vực ở châu Phi Khởi đầu, hoạt động quản lý được thực hiện nhằm bảo vệ có hệ thống các nguồn tài nguyên gỗ Ở giai đoạn sau này, các hoạt động quản lý được đa dạng hóa như: chuyển đổi rừng tự nhiên thành rừng trồng hoặc nông lâm kết hợp, tác động nhằm tạo rừng tự nhiên có năng suất cao hơn, hoặc giảm thiểu tác động và sử dụng tái sinh tự nhiên để tạo ra các lâm phần có mục tiêu lấy gỗ (các hệ thống tái sinh tự nhiên) Ngoài ra, quản lý rừng cũng bao gồm các hệ thống phục hồi bằng việc phục hồi lại rừng trên đất đã bị thoái hóa (các hệ thống phục hồi) Theo (Gomez-Pompa
& Burley, (1991) [92] có thể gộp các hệ thống quản lý rừng trên thế giới về 4 nhóm chính: nhóm các hệ thống thay thế; nhóm các hệ thống rừng chặt trắng; nhóm các
hệ thống thúc đẩy tái sinh tự nhiên; nhóm các hệ thống rừng phục hồi
Nỗ lực đầu tiên về quản lý rừng bền vững, gắn liền với chứng chỉ được thực hiện là thành lập Hệ thống Rừng Trang trại Hoa Kỳ (American Tree Farm System-ATFS) năm 1941, tiếp đó là Hội đồng Quản trị Rừng (Forest Stewardship Council-FSC) năm 1993, Lembaga Ekolabel Indonesia (LEI), Forest Certification Schemes (PEFC) năm 1999 và Hệ thống chứng chỉ gỗ Malaysia MTCS (Malaysian Timber Certification Scheme -MTCS) năm 2001 Cho đến cuối năm 2011, tổng diện tích rừng được quản lý bến vững, được cấp chứng chỉ theo các bộ tiêu chuẩn khác nhau
là 401.418.552 ha, tương đương 10% tổng diện tích rừng toàn cầu [1]
Trang 99
Tháng 10 năm 1993, cuộc họp sáng lập FSC với 130 thành viên từ 26 quốc gia diễn ra tại Toronto, Canada đã bầu ra Hội đồng Quản trị rừng đầu tiên Tiếp đó vào năm 1994 các thành viên sáng lập phê duyệt các nguyên tắc và tiêu chí FSC cùng quy định về hệ thống tổ chức FSC Từ đó tới nay FSC đã trải qua quá trình phát triển mạnh mẽ với hệ thống chứng chỉ quản lý rừng bền vững có uy tín trên thế giới FSC là tổ chức uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận,
kể cả Bắc Mỹ và Tây Âu [37] FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ FSC cấp chứng chỉ QLRBV cho rừng ôn đới, nhiệt đới, rừng tự nhiên, rừng trồng và đang mở rộng ra rừng sản xuất lâm sản ngoài gỗ Tổ chức này có trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn-Đức có cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ, công bằng FSC có đại diện tại hơn 50 quốc gia Thành viên FSC được chia thành nhóm xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển) Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC Hội đồng Quản trị rừng quốc tế (FSC) đề xuất 10 nguyên tắc và các tiêu chuẩn quản lý rừng Ủy ban phát triển bền vững (CSD) cũng đề nghị các chỉ thị rừng bền vững Tổ chức các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) và hội tiêu chuẩn Canada (CSA) đã đưa ra hệ thống quản lý ngành lâm nghiệp - tiêu chuẩn ISO 14000
Toronto-Theo Christopher Upton và Stephen Bass (1996) [90], hầu hết các tiêu chuẩn quản lý rừng do các tổ chức quốc tế đưa ra đều được chấp nhận ở mức cao Trong
đó các tiêu chuẩn của FSC được coi là sát thực và có khả năng ứng dụng rộng rãi hơn cả Tuy nhiên, cho đến nay tình hình QLRBV trên thế giới vẫn chưa được cải thiện đáng kể, nhiều khu rừng vẫn đứng trước nguy cơ bị tàn phá nghiêm trọng
Năm 1997, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Bảo tồn Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) công bố chương trình hợp tác với mục tiêu đưa 200 triệu hecta rừng được quản lý sản xuất gỗ vào chương trình “Quản lý bền vững được cấp chứng chỉ độc
Trang 10số, lương thực, khai thác lậu, cháy rừng , hai là bị thị trường thế giới từ chối nếu
gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế Bỏ qua quan niệm rào cản thương mại, các nước thành viên ASEAN đều cần bảo vệ rừng nước mình
và đều cần bán sản phẩm đồ gỗ vào các thị trường quốc tế với giá bán cao Vì đây là nhu cầu cấp bách, khách quan, nên trong các năm 1995-2000 ASEAN đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV cho mình vào năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại Hội nghị Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệp Phnom-penk
2001 Song, do Bộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo theo 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC Tuy vậy, các nước
có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia (Kim ngạch xuất khẩu gỗ 5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7 - 5 tỷ USD/năm), sau đó đến Philippines, Thailand đều được cấp chứng chỉ FSC (theo 10 nguyên tắc của FSC) trong các năm 2002-
hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần
cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Tái sinh rừng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và duy trì sự đa dạng về thực vật trong các hệ sinh thái rừng (Phùng Ngọc Lan, 1986) [35]
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân
bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được
Trang 1111
nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930 ; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Jones, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur G.N, 1964 ; Rollet, 1969) [106] Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ
có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định
Khi nghiên cứu tái sinh ở rừng đới châu Phi, A.Obrevin (1938) (dẫn theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [35] đã khái quát hóa các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh, nhưng phần lý giải các hiện tượng đó còn bị hạn chế Vì vậy lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa góp ích cho thực tiễn sản xuất các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra
Vansteenis (1956) [106] khi nghiên cứu về rừng mưa đã nhận xét, đặc điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến đặc điểm tái sinh phân tán liên tục Ngược lại, tái sinh phân tán liên tục ở rừng mưa lại là tiền đề để tạo thành một rừng mưa hỗn loài khác tuổi Tổ thành những loài cây tái sinh mọc ở lỗ trống là những loài cây ưa sáng mọc nhanh, đời sống ngắn, không có mặt trong tổ thành rừng, mà nguồn gốc có thể là do chim, những động vật từ xa mang tới… Tỷ lệ cây
ưa sáng tỷ lệ thuận với kích thước lỗ trống, tức là kích thước lỗ trống càng lớn, thì
tỷ lệ cây ưa sáng càng nhiều Đây là loài cây tiên phong làm nhiệm vụ hàn gắn các
lỗ trống ở trong rừng Sau khi các loài cây ưa sáng đã tạo ra bóng, cây tái sinh của những loài cây chịu bóng có trong thành phần của rừng nguyên sinh xuất hiện, vươn lên thay thế các loài cây ưa sáng Khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Châu Á, tác giả cho thấy có hai đặc điểm tái sinh phổ biến, đó là tái sinh vệt và tái sinh phân tán liên tục
M.Loeschau (1977) 46 đã đưa ra một số đề nghị để đánh giá một khu rừng
có tái sinh đạt yêu cầu hay không phải áp dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tổng quát về mật độ tái sinh như nơi có lượng cây tái sinh rất lớn
Trang 1212
H Lamprecht (1969) [94] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Baur G N (1964) [2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng mưa nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards P.W (1952), Bernard Rollet (1974) Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như: Budowski (1956), Bava (1954), Catinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh
tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh
có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [14]
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng, độ ẩm đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này: H.Lamprecht (1989) [95] cho rằng kết cấu của quần thụ lâm phần có
Trang 13Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (Dẫn theo Ghent A W, 1969) [91], với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2 Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Walton, Barnard (1950) [114] đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau Phương pháp này được
áp dụng nhiều hơn vì nó thích hợp cho từng đối tượng cụ thể
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ các đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là cơ sở để xây dựng các giải pháp lâm sinh hợp lý Kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững Tuy nhiên vì rừng mưa nhiệt đới luôn tồn tại những quy luật hết sức phức tạp, đời sống của nó gắn liền với điều kiện tự nhiên
và tác động của con người Vì thế cần tiếp tục nghiên cứu quy luật tái sinh tự nhiên của hệ sinh thái rừng ở các vùng địa lý khác nhau và mức độ tác động (khai thác) của con người Đó là cơ sở cho việc phân tích và đề xuất các giải pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng một cách khoa học và hợp lý
1.1.4 Cấu trúc tổ thành
Cấu trúc tổ thành khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau tương ứng về các đặc trưng cấu trúc khác của rừng Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc tổ thành nhất là cấu trúc
Trang 14"Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây"
Baur G.N (1962) [2] khi nghiên cứu rừng mưa ở khu vực gần Belem trên sông Amazôn, trên ô tiêu chuẩn diện tích khoảng hai hecta đã thống kê được 36 họ thực vật và trên ô tiêu chuẩn diện tích hơn bốn hecta ở phía bắc New South Wales cũng
đã ghi nhận được sự hiện diện của 31 họ chưa kể cây leo, cây thân cỏ và thực vật phụ sinh
Trong rừng ẩm nhiệt đới châu Phi, theo Catinot R (1974) [5] có đến vài trăm loài thực vật; còn trong tổ thành thực vật rừng ẩm nhiệt đới ở Đông Nam Á thường
có một nhóm loài ưu thế - nhóm họ dầu, chiếm trên 50% quần thụ
Ở châu Á, trong rừng thứ sinh nhiệt đới vùng Shaxin - Trung Quốc, Zeng và các cộng sự (1998) đã thống kê khoảng 280 loài cây dược liệu, 80 loài cây có dầu
và 20 loài cây có sợi cũng như một số loài cây gỗ có giá trị khác (dẫn theo Zaizhi Z (2001) [118]) Mức độ phong phú của thành phần thực vật trong rừng thứ sinh ở Nepal cũng đã được Kanel K.R và Shrestha K (2001) [96] điểm qua, có đến trên 6.500 loài cây có hoa và 4.064 loài cây không hoa, trong đó có trên 1.500 loài nấm
và hơn 350 loài địa y
Trang 15Xô (cũ), Nguyễn Bá Thụ (1995) [73] Tác giả đã đưa ra nhận định, một hệ thực vật
cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường có tới 1.500 – 2.000 loài
Engler (1882) đưa ra con số thống kê cho thấy số loài thực vật thế giới là 275.000 loài, trong đó thực vật có hoa có 155.000 - 160.000 loài, thực vật không có hoa 30.000 - 135.000 loài Riêng thực vật có hoa trên thế giới, Van lop (1940) đưa
ra con số 200.000 loài, Grosgayem (1949) là 300.000 loài Hai vùng giàu có nhất thế giới là Brazil 40.000 loài và quần đảo Malaixia 45.000 loài Hệ thực vật giàu loài liên quan không chỉ có điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi mà còn phụ thuộc vào các nhân tố lịch sử Trung Âu có 3500 loài, 800 chi, 120 họ trong khi đó ở Trung Trung Hoa có 2900 loài 936 chi 155 họ (1/6/12,2) (Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [70]
Theo Phạm Hoàng Hộ (1999-2003) [24], hệ thực vật trên thế giới như sau: Pháp có khoảng 4.800 loài, châu Âu 11.000 loài, Ấn Độ khoảng 12-14.000 loài, Canada có khoảng 4.500 loài kể cả loài du nhập, cả Bắc Mỹ có trên 14.000 loài, Malaysia và Indonesia có khoảng 25.000 loài
Lê Trần Chấn và cs (1999) [13], đưa ra con số về số lượng loài thực vật ở các vùng như sau: vùng hàn đới (đất mới: 208 loài); vùng ôn đới (Litva: 1439 loài), cận nhiệt đới (Palextin: 2334 loài); vùng nhiệt đới ẩm và nhiệt đới gió mùa (Philippin: 8099 loài, Bắc Việt Nam: 5609 loài
Vườn quốc gia Doi Suthep-Pui ở miền Bắc Thái Lan, với diện tích 261km2
có 2.220 loài Trong đó, rừng thường xanh có độ phong phú về loài cây có mạch cao nhất (930 loài) so với các loại rừng khác: rừng rụng lá-tre nứa có 740 loài, rừng
Trang 1616
hỗn giao có 755 loài, rừng nửa rụng lá - Sồi, có 533 loài, rừng thường xanh - Thông
có 540 loài (Maxwell and Elliott, 2001) [102]
Cho đến nay, chưa có đầy đủ các tài liệu nói về hệ thực vật của các nước Đông Dương Ngoài bộ sách nổi tiếng Flore générale de l’Indochine của Lecomte xuất bản tại Pari (1907 - 1951) [97] Một số công trình tổng quát ít nhiều nói về hệ thực vật Đông Dương như Vidal (1960) [113], Schimid (1989) đã cho con số tổng quát khoảng 10.000 loài và dự đoán có thể con số đó tăng lên 12.000 đến 15.000 loài Những công trình lớn khác cần được kể đến là Bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam viết bằng tiếng Pháp, do Aubreville chủ biên, bộ sách gồm 29 tập
bộ Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam từ 1960 - 1997 [87] bao gồm 74 họ cây có mạch (chưa đầy 20% tổng số các họ) do các nhà thực vật Pháp biên soạn
Theo Lê Trần Chấn và cs (1999) [13], trong phạm vi bắc bán cầu, tỷ lệ 10 họ giàu loài nhất của hệ thực vật giảm dần từ vùng bắc cực đến vùng xích đạo (từ gần 75% đến khoảng 40%) Trong khi đó số họ chiếm vị trí nổi bật trong 10 họ giàu loài nhất tăng dần từ vùng nhiệt đới (10%) đến vùng ôn đới, nhất là hàn đới
Như vậy, từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, tính đa dạng về thực vật
đã được nghiên cứu từ thế kỷ XIX Các nghiên cứu tính đa dạng của thực vật thường tập trung vào việc điều tra thống kê số lượng loài ở vùng, khu vực, một quốc gia cụ thể Trên cơ sở đó đánh giá độ phong phú về thành phần loài, sự phân bố của thực vật… Đây là cơ sở dữ liệu để phân tích tính đa dạng thực vật ở một vùng nào đó và để đánh giá so sánh giữa các vùng, các quốc gia
1.1.6 Ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh học trong nghiên cứu đa dạng thực vật
Hầu hết các nghiên cứu phân tích đánh giá về thảm thực vật đều áp dụng phương pháp Quadrat (Mishra, 1968; Rastogi, 1999 và Sharma, 2003) [28] Quadrat
là một ô mẫu hay đơn vị lấy mẫu có kích thước xác định và có thể có nhiều hình dạng khác nhau Có 4 phương pháp Quadrat có thể được áp dụng đó là: phương pháp liệt kê, phương pháp đếm, phương pháp đếm và phân tích, và phương pháp ô
cố định
Trang 1717
Rastogi (1999) [107] và Sharma (2003) [109], đã đưa ra công thức tính mật
độ và mật độ tương đối của loài trên mỗi ô tiêu chuẩn quadrat
Raunkiaer (1934) [108]; Rastogi (1999) [107] và Sharma (2003) [109] đưa ra công thức tính tần số xuất hiện của loài trên các ô mẫu nghiên cứu
Độ phong phú được tính theo công thức của Curtis và Mc.Intosh (1950) Diện tích tiết diện thân là đặc điểm quan trọng để xác định ưu thế loài, Honson và Churchbill (1961), Rastogi (1999), Sharma (2003) đã đưa ra công thức tính diện tích tiết diện thân và diện tích tiết diện thân tương đối [28]
Giá trị quan trọng (Importance Value - IV%) [28] được các tác giả Curtis & Mc.Intosh (1950); Phillips (1959); Mishra (1968) áp dụng để biểu thị cấu trúc, mối tương quan và trật tự ưu thế giữa các loài trong một quần thể thực vật
Chỉ số đa dạng sinh học loài H được áp dụng phổ biến nhất là phương pháp Shannon and Wiener (1963) [110], chỉ số mức độ chiếm ưu thế (Concentration of Dominance-Cd) được tính toán theo Simpson (1949) [111] Breugel M V (2007) [87] đã sử dụng chỉ số entropy Rensyi để phân tích tính đa dạng của rừng phục hồi sau nương rẫy ở Mexicô
Vấn đề nghiên cứu định lượng đa dạng sinh học trên thế giới được tiến hành rất sớm, đây là công cụ đắc lực phục vụ công tác nghiên cứu đa dạng thực vật; những chỉ số đa dạng sinh học này được nhiều nước trên thế giới quan tâm áp dụng, trong đó chỉ số Shannon and Wiener (1963) là được áp dụng phổ biến nhất khi xác định tính đa dạng sinh học ở một khu vực nào đó, còn chỉ số mức độ quan trọng thường được áp dụng khi tính toán tỷ lệ tổ thành sinh thái của các loài trong quần xã thực vật Cho đến nay thì những chỉ số này vẫn được áp dụng phổ biến, nhưng chỉ số entropy Rensyi lại có ưu việt hơn các chỉ số đa dạng sinh học trên và mới được đưa vào sử dụng
1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật
ĐDSH gắn liền với nguồn sinh kế của các cộng đồng cư dân sống trong và gần hệ sinh thái rừng, các hoạt động sống của họ tác động ảnh hưởng đến công tác
Trang 18Trên phạm vi toàn thế giới, diện tích rừng nhiệt đới tự nhiên đã giảm từ 1.945 triệu hecta xuống còn 1.803 triệu hecta giữa những năm 1990 và 2000 10 triệu hecta đã được chuyển thành đất trồng trọt, trong khi 142 triệu hecta được chuyển thành các mục đích sử dụng đất khác, chỉ có khoảng 10 triệu hecta đất đã bị mất rừng được tái sinh thành rừng nhiệt đới Do đó tốc độ giảm diện tích rừng nhiệt đới tự nhiên trung bình hàng năm là 14,2 triệu hecta (xấp xỉ 0,7%/năm), bằng tỷ lệ giảm trong vòng 10 năm trước; 1980-1990 (FAO, 2001) [116] Tại Thái Lan, diện tích rừng tự nhiên là 9,8 triệu hecta (19,3% diện tích cả nước) vào năm 2000 Mặc
dù có lệnh cấm khai thác gỗ thương mại từ năm 1989, diện tích rừng tự nhiên giảm trung bình (1995-2000) vẫn là 0,26 triệu hecta (2,3% của năm 1995) (FAO, 1997, 2001) [115, 116] Nhìn chung từ năm 1961, Thái Lan đã mất hơn 2/3 diện tích rừng của mình (Bhumibamon, 1986) [89]
Theo Levingston R., Zamora R (1983) [117], rừng đã cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ và một loạt các "sản phẩm ngoài gỗ", người dân địa phương coi
"lâm sản phụ" thường quan trọng hơn gỗ Trong hơn 2 tỷ người sống ở các nước đang phát triển, gỗ là quan trọng nhất, nó cung cấp nguồn năng lượng Hơn 80% lượng tiêu thụ gỗ trong thế giới thứ ba là dùng làm nhiên liệu Củi chiếm trung bình 85% tổng nguồn cung năng lượng của dân cư nông thôn Vào năm 1977, xấp xỉ 300 triệu m3 tương đương 87% tổng sản lượng gỗ đã được sử dụng làm nhiên liệu ở châu Phi, xấp xỉ 200 triệu m3 tương đương 75% ở Mỹ Latinh và 533 triệu m3 tương
Trang 19đó chuyển đến những khu vực xa hơn chưa bị tác động, rừng vẫn còn nguyên sinh
Và những con đường mòn nhanh chóng được hình thành bởi những người dân để khai thác gỗ và như vậy, hậu quả cuối cùng là rừng bị tàn phá Myers (1980) [103]
đã ước tính rằng đối với mỗi m3 gỗ khai thác xấp xỉ bằng 1/5 hecta rừng bị phá hủy bởi những người dân Các nước ảnh hưởng nặng nhất bởi sự phát triển này là những nước có nguồn thu nhập phụ thuộc vào xuất khẩu gỗ Một ví dụ của Côte d’Ivoire, năm 1973, có đến 33% tổng số lợi nhuận của nước này là bán gỗ Đất nước này rộng nhất châu Phi, xuất khẩu gỗ đứng thứ 5 trên thế giới
Phần lớn ĐDSH tồn tại ở những nơi có các "cộng đồng dân tộc thiểu số" đã từng sống qua nhiều thế hệ; họ sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong môi trường sống của mình theo một cơ cấu bền vững (R.B Primack, 1999) [57] Trước đây, khi nguồn tài nguyên còn dồi dào, dân số ít nên không có nhiều áp lực từ việc phát triển kinh tế, xã hội Về sau, khi nguồn tài nguyên ngày càng suy giảm, áp lực gia tăng dân số, cần mở rộng diện tích đất canh tác, phát triển kinh tế thì việc khai thác tài nguyên đã trở thành mối đe dọa đối với công tác bảo tồn Nhu cầu sử dụng các sản phẩm sinh học tự nhiên ngày càng cao đã dẫn đến khai thác tài nguyên là mối lo ngại lớn về sự suy thoái đa dạng sinh học
Nghiên cứu “Đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu” được LHQ [47] công bố ngày 5/10/2010 cảnh báo ĐDSH rừng đang bị lâm nguy trên phạm vi toàn cầu do tốc độ mất rừng, suy thoái rừng và diện tích rừng nguyên thuỷ giảm quá nhanh trên thế giới Nghiên cứu chỉ rõ các mối đe dọa khác đối với ĐDSH rừng là do việc quản
lý rừng không bền vững, biến đổi khí hậu, cháy rừng, thảm họa tự nhiên, dịch bệnh
và do sự phá hoại của các loài côn trùng và các sinh vật xâm thực
Trang 2020
Các nhà khoa học Mỹ lần đầu tiên xây dựng thành công bản đồ thay đổi diện tích rừng trên Trái đất [38] với độ phân giải cao, nhằm cung cấp cái nhìn chi tiết về
hệ thống rừng tại các khu vực trên thế giới Theo kết quả nghiên cứu trong giai đoạn
từ năm 2000-2012, khoảng 2,3 triệu km2 diện tích rừng đã biến mất Trong khi đó, chỉ có 0,8 triệu km2 rừng được phủ xanh Trung bình mỗi năm, diện tích rừng nhiệt đới trên trái đất bị mất trên toàn cầu tăng khoảng 2.100 km2 Tốc độ thay đổi mật độ rừng ở các khu rừng phía Đông Nam nước Mỹ cao gấp 4 lần so với các khu rừng ở Nam Mỹ, với hơn 31% diện tích rừng bị mất đi hoặc được tái sinh Paraguay (Nam Mỹ) và Malaysia, Campuchia (Đông Nam Á) là các quốc gia có tỷ lệ mất rừng cao nhất thế giới
Như vậy, các nghiên cứu nêu trên đã chỉ ra những nguyên nhân làm suy giảm tính đa dạng sinh học, nhưng chưa có một nghiên cứu nào nói đến hoạt động của con người thông qua khai thác ảnh hưởng như thế nào đến đa dạng loài cây gỗ Đây là một lĩnh vực còn bỏ ngỏ cần nghiên cứu để đề xuất biện pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng sau khai thác đảm bảo cho rừng phát triển bền vững và duy trì sự
Trần Ngũ Phương (1970) [49], đã sớm nghiên cứu về công tác kinh doanh rừng, xác định rõ phương thức khai thác chọn không phải chỉ gồm việc chọn cây để chặt và chừa lại một số cây gieo giống mà còn có một nội dung kỹ thuật toàn diện phải tiến hành chặt những cây lớn đã thành thục đồng thời tỉa thưa các cỡ cây gần thành thục và ít tuổi hơn, chăm sóc cây con, xúc tiến tái sinh tự nhiên và bổ sung tái sinh tự nhiên bằng tái sinh nhân tạo khi cần thiết
Trang 2121
Lê Sáu (1981) [59] cho rằng xét từ đặc điểm điều kiện tự nhiên, nhu cầu kinh
tế xã hội, tính chất đặc điểm cấu trúc rừng, yêu cầu phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái… thì phương thức khai thác chọn rất phù hợp với nhiều đối tượng rừng gỗ
tự nhiên ở nước ta, tác giả đề nghị sớm hạn chế chặt chọn thô vì nó sẽ gây ra tác hại khôn lường, nên mở rộng áp dụng phương thức chặt chọn đảm bảo tái sản xuất mở rộng vốn rừng và lợi ích của rừng, tác giả cũng đề xuất những biện pháp nâng cao chất lượng công tác bài cây khai thác chọn đảm bảo cho khai thác chọn có thể thực thi các nội dung kỹ thuật nhằm tái sản xuất mở rộng vốn rừng
Nguyễn Văn Trương (1983 – 1984) [82] đã công bố nhiều công trình nghiên cứu cấu trúc rừng phục vụ kinh doanh lợi dụng rừng, với quan điểm nền kinh doanh rừng tiến bộ phải xuất phát từ các nghiên cứu về cấu trúc rừng, đặc biệt là phân phối
số cây trên mặt đất rừng, trong quá trình khai thác chọn phải điều chỉnh cấu trúc rừng phù hợp với mục tiêu kinh doanh đề ra
Nguyễn Ngọc Lung (1983-1987) [39, 40, 41] qua nghiên cứu thực trạng ở các khu rừng khai thác chọn nước ta đã nêu nguyên nhân làm cho rừng bị xuống cấp
và đặt vấn đề phải nhanh chóng sửa đổi bổ sung đối với quy trình khai thác gỗ đã ban hành năm 1963 Tác giả đã xây dựng cơ sở khoa học cho lý thuyết rừng chuẩn
áp dụng vào khai thác chọn ở Việt Nam đồng thời nêu lên một số vấn đề giúp cho việc chỉ đạo công tác khai thác chọn và xây dựng vốn rừng đảm bảo kinh doanh lâu dài
Nguyễn Hồng Quân (1983-1984) [55, 54] nghiên cứu về điều chế rừng ở nước ta tác giả chỉ rõ chính những bất hợp lý trong quá trình áp dụng phương thức khai thác chọn và sự lạc hậu về nội dung kỹ thuật lâm sinh lâu nay đã dẫn đến hậu quả là vốn rừng ngày một nghèo nàn dần, tác giả đã đề xuất quan điểm và biện pháp vừa khai thác vừa xây dựng vốn rừng nhằm khắc phục hậu quả nói trên
Phùng Ngọc Lan (1984) [36] đã đề xuất những giải pháp đảm bảo tái sinh trong khai thác chọn hiện nay góp phần đẩy mạnh kinh doanh lợi rừng và xây dựng vốn rừng
Trang 2222
Vũ Đình Huề, Phạm Đình Tam (1989) [26] đã tiến hành khảo nghiệm quy phạm khai thác đảm bảo tái sinh ở Hương Sơn - Hà Tĩnh và đưa ra nhận định là phương thức khai thác chọn có kèm theo các biện pháp xử lý lâm sinh mang lại hiệu quả cao nhất cho phục hồi rừng
Nguyễn Hồng Quân, Trương Hồ Tố, Hồ Viết Sắc (1981) [51] đã xác định lượng khai thác, cường độ khai thác cho bốn cấp sản xuất của rừng khộp (không vượt quá 30% với cấp I và II, tối thiểu là 25% cho cấp III và IV), với luân kỳ khai thác xác định là 20 năm
Nguyễn Hồng Quân (1982) [52, 53] đã xác định phương hướng điều chế chung cho rừng tự nhiên Việt Nam; và đề xuất hướng điều chế tạm thời cho rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng với cường độ khai thác (25-30%), luân kỳ 20 năm và lượng khai thác được điều chỉnh qua tiết diện ngang
Nguyễn Văn Trương (1984) [83] đã đề xuất hướng khai thác nuôi dưỡng cho rừng nhiệt đới ẩm hỗn loài Việt Nam để đảm bảo tái tạo lại rừng, trong đó xác định
cơ sở tính toán lượng gỗ khai thác trên số bình quân của G/ha
Về phương diện quản lý, quy phạm QPN 14-92 (1993) [3] đề cập đến nuôi dưỡng rừng sau khai thác chọn với các quy định về kỹ thuật bài cây, cường độ chặt,
số lần chặt, nhưng chỉ nêu những quy định chung nhất, khó vận dụng vào điều kiện thực tế ở từng địa phương
Trần Cẩm Tú (1998) [77] dựa trên hiện trạng về diện tích, trữ lượng, cấu trúc, tăng trưởng và tái sinh, đề xuất hướng điều chế cho rừng sản xuất ở lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh, thông qua chu kỳ kiểm tra (10 năm), tính toán lượng khai thác hiện tại và dự đoán lượng khai thác ở các giai đoạn sau
Theo hướng sử dụng tái sinh nhân tạo để phục hồi rừng tự nhiên sau khai thác có các nghiên cứu của: Bùi Đoàn và các cộng sự (2001) [19] triển khai ở Long Đại (Quảng Bình); Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001) [61] trong nghiên cứu, đánh giá các biện pháp tác động vào rừng tự nhiên sau khai thác ở Hương Sơn, Ba Rền và Kon Hà Nừng
Trang 2323
Hồ Đức Soa (2001) [62] qua tổng hợp các đặc điểm rừng tự nhiên trước và sau khai thác 15 năm vùng Kon Hà Nừng, cho biết có sự thay đổi rõ rệt về cấu trúc
tổ thành cũng như sự gia tăng số lượng cây tái sinh trên các lâm phần sau khai thác
Hồ Đức Soa - Trần Kế Lâm - Nguyễn Thanh Xuân (2001) [63] từ nghiên cứu nuôi dưỡng rừng tự nhiên vùng bắc Tây Nguyên, cho rằng rừng giàu và trung bình khai thác với cường độ từ 30-50%, kết hợp các biện pháp nuôi dưỡng hợp lý sẽ đảm bảo cho rừng phục hồi tốt cả về chất lượng và trữ lượng Vấn đề này cần phải xem xét thêm, vì nếu khai thác với cường độ lớn đến 50% thì hầu như toàn bộ lớp cây gần thành thục và thành thục bị khai thác hết, rừng bị tàn phá nặng nề, khó phục hồi để đảm bảo luân kỳ khai thác
Để nuôi dưỡng rừng tự nhiên sau khai thác chọn ở Hương Sơn - Hà Tĩnh, Nguyễn Bá Chất (2001, 2003) [11, 12] đề nghị nên điều tiết giảm số loài ít giá trị kinh tế và số cây ở các cỡ kính tập trung (cỡ 8, 12, 16 cm) theo tỷ lệ số cây các cỡ kính với tổng số cây trên hecta ở các lâm phần mẫu, và chặt 20% số cây ít giá trị kinh tế để thúc đẩy sinh trưởng các loài còn lại
Nhằm phục hồi rừng ở vườn quốc gia Yordon - Đăk Lăk, Peter Erskine, Bảo Huy và Võ Hùng (2003) [101] đã đề xuất các phương pháp tác động lâm sinh gồm: xúc tiến tái sinh tự nhiên, trồng bổ sung nơi đất trống, làm giàu rừng và luỗng phát tre nứa xâm chiếm
Như vậy, qua tổng hợp các nghiên cứu nêu trên thì khai thác chọn được các nhà khoa học đề xuất đều tập trung vào các chỉ tiêu: cường độ, luân kỳ, lượng khai thác, xác định loài cây mục đích khai thác và đề xuất giải pháp lâm sinh sau khai thác rừng
Nhưng ảnh hưởng của khai thác chọn đến cấu trúc tổ thành và tái sinh tự nhiên, cũng như các đặc trưng cấu trúc tổ thành và tái sinh tự nhiên rừng trước và sau khai thác chọn vẫn còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu Các hạn chế trong kỹ thuật thi công khai thác rừng, việc vận dụng quy trình khai thác vào điều kiện thực
tế ở địa phương trước và sau khai thác chọn chưa được đề cập đầy đủ; cho thấy
Trang 24lệ đất có rừng lên 47% vào năm 2020 [75]
Năm 1998 có Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR cũng là một tổ chức NGO thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam đảm nhiệm cuộc vận động này, đồng thời còn phải soạn thảo Bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV, và vận động thành lập mạng lưới mô hình các chủ rừng quản lý tốt Giống như các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm và thương mại tự nguyện phấn đấu thực hiện các tiêu chí quản lý chất lượng và môi trường để đạt chứng chỉ ISO 9000 và 14000 vì lợi ích của chính mình và vì lợi ích và uy tín của quốc gia mình QLRBV và CCR là cách
áp dụng đặc thù cho ngành lâm nghiêp Trong nửa thế kỷ từ 1945 đến 1990 tại Việt Nam, rừng liên tục giảm diện tích từ 14,3 xuống 9,2 triệu hecta (mất 5,1 triệu hecta), tốc độ mất rừng cao nhất là giai đoạn 1980-1990 (mất 1,5 triệu hecta rừng),
mà lý do chính là do quản lý rừng không bền vững [76]
Từ năm 1993, nhờ nỗ lực to lớn của nhà nước và nhân dân thông qua các chương trình lớn như: 327, 661, trên 2 triệu hecta rừng đã được phục hồi Song đó mới là con số về số lượng, nếu rừng không được QLRBV thì việc mất rừng sẽ song song diễn ra với quá trình phục hồi rừng và chất lượng rừng cũng như các chức năng phòng hộ môi trường, xóa đói giảm nghèo cũng không thể phát huy được Các chương trình trồng rừng chỉ có ý nghĩa nếu như diện tích rừng hiện có được quản lý bảo vệ tốt Tháng 2/1998 một hội thảo quốc gia để xây dựng chương trình QLRBV được Bộ NN&PTNT, tổ chức FSC quốc tế, tổ chức WWF Đông Dương và đại sứ quán Hà Lan đồng tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh Tại hội thảo này đã thành
Trang 2525
lập Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (viết tắt là NWG) để thực hiện quá trình này
Từ tháng 6/2006 Viện QLRBV và CCR đã được thành lập nhằm tăng cường năng lực thực hiện quá trình QLRBV ở Việt Nam, và thu hút mọi sự hỗ trợ quốc tế, trước hết là cầu nối giữa các chủ thể QLRBV Việt Nam với FSC quốc tế Việt Nam thường xuyên thắt chặt quan hệ quốc tế bằng cách tham gia các hội nghị, hội thảo chuyên đề và theo vùng của FSC, tham gia các hoạt động và hội nghị cấp chuyên gia về QLRBV và CCR của khối ASEAN [42] Năm 2006 Việt Nam mới có 10.000 hecta rừng trồng đạt chứng chỉ FSC [43]
Năm 2008, Viện QLRBV bắt đầu tiến hành thử nghiệm mô hình chứng chỉ rừng theo nhóm cho gần 300 hộ trồng rừng sản xuất tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái và hướng dẫn Công ty Hải Vương xin cấp Chứng chỉ quản lý rừng của FSC
Năm 2010, lần đầu tại Việt Nam có một nhóm các hộ trồng rừng quy mô nhỏ
đã được Hội đồng Quản trị rừng (FSC) cấp chứng nhận quản lý rừng đạt tiêu chuẩn quốc tế bền vững về mặt môi trường, có lợi cho xã hội và mang lại lợi ích kinh tế Nhóm trồng rừng này gồm 118 hộ sinh sống tại năm thôn thuộc hai huyện Gio Linh
và Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Theo đó, diện tích rừng Keo được cấp chứng chỉ của nhóm là 317 hecta, đến năm 2013 đã có trên 800 hecta của 13 nhóm hộ được cấp chứng chỉ rừng FSC Hỗ trợ xin cấp chứng chỉ là một hoạt động của dự án: "Quản
lý rừng và kinh doanh lâm sản bền vững" của Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) Dự án nhằm kết nối thị trường giữa các khu rừng ở Việt Nam và các công
ty quốc tế có chính sách thu mua thông qua việc cấp chứng chỉ FSC Bên cạnh lợi ích kinh tế, các hộ dân còn được hoàn thiện kỹ năng quản lý rừng
Đến năm 2011 (nguồn Vụ Sử dụng rừng – Tổng cục Lâm nghiệp), đã có 10 Công ty Lâm nghiệp thuộc 6 tỉnh được Bộ đã thẩm định và UBND tỉnh phê duyệt các phương án Tổng diện tích tự nhiên được thực hiện 220.535 hecta, trong đó: có rừng tự nhiên: 160.177 hecta; rừng trồng: 6.100 hecta Sản lượng khai thác hàng năm: 56.000 m3/25.000 m3 được thực tế khai thác trước khi thực hiện phương án Đến năm 2011, diện tích rừng đã giao cho các hộ gia đình là 3.431.555 hecta (rừng
Trang 2626
tự nhiên 2.012.653 hecta, rừng trồng 1.418.902 hecta), nhưng chỉ có 7 nhóm hộ có xây dựng phương án khai thác rừng tự nhiên với khối lượng 15.000 m3, tương ứng khoảng 450 hecta, còn lại toàn bộ không có khai thác, hưởng lợi trên diện tích rừng được giao mà chủ yếu là kinh doanh rừng trồng có trữ lượng (682.499 hecta)
Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT ngày 03/11/2014 "Hướng dẫn về Phương án quản lý rừng bền vững"
1.2.3 Tái sinh rừng
Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những năm
1960 Rừng nhiệt đới Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung, nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động của con người nên những quy luật tái sinh bị xáo trộn nhiều Các kết quả nghiên cứu về tái sinh mới chỉ đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học hoặc công bố trên các tạp chí Lâm nghiệp Đinh Quang Diệp (1993) [18] khi nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở rừng khộp vùng Easup - Đăk Lăk đã kết luận: Độ tàn che, thảm mục, độ dầy tầng thảm mục, điều kiện lập địa là những nhân tố ảnh hưởng đến
số lượng và chất lượng cây con tái sinh dưới tán rừng Qua nghiên cứu tác giả cho thấy, tái sinh trong khu vực có dạng phân bố cụm
Thái Văn Trừng (1963, 1978) 84 khi nghiên cứu về “Thảm thực vật rừng
Việt Nam” đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá
trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện khác của môi trường sống như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có quy luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường sinh thái
Vũ Đình Huề (1975) 25] từ kết quả điều tra tái sinh tự nhiên theo các “loại hình thực vật ưu thế” rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969), đã tổng kết và rút ra nhận xét: Tái sinh tự nhiên rừng
Trang 2727
miền Bắc Việt Nam có đặc điểm của rừng nhiệt đới Trong rừng nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm kém giá trị Hiện tượng tái sinh theo đám tạo nên sự phân bố số cây không đều trên mặt đất rừng Từ kết quả đó, tác giả xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc nước ta
Nguyễn Hồng Quân (1984) 54 đã nghiên cứu kết hợp chặt chẽ khai thác với tái sinh nuôi dưỡng rừng Tác giả cho rằng để đáp ứng yêu cầu khai thác bảo đảm tái sinh và nuôi dưỡng rừng, đối với rừng không đồng tuổi cần thực hiện cả 4 nội dung chủ yếu là: thu hoạch cây thành thục, chặt tái sinh, chặt nuôi dưỡng và chuẩn hóa cấu trúc rừng về trạng thái mong muốn
Nguyễn Duy Chuyên (1985) 15 đã nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh
tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loài vùng Quỳ Châu, Nghệ An Tác giả nghiên cứu phân bố tái sinh theo chiều cao, tổ thành cây tái sinh, số lượng cây tái sinh Trên cơ sở phân tích toán học về phân bố cây tái sinh cho toàn lâm phần, tác giả cho rằng loại rừng trung bình (IIIA2) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Poisson, ở các loại rừng khác cây tái sinh có phân bố cụm
Hiện tượng tái sinh lỗ trống ở rừng thứ sinh vùng Hương Sơn - Hà Tĩnh được
Vũ Đình Huề, Phạm Đình Tam (1989) 26, nghiên cứu và kết luận: số lượng cây tái sinh xuất hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau Lỗ trống càng lớn, cây tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán Từ đó, tác giả đề xuất phương thức khai thác chọn tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng ở khu vực này
Vũ Tiến Hinh (1991) 21], nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh của rừng tự nhiên ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét: hệ số tổ thành tính theo phần trăm số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên hệ chặt chẽ Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành tầng tái sinh cũng vậy Do khó nhận biết tên cây của tầng tái sinh, nên có thể sử dụng quan hệ giữa hệ số tổ thành tầng tái sinh và tầng cây cao để xác định hệ số tổ thành tầng tái sinh Từ đó, nếu biết mật độ chung của những cây tái sinh có triển vọng của
Trang 2828
lâm phần, sẽ xác định được số lượng tái sinh của từng loài Trong điều chế rừng có thể sử dụng kết quả này để sơ bộ xem xét những loài cây mục đích nào chưa đủ số lượng tái sinh cần phải tra dặm hạt và những loài nào chỉ cần thông qua biện pháp xúc tiến tái sinh là đủ
Trần Xuân Thiệp (1995) 71 tiếp tục nghiên cứu vai trò của tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng thuộc miền Bắc Kết quả nghiên cứu cho thấy: ở vùng Tây Bắc, dù vùng thấp hay vùng cao tái sinh tự nhiên khá tốt về số lượng cây: từ 500-8.000 cây/hecta Rừng Tây Bắc thể hiện rõ các mặt ảnh hưởng đến chất lượng tái sinh: nghèo về trữ lượng, diễn thế ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu, nhóm loài cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ Vùng trung tâm tác giả cho biết sự nghèo kiệt nhanh chóng của rừng đưa đến số lượng và chất lượng tái sinh tự nhiên thấp Vùng Đông Bắc, số lượng cây tái sinh trong rừng tự nhiên biến động bình quân từ 8.000 đến 12.000 cây/hecta So với các vùng khác, vùng này khả năng tái sinh tự nhiên tốt
Nghiên cứu về động thái tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng núi phía Bắc, Trần Văn con (2009) [7] thấy rằng rất phức tạp, số loài cây tái sinh, cây tái sinh có triển vọng, tầng cây cao tăng dần lên, nói lên rằng có sự tích tụ số loài trong các lớp cây theo thời gian Điều này cho thấy sự ổn định trong diễn thế phục hồi ở các trạng thái IIIA và IIIB
Phạm Đình Tam (1981) [65] Khi nghiên cứu về khả năng tái sinh tự nhiên sau khai thác ở lâm trường 8 - Kon Hà Nừng, đã xem xét tình hình tái sinh dưới hai cường độ khai thác khác nhau là 30% và 50% và kết luận về số loài tái sinh sau 2 năm cả 2 công thức số loài tái sinh đều tăng lên Hầu hết các loài đã gặp trước đây, sau 2 năm đều thấy xuất hiện đầy đủ Về số lượng cây tái sinh chung và số lượng cây mục đích theo tiêu chuẩn sau 2 năm ở 2 công thức đều tăng lên rõ rệt, chứng tỏ sau khi khai thác tái sinh rừng tự nhiên đã được thúc đẩy Về chất lượng cây tái
Trang 2929
sinh, tác giả cho thấy số cây tái sinh nằm trong các cỡ chiều cao ở 2 công thức chặt đều tăng so với trước khai thác
Hoàng Văn Tuấn (2007) [79], khi nghiên cứu về đặc điểm tái sinh và động
thái tái sinh của hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh vùng Tây Bắc đã chỉ ra rằng:
Có một sự tích lũy số loài ở các lớp cây có kích thước lớn hơn so với lớp cây dưới
đó Thực tế này phản ánh kết quả của sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng của các loài cây tái sinh và tùy vào kích thước của lỗ trống được tạo ra trong tán rừng làm tiền đề cho quá trình tái sinh
Trần Ngũ Phương (1970) [49] khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Việt Nam đã nhấn mạnh, rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi một tầng nào đó của rừng bắt đầu già cỗi thì nó đã chuẩn bị cho bản thân một lớp cây con tái sinh để sau này sẽ thay thế khi nó bị tiêu vong
Nguyễn Văn Trương (1983) [82] đã đề cập trong công trình nghiên cứu của mình về mối quan hệ giữa cấu trúc rừng với lớp cây tái sinh tự nhiên trong rừng hỗn loài Theo tác giả, cần phải thay đổi cách khai thác rừng cho hợp lý vừa cung cấp được
gỗ, vừa nuôi dưỡng và tái sinh được rừng Muốn đảm bảo cho rừng phát triển liên tục trong điều kiện quy luật đào thải tự nhiên hoạt động thì rõ ràng là lớp cây dưới phải nhiều hơn lớp cây kế tiếp nó ở phía trên Điều kiện này không thực hiện được trong rừng tự nhiên ổn định mà chỉ có trong rừng chuẩn có hiện tượng tái sinh liên tục đã được sự điều tiết của con người
Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [71] đã cho rằng rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có, lớn nhất so với các vùng khác Khả năng phục hồi hình thành các vườn rừng, trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng Rừng Tây Bắc phần lớn diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ
Đặc điểm phân bố cây tái sinh thay đổi theo mức độ ổn định của các trạng thái rừng từ phân bố cụm tiến đến phân bố đều (Bùi Chính Nghĩa, 2012 [48]; Phạm
Trang 3030
Ngọc Thường, 2003 [67]) Các nghiên cứu đều cho thấy, mật độ cây tái sinh giảm khi chiều cao cây tăng và có thể dùng hàm Mayer để mô phỏng cho quy luật này (Nguyễn Duy Chuyên, 1995 [14]; Vũ Tiến Hinh, 1991 [21])
Về phương pháp điều tra tái sinh có nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Lệ (2009) [44], đã lựa chọn được hai phương pháp phù hợp là phương pháp điều tra 5 ô dạng bản với diện tích mỗi ô là 25 m2 (5x5m) và phương pháp điều tra theo dải để điều tra tái sinh rừng tự nhiên
Trần Văn Con và cs, (2010) [8] khi nghiên cứu động thái tái sinh, trên ô tiêu chuẩn định vị 1,0 hecta (100m x 100m) tác giả bố trí 02 loại ô để điều tra tái sinh, trong đó 01 ô hình tròn, bán kính 15m (S= 707m2) để điều tra cây có D1,3 từ 1,0 đến 10cm và 12 ô dạng bản 4m2 (2mx2m) để điều tra cây tái sinh có D1,3 <1,0cm Bùi Chính Nghĩa (2012) [48] thì bố trí một băng diện tích 150 m2 (5x30m) trên ô định vị (1,0 hecta) để điều tra tất cả các cây gỗ tái sinh có D1,3<5cm và h>1,3m và 13 ô dạng bản (2x2m) tạo thành hình chữ thập để xác định tất cả các cây tái sinh có h<1,3m
Thực tế cho thấy, ở nước ta hiện nay, nhiều khu vực vẫn phải dựa vào tái sinh tự nhiên còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hạn chế Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên trước và sau khai thác rừng là hết sức cần thiết để từ đó có thể đề xuất những biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp
1.2.4 Cấu trúc tổ thành
Đây là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc sinh thái và hình thái khác của rừng Tổ thành rừng là chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học, tính ổn định, tính bền vững của hệ sinh thái rừng Cấu trúc tổ thành đã được nhiều nhà khoa học Việt Nam đề cập trong công trình nghiên cứu của mình
Trần Ngũ Phương (1970) [49] đã chỉ ra những đặc điểm cấu trúc của các thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam trên cơ sở kết quả điều tra tổng quát về tình hình rừng miền Bắc Việt Nam từ 1961 đến 1965 Nhân tố cấu trúc đầu tiên được
Trang 31Lê Sáu (1996) [60] và Trần Cẩm Tú (1999) [78] khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Kon Hà Nừng – Gia Lai và Hương Sơn – Hà Tĩnh đều xác định danh mục các loài cây cụ thể theo cấp tổ thành và các tác giả đều kết luận sự phân
bố của một số loài cây theo cấp tổ thành tuân theo hàm phân bố giảm Cấp tổ thành càng cao số loài càng giảm
Ngô Minh Mẫn (2005) [45] khi nghiên cứu cấu trúc rừng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên đã kết luận, phân bố của số lượng loài cây theo cấp tổ thành của trạng thái IIIA1, IIIA2 tuân theo phân bố khoảng cách
Võ Văn Sung (2005) [64] khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ven biển tại khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu cũng cho thấy cấu trúc tổ thành ở trạng thái IIB và IIIA2 tuân theo phân bố khoảng cách
Nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ở Việt Nam trên quan điểm hệ sinh thái, Thái Văn Trừng (1963, 1978, 1999) [84, 85] đã dựa trên số lượng và sinh khối nhóm loài ưu thế trong rừng nhiệt đới ẩm Việt Nam để phân định các ưu hợp và phức hợp Nhóm loài ưu thế trong các ưu hợp đề nghị không quá 10 loài, tỷ lệ cá thể của mỗi loài ưu thế chiếm khoảng 5% và tổng số cá thể của 10 loài ưu thế đó phải chiếm 40-50% tổng số cá thể cây của các tầng lập quần trong quần thể trên đơn
vị diện tích điều tra Trường hợp độ ưu thế các loài cây không rõ ràng gọi là các phức hợp
Trong rừng tự nhiên hỗn loài ở Việt Nam, hiếm khi chỉ có một loài ưu thế duy nhất tạo thành các quần hợp như vùng ôn đới Theo Nguyễn Hồng Quân (1982) [53], trong rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng, trên diện tích một hecta có khoảng 60
Trang 3232
loài, nhưng các loài có tổ thành lớn nhất cũng không vượt quá 10% Nguyễn Văn Trương (1983) [82], cho rằng trong rừng tự nhiên hỗn loài, chỉ tính loài cây gỗ từ trạng thái sào trở lên cũng có đến ba bốn chục loài trên một hecta, nhưng trong đó loài cây gỗ lớn có thể vươn đến chiều cao 30 m chỉ từ 10-20%
So sánh tính đa dạng thực vật với khu vực khác trên thế giới Phạm Hoàng
Hộ (1993) [24] cho biết ở rừng vùng Amazon trung bình có khoảng 90 loài cây trên hecta, trong khi ở Đông Nam Á có đến 160 loài
Qua tổng hợp các nghiên của các tác giả trong và ngoài nước nêu trên đều
đề cập đến tầng thứ và tổ thành loài trên đơn vị diện tích ở các kiểu rừng tự nhiên nói chung, nhưng chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến tổ thành loài cây gỗ trước và sau khai thác Đây là một lỗ hổng lớn về mặt khoa học lâm sinh học và điều chế rừng ở Việt Nam hiện nay, cần được tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ luận điểm trên
1.2.5 Đa dạng tầng cây gỗ
Đã có nhiều tác giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu về đa dạng sinh học, đặc biệt là đa dạng hệ thực vật, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963, 1978) [84] Tác giả đã tổng kết và công bố công trình nghiên cứu của mình với 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi và 189 họ ở Việt Nam Ông đã nhấn mạnh sự ưu thế của ngành thực vật hạt kín (Angiospermae) trong hệ thực vật Việt Nam với 6.336 loài chiếm 90,9%, 1.727 chi chiếm 93,5% và 239 họ chiếm 82,7% trong tổng số taxon mỗi bậc Tiếp theo là công trình “Bước đầu nghiên cứu rừng Miền Bắc Việt Nam” của Trần Ngũ Phương (1970) [49], tác giả chia rừng miền Bắc Việt Nam thành 3 đai với 8 kiểu
Đến năm 1985, Phạm Hoàng Hộ đã xuất bản “Danh lục thực vật Phú Quốc”
và công bố 793 loài thực vật có mạch trên diện tích 592km2 Đặc biệt có 3 quyển
“cây cỏ Việt Nam” (1991 – 1993) của tác giả đã mô tả 10.500 loài thực vật có mạch, đó là công trình đầy đủ có hình vẽ kèm theo về toàn bộ hệ thực vật rừng Việt Nam (1985) [24]
Trang 3333
Xác định các nhân tố đa dạng sinh học nói chung và đa dạng cây gỗ nói riêng
có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ và sử dụng tính đa dạng một cách lâu bền Tháng 5 năm 1993, dự án “Bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” do tổ chức hợp tác văn hóa kỹ thuật (A.C.C.T) của các quốc gia nói tiếng Pháp giúp đỡ đã được ký kết Trên cơ sở đó, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên các vùng sinh thái trong nước như “Nghiên cứu đa dạng sinh học của rừng Tuyên Quang và các giải pháp bảo vệ và phát triển lâu bền” do Đặng Huy Huỳnh và cộng sự thực hiện Hay “Bảo tồn đa dạng sinh học Hà Tĩnh” do Võ Quý chủ trì… Kết quả các nghiên cứu đã có giá trị nhất định trong việc bảo vệ đa dạng sinh học của Việt Nam Các báo cáo đã đề xuất được một số ý kiến thiết thực cho việc sử dụng tài nguyên rừng hợp lý và lâu bền Nguyễn Nghĩa Thìn, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Bá Thụ đã nghiên cứu khá hoàn chỉnh và có hệ thống về tính đa dạng sinh học ở Vườn Quốc Gia Cúc Phương và đã công bố trong các tạp chí xuất bản từ năm 1994 đến nay về đa dạng
hệ thực vật, đa dạng về nguồn gen cây có ích, đa dạng về các quần xã thực vật của Vườn Quốc gia Cúc Phương
Gần đây Lê Thiết Cương (2000) [10] đã nghiên cứu tính đa dạng cây gỗ vùng núi cao của Vườn Quốc gia Ba Vì và đã rút ra kết luận tính đa dạng của cây gỗ
từ độ cao 800m trở lên lớn hơn từ độ cao 800m trở xuống
Cao Thị Thu Hiền (2008) [31] đã nghiên cứu công thức tổ thành và chỉ số đa dạng tầng cây gỗ cho một số trạng thái rừng tự nhiên là IIB, IIIA2, IIIB và IVA và
đã đưa ra kết luận về cấu trúc tổ thành và chỉ số đa dạng IV% tại 03 tỉnh là Quảng Ninh, Nghệ An, Đắk Lắk
Trong các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước nhìn chung tất
cả các công trình đều đã nêu lên mức độ phong phú và đa dạng của hệ thực vật rừng ở từng vùng nhất định và cũng chưa có một nghiên cứu nào liên quan đến đa dạng tầng cây gỗ trước và sau khai thác
Trang 3434
1.2.6 Ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh học trong nghiên cứu đa dạng thực vật
Nghiên cứu định lượng đa dạng sinh học thực vật được thực hiện bằng việc ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh học Theo hướng nghiên cứu này có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của các tác giả sau:
Hoàng Đình Quang và cs (2011) [50] đã ứng dụng chỉ số Simpson để nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở VQG Bidoup - Núi Bà Trần Văn Con (2008) [6], đánh giá về đa dạng thực vật và cấu trúc tổ thành thực vật tiến hành phân tích số loài cây
gỗ (s/ha), số cá thể của mỗi loài (Ni/ha) và của lâm phần (N/ha), tính toán tỷ lệ hỗn loài (Hl); chỉ số đa dạng Shannon-Wiener (H') Ngô Kim Khôi (2002) [34], đã đưa
ra một số mô hình toán định lượng đa dạng sinh học loài như chỉ số Simpson, lý thuyết thông tin (H), hàm số liên kết Shannon -Wiener (H'), Chỉ số hợp lý (J) cho 7 trạng thái rừng ở VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế
Lê Thành Công và cs (2009) [9] đã đánh giá đa dạng sinh học theo cách tiếp cận định lượng sử dụng phương pháp tính toán các chỉ số đa dạng sinh học: IVI, H,
Cd, A/F cho rừng đặc dụng Hương Sơn
Lê Quốc Huy (2005) [28], đã đưa ra phương pháp luận nghiên cứu định lượng đa dạng sinh học gồm các chỉ số sau: Chỉ số mức độ quan trọng IVI, Chỉ số
đa dạng sinh học loài H của Shannon and Wiener, Chỉ số mức độ chiếm ưu thế -Cd, Chỉ số tương đồng - SI
Nguyễn Hải Tuất và cs (2011) [80] cho rằng dùng phương pháp định lượng
để nghiên cứu đa dạng sinh học là một vấn đề mới và rất phức tạp Thông qua việc nghiên cứu các chỉ số ĐDSH, người ta có thể căn cứ vào đó để nghiên cứu và xây dựng các phương pháp bảo tồn sinh học một cách hiệu quả Trong tài liệu “Ứng dụng một số phương pháp định lượng trong nghiên cứu sinh thái rừng”, đã giới thiệu một số chỉ số đa dạng sinh học
Phạm Thị Kim Thoa (2012) [68], sử dụng chỉ số Shannon (H), chỉ số quan trọng (IVI), chỉ số Simpson (Cd), chỉ số tương đồng (SI) để phân tích chỉ số đa dạng sinh học của thực vật thân gỗ trong Khu BTTN Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng để
Trang 35Như vậy, ở nước ta các chỉ số đa dạng trên được nghiên cứu khá phổ biến, nhưng chỉ số entropy Rensyi (Hα) thì gần đây mới có một vài tác giả sử dụng để phân tích tính đa dạng sinh học Chỉ số Hα có nhiều ưu điểm và các chỉ số đa dạng truyền thống trên là trường hợp riêng của Hα, chính vì vậy luận án này ngoài việc
sử dụng chỉ số Shannon (H), chỉ số quan trọng (IV), còn sử dụng chỉ số Hα để phân tích tính đa dạng thực vật thân gỗ
1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật
Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến đa dạng thực vật chủ yếu được thực hiện tại các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia
Theo Ngô Tiến Dũng và cs (2005) [17], thì nhóm nguyên nhân trực tiếp gây suy giảm nguồn tài nguyên thực vật ở VQG Yok Đôn là: Khai thác gỗ, lấn chiếm đất mở rộng diện tích khai thác, chăn thả gia súc và sự xâm lấn của các loài ngoại lai, lửa rừng, khai thác LSNG Nhóm nguyên nhân gián tiếp bao gồm: áp lực dân số, đói nghèo, nhận thức của cộng đồng còn thấp, hiệu lực pháp luật và chính sách chưa
đủ mạnh còn hạn chế, ảnh hưởng của kinh tế thị trường
Hoang S V et al (2011) [93], cho rằng con người và môi trường ảnh hưởng không lớn tới thành phần loài thực vật tại Vườn Quốc gia Bến En Tuy nhiên, ảnh hưởng của người dân địa phương có tác động tiêu cực tới mật độ cây rừng, đặc biệt
là các loài cây gỗ quan trọng, có giá trị sử dụng và những loài trong Danh lục đỏ, cho dù chỉ số đa dạng không thay đổi Sự tác động của con người và các nhân tố môi trường lên cấu trúc rừng và thành phần loài thực vật là độc lập nhau
Trang 3636
Như vậy, có thể thấy những tác động của người dân tới nguồn tài nguyên của các khu bảo tồn ở Việt Nam là khá phổ biến và cũng đã được nghiên cứu, nguyên nhân chủ yếu gây suy giảm ĐDSH tại hầu hết các Khu BTTN là do những hoạt động của con người gây nên, đây là nguy cơ và cũng là thách thức của các Khu bảo tồn Vấn đề này được đề cập khá nhiều khi nghiên cứu về ĐDSH tại các Khu BTTN, nhưng hầu hết các nghiên cứu này đều dừng lại ở mức đánh giá chung chung Chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến tác động của khai thác ảnh hưởng như thế nào đến đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác
1.3 hảo luận
Trong thực tế kinh doanh rừng tự nhiên nhiệt đới trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng, việc khai thác rừng chủ yếu tiến hành theo phương thức khai thác chọn Cơ sở xác các chỉ tiêu khai thác (lượng khai thác, cường độ và luân kỳ) thường chủ yếu dựa vào trữ lượng (ở nước ta chủ yếu là dựa vào trữ lượng theo vùng) và đường kính khai thác tối thiểu mà ít chú ý đến tổ thành và sự đa dạng của tầng cây gỗ Ở Việt Nam từ trước đến nay chưa có một nghiên cứu hệ thống nào về
sự thay đổi cấu trúc tổ thành và sự đa dạng tầng cây gỗ sau khai thác vì vậy việc xác định các biện pháp nuôi dưỡng rừng chủ yếu dựa theo các quy định kỹ thuật chung chung thiếu cơ sở khoa học Hiện nay Tây Nguyên là vùng có diện tích rừng tự nhiên nhiều và giàu nhất ở nước ta, tuy nhiên trên thực tế sau khi khai thác đại đa số các diện tích rừng này ngày càng nghèo đi về mặt trữ lượng gỗ và suy giảm tính đa dạng cũng như chức năng sinh thái do các tác động khai thác không hợp lý (khi khai thác) và nuôi dưỡng kém hiệu quả (sau khai thác) vì thiếu các nghiên cứu cơ bản và khoa học về diễn thế rừng và đặc biệt về sự thay đổi cấu trúc tổ thành và đa dạng cây gỗ sau khai thác Đây chính là một lỗ hổng lớn về mặt khoa học lâm sinh học và điều chế rừng ở Việt Nam hiện nay
Từ phần tổng quan đặt ra các vấn đề cần giải quyết như sau:
(1) Trạng thái rừng sau khai thác có sự thay đổi không và thay đổi đến mức nào?
Trang 37(4) Quá trình khai thác rừng đã hợp lý chưa?
(5) Tính đa dạng cây gỗ có sự thay đổi như thế nào sau khai thác?
(6) Giải pháp kỹ thuật như thế nào về khai thác và nuôi dưỡng rừng sau khai thác? Làm sao để nâng cao chất lượng rừng?
Đây là những vấn đề rất quan trọng mà các công trình nghiên cứu trước đây của các tác giả đã đề cập nhưng còn tản mạn, chưa hệ thống Trong luận án này tác giả sẽ tập trung nghiên cứu để giải quyết những vấn đề nêu trên, đồng thời đề xuất những biện pháp kỹ thuật đảm bảo cho rừng phát triển bền vững và nâng cao chất lượng rừng
Trang 3838
Chương 2
NỘ DU VÀ ƯƠ Á Ê CỨU
2.1 ội dung nghiên cứu
Căn cứ vào đối tượng, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu của đề tài, nội dung nghiên cứu được xác định như sau:
2.1.1 Xác định một số đặc điểm cơ bản của đối tượng rừng khai thác
- Một số nhân tố điều tra cơ bản;
- Phân bố số cây và trữ lượng theo nhóm gỗ;
- Phân bố số cây và trữ lượng theo dạng sống;
- Phẩm chất của các bộ phận cây rừng;
- Ảnh hưởng của khai thác đến cấu trúc mật độ và trữ lượng rừng;
- Đánh giá sự thay đổi trạng thái rừng trước và sau khai thác
2.1.2 Đánh giá sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác
- Sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác theo loài cây (N%);
- Sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác theo chỉ số (IV%);
- Sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác theo nhóm gỗ;
- Sự thay đổi số lượng loài và trữ lượng theo dạng sống
2.1.3 Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác
- Sự thay đổi một số chỉ số đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác;
- Đa dạng loài theo cấp kính;
- Đa dạng theo nhóm gỗ;
- Đa dạng loài theo dạng sống;
- Biến động đa dạng loài
2.1.4 Đánh giá sự thay đổi tổ thành tái sinh rừng trước và sau khai thác
- Tổ thành tầng cây tái sinh;
- Các chỉ tiêu đánh giá tái sinh rừng;
- Mối quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao với tổ thành tầng cây tái sinh
Trang 3939
2.1.5 Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh
2.2 hương pháp nghiên cứu
2.2.1 Quan điểm và phương pháp luận
Sự ổn định và phục hồi rừng sau khi tác động khai thác được phản ảnh rõ rệt qua sự thay đổi các đặc trưng của rừng ngay sau khi khai thác Các đặc trưng cơ bản bao gồm: tổ thành, tầng thứ, mật độ, đường kính bình quân, chiều cao bình quân, trữ lượng, đa dạng loài… Vì vậy, cần nghiên cứu sự thay đổi của các đặc trưng cơ bản này trước và sau khai thác làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng hợp lý
Để phản ánh tốt nhất quy luật biến đổi của các đặc trưng cơ bản của rừng trước và sau khai thác, đối tượng nghiên cứu cần đại diện cho hai loại hình khai thác hiện đang áp dụng ở Tây Nguyên, đó là chặt chọn thô và khai thác tác động thấp, đồng thời đại diện cho cường độ khai thác
- Chặt chọn thô (chặt chọn theo cấp kính) là một loại chặt mà việc lựa chọn cây chặt căn cứ vào cỡ đường kính cây rừng Đây là một loại chặt hình thành xuất phát từ yêu cầu của công nghiệp rừng Trong chặt chọn thô, tiêu chuẩn cây chặt được quy định bởi cỡ đường kính cây gỗ được phép khai thác Tùy theo chủng loại
gỗ người ta quy định các cỡ đường kính cho từng loài cây cụ thể và khi khai thác được phép chặt hạ tất cả những cây có đường kính bằng hoặc lớn hơn cỡ đường kính đã được quy định đó Hình thức khai thác này đã hình thành nên kiểu chặt chọn theo cấp kính hay còn gọi là chặt chọ thô Trong luận án gọi là khai thác chọn
- Khai thác tác động thấp: là một hệ thống các biện pháp từ khâu lập kế
hoạch (kế hoạch dài hạn, kế hoạch giai đoạn và kế hoạch năm) đến thiết kế khai thác; triển khai các hoạt động phụ trợ như làm đường, kho bãi, chặt hạ, vận xuất, xử
lý rừng sau khai thác… đồng thời giám sát, đánh giá nhằm thực hiện tốt cho mục tiêu quản lý rừng bền vững
Khai thác phải chú trọng đến tái sinh, phương thức khai thác được lựa chọn phải đảm bảo tái sinh rừng theo mục tiêu lâu bền
Trang 4040
Mỗi OTC điển hình nghiên cứu như một mẫu của tổng thể thống nhất là lâm phần, nhưng bên cạnh những đặc điểm chung, mỗi ô cũng có những đặc trưng riêng không hoàn toàn giống nhau Trên cơ sở số bình quân của các OTC về các chỉ tiêu nghiên cứu định lượng, tổng hợp các đặc trưng định tính để đánh giá chung cho lâm phần
Vấn đề sử dụng các công cụ toán học để mô hình hóa các mối quan hệ, mô phỏng đặc trưng của rừng hoặc tái sinh tự nhiên là nhằm hạn chế tính áp đặt chủ quan của người nghiên cứu, để giảm nhẹ công thu thập số liệu cho các nghiên cứu tiếp sau và góp phần phản ánh được quy luật chung Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu chỉ có giá trị khi nguồn dữ liệu đầu vào đủ lớn và đảm bảo tính khách quan
Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu thích hợp sẽ tạo ra kết quả mong muốn Nhưng nếu các kết quả đó không được kiểm nghiệm hoặc không có cơ
sở để áp dụng thì sẽ không có ý nghĩa trong thực tiễn
2.2.2 Phương pháp kế thừa tài liệu
Đề tài kế thừa các tài liệu liên quan đã được công bố của các công trình nghiên cứu khoa học, các văn bản mang tính pháp lý, những tài liệu điều tra cơ bản của các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến lĩnh vực của đề tài
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3.1 Bố trí ô tiêu chuẩn (OTC)
Sử dụng phương pháp OTC điển hình tạm thời, bố trí trên các lâm phần trước và ngay sau khai thác ở các khu rừng lá rộng thường xanh khu vực Tây Nguyên Thu thập số liệu rừng trước khai thác, thiết kế khai thác – thi công khai thác và số liệu rừng ngay sau khai thác trên cùng một lô khai thác
Diện tích ô tiêu chuẩn đo đếm tầng cây cao: 10.000 m2 (1,0 hecta)
Số lượng ô tiêu chuẩn đo đếm tầng cây cao: 30 ô (trong đó: khai thác chọn tại Gia Lai và Đăk Lăk là 20 ô và khai thác tác động thấp tại Kon Tum là 10 ô)
Tại Kon Tum bố trí 10 OTC, trên diện tích đã thiết kế khai thác là 380 hecta Tại Gia Lai bố trí 10 OTC, trên diện tích đã thiết kế khai thác là 430 hecta Tại Đăk Lăk bố trí 10 OTC, trên diện tích đã thiết kế khai thác là 400 hecta