1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

188 287 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 188
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các kỹ năng quản lý thì kỹ năng giải quyết các vấn đề liên quan đến người dân được xem là kỹ năng có ý nghĩa hết sức quan trọng, là “cầu nối” giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, là

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Kỹ năng quản lý là công cụ hữu hiệu giúp cho những nhà quản lý nói chung

và các nhà quản lý cấp cơ sở nói riêng nâng cao hiệu quả quản lý xã hội Các kỹ năng quản lý cũng là yếu tố quan trọng để giúp các nhà quản lý cấp cơ sở hiểu rõ

và nhận thức đúng đắn về đối tượng mà mình quản lý Đồng thời, với việc vận dụng hiệu quả các kỹ năng quản lý thì người cán bộ quản lý cấp cơ sở có thể năng động, sáng tạo trong công việc, nhất là trong quá trình giải quyết các vấn đề nảy sinh của thực tiễn

Trong các kỹ năng quản lý thì kỹ năng giải quyết các vấn đề liên quan đến người dân được xem là kỹ năng có ý nghĩa hết sức quan trọng, là “cầu nối” giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân mà Hiếp pháp đã quy định thể hiện bản chất của Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thể hiện sâu sắc quan điểm lấy dân làm gốc của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch

Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói, để củng cố mối quan hệ, lòng tin giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước chúng ta cần phải: Giữ chặt mối quan hệ với dân chúng và luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi

Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ

sở là một trong những kỹ năng có vai trò quan trọng hiện nay Vai trò của kỹ năng này không chỉ ở chỗ giải quyết được nhu cầu, bức xúc của người dân về đất đai để tránh được tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội, mà còn tạo niềm tin của dân với nền hành chính Nhà nước - khi mà giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay được xem là vấn đề nổi cộm, việc giải quyết còn nhiều bất cập, yếu kém, thường kéo dài, phí tổn nhiều, hiệu quả ít, gây không ít phiền toái, bức xúc cho người dân Theo những báo cáo gần đây của chính phủ và của các địa phương, có đến khoảng 70% các vụ khiếu kiện là liên quan đến lĩnh vực đất đai, có những vụ khiếu kiện tranh chấp đất đai kéo dài gây nhiều phiền hà cho người dân, ảnh hưởng đến sự ổn định của xã hội

Trang 2

Hơn nữa, do tính chất công việc đặc thù ở cấp cơ sở là phải thường xuyên tiếp xúc và giải quyết trực tiếp vấn đề đất đai của người dân để vừa đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của người dân nhưng cũng vừa đảm bảo đúng với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Vì vậy, kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai là yêu cầu quan trọng không thể thiếu của cán

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu lý luận và thực trạng về kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

3.2 Làm rõ thực trạng kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở và các yếu tố tác động đến kỹ năng này

3.3 Thực nghiệm tác động với các biện pháp tác động như bồi dưỡng kiến thức

về nội dung, mục đích, cách thức tiến hành kỹ năng, giải quyết các bài tập tình huống và thực hành rèn luyện các kỹ năng cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Biểu hiện và mức độ kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản

lý hành chính cấp cơ sở và một số yếu tố tác động đến kỹ năng này

Trang 3

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

5.1 Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp

cơ sở đạt được ở mức trung bình, trong đó tính đúng đắn của kỹ năng được thể hiện tốt nhất; tính thuần thục thể hiện kém nhất Thâm niên công tác, thâm niên giải quyết tranh chấp đất đai và địa bàn sinh sống là những tiêu chí tạo ra sự khác biệt trong kỹ năng của họ

5.2 Trong những yếu tố tác động được nghiên cứu thì yếu tố đánh giá cán bộ;

cơ chế, thủ tục hành chính có tác động mạnh hơn đến kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

5.3 Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở có thể được nâng cao thông qua bồi dưỡng kiến thức về nội dung, mục đích, cách thức tiến hành kỹ năng, giải quyết các bài tập tình huống và thực hành rèn luyện các kỹ năng để giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai đặt ra

6 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

6.1 Giới hạn về nội dung và khách thể nghiên cứu

- Trong điều kiện nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ xem xét kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở thông qua giải quyết tranh chấp phát sinh dân sự giữa những người sử dụng đất với nhau trong quá trình sử dụng đất, bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, không nghiên cứu tranh chấp giữa người dân với cơ quan Nhà nước

- Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai, luận án chỉ nghiên cứu ba đặc điểm: tính đúng đắn, tính thuần thục và tính hiệu quả của kỹ năng

Trang 4

- Trong các yếu tố tác động, luận án chỉ tập trung nghiên cứu một số các yếu tố

có tác động đến kỹ năng GQTCĐĐ của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở, bao gồm các yếu tố khách quan ( Cơ chế, thủ tục hành chính; thói quen ứng xử của người dân và công tác đánh giá cán bộ) và các yếu tố chủ quan ( Động cơ và thái độ làm việc của CBQLHC cấp cơ sở)

- Luận án chỉ nghiên cứu khách thể là những cán bộ quản lý hành chính nhà nước- những người trực tiếp tham gia giải quyết tranh chấp đất đai ở cấp phường,

xã, thị trấn và một số cán bộ, người dân có hiểu biết về vấn đề tranh chấp đất đai

6.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Đề tài được tiến hành ở phường, xã, thị trấn của các quận 1, quận 4, quận 8, quận Gò Vấp, quận Thủ Đức và huyện Củ Chi của thành phố Hồ Chí Minh

7 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Nguyên tắc phương pháp luận

Nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý luận của Tâm lý học hoạt động, Tâm lý học xã hội, Tâm lý học tư pháp, Tâm lý học quản lý và các nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc hoạt động: Hoạt động là cơ sở của sự hình thành và phát triển

tâm lý, đồng thời là nơi thể hiện sinh động đời sống tâm lý của con người Các kỹ năng GQTCĐĐ của CBQLHC cấp cơ sở được thực hiện thông qua hoạt động GQTCĐĐ của chính quyền cấp cơ sở Chính vì vậy, việc nghiên cứu phải thông qua quan sát, đánh giá hoạt động GQTCĐĐ của CBQLHC cấp cơ sở và hoạt động giải quyết các tình huống mô phỏng các tình huống có thật trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của họ

- Nguyên tắc hệ thống: Các hiện tượng tâm lý luôn có sự tác động qua lại và

ảnh hưởng lẫn nhau Sự nảy sinh, hình thành và phát triển của một hiện tượng tâm lý chịu sự chi phối và ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Chính vì vậy, để hiểu rõ bản chất của một hiện tượng tâm lý nào đó chúng ta cần phải nghiên cứu nó một cách

có hệ thống

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp chủ yếu phục vụ cho nghiên cứu lí luận là phương pháp

nghiên cứu văn bản, tài liệu

Trang 5

7.3 Nhóm phương pháp điều tra thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp giải quyết các bài tập tình huống

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp thực nghiệm tác động

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

8 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

8.1 Đóng góp về mặt lí luận

- Là một trong những nghiên cứu đầu tiên về kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở, luận án đã góp phần làm sáng tỏ những cơ sở lý luận định hướng cho việc nghiên cứu kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở; làm rõ nội hàm khái niệm

kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở; chỉ

rõ các kỹ năng thành phần và xác định các yếu tố có tác động đến kỹ năng này

- Kết quả nghiên cứu làm phong phú thêm lý luận tâm lý học về kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở - một loại

kỹ năng còn ít được nghiên cứu ở Việt nam với tư cách là một loại kỹ năng đặc thù của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận án chỉ ra thực trạng kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở hiện nay; đánh giá biểu hiện và mức độ kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở qua các kỹ năng cơ bản: Kỹ năng nhận dạng và xác định hình thức tranh chấp đất đai; kỹ năng thu thập thông tin và phân tích mâu thuẫn, nguyên nhân của vấn đề tranh chấp; kỹ năng đề ra các phương án và lựa chọn phương án giải quyết vấn đề tranh chấp; kỹ năng trình bày vấn đề tranh chấp và thuyết phục bên tranh chấp trong quá trình hòa giải, Đồng thời chỉ ra được trong năm yếu tố tác động thì hai yếu tố đánh giá cán bộ và thủ tục, hành chính là những yếu tố có có tác động mạnh hơn đến kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

Trang 6

Kết quả thực nghiệm tác động hai kỹ năng thành phần, đó là: kỹ năng thu thập thông tin, phân tích mâu thuẫn, nguyên nhân của vấn đề tranh chấp và kỹ năng

đề ra các phương án và lựa chọn phương án giải quyết vấn đề tranh chấp, với các biện pháp tác động như: bồi dưỡng kiến thức về nội dung, mục đích, cách thức tiến hành kỹ năng, giải quyết các bài tập tình huống và thực hành rèn luyện kỹ năng cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai - là cơ sở để hoàn thiện nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở trong tình hình hiện nay

Kết quả nghiên cứu của luận án còn cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn giúp cho các cấp lãnh đạo, luật gia, những người soạn thảo qui định về giải quyết tranh chấp đất đai có thể sửa đổi, điều chỉnh các qui định cho phù hợp với thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay

9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, danh mục các công trình đã công bố và phụ lục, luận án gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

ĐẤT ĐAI CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CẤP CƠ SỞ

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng giải quyết vấn đề 1.1.1 Nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng giải quyết vấn đề ở nước ngoài

1.1.1.1 Nghiên cứu về kỹ năng

Kỹ năng là một vấn đề luôn được các nhà Tâm lý học quan tâm bởi giá trị vận dụng thực tiễn của kỹ năng trong cuộc sống Gần đây, vấn đề nghiên cứu kỹ năng càng trở nên phong phú, đa dạng và đem lại nhiều kết quả

Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về kỹ năng thành một số hướng nghiên cứu chính sau đây:

*Hướng nghiên cứu lý luận chung về kỹ năng, kỹ xảo

Người đầu tiên được kể đến khi nghiên cứu về kỹ năng là nhà bác học lỗi lạc

Hy Lạp cổ đại Arixtot ( 384- 322 TCN) Trong cuốn sách đầu tiên bàn về tâm lý của

loài người “ Bàn về tâm hồn”, khi bàn đến phẩm hạnh của con người, ông đã xác định nội dung của phẩm hạnh là “biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi” Có

nghĩa là, con người có phẩm hạnh là con người có kỹ năng định hướng làm việc [ theo 48, tr.1] Nhà triết học Trung Hoa cổ đại Tuân Tử ( 289- 239 TCN) cũng thừa nhận vai trò của hoàn cảnh có tác động làm cho con người trở thành những người

khác nhau về kỹ năng nghề nghiệp và tính cách [theo 48]

Các nhà giáo dục học nổi tiếng ở thế kỷ XIX như K.Đ Usinxki (Nga), G.G Rutxo (Pháp), J.A Cômenxki (Tiệp Khắc) trong các công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến kỹ năng trí tuệ và quá trình hình thành những kỹ năng này

Đến đầu thế kỷ XX, Tâm lý học hành vi ra đời, đại diện là E.L Toorđai, J.B Watson, E.Ch Tolman, B.F Skinner, K Hulơ Tuy xuất phát từ quan niệm máy móc

về con người trong vấn đề rèn luyện kỹ năng, nhưng lý luận dạy học theo chương trình hóa của Skinnơ là một thành tựu mới trong lý luận dạy học mà ngày nay chúng

ta cần tham khảo và học tập[ theo 19]

Khi lý thuyết hoạt động của Tâm lý học Xô Viết ra đời thì hàng loạt các công trình nghiên cứu về kỹ năng, kỹ xảo được công bố Năm 1926, Vưgốtxki đã xây dựng

“một khoa học về hành vi của con người xã hội”, Ông cho rằng, ở người, cấu trúc

hành vi bao gồm kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiện xã hội và kinh nghiệm kép Trong nội dung của hành vi người có các tri thức là thành tố bắt buộc của hành vi Các tri

Trang 8

thức, các kỹ xảo lao động, các kỹ năng sinh họat, các qui tắc văn hóa và các khái niệm văn hóa…là do các thế hệ trước truyền đạt lại cho thế hệ trẻ [ theo19, tr 228-229]

Bắt nguồn từ hệ thống tư tưởng của Vưgốtxki, X.L Rubinstein cho rằng, hoạt động của con người không phải là phản ứng đối với kích thích bên ngoài, thậm chí không phải là quá trình làm việc với tính chất là những thao tác của chủ thể tác động

lên khách thể, mà đó là “sự chuyển hóa của chủ thể thành khách thể” Sự chuyển hóa

này là quá trình đối tượng hóa chủ thể, được diễn ra từ quá trình thứ nhất là con người dùng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…của mình để tham gia vào việc sáng tạo ra thế giới đối tượng đến quá trình thứ hai được hiểu là quá trình hình thành ý thức, tâm lý tức là hình thành chính tri thức, kỹ năng, kỹ xảo [ theo 19, tr.250-251]

Nghiên cứu về kỹ năng cũng được các nhà giáo dục học Xô Viết nghiên cứu N.K Crupxcaia, A.X Makarenko, V Friklen đã đi sâu nghiên cứu ý nghĩa của việc dạy đặt kế hoạch và tự kiểm tra Đặc biệt, N.K Crupxcaia rất quan tâm đến việc hình

thành những kỹ năng lao động và hướng nghiệp cho học sinh phổ thông [6]

Khi thuyết hoạt động của A.N Leonchiev ra đời, hàng loạt những công trình nghiên cứu về kỹ năng, kỹ xảo được công bố Các kết quả nghiên cứu tiêu biểu của một số nhà khoa học như:

V.A.Cruchetxki quan niệm, kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, kỹ năng tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện đã thay đổi [8]

A.V Pêtrovxki xem xét kỹ năng của những hành động phức tạp và điều kiện hành động không ổn định Ông nhấn mạnh cơ sở của việc hình thành kỹ năng là các tri thức, kỹ năng đã có do thực hiện các hành động tương tự trước đó mang lại [42]

V.V Tsêbưsêva cho rằng, kỹ năng với tư cách là năng lực thực hiện một hành động nào đó dựa trên những tri thức, kỹ xảo được hoàn thiện dần trong quá trình hoạt động [51]

* Hướng nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực hoạt động

Bao gồm kỹ năng trong lĩnh vực sư phạm, học tập, lao động, giao tiếp, kinh doanh, lãnh đạo quản lý Cụ thể:

- Nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực sư phạm và giao tiếp

Trong lĩnh vực sư phạm, người đầu tiên phải kể đến là V.V Tsêbưsêva Theo

Bà, kỹ năng thường có liên quan với khả năng vận dụng kinh nghiệm cũ trong việc thực hiện những hành động trong điều kiện mới Trong các nghiên cứu của mình,

Trang 9

V.V Tsêbưsêva đã nêu những phương pháp và điều kiện rèn luyên kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh Bà cho rằng, tùy theo đặc điểm của các kỹ năng, kỹ xảo mà định ra

những hình thức tổ chức và biện pháp, phương pháp giảng dạy thích hợp [51]

Kỹ năng hoạt động sư phạm được sự quan tâm của nhiều nhà tâm lý học, Giáo dục học G.X Catschuc, V.A Menchinxkaia đi sâu nghiên cứu các kỹ năng học tập, đặc biệt là kỹ năng học tập độc lập và vận dụng sáng tạo kiến thức vào thực tiễn

Các nhà tâm lý học sư phạm đều coi kỹ năng là biểu hiện của năng lực, làm rõ khái niệm kỹ năng, kỹ xảo và mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo Theo A.V Petrôvxki (1982), V.A.Crutetxki (1981), N.D lêvitov (1970) thì kỹ năng có 2 loại:

kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao Các tác giả đi sâu nghiên cứu kỹ năng bậc cao của những hành động phức tạp, trong những điểu kiện hành động không ổn định Theo họ, kỹ xảo đã có là thành phần của kỹ năng Nếu không xác định rõ mối quan

hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo thì khó có thể xác định được việc dạy học và kết thúc ra

sao [42], [8], [30]

A.N.Leonchiev (1980) đưa ra một số kỹ năng giao tiếp sư phạm như: kỹ năng điều khiển hành vi bản thân, kỹ năng quan sát, kỹ năng nhạy cảm xã hội biết phán đoán nét mặt người khác, kỹ năng đọc, hiểu, mô hình hóa nhân cách học sinh, kỹ năng làm gương cho học sinh noi theo kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ kỹ năng kiến tạo

sự tiếp xúc kỹ năng nhận thức…[33]

John Steward (2002) đưa ra một nhóm những yếu tố đảm bảo cho sự thành công trong giao tiếp liên cá nhân là kỹ năng sử dụng các phương tiện giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng lắng nghe và kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu [85]

- Nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực lao động

Dưới góc độ tâm lý học lao động, có nhiều công trình đề cập đến vấn đề kỹ năng, kỹ xảo; vai trò của kỹ năng trong lao động; vấn đề hình thành kỹ năng cho người lao động…V.G Loox nêu rõ vai trò của kỹ năng nghề nghiệp và sự hình thành

của chúng trong hoạt động; Phrederic W Taylor đưa ra quan điểm học thuyết “sản xuất dây chuyền” phải có sự chuyên môn hóa cao trong thao tác của người lao động

Mỗi người trong tổ chức dây chuyền lao động được qui định từng thao tác, từng chức năng chi tiết chặt chẽ, từng giờ, từng phút, không có thao tác thừa, không có sự trùng

lặp, ai làm việc nấy nên rất tiết kiệm thời gian và sức lực [17, tr.9]

Trang 10

Các nhà tâm lý học Phương Tây, khi nghiên cứu kỹ năng lao động của người công nhân trong quá trình vận hành máy móc đã coi trọng mặt kỹ thuật của hành động, đó là yếu tố qui định hoạt động tâm lý của con người, kể cả tư duy và việc hình thành kỹ xảo Quá trình này được rèn luyện công phu và có phương pháp trong quá trình thao tác với máy móc Trong một số lĩnh vực hoạt động chuyên môn, người công nhân có trình độ cao thì thao tác chính xác và nhanh Xét về một phương diện nào đó, sự thành thạo về thao tác là điều quan trọng để nâng cao hiệu quả lao động Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi hoạt động của con người đều cần phải đạt đến kỹ xảo Trên thực tế, nhiều hoạt động đòi hỏi người lao động phải linh hoạt, mềm dẻo để thích ứng với hoàn cảnh mới, điều kiện mới, nhất là lao động phức tạp, trong những điều kiện biến động, con người không chỉ thành thạo các thao tác nghề nghiệp,

mà còn cần có sự linh hoạt, sáng tạo

- Nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực quản lý

Khi nghiên cứu về năng lực tổ chức, V.I Mikheev, L.Umanxki, A.I Kitôv (1985) coi kỹ năng tổ chức là một yếu tố, một dấu hiệu đầu tiên của năng lực tổ chức hoạt động Theo các tác giả, điều kiện hình thành kỹ năng tổ chức là học tập và rèn

luyện thường xuyên của người học [27]

Harold Koontz, Cysil Odonnell và Heinz Weihrich (1998) đã phân loại các kỹ năng quản lý cơ bản như: kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng quan hệ, kỹ năng nhận thức, kỹ năng thiết kế Tầm quan trọng của các kỹ năng trên thay đổi tùy theo các cấp quản lý

1.1.1.2 Nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề

*Những nghiên cứu chung về tình huống có vấn đề và kỹ năng giải quyết vấn đề

Khi bàn đến những nghiên cứu về việc giải quyết tình huống có vấn đề phải

kể đến các nhà Tâm lý học Xô Viết Một trong những người tiên phong trong việc nghiên cứu tình huống có vấn đề trong tư duy là Rubinxtein (1958), Ông cho rằng :

Trang 11

“Tư duy thường bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên, sự thắc mắc, hay từ một mâu thuẫn Tình huống có vấn đề như thế có tác dụng lôi cuốn cá nhân vào hoạt động tư duy…”[46, tr.292]

A.M Machiuskin (1972) coi tình huống có vấn đề là một dạng đặc biệt của sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể được đặc trưng bởi một trạng thái tâm lý khiến chủ thể phải tìm kiếm những tri thức, phương hướng hành động chưa biết nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của mình [34]

V Okon (1976) xem đặc trưng cơ bản của tình huống có vấn đề là trạng thái lung túng về lý thuyết và thực hành trong quá trình nhận thức, sự mâu thuẫn của kinh nghiệm đã có của chủ thể với những tri thức mới Nhờ đó người học phải huy động năng lực của mình để giải quyết mâu thuẫn [36]

Các tác giả đều có chung quan điểm xem tình huống có vấn đề là mâu thuẫn giữa các yếu tố có liên quan trong từng tình huống , trong đó cá nhân phải vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, tư duy…để giải quyết

Về giải quyết vấn đề, theo các nhà Tâm lý học nhận thức thì một phần cơ bản trong cuộc sống của con người là giải quyết các vấn đề đặt ra Chính vì vậy mà kỹ năng giải quyết vấn đề luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm, các phương pháp giải quyết vấn đề của con người đã được nghiên cứu bởi các nhà Tâm lý học trong hàng trăm năm qua

Các nhà Tâm lý học theo trường phái Gestalt như: Koler (1925) và

Wertheimer (1945) cho rằng giải quyết vấn đề là quá trình học được câu trả lời và tìm

được vấn đề thực sự phải giải quyết [89] Kohler quan sát thấy rằng, những con khỉ không đuôi mà ông làm thí nghiệm có thể kết hợp hai cây gậy với nhau để lấy được một quả chuối ngoài lồng Từ đó Ông kết luận, loài khỉ đã đọc được câu trả lời khi kết hợp hai cậy gậy với nhau và vấn đề được giải quyết hoàn chỉnh [74]

Vào những năm giữa thế kỷ 20, các nhà khoa học nhận thấy việc giải quyết vấn đề trở nên quan trọng Một số nhà khoa học như: Hall, Skinner, Newell, Simon, Shaw- là nhóm đầu tiên nghiên cứu cụ thể ý tưởng của những người có khả năng giải quyết vấn đề Họ nhấn mạnh việc giải quyết những vấn đề trên máy tính dễ hơn so với làm việc với con người Newell, Simon, Shaw (1958) giới thiệu một lý thuyết mới về việc giải quyết vấn đề dựa trên khái niệm về chế biến thông tin và lập trình máy tính [80]

Trang 12

Gần đây, việc nghiên cứu giải quyết vấn đề trở nên phong phú hơn Cùng quan điểm xem giải quyết vấn đề như là hoạt động của tư duy có các tác giả: Goldstein và Lewin (1987) xác định ý nghĩa của giải quyết vấn đề như là một phương pháp luận của quá trình tư duy để giải quyết vấn đề Và đây là một quá trình nhận thức bậc cao đòi hỏi phải có sự điều tiết và kiểm soát thường xuyên Quá trình này là một qui trình

rõ ràng gồm có các kỹ năng cơ bản [68] Burroughs và Mick (2004) thì khẳng định,

tư duy sáng tạo là nguồn tài nguyên hữu ích có thể được sử dụng trực tiếp để giải quyết nhiều quá trình khác nhau của vấn đề Trong nghiên cứu của họ, sáng tạo giải quyết vấn đề có tác dụng làm cho ý tưởng của nhà quản lý sâu sắc hơn để hiểu được vấn đề [60]…

Một số nhà nghiên cứu lại quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết vấn đề, Chrysikou (2006) lập luận thành công trong việc giải quyết vấn đề phụ thuộc vào khả năng của người giải quyết vấn đề bằng cách xác định các loại nhóm vấn đề

có nguồn gốc từ mục tiêu Ông giải thích, các loại nhóm vấn đề sẽ được xác lập để phục vụ cho các mục tiêu trong thời gian thực hiện vấn đề và sự sáng tạo có thể giúp con người giải quyết nhiều vấn đề phổ biến [63] Todd I Lubart và Christophe Mouchiroud (2005) (Đại học René Descartes, Pari) đề cập đến sự sáng tạo - một khả năng ảnh hưởng tốt đến việc giải quyết vấn đề nhưng cũng có thể là nguồn gốc của sự khó khăn trong việc giải quyết vấn đề [75] Theo lý thuyết của Pieget (2000) thì khả năng giải quyết vấn đề có liên quan đến quá trình trưởng thành Pieget giải thích những người trẻ tuổi chỉ có thể giải quyết những vấn đề dễ dàng, không phức tạp và khả năng giải quyết vấn đề sẽ tăng lên khi chúng lớn lên [41]

Một số tác giả khác đi sâu phân tích các khả năng và kỹ năng của con người liên quan đến quá trình giải quyết vấn đề Chẳng hạn, Jacqueline P Leighton (2003) (Đại học Alberta- Canada) và Robert J Sternberg (2003) (Đại học Yale) đề cập đến mối quan hệ giữa sự suy luận và giải quyết vấn đề Các tác giả cho rằng, kỹ năng suy luận có thể sử dụng để giải quyết vấn đề, do đó, con người cần phải kết hợp nhiều quá

trình nhận thức khác nhau để giải quyết vấn đề [76]

Doric Wenke và Peter A Frensch (2005) (Đại học Humboldt ở Berlin) đề cập đến ảnh hưởng của các khả năng trí tuệ trong việc giải quyết vấn đề phức tạp Theo các tác giả này, khả năng trí tuệ của một người là những khả năng, những quá trình, những cơ chế nhận thức làm cho người này khác với người kia, ảnh hưởng tới sự thực hiện các nhiệm vụ khác nhau, không thay đổi bởi kinh nghiệm của người đó Trong

Trang 13

khả năng trí tuệ có sự tham gia của trí thông minh tổng quát, các thành phần của trí thông minh chuyên biệt như: khả năng xử lý hay còn gọi là khả năng suy luận, kiến thức hệ thống [90]

Trong khi đó, một số các tác giả khác lại quan tâm đến các bước giải quyết vấn

đề Simon (1986) xác định qui trình giải quyết vấn đề gồm thiết lập mục tiêu và thiết

kế hành động [82]

Vangundy (1988) chia quá trình giải quyết vấn đề ra làm 5 giai đoạn: nhận thức vấn đề, định nghĩa vấn đề và phân tích vấn đề từ tìm kiếm thông tin, tạo ra ý tưởng để tìm kiếm giải pháp, đánh giá và lựa chọn các ý tưởng, thực hiện các giải

pháp thích hợp [88]

Các nhà lý thuyết khác lại đưa ra quan điểm khác về quá trình giải quyết vấn

đề Bank (1992) đưa ra 6 bước khác nhau để giải quyết vấn đề: xác định vấn đề, xác định các nguyên nhân, tạo ra các giải pháp, chọn giải pháp, thực hiện các giải pháp,

đánh giá kết quả [59]

Buchanan và Boddy (1992) cho thấy mô hình giải quyết vấn đề gồm 9 giai đoạn: nhận diện vấn đề, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, đưa ra giải pháp, lựa chọn giải pháp, lập kế hoạch thực hiện, thực hiện giải pháp, đánh giá việc thực hiện và đưa

ra kết quả, tiếp tục cải thiện [61]

Các nhà nghiên cứu R.J Sternberg (1986) [86], J.R Hayes (1989) [69], J.D

Bransford và B.S Stein (1993) [62], J.E Pretz và A.J Naples [81] (Đại học Yale) cho rằng con người cần tiến hành giải quyết vấn đề theo qui trình gồm 7 bước như sau: nhận biết vấn đề, định nghĩa và biểu đạt vấn đề trong óc, đề ra các chiến lược giải quyết, sắp xếp các kiến thức của mình về vấn đề, huy động các nguồn lực trí tuệ và thể chất để giải quyết vấn đề, giám sát các kết quả đạt được hướng tới mục tiêu và cuối cùng - đánh giá tính đúng đắn của phương án giải quyết Đây là quá trình trí tuệ diễn ra trong đầu Người giải quyết vấn đề thành công là tiến hành linh hoạt các bước tùy từng tình huống cụ thể

Đặc biệt, tác giả Sharon L Marcelle Crain (2002) (Đại học quốc tế Alliant- San Diego) khi đề cập đến tầm quan trọng của việc huấn luyện các kỹ năng xã hội và

kỹ năng giải quyết vấn đề cho trẻ em đã nhấn mạnh một số kỹ năng (thuộc về kỹ năng giải quyết vấn đề) cần huấn luyện như: nhận dạng tình huống có vấn đề, phát hiện tình huống có vấn đề, xác định bản chất của vấn đề, tập trung các ý tưởng để giải

Trang 14

quyết vấn đề, đánh giá các ý tưởng và chọn ra ý tưởng tối ưu, lập kế hoạch và thực

hiện ý tưởng đó bằng hành vi cụ thể [theo 73]

Bên cạnh đó, khi bàn về kỹ năng giải quyết vấn đề và tình huống có vấn đề, một số nhà tâm lý học chú trọng đến các chiến lược giải quyết vấn đề mà con người cần nắm được để giải quyết thành công những vấn đề mà họ đối mặt trong cuộc sống Chẳng hạn, John Malouff (Viện nghiên cứu tâm lý thuộc Đại học New England, Úc) (2002) đưa ra 50 chiến lược giải quyết vấn đề, chia thành 9 loại với những ví dụ cụ thể Đó là những chiến lược giúp con người hiểu được vấn đề, đơn giản hóa các nhiệm vụ, xác định nguyên nhân của vấn đề, sử dụng các sự giúp đỡ từ bên ngoài để tìm ra các cách giải quyết có thể, sử dụng các kiểu suy luận để tìm cách cách giải

quyết có thể có, xác định cách giải quyết nào là tốt nhất…[72]

Tóm lại, việc nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống nói chung đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tâm lý học, đặc biệt ở Phương Tây Các nghiên cứu chủ yếu hướng vào các qui trình kỹ thuật với các bước để giải quyết vấn

đề, các khả năng và kỹ năng liên quan đến việc giải quyết vấn đề, các chiến lược giải quyết vấn đề

*Những nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề trong một số lĩnh vực hoạt động cụ thể

Nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề trong lĩnh vực hoạt động thực tiễn cụ thể có thể chia làm 3 hướng nghiên cứu sau đây: hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề xã hội, hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong nhà trường, hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong quản lý

+ Hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề xã hội:

Từ nhận thức được tầm quan trọng của giải quyết vấn đề và sau khi xem xét lý thuyết nghiên cứu giải quyết vấn đề trong các lĩnh vực khác nhau với việc xác định các công việc có liên quan mà các nhà tâm lý học đã nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề ở các lĩnh vực xã hội khác nhau Năm 1971, D Zurilla và Goldfried đã có một bài viết chuyên đề đưa ra một mô hình đào tạo giải quyết vấn đề nhằm nâng cao năng lực xã hội và giảm đau khổ tâm lý cho những người gặp những vấn đề về mặt tâm lý trong cuộc sống Kể từ thời điểm đó, có một số lượng đáng kể các nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra các giả thuyết khác nhau của mô hình này Trong đó, phương pháp bổ sung để giải quyết vấn đề trong tình huống thực tế đã được phát hiện trong những thập kỷ qua như: giải quyết vấn đề với nhận thức của cá nhân của

Trang 15

Spivack, Platt và Shure (1976); Cá nhân giải quyết vấn đề của Heppner và Petersen (1982); Cá nhân với việc giải quyết vấn đề thực tế của Denny và Pearce (1989)

Nhóm các nhà tâm lý học mang tên “Giải quyết vấn đề và sửa đổi hành vi”,

đã đề xuất một mô hình khái niệm đào tạo giải quyết vấn đề nhằm tăng cường năng lực giải quyết vấn đề xã hội cho người dân ở các lĩnh vực khác nhau như: Tâm lý học giáo dục (Bloom và Broder, 1950); Lĩnh vực sáng tạo (Parries và Meadow, 1959); Tâm lý học hành vi (Skinner, 1953); Lĩnh vực công nghiệp (Osborn, 1963) Và một loạt những công trình nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề cho những người gặp phải những vấn đề về tâm lý như: kỹ năng giải quyết vấn đề cho những người bị bệnh, những người có vấn đề về khả năng nhận thức như bị tâm thần phân liệt, trí tuệ bị khuyết tật, trẻ

bị chấn thương não, trẻ bị rối loạn hành vi và cảm xúc, trẻ chậm phát triển

Nghiên cứu vấn đề này, đại diện có tác giả Arthur M Nezu (2004) với công trình nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề và hành vi trị liệu Tác giả cho rằng, giải quyết vấn đề là quá trình nhận thức, hành vi mà con người phải nỗ lực để xác định hoặc khám phá các giải pháp hiệu quả nhằm thích ứng với những vấn đề căng thẳng gặp phải trong cuộc sống hàng ngày Ông cũng cho rằng, kết quả của việc giải quyết vấn đề đã được xác định bởi 2 yếu tố liên quan với nhau nhưng lại độc lập nhau là khả năng định hướng vấn

đề và phong cách giải quyết vấn đề Khả năng định hướng vấn đề là tập hợp các lược đồ nhận thức, tình cảm tương đối ổn định, nó bao hàm niềm tin, thái độ, phản ứng và khả năng thành công của một người trong việc đối phó với các vấn đề trong cuộc sống Định hướng vấn đề của một người có thể là tích cực hay tiêu cực Một định hướng vấn đề tích cực là xem vấn đề như một thách thức, lạc quan, tin tưởng rằng các vấn đề sẽ được giải quyết, nhận thức được khả năng của mình có thể giải quyết được vấn đề và tin rằng sẽ thành công trong việc giải quyết vấn đề Ngược lại, định hướng vấn đề tiêu cực là xem vấn đề như các mối đe dọa, mong đợi các vấn đề nan giải, nghi ngờ khả năng thành công của bản thân và thất vọng, buồn bã khi phải đối mặt với vấn đề

Vấn đề phong cách giải quyết vấn đề được gọi là giải quyết vấn đề thích hợp,

đề cập đến mô hình nhận thức - hành vi cốt lõi Mô hình này mô tả 3 phong cách khác nhau và gồm 4 kỹ năng giải quyết vấn đề cụ thể hợp lý là nhận thức và xây dựng vấn

đề, lựa chọn các phương pháp, ra quyết định và thực hiện các giải pháp [57]

Anja Vaskinn A.B, Kjetil Sundet C, Christina M (2009) và một số tác giả

khác ở Viện tâm thần học, Đại học Oslo, Nauy, trong công trình nghiên cứu về “kỹ năng giải quyết vấn đề trong hoạt động tâm thần phân liệt cao” của người bị tâm

Trang 16

thần phân liệt cao dựa trên mô hình xử lý thông tin đã cho rằng việc giải quyết những vấn đề xã hội xảy ra theo một tuần tự giai đoạn, đầu tiên là vấn đề được phát hiện (giai đoạn xác định và mô tả vấn đề), sau đó suy nghĩ và liệt kê các giải pháp có thể

có (giai đoạn xử lý) và cuối cùng trả lời [58]

Nadine Revheima và Alice Medaliab (2004) ở Viện nghiên cứu tâm thần ở Mỹ

trong công trình nghiên cứu “kỹ năng nhớ lời nói, kỹ năng giải quyết vấn đề cho những bệnh nhân bị tâm thần phân liệt” có đưa ra kết luận: Nhận thức vấn đề và giải

quyết vấn đề là một kỹ năng phức tạp và đó là sản phẩm của nhiều qui trình trí tuệ và

nỗ lực đã được thực hiện để giải quyết tốt các vấn đề [78]

Như vậy, nhóm nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề xã hội tuy có cách nhìn nhận, phân chia khác nhau nhưng đều thống nhất là xem kỹ năng giải quyết vấn đề là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, nhiều qui trình và giải quyết vấn đề là hoạt động

tư duy, con người phải vận dụng nhận thức, trí tuệ, tình cảm và sự nỗ lực để giải quyết vấn đề

+ Hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong nhà trường:

Hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong nhà trường với đối tượng tập trung vào nhóm khách thể là học sinh, sinh viên Bao gồm những nghiên cứu như:

kỹ năng giải quyết vấn đề của trẻ trước tuổi đi học, kỹ năng giải quyết vấn đề và niềm tin của học sinh tiểu học, kỹ năng giải quyết vấn đề của thiếu niên tiếp xúc với bạo lực, kỹ năng giải quyết vấn đề của sinh viên đại học Hướng nghiên cứu này có các tác giả tiêu biểu sau:

Sena GÜRŞEN OTACIOĞLU- Trong công trình nghiên cứu “Kỹ năng giải quyết vấn đề và sự tự tin của giáo viên tương lai” (2008) cho rằng , giải quyết vấn đề

là sự lựa chọn sử dụng các công cụ tư duy và hành động hữu ích để đạt được mục tiêu mong muốn, Có thể phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề bằng cách thảo luận các ý tưởng và cảm xúc, bằng cách xác định tầm quan trọng của vấn đề và quan tâm đến nhu cầu của con người Phương pháp giải quyết vấn đề đòi hỏi một quá trình với các giai đoạn có thể được tóm tắt như: nhận thức vấn đề, xác định và phân loại vấn đề, tìm ra những khó khăn trong các loại vấn đề, đưa ra các giải pháp và đánh giá Công trình nghiên cứu cũng đưa ra kết luận mức độ cao của sự tự tin và khả năng tư duy sáng tạo sẽ làm cho cá nhân có kỹ năng giải quyết vấn đề ở mức độ cao hơn [83]

Kunchon Jeotee- Trường Đại học Durham Thái Lan (2012) với luận án tiến sĩ

về “Kỹ năng suy luận, khả năng giải quyết vấn đề và khả năng học tập: tác động đối

Trang 17

với chương trình học tập và lựa chọn nghề nghiệp trong bối cảnh giáo dục đại học ở Thái Lan” đã rút ra kết luận: Kỹ năng được xác định để giải quyết vấn đề là kỹ năng

suy luận, kinh nghiệm, ý thức và mối quan hệ của con người Giải quyết vấn đề là một quá trình quan trọng được diễn ra theo 3 bước: Tìm ra nguyên nhân của vấn đề, tìm kiếm cách tốt nhất để giải quyết vấn đề và giải quyết bằng cách sử dụng kỹ năng

lý luận, ý thức kinh nghiệm, hoặc bất kỳ kỹ năng nào có thể liên quan đến giải quyết vấn đề Có nhiều thành phần liên quan đến giải quyết vấn đề như nhận thức, năng khiếu, chỉ số IQ, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, khả năng học tập, tính cách, động

lực, kinh nghiệm [70]

Công trình nghiên cứu của Đại học Amasya - Thổ Nhĩ Kỳ (2011) với đề tài

“Kỹ năng giải quyết vấn đề của các thí sinh giáo viên”, nhóm tác giả đã đưa ra quan

điểm về vấn đề và giải quyết vấn đề Cụ thể: Vấn đề được định nghĩa là khó hiểu đối với nhận thức của cá nhân, là một thách thức ngăn cản đến việc đạt mục tiêu của cá nhân Ba tính năng chính của vấn đề là mục đích, các rào cản trong cách đạt mục đích

và cá nhân cảm thấy căng thẳng để đạt mục đích Giải quyết vấn đề là ý thức để nghiên cứu kế hoạch thực hiện một chủ đề có ý thức nhằm đạt được một mục đích mà không thể đạt được một cách dễ dàng Giải quyết vấn đề như là chỉ đạo các hoạt động nhận thức thành mục tiêu Nhóm tác giả này cũng đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến thành công của giải quyết vấn đề đó là nhận thức, tình cảm và kinh nghiệm [71]

Công trình nghiên cứu thí điểm mô hình giải quyết vấn đề của nhóm do nhóm tác giả J.Stephen Newton, Robert H Horner, Anne W Todd của Đại học Oregon và Robert F Algozzine và Kate M Algozzine của Đại học Bắc Carolina tại Charlotte (2012) đã đưa ra qui trình giải quyết vấn đề cho nhóm nhằm đưa ra quyết định bằng

mô hình TIPS gồm 6 bước: Thiết lập các cơ sở giải quyết vấn đề, xác định vấn đề, phát triển và sàng lọc giả thuyết, thảo luận và lựa chọn giải pháp, xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động giải quyết vấn đề, đánh giá và sửa đổi kế hoạch hành động

giải quyết vấn đề [79]

Erdal Bay, Birsen Bagceci và Bayram Cetin- Khoa Giáo dục, Đại học

Gaziantep, Gaziantep, Thổ Nhĩ Kỳ (2012) với nghiên cứu “Ảnh hưởng của phương pháp kiến tạo xã hội đến giải quyết vấn đề ở người học” khi nghiên cứu giải quyết

vấn đề ở người học đã xem giải quyết vấn đề trong học tập là quá trình cá nhân vận dụng kiến thức của mình để tìm giải pháp khi tiếp cận một vấn đề- đây là một kỹ năng tư duy quan trọng Giải quyết vấn đề cũng được định nghĩa như kỹ năng nhận

Trang 18

thức cao cấp tạo ra giải pháp thay thế thông qua các bộ lọc tinh thần khi gặp phải vấn

đề cần giải quyết Vì vậy kỹ năng nhận thức là kỹ năng cơ bản của mỗi cá nhân để

giải quyết vấn đề hiệu quả [65]

+ Hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong quản lý:

Hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong quản lý được các nhà Tâm

lý học Phương Tây rất quan tâm Hầu hết các tác giả đều có chung nhận định: một nhà lãnh đạo phải có kỹ năng lãnh đạo, trong đó kỹ năng giải quyết vấn đề là kỹ năng quan trọng không thể thiếu Cùng quan điểm này có các tác giả:

- Nhóm tác giả Michael D Mumford Đại học Oklahoma, Stephen J Zaccaro

và Edwin A Fleishman Đại học George Mason, Francis D.Harding Viện Nghiên cứu Quản lý, T Owen Jacobs Đại học Quốc phòng (2000), trong Công trình nghiên

cứu về kỹ năng lãnh đạo “Giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp cho nhà lãnh đạo”

đã cho rằng, một nhà lãnh đạo hiệu quả phải có 2 yêu cầu về kỹ năng và kiến thức Lãnh đạo là giải quyết vấn đề Nhóm nghiên cứu đưa ra mô hình mới cho tổ chức lãnh đạo và đưa ra quan điểm tổ chức lãnh đạo là một hình thức hoạt động có tay nghề cao Mô hình này dựa trên các kỹ năng lãnh đạo tổ chức – đó chính là kỹ năng giải quyết vấn đề Giải quyết vấn đề là một tập hợp các kỹ năng và kiến thức cần thiết, trong đó nhận thức tư duy sáng tạo là yếu tố quan trọng trong giải quyết vấn đề

Giải quyết vấn đề gồm các giai đoạn: xác định vấn đề, hiểu được vấn đề, đưa

ra các giải pháp tiềm năng, sàng lọc các giải pháp tiềm năng, thực hiện các giải pháp Mỗi giai đoạn yêu cầu mức độ khác nhau về nhận thức và sự sáng tạo

Kinh nghiệm của các nhà lãnh đạo thu thập được trong quá trình hoạt động của

mình có ảnh hưởng đến kiến thức cần thiết và kỹ năng sẵn có để giải quyết vấn đề [77]

- Nhóm tác giả Stephen J Zaccaro Đại học George Mason, Michael D Mumford Đại học Oklahoma, Mary Shane Connelly Viện Nghiên cứu Quản lý, Michelle A Marks Đại học Quốc tế Florida, Janelle A Gilbert California State University ở San Bernardino (2000), trong công trình nghiên cứu về khả năng giải quyết vấn đề đã đưa ra quan điểm, các yếu tố kiến thức lãnh đạo, khả năng, kỹ năng, động lực và cá tính sẽ thúc đẩy việc giải quyết vấn đề của nhà lãnh đạo hiệu quả Có

8 kỹ năng để xử lý giải quyết vấn đề Bao gồm: các vấn đề xây dựng, mã hóa thông tin, thể loại tìm kiếm, đặc điểm kỹ thuật thể loại, kết hợp và tổ chức lại, ý tưởng đánh giá, giải pháp thực hiện và giải pháp giám sát [84]

Trang 19

- Richard L Hughes, Robert C Ginnett và Gordon J Curphy cho rằng, việc lãnh đạo là một quá trình chứ không phải là một vị trí Quá trình này gồm các kỹ năng lãnh đạo: Thiết lập mục tiêu, tiến hành các cuộc họp, giải quyết mâu thuẫn, đàm phán, giải quyết vấn đề, cải thiện sự sáng tạo, chẩn đoán các vấn đề của cá nhân, nhóm và các tổ chức, thành lập nhóm lãnh đạo cao cấp Trong đó, kỹ năng giải quyết vấn đề gồm có 5 bước: nhận ra vấn đề hoặc cơ hội cải thiện, phân tích nguyên nhân, đưa ra các giải pháp thay thế, lựa chọn và triển khai giải pháp tốt nhất, đánh giá tác

động của giải pháp [47, tr.759]

Các tác giả cũng đưa ra qui trình của giải quyết vấn đề, điển hình có:

- Tổ chức FCCLA nghiên cứu về gia đình, nghề nghiệp và lãnh đạo cộng đồng

ở Mỹ, trong công trình nghiên cứu “Giải quyết vấn đề cho nhà lãnh đạo” đã đưa ra 6

bước cho một quá trình giải quyết vấn đề gồm: Xác định vấn đề, kiểm tra lựa chọn thay thế, xem xét các lực chọn có liên quan đến mục tiêu, xác định lựa chọn chấp nhận được, quyết định về một sự lựa chọn và đánh giá kết quả Có 2 loại tư duy quan trọng được sử dụng để giải quyết vấn đề là:

+ Tư duy sáng tạo: Tìm ra tất cả các ý tưởng để làm ra những cái mới

+ Tư duy phê phán: Được phân tích và đánh giá các ý tưởng để tiến hành công việc hiện tại

Các tác giả còn đưa ra những yếu tố chính của giải quyết vấn đề là nâng cao nhận thức, định nghĩa rõ ràng, tầm nhìn, lựa chọn thay thế, phân tích, quyết định và

hành động [64]

Fred E Jand (1994) đã đưa ra kế hoạch 7 bước giải quyết vấn đề cho các nhà quản lý gồm: Nhận ra vấn đề, xác định các mục tiêu, xác định các nhóm quan tâm, đánh giá nhu cầu, sự quan tâm và giá trị của họ, đánh giá nguồn lực, xác định giải

pháp và hành động (triển khai thực hiện và đánh giá kết quả) [25, tr 126-127]

- John G Maxwell (2008) đưa ra qui trình giải quyết vấn đề gồm các bước: Xác định vấn đề, xử lý vấn đề theo thứ tự ưu tiên, chọn người giúp giải quyết vấn đề, tổng hợp nguyên nhân gây ra vấn đề, tổng hợp phương án giải quyết vấn đề, ưu tiên chọn các giải pháp tốt nhất, thực hiện các giải pháp tốt nhất, đề ra các nguyên tắc hoặc chính sách để tránh lặp lại vấn đề cũ [35]

Các tác giả theo hướng nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề trong quản lý đều xem: giải quyết vấn đề chính là một kỹ năng quan trọng của nhà lãnh đạo; giải

Trang 20

quyết vấn đề là hoạt động tư duy và giải quyết vấn đề là một qui trình gồm nhiều bước khác nhau

1.1.2 Nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng giải quyết vấn đề ở Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng trong các lĩnh vực hoạt động ở Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề kỹ năng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và chủ yếu nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực hoạt động cụ thể

Trong lĩnh vực sư phạm, có các tác giả như: Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Như

An, Nguyễn Ngọc Bảo, Ngô Công Hoàn đã nghiên cứu kỹ năng hoạt động sư phạm

và nhấn mạnh qui trình hình thành kỹ năng này cho sinh viên các trường sư phạm

Ngô Công Hoàn, Hoàng Thị Oanh (1992) không đi sâu vào việc nghiên cứu những vấn đề chung về kỹ năng, mà chỉ tập trung vào nghiên cứu kỹ năng giao tiếp, đặc biệt là cấu trúc kỹ năng giao tiếp sư phạm gồm 3 nhóm: Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp, nhóm kỹ năng định vị, nhóm kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp

Các nhóm kỹ năng này có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau [37]

Các tác giả Trần Trọng Thủy, Phạm Tất Dong đã nhấn mạnh đến vai trò của

kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động lao động, các điều kiện và các giai đoạn hình thành

kỹ năng, kỹ xảo Cụ thể, tác giả Phạm tất Dong (1984) đưa ra 4 giai đoạn hình thành

kỹ năng: Giai đoạn hình thành kỹ năng sơ bộ, giai đoạn kỹ năng chưa thành thạo, giai đoạn phát triển cao, giai đoạn kỹ năng phát triển cao nhất Mỗi giai đoạn có

những đặc điểm đặc trưng và những yêu cầu nhất định [10]

Trần Quốc Thành (1992) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc của kỹ năng tổ chức hoạt động Hệ thống kỹ năng tổ chức rất phong phú gồm 5 thành phần có liên hệ chặt chẽ, chi phối lẫn nhau trong quá trình tổ chức hoạt động Năm thành phần gồm: Nhận

thức, thiết kế, phân công- phối hợp, giao tiếp và thực hiện nhiệm vụ [49]

Kỹ năng quản lý cũng được nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu các tác giả Nguyễn Đình Chỉnh và Phạm Ngọc Uyển (1998) cho rằng, kỹ năng quản lý có vai trò quyết định đối với chất lượng và hiệu quả của việc giải quyết các nhiệm vụ của chủ thể quản lý Kỹ năng quản lý được coi như là một hệ thống cấu trúc, bao qồm các

kỹ năng bộ phận như: biết định hướng đúng, biết tổ chức- chỉ đạo việc thực hiện tốt

kế hoạch và biết kiểm tra- đánh giá- hiệu chỉnh một cách hợp lý các quá trình giải quyết nhiệm vụ quản lý [4]

Trang 21

Tác giả Giang Hà Huy (1999) trong cuốn sách “Kỹ năng trong quản lý” đã thực tế hóa hầu hết các kỹ năng quản lý như tổ chức quản lý, xây dựng ê kíp, quản lý

con người, mối quan hệ người với người, các nhân tố tổ chức [20]

Tóm lại, từ các công trình nghiên cứu về kỹ năng có thể chia làm hai hướng cơ

bản sau:

Hướng thứ nhất: những công trình nghiên cứu có tính khái quát về kỹ năng, kỹ xảo, mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo, kỹ năng và năng lực, điều kiện hình thành

kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nói chung

Hướng thứ hai: những công trình nghiên cứu về kỹ năng trong các lĩnh vực: sư phạm, giao tiếp, lao động, quản lý, kinh doanh…đã góp phần to lớn cho việc xây dựng cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, phát hiện và đưa ra nhiều mô hình ứng dụng, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động của con người trong cuộc sống, lao động, học tập và nghiên cứu khoa học

1.1.2.2 Nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu kỹ năng giải quyết vấn đề ở lĩnh vực hoạt động thực tiễn cụ thể được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất là lĩnh vực khoa học kỹ thuật và giáo dục

Ở lĩnh vực khoa học kỹ thuật, Phan Dũng (2001) quan niệm: Quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định chính là quá trình biến đổi thông tin: biến đổi những thông tin của bài toán thành thông tin của lời giải Theo Phan Dũng, kỹ năng giải quyết vấn đề hay bài toán đòi hỏi phải tiến hành hành động tư duy theo một qui

trình mà ông gọi là “chương trình rút gọn quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định”, bao gồm 6 bước: hiểu bài toán, đề ra mục đích cần đạt, trả lời các câu

hỏi (xem xét từng yếu tố), phát biểu mâu thuẫn, phát ra các ý tưởng có thể có để giải quyết mâu thuẫn, ra quyết định (chọn ý tưởng tối ưu) [14, tr.44]

Ở lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề chủ yếu tập trung vào kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm có vấn đề Các tác giả, Trần Trọng Thủy, Ngô Công Hoàn, Bùi Văn Huệ, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Quang Uẩn (1990) xem việc giải quyết các tình huống sư phạm trong dạy học và giáo dục như khả năng ứng

xử sư phạm của giáo viên [53] Nguyễn Ngọc Bảo (1989), Nguyễn Đình Chỉnh

(1992), Nguyễn Ánh Tuyết (1992), Bùi Ngọc Hồ (1993), Ngô Công Hoàn (1995) đều cho rằng kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm phải được hình thành và rèn luyện cho đội ngũ các nhà giáo tương lai ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sư phạm

Trang 22

Các tác giả cũng biên soạn một hệ thống phong phú những bài tập thực hành tâm lý học và giáo dục học giúp sinh viên sư phạm rèn luyện kỹ năng này

Đặc biệt, tác giả Nguyễn Đình Chỉnh (1995) cho rằng kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm đòi hỏi phải tuân theo một qui trình các bước giải quyết tình huống, bao gồm: biểu đạt vấn đề cần giải quyết trên cơ sở đã phân tích, xác định các dữ liệu của tình huống; đề ra các cách giải quyết; chọn cách giải quyết hợp lý nhất và giải thích cơ sở khoa học của nó; rút ra bài học kinh nghiệm giáo dục Nguyễn Đình Chỉnh cho rằng qui trình này cũng chính là qui trình rèn luyện kỹ năng giải quyết tình huống sư phạm cho sinh viên các trường sư phạm [5]

Ngoài ra trong lĩnh vực quản lý, kỹ năng giải quyết vấn đề cũng được quan tâm nghiên cứu Tác giả Dương Hữu Hạnh (1973) quan niệm các nhà quản lý với tư cách là người giải quyết vấn đề thì giải quyết vấn đề xảy ra khi nhà quản lý đối diện với một hoàn cảnh xa lạ mà ở đó không có biện pháp đã được thiết lập sẵn để giải quyết vấn đề Để giải quyết vấn đề, các nhà quản lý phải thực hiện nghiên cứu, thu thập dữ liệu hay tìm sự kiện để khám phá được nguyên nhân thực sự của vấn đề để có giải pháp thích hợp Các bước trong tiến trình giải quyết vấn đề và ra quyết định bao gồm: thừa nhận và chẩn đoán tình huống, đề ra các phương án giải quyết, đánh giá các phương án, chọn phương án tốt nhất, thực hiện các phương án đã chọn và đánh giá các kết quả đạt được[22, tr.308-310]

Vũ Văn Dương, Trần Thuận Hải (1997) đưa ra 6 bước cho quá trình giải quyết vấn đề gồm: Xác định vấn đề, đưa ra các giải pháp, chọn một giải pháp, lên kế hoạch

thực hiện, hành động và kiểm tra [13, tr.41]

Nguyễn Đình Chỉnh, Phạm Ngọc Uyển (1998) lại đưa ra quá trình giải quyết vấn đề gồm 9 bước: Phát hiện và nhận thức vấn đề, tích lũy thông tin, tìm ra các phương án giải quyết, chọn phương án tối ưu, làm việc tập thể, quyết định, truyền đạt quyết định, thực hiện, kiểm tra- đánh giá- điều chỉnh [4, tr.102-104] Một số tác giả khác như Đào Như Huân cho rằng, quá trình giải quyết vấn đề như một hành động trí tuệ với các giai đoạn diễn ra trong đầu mà giai đoạn cuối cùng là ra quyết định, không

đề cập đến các giai đoạn sau (thực hiện, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh) [21]

Các tác giả khác lại đưa ra những tình huống mà nhà quản lý phải đối mặt để giải quyết hàng ngày Chẳng hạn, Vũ Thế Phú (1994) tập hợp những tình huống thường gặp trong quản trị [38] Lê Thụ (1997) sưu tập 100 tình huống đặc trưng, tiêu biểu mà các giám đốc thường phải đối mặt hàng ngày [54] Đào Duy Huân (1997)

Trang 23

trong cuốn sách “Quản trị học” cũng nêu ra 34 tình huống điển hình trong quản trị [21] Nguyễn Hoàng Linh và Vũ Xuân Tiền (2000) trong “Sổ tay giám đốc” đã thống

kê 500 tình huống quản lý và các qui định của pháp luật khi xử lý [29]

Một số tác giả lại nghiên cứu kỹ năng giải quyết các tình huống quản lý như:

- Luận án tiến sĩ của Phạm Hồng Quý (2006), nghiên cứu “Các thành tố trong tư duy giải quyết tình huống quản lý của người cán bộ chủ chốt cấp huyện”

Tác giả đã đưa ra những thành tố trong tư duy giải quyết tình huống quản lý của người cán bộ chủ chốt cấp huyện gồm 3 thành tố: phân tích, suy xét và lập kế hoạch hành động trong đầu Ba thành tố này diễn ra một cách liên tục theo trình tự, nhưng lại đan xen nhau trong quá trình người cán bộ chủ chốt cấp huyện giải quyết tình huống quản lý [44]

- Luận án tiến sĩ của Trần Thị Tú Quyên (2006), nghiên cứu “Kỹ năng giải quyết các tình huống quản lý của học viên Học viện Chính trị khu vực I Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh” cho rằng, Kỹ năng giải quyết tình huống quản lý là

chủ thể quản lý biết tiến hành những thao tác tư duy đúng trong quá trình giải quyết tình huống quản lý, tìm ra được lời giải hợp lý và tối ưu nhất cho tình huống có vấn

đề chứa đựng mâu thuẫn đang được đặt ra trước họ Kỹ năng giải quyết tình huống bao gồm 3 thành tố cơ bản: nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng phối hợp tổ chức- chỉ đạo, nhóm kỹ năng kiểm tra- đánh giá và hiệu chỉnh quá trình giải quyết tình huống quản lý Qui trình giải quyết một tình huống quản lý gồm 6 bước: phát hiện và xác định vấn đề, đưa ra các giải pháp khác nhau, phân tích các giải pháp, chọn giải pháp tối ưu nhất và quyết định, thực hiện quyết định và đánh giá kết quả

thực hiện, rút ra bài học kinh nghiệm [45]

- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thúy Dung (2008), nghiên cứu “Kỹ năng giải quyết tình huống quản lý của học viên các lớp bồi dưỡng hiệu trưởng tiểu học”

đưa ra quan niệm, kỹ năng giải quyết tình huống quản lý giáo dục trong trường tiểu học là một trong những kỹ năng quản lý của người hiệu trưởng trường tiểu học, là một biểu hiện năng lực quản lý của người hiệu trưởng Kỹ năng giải quyết tình huống quản lý giáo dục trong trường tiểu học là sự giải quyết có hiệu quả những tình huống quản lý nảy sinh trong hoạt động quản lý giáo dục ở trường tiểu học, bằng các tiến hành đúng đắn các thao tác của quá trình giải quyết tình huống quản lý giáo dục trên

cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm về hành động đó Cấu trúc của kỹ năng giải quyết tình huống quản lý giáo dục trong trường tiểu học là một hệ thống

Trang 24

bao gồm các kỹ năng bộ phận như sau: Nhóm kỹ năng nhận thức vấn đề, nhóm kỹ năng xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề, kỹ năng đề ra các ý tưởng giải quyết vấn đề,

kỹ năng lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề, kỹ năng tổ chức thực hiện

phương án đã lựa chọn, kỹ năng kiểm tra, đánh giá [12]

Gần đây Trong báo cáo nghiên cứu được tài trợ bởi Cơ quan Phát triển Quốc

tế Australia ( AusAID) và Quĩ Châu Á của nhóm nghiên cứu do PGS TS Nguyễn Quang Tuyến- Trưởng bộ môn luật đất đai, Đại học luật Hà Nội làm trưởng nhóm, về nội dung: Hòa giải tranh chấp đất đai tại Việt Nam- Phân tích pháp luật hiện hành, các thực tiễn và khuyến nghị cho cải cách, tháng 10 năm 2013 Dự án nghiên cứu hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở do nhóm hòa giải cơ sở ở địa phương (thường gồm có già làng, cán bộ về hưu, người đứng đầu các tổ chức quần chúng) đảm nhiệm với mục đích là phân tích pháp luật hiện hành thực trạng thực thi các qui định về hòa giải trong tranh chấp đất đai đã đưa ra 11 hạn chế và kẽ hở trong các qui định về hòa giải

cơ sở cả về hình thức, nội dung, thành phần, chế độ thù lao…của việc giải quyết tranh chấp đất đai của pháp luật hiện hành và nhiều khuyến nghị sửa đổi , bổ sung

về luật đất đai cũng như thủ tục, qui định việc thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai hiện nay.[2]

Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề,

chúng tôi nhận thấy:

- Khi nghiên cứu, các tác giả đều xem giải quyết vấn đề là hoạt động tư duy và qui trình giải quyết vấn đề gồm nhiều giai đoạn nhưng các tác giả lại chưa có sự thống nhất trong quan niệm phân chia các giai đoạn của qui trình này

- Các tác giả chưa nghiên cứu sâu về khái niệm “Kỹ năng giải quyết vấn đề”, cấu trúc của kỹ năng giải quyết vấn đề, các tiêu chí để đánh giá kỹ năng giải quyết vấn

đề và các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết vấn đề

- Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả nào nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

Trang 25

1.2 Một số vấn đề lý luận nghiên cứu kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

1.2.1 Kỹ năng

1.2.1.1 Khái niệm kỹ năng

Tâm lý học ngày nay ngày càng được vận dụng rộng rãi vào đời sống xã hội, một trong những vấn đề có vai trò rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn được các nhà tâm lý học quan tâm là vấn đề kỹ năng Chính vì vậy mà có nhiều nhà nghiên cứu

đã đi sâu tìm hiểu về vấn đề này, có nhiều định nghĩa về kỹ năng được đưa ra, cụ thể như sau:

Hướng thứ nhất: Kỹ năng được coi là biểu hiện của kỹ thuật hành động

Theo quan điểm này, các tác giả như: A.V.Lêonchiev(1989) V.A.Cruchetxki (1981), Trần Trọng Thủy (1978), A.G Covaliov (1994), B.Ph Lomov (2000)… quan niệm, kỹ năng là kỹ thuật hành động, là kỹ thuật thao tác, là sự kết hợp nhiều thao tác theo một trật tự phù hợp với mục đích, điều kiện, hoàn cảnh và yêu cầu của hành động Chẳng hạn, A.G Covaliov định nghĩa: Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động[7] Tác giả V.A Cruchetxki (1981) viết: “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững từ trước [8, tr 78]

Tác giả Trần Trọng Thủy (1978) trong cuốn “Tâm lý học lao động” cũng cho rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức

là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng [48]

Như vậy, các tác giả theo quan niệm này thì chú ý đến mặt kỹ thuật của kỹ năng, xem kỹ năng là sự vận dụng các kỹ thuật hành động, trong khi đó kết quả của hành động thì chưa thấy được các tác giả quan tâm đề cập đến

Hướng thứ hai: Kỹ năng được định nghĩa là năng lực của cá nhân trong hoạt động

Các tác giả theo khuynh hướng này đã quan tâm đến kết quả hoạt động khi đưa

ra định nghĩa kỹ năng Chẳng hạn, tác giả N.D Lêvitov (1963) quan niệm: Kỹ năng

là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hành động phức tạp hơn, bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn, có chiếu cố đến những điều kiện nhất định Kỹ năng có liên quan nhiều đến hoạt động thực tiễn, đến việc áp dụng tri thức vào thực tiễn [31] K K Platônop và G.G.Golubep(1974) cũng cho rằng

kỹ năng là năng lực của cá nhân thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng

Trang 26

cần thiết trong những điều kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng [43] A.V Petropxki (1982) xem xét kỹ năng là sự vận dụng những tri thức kỹ xảo đã có

để lựa chọn thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra [42] Ngoài ra, trong từ điển tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2000) thì: “ Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [9]

Như vậy theo khuynh hướng này, kỹ năng không chỉ được hiểu là kỹ thuật vận dụng phù hợp các thao tác, mà còn đem lại kết quả cho hoạt động Bởi lẽ, nói đến kỹ năng phải là sự thành thạo, thuần thục - thể hiện kỹ thuật của hành động Hơn nữa, kỹ năng được hình thành trên cơ sở vận dụng năng lực, tri thức, kinh nghiệm của cá nhân vào công việc cụ thể để đạt được hiệu quả công việc đó Do đó: kỹ năng vừa là kỹ thuật, vừa là năng lực của cá nhân để đem lại kết quả cho hoạt động Đây là quan niệm tương đối toàn diện và khái quát về kỹ năng

Hướng thứ ba: Kỹ năng được xem như hành vi ứng xử của cá nhân

Hướng nghiên cứu này quan niệm, kỹ năng không chỉ là kỹ thuật hành động,

là kết quả của hoạt động Các tác giả xem kỹ năng như hành vi ứng xử và cho rằng thái độ, niềm tin ảnh hưởng đến kỹ năng Chẳng hạn, S.A Morales & W Sheator (1978) đã nhấn mạnh ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của cá nhân trong kỹ năng Còn J.N Richard (2003) coi kỹ năng là hành vi thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối của suy nghĩ và cách cảm nhận của cá nhân Theo quan điểm của các tác giả này, kỹ năng là hành vi được biểu hiện ra bên ngoài và bị chi phối bởi động cơ, thái độ, niềm tin, chuẩn mực của cá nhân đối với hoạt động Đây là quan niệm đáng quan tâm và phù hợp với kỹ năng nghề nghiệp Bởi lẽ, mỗi nghề nghiệp khác nhau sẽ có qui tắc ứng xử khác nhau, các cá nhân sẽ sử dụng tri thức, kinh nghiệm, phương thức hành động, các giá trị thái độ, chuẩn mực, động cơ hành động của cá nhân để có hành vi phù hợp với qui tắc ứng xử của nghề nghiệp.Tuy nhiên, khi coi kỹ năng là hành vi, các tác giả chưa quan tâm nhiều đến mặt kỹ thuật nên hiểu theo cách này có thể sẽ gặp khó khăn trong việc đào tạo kỹ năng nghề nghiệp

Tổng hợp các quan điểm khác nhau về kỹ năng, mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng, nhưng các tác giả đều gắn kỹ năng với hành động và hoạt động của cá nhân Nó là cách thức hành động phù hợp với điều kiện và yêu cầu của hoạt động, trong đó cá nhân vận dụng kinh nghiệm, tri thức, kỹ xảo để mang lại hiệu quả của hoạt động

Trang 27

Tổng hợp các phân tích về kỹ năng nói trên, chúng tôi đưa ra định nghĩa về kỹ năng như sau:

Kỹ năng là cách thức hành động phù hợp với điều kiện và yêu cầu của hoạt động, trong đó cá nhân vận dụng kiến thức, kinh nghiệm để mang lại hiệu quả của hoạt động

Từ định nghĩa cho thấy, kỹ năng có những biểu hiện:

- Kỹ năng được biểu hiện trong hành động và hoạt động của cá nhân qua các thao tác được sử dụng thành thạo, linh hoạt, mềm dẻo

- Kỹ năng không phải là yếu tố bẩm sinh, kỹ năng là sản phẩm của hoạt động

Đó là quá trình con người vận dụng các kinh nghiệm, tri thức và các giá trị phù hợp với điều kiện hoạt động để đem lại kết quả cho hoạt động

1.2.1.2 Đặc điểm của kỹ năng

Một hành động được coi là có kỹ năng phải là hành động được thực hiện thành thạo, được thể hiện thuần thục, đầy đủ, đúng đắn các thao tác và vận dụng linh hoạt để đem lại hiệu quả cho từng hoạt động cụ thể Như vậy, kỹ năng có các đặc điểm sau:

- Tính đúng đắn của kỹ năng: là yêu cầu chủ thể khi thực hiện kỹ năng cần phải có tri thức đúng đắn về mục đích, yêu cầu, cách thức thực hiện kỹ năng

- Tính đầy đủ của kỹ năng: là sự có mặt đầy đủ biểu hiện của kỹ năng, bao gồm: nhận thức đầy đủ mục đích, yêu cầu của kỹ năng, có đầy đủ các thao tác cần thiết của kỹ năng

- Tính thuần thục của kỹ năng: là đòi hỏi chủ thể khi thực hiện kỹ năng luôn thực hiện đúng, đủ các yêu cầu về mặt kỹ thuật và luôn đạt được kết quả ngay cả khi điều kiện và phương thức thực hiện hoạt động thay đổi

- Tính linh hoạt của kỹ năng: là sự ổn định, bền vững và sáng tạo của kỹ năng trong các điều kiện hoạt động khác nhau

- Tính hiệu quả của kỹ năng: là đòi hỏi chủ thể khi thực hiện kỹ năng cần hướng đến kết quả đạt được ở mức độ cao nhất có thể

- Tính sáng tạo của kỹ năng: là yêu cầu đối với chủ thể khi thực hiện kỹ năng phải tìm ra cái mới, phương thức mới trên nền của phương thức cũ nhằm mang lại hiệu quả hoạt động cao hơn

1.2.1.3 Quá trình hình thành và mức độ kỹ năng

Theo quan điểm của K.K Platonov và G.G.Golubev, để hình thành kỹ năng một hành động, trước hết cần xác định được mục đích của hành động, sau đó phải

Trang 28

thông hiểu cách thức thực hiện hành động và cần tổ chức luyện tập Các tác giả đã đưa ra 5 giai đoạn hình thành kỹ năng đó là: Giai đoạn 1: Giai đoạn kỹ năng sơ đẳng: con người ý thức được mục đích hành động và tìm kiếm cách thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết, kinh nghiệm sống Hành động được thực hiện bằng cách “thử”

và “sai”; Giai đoạn 2: Biết cách làm nhưng không đầy đủ Có hiểu biết về phương thức thực hiện hành động; vận dụng các kĩ xảo đã có, nhưng không phải những kĩ xảo chuyên biệt dành cho hành động này; Giai đoạn 3: Có kỹ năng chung nhưng còn mang tính riêng lẻ; Giai đoạn 4: Có kỹ năng phát triển cao, sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết và các kỹ xảo đã có, ý thức được không chỉ mục đích hành động mà còn cả động

cơ lựa chọn cách thức đạt mục đích; Giai đoạn 5: Sử dụng sáng tạo các kỹ năng khác nhau.[43]

Theo cách phân chia này, kỹ năng được bộc lộ từ thấp đến cao qua các giai đoạn: từ nắm được tri thức về kỹ năng đến có kỹ năng nhưng chưa đầy đủ, chưa thành thục, sau đó là thực hiện đầy đủ và cao nhất là có kỹ năng đầy đủ, thực hiện chúng thuần thục và linh hoạt trong mọi điều kiện của hoạt động Các mức độ kỹ năng cũng được thể hiện dựa trên một số thông số như: mức thực hiện hành động, độ khái quát, sự toàn vẹn của các thao tác, trình độ thành thạo của các thao tác khi thực hiện kỹ năng để đạt được hiệu quả cao nhất

Trong khi đó tác giả Trần Quốc Thành đã đề xuất qui trình hình thành kỹ năng gồm 3 giai đoạn Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức, điều kiện hành động; Giai đoạn 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu; Giai đoạn 3: Luyện tập

để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt mục đích đặt ra Bước đầu tác giả đã quan tâm đến việc đề cao sự hiểu biết của người học trước khi thực hiện hành động để có kỹ năng Đây là việc làm rất quan trọng để giúp người học ý thức được những việc phải làm và ý nghĩa của nó trong quá trình luyện tập Từ đó giúp người học xây dựng được ý thức tự rèn luyện nhằm cũng cố những kỹ năng đã được hướng dẫn trước đó Tuy nhiên, bên cạnh đó thì tác giả đã nhấn mạnh yếu tố kĩ thuật trong quá trình thực hiện hành động nhằm hình thành kỹ năng [theo 49] Chúng tôi cũng đồng tình với các tác giả, quá trình hình thành kỹ năng diễn ra ở hai cấp độ chính: cấp độ nhận thức và cấp độ thao tác hành động Ở cấp độ nhận thức, chủ thể phải có được các tri thức cần thiết về nội dung, mục đích, yêu cầu của hoạt động và các tri thức về cách thức hành động Ở cấp độ hành động, chủ thể phải thực hành

Trang 29

được kỹ năng trong thực tiễn và sau đó luyện tập vận dụng kỹ năng vào các điều kiện khác nhau của hoạt động

Từ cơ sở những phân tích trên, chúng tôi đề xuất quá trình hình thành kỹ năng bao gồm 3 giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: giai đoạn nhận thức: nhận thức đầy đủ về nội dung, mục đích, cách thức và điều kiện để giải quyết vấn đề

Bước 2: giai đoạn thực hành: nắm được qui trình giải quyết vấn đề sau khi được hướng dẫn, quan sát và làm thử

Bước 3: giai đoạn luyện tập: luyện tập để biết tiến hành các thao tác theo đúng yêu cầu và điều kiện của việc giải quyết vấn đề nhằm đạt được mục đích đề ra Biết vận dụng giải quyết từng vấn đề cụ thể

1.2.2 Khái niệm kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai

1.2.2.1 Khái niệm “giải quyết”

Theo từ điển tiếng Việt thì “Giải quyết” là “làm cho không còn thành vấn đề nữa- tức là làm cho thoát khỏi cái đang trói buộc Ví dụ: giải quyết nạn kẹt xe, giải quyết vấn đề chưa được giải quyết [39] Còn từ điển Hán việt xem “Giải quyết” là quyết định biện pháp để loại bỏ bế tắc.[3, tr.1197] Theo hai cách hiểu này thì “Giải quyết” là hoạt động để làm cái gì đó Hoạt động có thể diễn ra bên trong (hoạt động

tư duy), nhưng cũng có thể diễn ra bên ngoài (hoạt động thực tiễn) Hơn nữa, “Giải quyết”cái gì đó chính là giải quyết một vấn đề đang tồn tại

Trong khi đó “Giải quyết vấn đề” được nhiều tác giả nghiên cứu Đa số các tác giả đều xem giải quyết vấn đề là quá trình nhận thức, tư duy của con người Cùng quan niệm này có các tác giả tiêu biểu sau :

Goldstein và Lewin (1987) xác định ý nghĩa của giải quyết vấn đề như là một phương pháp luận của quá trình tư duy để giải quyết vấn đề [68] Nadine Revheima

có đưa ra kết luận: Nhận thức vấn đề và giải quyết vấn đề là một kỹ năng phức tạp và

đó là sản phẩm của nhiều qui trình trí tuệ và nỗ lực đã được thực hiện để giải quyết

tốt các vấn đề [78] Nhóm tác giả Michael D Mumford Đại học Oklahoma, Stephen

J Zaccaro và Edwin A Fleishman Đại học George Mason, Francis D.Harding Viện Nghiên cứu Quản lý, T Owen Jacobs Đại học Quốc phòng (2000), đã cho rằng, giải quyết vấn đề là một tập hợp các kỹ năng và kiến thức cần thiết, trong đó nhận thức tư duy sáng tạo là yếu tố quan trọng trong giải quyết vấn đề [77] Erdal Bay, Birsen Bagceci và Bayram Cetin khi bàn đến giải quyết vấn đề của người học lại xem giải

Trang 30

quyết vấn đề trong học tập là quá trình cá nhân vận dụng kiến thức của mình để tìm giải pháp khi tiếp cận một vấn đề - đây là môt kỹ năng tư duy quan trọng [65]

Các tác giả trên đều xem giải quyết vấn đề là quá trình nhận thức, tư duy của con người Chúng tôi đồng tình với quan điểm của X.L Rubinstein (1958) cho rằng, quá trình tư duy chỉ diễn ra khi xuất hiện vấn đề, nhưng đòi hỏi chủ thể phải ý thức rõ ràng được vấn đề và tiếp nhận nó như một mâu thuẫn cần phải hành động để giải quyết Tư duy thường bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên, sự thắc mắc hay từ một mâu thuẫn nào đó nó lôi cuốn cá nhân vào hoạt động tư duy [46] Trong thực tế có những vấn đề đang diễn ra, tồn tại trong xã hội, cá nhân vẫn nhận thức nhưng không đặt ra nhiệm vụ phải giải quyết thì tư duy chưa diễn ra (lúc này với cá nhân, đó chưa phải là vấn đề) Tư duy chỉ diễn ra khi xuất hiện vấn đề đòi hỏi chủ thể phải giải quyết- tức là cá nhân phải suy nghĩ, vận dụng các khái niệm, phạm trù theo qui luật logic chặt chẽ của tư duy để giải quyết vấn đề nhằm đạt được hiệu quả

Trong khi đó, theo các tác giả Sanaullah Khan và M.Phil Scholar, giải quyết vấn đề là chìa khóa để thực hiện chức năng quản lý Giải quyết vấn đề là quá trình loại bỏ sự khác biệt giữa tình hình thực tế và mong muốn [87] Tác giả Dương Hữu Hạnh quan niệm các nhà quản lý với tư cách là người giải quyết vấn đề thì giải quyết vấn đề xảy ra khi nhà quản lý đối diện với một hoàn cảnh xa lạ mà ở đó không có biện pháp đã được thiết lập sẵn để giải quyết vấn đề Để giải quyết vấn đề, các nhà quản lý phải thực hiện nghiên cứu, thu thập dữ liệu hay tìm sự kiện để khám phá được nguyên nhân thực sự của vấn đề để có giải pháp thích hợp Các bước trong tiến trình giải quyết vấn đề và ra quyết định bao gồm: thừa nhận và chẩn đoán tình huống,

đề ra các phương án giải quyết, đánh giá các phương án, chọn phương án tốt nhất, thực hiện các phương án đã chọn và đánh giá các kết quả đạt được [22, tr 308-310] Quan điểm của các tác giả này, mặc dù không đi sâu vào bản chất bên trong của quá trình giải quyết vấn đề, nhưng đã chỉ rõ, giải quyết vấn đề là một quá trình gồm nhiều bước, nhiều giai đoạn và kết quả cuối cùng của giải quyết vấn đề là xóa bỏ những mâu thuẫn do vấn đề đặt ra nhằm đạt mục đích đề ra

Từ việc đánh giá các quan niệm về giải quyết vấn đề của các tác giả trên, chúng tôi xem giải quyết vấn đề bao gồm cả hành động tư duy và hành động thực tiễn Cụ thể, để giải quyết vấn đề, con người phải vận dụng nhiều qui trình trí tuệ, các thao tác của tư duy; phải nỗ lực để phát hiện ra mối quan hệ thật chưa biết của các

Trang 31

yếu tố trong tình huống cụ thể nhằm xác định các giải pháp, giải quyết những mâu thuẫn của vấn đề để lựa chọn giải pháp phù hợp và tổ chức thực hiện giải pháp bằng những hành động cụ thể có kiểm tra đánh giá kết quả của vấn đề cần giải quyết

Như vậy “Giải quyết” hay “giải quyết vấn đề” thực tế chỉ là một và đối với hoạt động quản lý hành chính cấp cơ sở thì giải quyết vấn đề bao giờ cũng bao gồm hành động tư duy và hành động thực tiễn

Từ đây, chúng tôi quan niệm: Giải quyết là tổ hợp các hành động tư duy và

hành động thực tiễn nhằm phát hiện ra mối quan hệ thật chưa biết của các yếu tố có liên quan trong từng tình huống thông qua các hành động xác định vấn đề, phân tích nguyên nhân, lựa chọn giải pháp tối ưu, triển khai và kiểm tra đánh giá kết quả để

giải quyết vấn đề

1.2.2.2 Khái niệm kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai

* Khái niệm đất đai

Luật đất đai 2003 của Việt Nam qui định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa,

xã hội, an ninh và quốc phòng

Điều 4, điều 5 và điều 6 Luật đất đai 2013 cũng qui định:

- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này

- Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền

sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này

- Nguyên tắc sử dụng đất là: Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan

* Khái niệm tranh chấp đất đai

Theo Từ điển tiếng Việt thì tranh chấp nói chung được hiểu là: “Tranh giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào” [39, tr.1628] “Cái” được

tranh giành không rõ thuộc về bên nào có thể là một đối tượng nào đó được gọi là đối tượng tranh chấp Như vậy, tranh chấp sẽ nảy sinh khi đối tượng tranh chấp không rõ

Trang 32

thuộc về bên nào và quá trình tranh chấp thể hiện mâu thuẫn, xung đột giữa các chủ thể với nhau được phát sinh trong đời sống xã hội - đó chính là những tranh chấp

Trong tranh chấp đất đai thì đối tượng tài sản mà các bên tranh chấp, giằng co nhau là đất đai Theo Luật Đất đai năm 2013 thì, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai Vì vậy, đối tượng của tranh chấp đất đai là các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Tức là trong quá trình quản lý và sử dụng đất, người sử dụng đất sử dụng các quyền và nghĩa vụ của mình làm phát sinh tranh chấp với người khác Còn chủ thể của tranh chấp đất đai có thể là giữa các chủ thể sử dụng đất với nhau hoặc giữa người sử dụng đất với bất kỳ bên thứ ba nào khác trong quan hệ đất đai

Như vậy, theo Luật Đất đai năm 2013: "Tranh chấp đất đai là tranh chấp về

quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai"

Từ đó chúng tôi cho rằng, Tranh chấp đất đai là một vấn đề nảy sinh thể hiện mâu thuẫn, bất đồng ý kiến của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại

- Các đặc điểm của tranh chấp đất đai:

Theo Giáo trình luật đất đai Trường Đại học luật Hà nội, Nhà xuất bản công

an nhân dân, 2009, tranh chấp đất đai có đặc điểm:

+ Tranh chấp đất đai là tranh chấp về lợi ích, tài sản của các bên với nhau nên bất đồng, mâu thuẫn xảy ra gay gắt và quyết liệt

+ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện sở hữu Đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi ích phát sinh từ quá trình

sử dụng một loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp;

+ Các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không

có quyền sở hữu đối với đất đai;

+ Tranh chấp đất đai luôn gắn liền với quá trình sử dụng đất của các chủ thể cho nên không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia tranh chấp

mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước

+ Tranh chấp đất đai xảy ra tác động không nhỏ đến tâm lý, tinh thần của các bên, gây nên tình trạng mất ổn định, bất đồng trong nội bộ nhân dân, làm cho những qui định của pháp luật về đất đai cũng như những chính sách của nhà nước không được thực hiện một cách triệt để.[16]

- Các dạng tranh chấp đất đai được hòa giải ở phường, xã

Trang 33

Hiện nay, những dạng tranh chấp đất đai được thực hiện hòa giải ở cơ sở chủ yếu là tranh chấp đất đai phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau, gồm 3 dạng cơ bản sau:

+ Tranh chấp về quyền sử dụng đất: là những tranh chấp giữa các bên với nhau

về việc ai có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào đó Trong dạng tranh chấp này chúng ta thường gặp các loại tranh chấp về ranh giới đất; tranh chấp về quyền

sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong các quan hệ ly hôn, thừa kế; tranh chấp để đòi lại đất (đất đã cho người khác mượn sử dụng mà không trả lại, hoặc tranh chấp giữa người dân tộc thiểu số với người đi xây dựng vùng kinh tế mới…)

+ Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất:

dạng tranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất hoặc các tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư…

+ Tranh chấp về mục đích sử dụng đất: đây là dạng tranh chấp ít gặp hơn,

những tranh chấp này liên quan đến việc xác định mục đích sử dụng đất là gì Thông thường những tranh chấp này cũng dễ có cơ sở để giải quyết vì trong quá trình phân

bổ đất đai cho các chủ thể sử dụng, Nhà nước đã xác định mục đích sử dụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất Tranh chấp chủ yếu do người sử dụng đất sử dụng sai mục đích so với khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất

Xét về bản chất thì đây là những tranh chấp dân sự phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau trong qúa trình sử dụng đất, bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ Nguyên tắc tự do, bình đẳng, thỏa thuận ý chí chi phối các giao dịch dân sự về quyến sử dụng đất Vì vậy, khi loại tranh chấp này phát sinh thì việc hòa giải được ưu tiên và khuyến khích áp dụng Hơn nữa, các tranh chấp đất đai phát sinh giữa những người sử dụng đất với nhau ban đầu thường là những bất đồng, mâu thuẫn nhỏ, tính chất đơn giản nên chỉ cần tiến hành hòa giải các mâu thuẫn này mà chưa phải đưa ra tòa án để giải quyết [2, tr 20]

* Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai

Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết mâu thuẫn, bất đồng ý kiến của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà

Nội: "…Việc giải quyết tranh chấp đất đai là tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân".[16,

tr455] Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai, với ý nghĩa là một nội dung của quản

lý Nhà nước đối với đất đai, là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền,

Trang 34

nhằm tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật, giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên, khôi phục lại quyền lợi cho bên bị xâm hại Đồng thời xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai

Với cách hiểu như vậy thì: giải quyết tranh chấp đất đai là tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật để giải quyết bất đồng, mâu thuẫn của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết vấn

đề liên quan đến lĩnh vực đất đai với mục đích là giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai Vì vậy giải quyết tranh chấp đất đai thực chất là giải quyết vấn đề mà các bên tranh chấp tạo ra, trong đó chủ thể phải sử dụng các thao tác, yêu cầu, qui trình của giải quyết vấn đề để giải quyết vấn đề liên quan đến lĩnh vực đất đai

Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra quan điểm khái niệm giải quyết

tranh chấp đất đai như sau: Giải quyết tranh chấp đất đai là tổ hợp các hành động tư duy

và hành động thực tiễn để tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai

Đặc điểm đặc thù tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam:

Ở Việt Nam tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai có đặc điểm đặc thù: + Tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện đang là vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội Với thủ tục hành chính rườm rà, nguồn gốc lịch sử tranh chấp đất đai phức tạp, và cơ chế giải quyết tranh chấp còn nhiều bất cập đã đẩy người dân vào tranh chấp kéo dài với những hệ lụy cho bản thân và ổn định xã hội

+ Việc giải quyết tranh chấp đất đai gặp nhiều khó khăn do các qui định về đất đất đai không đầy đủ, thiếu đồng bộ, không cụ thể, rõ ràng và không thật sự phù hợp với thực tiễn, nên khi áp dụng để giải quyết, các cơ quan, tổ chức gặp nhiều vướng mắc, thậm chí không biết giải quyết như thế nào Ngoài ra, do nhận thức của người dân về chính sách, pháp luật đất đai còn nhiều hạn chế và do đất đai ngày càng có giá trị nên tranh chấp đất đai không chỉ xảy ra giữa người dân với nhau mà ngày càng gia tăng trong gia đình, thân tộc

+ Việc xác minh các thông tin về đất đai để giải quyết tranh chấp đất đai vô cùng phức tạp, tốn nhiều thời gian do hồ sơ địa chính, sơ đồ, trích lục không đồng bộ, lâu đời, thiếu thông tin

Trang 35

+ Giải quyết tranh chấp đất đai không chỉ dựa trên quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, mà còn áp dụng phong tục tập quán, hương ước, qui ước, tập tục của địa phương để vận động , thuyết phục các bên tranh chấp giải quyết bất đồng, mâu thuẫn về đất đai

+ Đội ngũ cán bộ công chức giải quyết tranh chấp đất đai còn thiếu; trình độ, năng lực còn hạn chế do chưa được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về giải quyết tranh chấp đất đai

*Khái niệm kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai

Từ việc phân tích khái niệm “ Kỹ năng”và khái niệm “Giải quyết tranh chấp đất đai” chúng tôi đưa ra khái niệm kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai như sau:

Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai là cách thức hành động phù hợp với điều kiện và yêu cầu của hoạt động, trong đó cá nhân vận dụng kiến thức, kinh nghiệm để tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm giải quyết bất đồng, mâu thuẫn của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai có hiệu quả

1.2.3 Khái niệm kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản

lý hành chính cấp cơ sở

* Khái niệm quản lý hành chính nhà nước:

Hành chính theo nghĩa hẹp là nền hành chính nhà nước ( hay còn gọi là nền hành chính công) là tổng thể các tổ chức và định chế hoạt động của bộ máy hành pháp có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước do các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền tiến hành bằng các văn bản dưới luật nhằm thực thi chức năng quản lý nhà nước giữ gìn bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hàng ngày của dân trong mối quan hệ giữa công dân và nhà nước [18, tr.16]

Bất cứ Nhà nước nào ra đời thì quản lý Nhà nước nói chung và quản lý hành chính nói riêng sẽ xuất hiện để tổ chức và điều hành thực hiện các chức năng, nhiệm vụ

cơ bản nhất của Nhà nước trong quản lý xã hội Như vậy, quản lý hành chính Nhà nước

là hoạt động để thực thi quyền hành pháp ( một trong 3 nhánh quyền lực của Nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp) - đây là hoạt động có tổ chức và định hướng để định hướng hành vi con người và các quá trình xã hội theo những quĩ đạo và mục tiêu nhất định nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, do các cơ quan trong hệ thông quản lý hành chính từ Chính phủ ở Trung ương xuống Uỷ ban nhân dân các cấp

Trang 36

ở địa phương tiến hành Và chủ thể quản lý có thể là tổ chức- gọi là cơ quan hành chính Nhà nước hoặc cá nhân- được gọi là cán bộ quản lý hành chính

* Khái niệm cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở

Theo luật cán bộ công chức của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 số 22/2008/QH 12 ngày 13/11/2008 thì cán bộ, công chức gọi là cán bộ xã, phường, thị trấn ( là cấp cơ sở) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Và cũng theo qui định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này, cán bộ cấp xã và công chức cấp xã có các chức vụ sau đây:

- Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:

- Trưởng Công an;

- Chỉ huy trưởng Quân sự;

- Văn hóa - xã hội

Tuy nhiên, luận án giới hạn ở lĩnh vực giải quyết tranh chấp đất đai, nên chúng tôi giới hạn khách thể nghiên cứu là những nhóm chức vụ có chức năng giải quyết vấn đề này, đó là :

Trang 37

+ Quản lý mốc địa giới hành chính trên thực địa tại địa phương

+ Công bố công khai qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của địa phương sau khi được UBND cấp có thẩm quyền quyết định hoặc xét duyệt

+ Tổ chức chỉ đạo thực hiện qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của địa phương, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi sử dụng đất trái với qui hoạch,

+ Tổ chức kiểm kê đất đai của địa phương

+ Phối hợp với các cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý công trình có hành lang bảo vệ an toàn Kịp thời xử lý các trường hợp lấn chiếm, sử dụng trái phép hành lang bảo vệ công trình

+ Phối hợp với UBMT tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai

+ Chứng thực hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng cho thuê, thế chấp quyền

sử dụng đất đai của hộ gia đình và cá nhân

Trực tiếp giải quyết và chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề đất đai ở cấp phường, xã là Chủ tịch UBND phường, xã, thị trấn; Phó chủ tịch UBND phường, xã, thị trấn Giúp việc cho UBND cấp phường, xã, thị trấn trong hoạt động quản lý đất đai là cán bộ địa chính và cán bộ tư pháp

Về hòa giải tranh chấp đất đai, Theo Điều 135 Luật Đất đai năm 2003, việc hoà giải ở cấp cơ sở được quy định cụ thể như sau:

Trang 38

“1 Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở

2 Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp

Uỷ ban nhân dân xã, phường thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai…”

Việc tổ chức hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn kết hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hay các tổ chức xã hội khác là điều kiện bắt buộc phải có trước khi Toà án nhận đơn khởi kiện tranh chấp đất đai của đương sự Do đó, nếu không có việc hoà giải của Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn thì các đương sự sẽ bị coi là chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Tố tụng Dân sự mà theo đó, Toà án sẽ phải trả lại đơn khởi kiện cho đương sự

Trong khi đó, Luật Đất đai 2013 có quy định khuyến khích các bên TCĐĐ tự hòa giải hoặc giải quyết TCĐĐ thông qua hòa giải ở cơ sở, nếu không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải Khác với Luật đất đai 2003 là trước khi Toà án nhận đơn khởi kiện tranh chấp đất đai của đương sự phải bắt buộc qua hòa giải ở cấp cơ sở thì Luật đất đai 2013 chỉ khuyến khích chứ không bắt buộc hòa giải ở cơ sở

Theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai 2013 và khoản 1 Điều 88 của Nghị định số 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013, Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải TCĐĐ tại địa phương mình với thành phần Hội đồng hòa giải cấp xã gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết

rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; công chức địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã), công chức Tư pháp –Hộ tịch xã, phường, thị trấn Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh…

Trang 39

Thủ tục hòa giải TCĐĐ tại UBND cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của UBND cấp xã Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp TCĐĐ giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác để trình UBND cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Như vậy, đối với chính quyền cấp cơ sở khi giải quyết tranh chấp đất đai thì không có thẩm quyền ban hành qui định giải quyết tranh chấp đất đai, chỉ có thẩm quyền lập biên bản xác nhận kết quả hòa giải thành hoặc hòa giải không thành trên cơ

sở khuyến khích các bên tự hòa giải hoặc giải quyết TCĐĐ thông qua hòa giải cơ sở

để tránh tình tiết vụ việc thêm căng thẳng cũng như tình trạng quá tải khi giải quyết TCĐĐ ở cấp cao hơn Với ý nghĩa như vậy thì thì cán bộ quản lý hành chính cấp cơ

sở có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức hòa giải, thuyết phục để các bên đạt được thỏa thuận, tự giải quyết với nhau Và quá trình hòa giải được diễn ra theo 3 bước:

Bước thứ nhất: Chuẩn bị tổ chức thực hiện việc hoà giải

Sau khi tiếp nhận đơn khiếu nại về tranh chấp đất đai theo đúng thẩm quyền giải quyết của cấp phường, xã Chính quyền cấp phường, xã sẽ thành lập ban giải quyết vấn

đề khiếu nại, thành phần gồm: cán bộ quản lý cấp phường, xã (gồm Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND phường, xã); cán bộ địa chính (được trực tiếp giao xử lý vụ việc) và đại diện cơ quan đoàn thể ( Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mặt trận) Quá trình chuẩn bị hòa giải được diễn ra như sau:, cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ hoà giải tiến hành nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ việc tranh chấp đất đai để hiểu và nắm rõ ràng nội dung vụ việc tranh chấp, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến xung đột, mâu thuẫn tranh chấp về đất đai; thu thập giấy tờ, tài liệu chứng cứ có liên quan, tìm hiểu vận dụng các qui định của pháp luật hiện hành để đưa ra các phương án giải quyết; dự kiến thành viên tham gia hoà giải; triệu tập cho thành viên tham gia hoà giải

và các bên tranh chấp đất đai có mặt đầy đủ và đúng thời gian để đảm bảo cuộc hoà giải được thực hiện đúng theo luật định

Trang 40

- Bước thứ hai: Thực hiện hoà giải

Trước khi tiến hành hoà giải tranh chấp đất đai, cán bộ công chức giúp việc cho Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND xã kiểm tra các thành viên tham gia hoà giải và các bên tranh chấp đất đai phải có mặt đầy đủ trước khi tiến hành hoà giải ở xã Khi tiến hành hoà giải tranh chấp đất đai cán bộ hòa giải phải lập thành biên bản Biên bản phản ánh đầy đủ những nội dung sau: thời gian và địa điểm tiến hành hoà giải; những người tham gia hoà giải và thành phần Hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai ở xã

(nếu có); họ tên, địa chỉ của các bên có tranh chấp đất đai; tóm tắt nội dung tranh chấp

và nguyên nhân phát sinh tranh chấp xẩy ra; ghi đầy đủ diễn biến nội dung của cuộc hoà giải tranh chấp về đất đai bao gồm có ý kiến của các bên tranh chấp về đất đai tham gia hoà giải, ý kiến của hội đồng tư vấn tham gia giải quyết tranh chấp đất đai, ý kiến của những người tham gia hoà giải, kết quả thoả thuận giữa các bên có tranh chấp

với nhau (nếu có)

- Bước thứ ba: Kết thúc hoà giải tranh chấp đất đai ở xã

Sau khi kết thúc hoà giải, tất cả các bên có tranh chấp đất đai phải ký vào biên bản hoà giải Tất cả các thành viên tham gia hoà giải và tất cả thành viên hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai có tham gia hoà giải đều phải ký vào biên bản hoà giải Người chủ trì hoà giải phải xác nhận ghi trong biên bản hoà giải thành công hoặc không thành công Biên bản hoà giải được gửi cho các bên tranh chấp, lưu tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp

Thẩm quyền giải quyết, thủ tục, qui định về thời gian được thực hiện đúng theo qui định của luật đất đai cũ 2003 hoặc luật đất đai mới 2013 ( từ 1/7/2014 khi luật đất đai mới có hiệu lực)

Hơn nữa, theo Quyết định 16/2012/QĐ- UBND ngày 18 tháng 4 năm 2012 của

Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc ban hành qui trình tiếp công dân và

xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thì qui trình xử lý công việc của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở liên quan đến tranh chấp đất đai như sau:

- Tiếp nhận đơn và xử lý đơn theo thẩm quyền- Do tổ tiếp dân và đơn vị chuyên trách giải quyết khiếu nại, tố cáo thực hiện

- Xem xét và cho ý kiến- Do chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã thực hiện

- Xác minh, thu thập chứng cứ- Do đơn vị chuyên trách giải quyết khiếu nại, tố cáo thực hiện

Ngày đăng: 10/06/2016, 11:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Điểm trung bình thể hiện tính đúng đắn, tính thuần thục và tính hiệu - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Bảng 3.2. Điểm trung bình thể hiện tính đúng đắn, tính thuần thục và tính hiệu (Trang 76)
Bảng 3.4. Biểu hiện và mức độ kỹ năng nhận dạng và xác định hình thức tranh - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Bảng 3.4. Biểu hiện và mức độ kỹ năng nhận dạng và xác định hình thức tranh (Trang 78)
Sơ đồ 3.1. Hệ số tương quan peason r giữa tính đúng đắn, tính thuần thục và - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Sơ đồ 3.1. Hệ số tương quan peason r giữa tính đúng đắn, tính thuần thục và (Trang 84)
Bảng 3.8. Mức độ kỹ năng thu thập thông tin và phân tích mâu thuẫn, nguyên - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Bảng 3.8. Mức độ kỹ năng thu thập thông tin và phân tích mâu thuẫn, nguyên (Trang 87)
Sơ đồ 3.2: Hệ số tương quan peason r giữa tính đúng đắn, tính thuần thục và - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Sơ đồ 3.2 Hệ số tương quan peason r giữa tính đúng đắn, tính thuần thục và (Trang 93)
Bảng 3.12. Mức độ kỹ năng đề ra các phương án và lựa chọn phương án giải - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Bảng 3.12. Mức độ kỹ năng đề ra các phương án và lựa chọn phương án giải (Trang 95)
Bảng 3.13. Điểm trung bình các thang đo thể hiện tính đúng đắn, tính thuần - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Bảng 3.13. Điểm trung bình các thang đo thể hiện tính đúng đắn, tính thuần (Trang 100)
Sơ đồ 3.3. Hệ số tương quan peason r giữa tính đúng đắn, tính thuần thục và - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Sơ đồ 3.3. Hệ số tương quan peason r giữa tính đúng đắn, tính thuần thục và (Trang 103)
Bảng 3.18. So sánh mức độ kỹ năng trình bày vấn đề tranh chấp và  thuyết  phục các bên tranh chấp trong quá trình hòa giải theo các nhóm khách thể - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Bảng 3.18. So sánh mức độ kỹ năng trình bày vấn đề tranh chấp và thuyết phục các bên tranh chấp trong quá trình hòa giải theo các nhóm khách thể (Trang 117)
Sơ đồ 3.5. Mức độ đạt được kỹ năng GQTCĐĐ của CBQLHC cấp cơ sở - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Sơ đồ 3.5. Mức độ đạt được kỹ năng GQTCĐĐ của CBQLHC cấp cơ sở (Trang 119)
Sơ đồ 3.6. Tương quan giữa các kỹ năng GQTCĐĐ của CBQLHC cấp cơ sở - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Sơ đồ 3.6. Tương quan giữa các kỹ năng GQTCĐĐ của CBQLHC cấp cơ sở (Trang 120)
Bảng 3.22.Thói quen ứng xử của người dân khi chấp hành qui định của luật - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Bảng 3.22. Thói quen ứng xử của người dân khi chấp hành qui định của luật (Trang 127)
Bảng 3.23. Động cơ  giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Bảng 3.23. Động cơ giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành (Trang 130)
Bảng 3.27. Sự thay đổi của kỹ năng đề ra các phương án và lựa chọn phương - Luận án kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở
Bảng 3.27. Sự thay đổi của kỹ năng đề ra các phương án và lựa chọn phương (Trang 141)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w