Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý và quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường phổ thông cũng như phân tích, đánh giá thực tiễn quản lý HĐGDNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ THỊ THU HẰNG
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn
của mình tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo và Khoa Quản lý giáo dục
Trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN cùng toàn thể các thầy cô giáo đã trực
tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự cộng tác giúp đỡ của tập thể các Thầy, Cô
giáo đồng nghiệp ở trường THPT Võ Trường Toản
Đặc biệt tôi xin trân trọng và bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Tiến sĩ
Đỗ Thị Thu Hằng – Người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt
thời gian tôi nghiên cứu đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài,
song những thiếu sót trong luận văn là không thể tránh khỏi, kính mong sự
đóng góp ý kiến và chỉ dẫn của quý Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp
TP.Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Phạm Vũ Hải
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan những nghiên cứu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 13
1.2.1 Khái niệm quản lý 13
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 13
1.2.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 16
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 18
1.3 Lý luận về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THPT 19
1.3.1 Mục tiêu của HĐGDNGLL 19
1.3.2 Vị trí vai trò của HĐGDNGLL trong giai đoạn hiện nay 19
1.3.3 Nội dung HĐGDNGLL 22
1.3.4 Hình thức tổ chức HĐGDNGLL 27
1.3.5 Quy trình tổ chức HĐGDNGLL 27
1.4 Lý luận về quản lý HĐGDNGLL 29
1.4.1 Quản lý xây dựng kế hoạch HĐGDNGLL 29
1.4.2 Quản lý đội ngũ thực hiện kế hoạch 30
1.4.3 Quản lý việc phối hợp giữa các lực lượng thực hiện HĐGDNGLL 31
1.4.4 Quản lý các điều kiện phục vụ HĐGDNGLL 31
1.4.5 Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả HĐGDNGLL 32
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến HĐGDNGLL và QL HĐGDNGLL 33
1.5.1 Yếu tố khách quan 33
1.5.2 Yếu tố chủ quan 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39
Trang 6CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN – QUẬN 12 – TP.HỒ CHÍ
MINH 40
2.1 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục Quận 12, TP.Hồ Chí Minh 40
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế, xã hội Quận 12 40
2.1.2 Thành tựu giáo dục của Quận 12, TP.Hồ Chí Minh 42
2.2 Khái quát về trường THPT Võ Trường Toản 42
2.2.1 Giới thiệu trường THPT Võ Trường Toản, Quận 12, TP.HCM 42
2.2.2 Cơ cấu tổ chức, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý của nhà trường 44
2.2.3 Kết quả giáo dục của nhà trường 45
2.3 Thực trạng HĐGDNGLL ở trường THPT Võ Trường Toản, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh
46
2.3.1 Nhận thức của CBQL, GV và HS về HĐGDNGLL 47
2.3.2 Thực trạng nội dung chương trình HĐGDNGLL ở trường THPT Võ Trường Toản, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh 53
2.3.3 Thực trạng về các hình thức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã được thực hiện ở trường THPT Võ Trường Toản, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh 57
2.3.4 Thực trạng kết quả thực hiện các HĐGDNGLL ở trường THPT Võ Trường Toản, quận 12, TP.Hồ Chí Minh 61
2.4 Thực trạng quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT Võ Trường Toản, quận 12, TP Hồ Chí Minh .62
2.4.1 Thực trạng quản lý xây dựng kế hoạch, chương trình HĐGDNGLL 62
2.4.2 Thực trạng tổ chức triển khai HĐGDNGLL 64
2.4.3 Thực trạng quản lý bồi dưỡng đội ngũ GV về năng lực, nghiệp vụ HĐGDNGLL 66
2.4.4 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ HĐGDNGLL 68
2.4.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả HĐGDNGLL 70
2.5 Đánh giá thực trạng và nguyên nhân 72
2.5.1 Những điểm mạnh 73
2.5.2 Những điểm yếu 73
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 74
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG THPT VÕ TRƯỜNG TOẢN – QUẬN 12 – TP.HỒ CHÍ MINH 77
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 77
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 77
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 77
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 78
3.2 Các biện pháp quản lý HĐGDNGLL cho học sinh trường THPT Võ Trường Toản, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh 78
Trang 73.2.2 Xây dựng kế hoạch HĐGDNGLL phù hợp với kế hoạch tổng thể 82
3.2.3 Tổ chức triển khai và chỉ đạo các mục tiêu của kế hoạch HĐGDNGLL 85
3.2.4 Tăng cường các điều kiện về cơ sở vật chất thực hiện HĐGDNGLL 87
3.2.5 Phối hợp các lực lượng giáo dục tham gia vào quá trình tổ chức HĐGDNGLL 89
3.2.6 Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả chương trình HĐGDNGLL 91
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 93
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 93
3.3.2 Đối tượng và phương pháp khảo nghiệm 93
3.3.3 Nội dung khảo nghiệm 93
3.3.4 Tương quan giữa mức độ cấp thiết và mức độ khả thi của các biện pháp quản lý HĐGDNGLL 96
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1 KẾT LUẬN 99
2 KHUYẾN NGHỊ 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 1 106
PHỤ LỤC 2 114
PHỤ LỤC 3 117
PHỤ LỤC 4 119
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Kết quả rèn luyện HS của nhà trường 3 năm học gần đây 43Bảng 2.2 Kết quả học tập HS của nhà trường 3 năm học gần đây 43Bảng 2.3 Nhận thức của CBQL, GV và HS về vai trò của tổ chức
HĐGDNGLL ở nhà trường 45Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL về tác dụng và yêu cầu của
HĐGDNGLL 46 Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL và GVvề tác dụng và yêu cầu của
HĐGDNGLL 47 Bảng 2.6 Nhận thức của học sinh về vị trí, vai trò của HĐGDNGLL 48 Bảng 2.7 Những khó khăn khi học sinh tham gia HĐGDNGLL 50 Bảng 2.8 Thực trạng hiểu biết về nội dung HĐGDNGLL của CBQL,
BTCĐ, GVCN, GVBM 52 Bảng 2.9 Kết quả thực hiện nội dung chương trình HĐGDNGLL của
trường THPT Võ Trường Toản 53 Bảng 2.10 Thực trạng số lượng học sinh tham gia vào các hình thức tổ
chức HĐGDNGLL 54 Bảng 2.11 Mức độ hứng thú của học sinh khi tham gia vào các
HĐGDNGLL 56 Bảng 2.12 Kết quả đánh giá của CBQL về chất lượng và kết quả các
hình thức HĐGDNGLL 57 Bảng 2.13 Đánh giá kết quả thực hiện các HĐGDNGLL 58 Bảng 2.14 Đánh giá của CBQL, GVCN về thực trạng việc xây dựng
chương trình, kế hoạch HĐGDNGLL 60 Bảng 2.15 Đánh giá của CBQL, GVCN về thực trạng tổ chức triển
khai chương trình, kế hoạch HĐGDNGLL 62 Bảng 2.16 Đánh giá của CBQL, GVCN về thực trạng QL công tác bồi
dưỡng nghiệp vụ thực hiện HĐGDNGLL 63
Trang 9Bảng 2.17 Đánh giá của CBQL, GVCN về thực trạng quản lý CSVC
phục vụ HĐGDNGLL 66 Bảng 2.18 Đánh giá của CBQL, GVCN về thực trạng quản lý công tác
kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện HĐGDNGLL 68 Bảng 3.1 Mức độ cấp thiết của các biện pháp quản lý HĐGDNGLL 90 Bảng 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp quản lý HĐGDNGLL 92 Bảng 3.3 Tương quan giữa mức độ cấp thiết và mức độ khả thi của
các biện pháp quản lý HĐGDNGLL 93
Trang 10DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ TRONG LUẬN VĂN
Biểu đồ 2.1 Kết quả rèn luyện HS của nhà trường 3 năm học gần đây 43 Biểu đồ 2.2 Kết quả học tập HS của nhà trường 3 năm học gần đây 44 Biểu đồ 2.3 Đánh giá kết quả thực hiện các HĐGDNGLL 59 Biểu đồ 2.4 Đánh giá của CBQL, GVCN về thực trạng QL công tác
bồi dưỡng nghiệp vụ thực hiện HĐGDNGLL 64 Biểu đồ 2.5 Đánh giá của CBQL, GVCN về thực trạng quản lý CSVC
phục vụ HĐGDNGLL 66 Biểu đồ 2.6 Đánh giá của CBQL, GVCN về thực trạng quản lý công
tác kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện HĐGDNGLL 69 Biểu đồ 3.1 Tương quan giữa mức độ cấp thiết và mức độ khả thi của
các biện pháp QL HĐGDNGLL 94
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập quốc tế, phát triển nguồn lực, trong đó con người có vai trò quan trọng hàng đầu.Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của mọi sự phát triển,vì vậy muốn phát triển xã hội thì phải phát triển GD&ĐT để phát triển con người Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam tại điều 35 đã khẳng định rõ vai trò của giáo dục“Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu” Trong giai đoạn hiện nay, sự hội nhập
và giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới là cơ hội để ngành giáo dục nước ta tiếp thu, chuyển giao và cập nhật những công nghệ hiện đại về giáo dục và đào tạo Nhiệm vụ của ngành giáo dục là phải đào tạo ra những con người có phẩm chất đạo đức, có năng lực, chủ động và sáng tạo, dám nghĩ dám làm, thích ứng với đời sống xã hội đang từng ngày từng giờ thay đổi, đáp ứng yêu cầu cao của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 ban hành theo quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủcó nêu rõ:
Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ
và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) là một bộ phận của quá trình giáo dục ở nhà trường phổ thông Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa ở trên lớp HĐGDNGLL là sự tiếp nối
Trang 12hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên
sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin ở học sinh HĐGDNGLL là con đường phát triển toàn diện nhân cách của thế hệ trẻ
HĐGDNGLL tạo điều kiện cho học sinh phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động của các em trong quá trình học tập, rèn luyện toàn diện Nó vừa củng cố kiến thức đã học, vừa mở rộng kiến thức mới và phát triển những kỹ năng cơ bản của học sinh theo mục tiêu giáo dục ở bậc THPT
Đa số học sinh các trường THPT ở quận 12 thuộc gia đình làm nông, buôn bán nhỏ, điều kiện rất khó khăn Vì cuộc sống mưu sinh nên rất nhiều phụ huynh chưa quan tâm đến việc học tập của con em mình Mặt khác, quận 12 còn nhiều tệ nạn xã hội sẽ lôi kéo các em vào con đường bỏ học, hư hỏng Do vậy, việc tổ chức tốt HĐGDNGLL là một trong những biện pháp bảo đảm một sân chơi lành mạnh cho các em, duy trì phong trào thi đua học tập, hạn chế tình trạng bỏ học
Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho triển khai chương trình HĐGDNGLL vào nhà trường trung học phổ thông Năm đầu tiên chỉ áp dụng cho học sinh khối 10 và tới năm 2008 áp dụng được cả ba khối 10, 11, và 12 Tuy có ý nghĩa và vai trò quan trọng như vậy nhưng trên thực tế sau chín năm thực hiện HĐGDNGLL nhà trường vẫn chưa gặt hái được thành công và hiệu quả mong muốn Trong quá trình thực hiện, nhiều hoạt động còn gặp khó khăn như điều kiện tự nhiên, xã hội, con người (giáo viên, học sinh), cơ sở vật chất, kinh phí, nội dung, hình thức tổ chức, Từ những khó khăn khách quan lẫn chủ quan dẫn đến một số hoạt động diễn ra một cách hình thức, đối phó, nội dung còn đơn điệu, chưa thu hút học sinh dẫn đến chất lượng HĐGDNGLL chưa đạt được hiệu quả
Hơn nữa, trong tình hình hiện nay, xã hội quan tâm nhiều đến giáo dục và thường đánh giá chất lượng giáo dục qua tỉ lệ thi tốt nghiệp và đại học Từ đó
áp lực thi cử ngày càng đè nặng lên tâm lý học sinh, giáo viên và đội ngũ
Trang 13CBQL Vì những lý do đó mà nhà trường đều tập trung toàn lực cho hoạt động dạy và học trên lớp HĐGDNGLL cũng chưa được CBQL thực sự quan tâm Phần triển khai, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá chưa đúng mức và còn lỏng lẻo
Từ những lý do đó tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp ở trường THPT Võ Trường Toản, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” để nghiên cứu
2 Câu hỏi nghiên cứu
Biện pháp quản lý nào là cần thiết để nâng cao hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh ở Trường THPT Võ Trường Toản, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh giúp học sinh rèn luyện nhân cách, kỹ năng, phát triển toàn diện cho học sinh?
3 Giả thuyết khoa học
- HĐGDNGLL ở trường THPT Võ Trường Toản, quận 12 TP Hồ Chí Minh
đã được quan tâm nhưng vẫn còn có một số hạn chế nhất định Nên việc tổ chức HĐGDNGLL còn gò bó, mang tính hình thức, nội dung, hình thức tổ chức còn nghèo nàn, đơn điệu, không lôi cuốn, hấp dẫn học sinh tham gia
- HĐGDNGLL là hoạt động nối tiếp của hoạt động dạy học trên lớp Nếu đánh giá thực trạng đúng, xây dựng được các biện pháp quản lý HĐGDNGLL một cách khoa học, hợp lý sẽ tạo môi trường tích cực cho việc rèn luyện, phát triển năng lực và hoàn thiện nhân cách của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường THPT
4 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý và quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường phổ thông cũng như phân tích, đánh giá thực tiễn quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT Võ Trường Toản, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý HĐGDNGLL cho học sinh của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi
Trang 145 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
HĐGDNGLL ở trường THPT Võ Trường Toản, quận 12,thành phố
Hồ Chí Minh
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT Võ Trường Toản, quận 12,thành phố Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: dùng cho học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cấp trung học phổ thông
Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý của đội ngũ quản
lý trong nhà trường; hoạt động giáo dục và sự tiến bộ của học sinh về đạo đức để rút ra những kết luận về nội dung nghiên cứu
Phương pháp thống kê số liệu, phân tích thực trạng: Nghiên cứu các báo cáo tổng kết của nhà trường về kết quả HĐGDNGLL nhằm đúc rút những kinh nghiệm về quản lý HĐGDNGLL tại Trường THPT Võ Trường Toản
Trang 157.3 Phương pháp xử lý thông tin
Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng các phương pháp xử
lý số liệu thống kê để bổ trợ việc xử lý kết quả
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương
Toản, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh
quận 12, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝHOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀIGIỜ
LÊN LỚPỞ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan những nghiên cứu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử phát triển giáo dục thế giới, hoạt động dạy – học được nghiên cứu một cách có hệ thống từ thời nguyên thủy cho đến nay chúng ta nhận thấy có rất nhiều nhà giáo dục đã đưa ra các phương pháp giáo dục mà đến ngày hôm nay chúng ta thấy vẫn còn giá trị và các phương pháp này có liên quan đến các HĐGDNGLL như:
Trong thời kỳ văn hóa phục hưng đã xuất hiện hàng loạt các nhà giáo dục phục hưng – đó chính là những nhà giáo dục đã lý giải các vấn đề giáo dục một cách mới mẻ theo khuynh hướng khoa học, không ràng buộc lễ giáo phong kiến và triết lý nhà thờ, tư tưởng của họ đã đặt tiền đề cho thời kỳ giáo dục mới: giáo dục cận đại Tiêu biểu cho các nhà giáo dục phục hưng là
Thomas More (1478 – 1535), ông đề cao: “phương pháp quan sát, thí nghiệm, thực hành trong dạy học và giáo dục, theo ông lao động là nghĩa vụ của mọi người, song mỗi ngày chỉ làm việc 6 giờ, thời gian còn lại để học văn hóa và sinh hoạt xã hội, giáo dục nhằm phát triển nhiều mặt ở trẻ em:
về thể chất, đạo đức, trí tuệ và kỹ năng lao động” [31, trang 80] Đây chính
là tiếng nói tiến bộ của loài người về lĩnh vực giáo dục trong thời kỳ văn hóa phục hưng, đứng trên quan điểm của chủ nghĩa nhân văn mà Thomas More
đề xuất lý luận và có ý định thực thi một chế độ giáo dục mới tiến bộ để thay cho trật tự đương thời của phong kiến về giáo dục
Thế kỷ XIX, có ông Pétxtalôdi (1746 – 1827) là một trong những nhà giáo dục thời kỳ Tư bản chủ nghĩa, ý đồ kết hợp giáo dục với lao động sản xuất là một trong những luận điểm quan trọng nhất trong lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục của ông, theo ông trong trường học cần có đất đai để trồng
Trang 17trọt, chăn nuôi và trẻ em được học một nghề thủ công Ông đánh giá rất cao vai trò của lao động trong việc hình thành nhân cách trẻ em, ông muốn rằng
qua lao động để: “… sưởi ấm trái tim và phát triển khối óc của trẻ em”, học
sinh được đi tham quan các trại, xưởng thủ công mỹ nghệ để học tập [31, trang 121] Điều này cho chúng ta thấy việc giáo dục trong nhà trường không đủ, ta cần phải mở rộng giáo dục ngoài trường, ngoài giờ lên lớp để học sinh vừa lĩnh hội được tri thức trên lớp, vừa có thời gian thực hành để củng cố kiến thức
Vào những năm 90 của thế kỷ XIX, người có ảnh hưởng lớn đến triết học thực dụng ở Âu – Mỹ, và không chỉ là triết gia lý thuyết mà còn là triết gia thực hiện trên mọi lĩnh vực giáo dục là John Dewey (1859 – 1952), ông là
giáo sư trường Đại học Côlômbia (New York), ông đề ra khẩu hiệu “Giáo dục bằng việc làm” là phương thức của thực hiện nhà trường tiến bộ, điều đó
có nghĩa là thay cho việc tiếp thu những tri thức của nhân loại bằng việc nắm vững những thói quen thực tiễn với các hình thức đa dạng của cuộc sống và được tiến hành ở mọi nơi như ở vườn trường, xưởng trường, dưới nhà bếp, ngoài công xưởng và được trang bị bằng những công cụ lao động với các phương tiện hiện đại [31, trang 140] Qua đó ông khẳng định rằng học phải
đi đôi với hành để rèn luyện kỹ năng cho học sinh
Đến thế kỷ XX, A.S Makarenco (1888 – 1939) – vừa là nhà văn, vừa là nhà giáo dục Xô Viết lỗi lạc đã nói về tầm quan trọng của công tác giáo dục học
sinh ngoài giờ lên lớp: “Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giáo dục, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta, …Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp Công tác giáo dục chỉ đạo toàn bộ cuộc sống của trẻ” [31, trang 63]
Trang 18Vào năm 1952, Trung Quốc học tập mô hình giáo dục Liên Xô – từ chế
độ đến phương pháp, từ nội dung đến hình thức cải tạo giáo dục Trung Quốc đã áp dụng biện pháp cải cách giáo dục quan trọng như: đưa giờ lao động vào giáo trình chính khóa, giáo viên và học sinh tham gia lao động sản xuất, nhà trường mở công xưởng, nông trường; công xưởng, hợp tác xã nông nghiệp, mở nhà trường vừa học vừa làm Thực hiện chế độ giáo dục vừa học vừa lao động công nghiệp, với biện pháp này nhằm kết hợp biện pháp giáo dục trên lớp và giáo dục ngoài giờ lên lớp để rèn luyện và đào tạo con người
“vừa hồng vừa chuyên” [31, trang 74]
Trong tác phẩm Tư bản, Mác khẳng định: “Học tập kết hợp với lao động sản xuất là phương pháp tổng quát của sản xuất xã hội và là phương pháp duy nhất để hình thành con người toàn diện Lao động tạo ra nhân cách con người Nhà trường phải giáo dục, đào tạo ra những con người lao động chân chính và có nhân cách tốt Mục tiêu tổng quát của giáo dục là phải phát triển con người toàn diện; đối với xã hội, phát triển con người toàn diện để phát triển kinh tế xã hội, đối với từng người – để có năng lực nghề nghiệp, để sống và đóng góp cho gia đình, cho cộng đồng…”[32, trang 38]
Cho đến những năm 60, 70 đất nước Liên Xô đang trên con đường xây dựng CNXH, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng và Nhà nước quan tâm Các nghiên cứu về lý luận giáo dục nói chung và HĐGDNGLL nói riêng được đẩy mạnh, hiện nay các nước trên thế giới rất quan tâm đến các chương trình ngoại khóa, các HĐGDNGLL để qua đó rèn luyện, đào tạo được những con người đầy đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng được nhu cầu lao động của thị trường Quốc tế
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Qua quá trình nghiên cứu lịch sử giáo dục Việt Nam, về HĐGDNGLL đã được rất nhiều nhà giáo dục nghiên cứu, nhưng trước năm 80 của thế kỷ XX, HĐGDNGLL chưa được chú ý nhiều, mãi đến những năm sau 80 hoạt động
Trang 19này mới được chú ý nhiều và có nhiều nghiên cứu hơn để đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường
Trong hai cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950) và lần thứ hai (1956), HĐGDNGLL có đề cập đến nhưng chưa định hình tên gọi như ngày hôm nay, tuy nhiên nó đã được nhiều người nhắc đến và áp dụng trong quá trình giáo dục Như Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở những người làm công tác giáo dục phải luôn chú ý giáo dục toàn diện cho học
sinh, phải kết hợp chặt chẽ “học đi đôi với hành”, và trong thư gửi học sinh nhân dịp khai trường tháng 9/1945 Bác viết: “… các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước”, trong thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc Bác có viết: “…trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học”[19, trang 101]
Trong Điều lệ nhà trường phổ thông ban hành tháng 6/1976, tại điều 7
chương 1 có nêu: “Việc giảng dạy và giáo dục được tiến hành thông qua các hoạt động giảng dạy trên lớp, lao động sản xuất và hoạt động tập thể Các mặt hoạt động đó phải cùng tiến hành, bổ sung cho nhau theo một kế hoạch thống nhất, trong đó phải coi trọng hình thức giảng dạy trên lớp” Và tại khoản 3 điều 7 viết về hoạt động tập thể: “Hoạt động tập thể của học sinh do nhà trường phối hợp với Đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh và Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tổ chức, bao gồm các hoạt động văn hóa, chính trị, xã hội của Đoàn và Đội và các hoạt động ngoại khóa về khoa học,
kỹ thuật, văn nghệ, thể dục thể thao của nhà trường và của địa phương”
Qua đó chúng ta nhận thấy nhờ có hoạt động tập thể góp phần giáo dục ý thức chính trị, khả năng công tác độc lập của học sinh, góp phần củng cố,
mở rộng kiến thức, phát triển năng khiếu, giúp hình thành và phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ
Trang 20Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ ba (1979), điều lệ trường phổ thông
tháng 4/1979, điều 10 chương 2 có viết: “Công tác giáo dục ở trường phổ thông tiến hành thống nhất theo đúng nội dung và trình tự qui định trong chương trình, kế hoạch đào tạo và sách giáo khoa do Bộ giáo dục ban hành
và được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục: học tập văn hóa, lao động sản xuất, thực nghiệm khoa học và các hoạt động xã hội”.Cũng tại khoản 3 điều 10 xác định: “Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia với mức độ thích hợp, là nhằm củng cố những tri thức đã học được, bồi dưỡng tình cảm đối với nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công tác xã hội, góp phần xây dựng địa phương và rèn luyện học sinh về ý thức và năng lực làm chủ tập thể, hình thành nhân sinh quan cách mạng Ngoài các hoạt động trên đây, cần tổ chứcthêm những hoạt động ngoại khóa khác như thể dục thể thao, văn nghệ để công tác giáo dục thêm phong phú”
Và từ đó, HĐGDNGLL dần dần được coi trọng và ngày càng chú ý nhiều hơn trong việc giáo dục học sinh.Tên gọi HĐGDNGLL được nêu rất rõ trong điều lệ trường trung học ban hành vào ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo, thay thế cho điều lệ trường trung học tháng 4/1979,
tại điều 24 điều lệ này có nói: “HĐGDNGLL do nhà trường phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tổ chức, bao gồm hoạt động ngoại khóa về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao nhằm phát triển năng lực toàn diện của học sinh và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hóa; các hoạt động giáo dục môi trường; các hoạt động lao động công ích; các hoạt động xã hội; các hoạt động từ thiện phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi học sinh”
HĐGDNGLL ngày càng được coi trọng hơn, trong thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 thay thế Quyết định số 07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 4 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trường
Trang 21trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, tại điều 26 có
nói: “Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.”
Tầm quan trọng của HĐGDNGLL ngày càng được đề cao hơn từ khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức đưa môn “Giáo dục ngoài giờ lên lớp” vào chương trình lớp 10 từ năm học 2006 – 2007, cho đến hôm nay đã áp dụng đầy đủ cho cả 3 khối lớp: 10, 11 và lớp 12 Hàng năm tài liệu hướng dẫn và công tác bồi dưỡng cho cán bộ chỉ đạo HĐGDNGLL luôn luôn được chú trọng, gần đây trong tài liệu số 3166/GDĐT-TrH, Hướng dẫn thực hiện hoạt động Giáo dục hướng nghiệp, hoạt động giáo dục Nghề phổ thông và
HĐGDNGLL năm học 2014 – 2015 như sau:“HĐGDNGLL là hoạt động trong kế hoạch giáo dục của nhà trường Cần thành lập Ban chuyên môn do hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng làm trưởng ban phụ trách tổ chức chỉ đạo HĐGDNGLL chung của trường Ban chuyên môn có chế độ sinh hoạt định
kỳ như các tổ nhóm chuyên môn khác Toàn thể hội đồng giáo viên, các tổ chức đoàn thể và học sinh có trách nhiệm tham gia HĐGDNGLL theo kế hoạch của trường Giáo viên chủ nhiệm lớp trực tiếp phụ trách HĐGDNGLL của lớp Đối với giáo viên được phân công thực hiện HĐGDNGLL được tính giờ dạy như các môn học khác: 02 tiết/tháng”
Trang 22Đã có nhiều luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục nghiên cứu
đề tài HĐGDNGLL ở các trường THPT như:
1 Luận văn “Các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý HĐGDNGLL của hiệu trưởng một số trường THPT phía Nam”, tác giả Nguyễn Thị Hoàng
Trâm, năm 2003
2 Luận văn “Các biện pháp quản lý thực hiện chương trình HĐGDNGLL ở trường THPT Đại Từ - Thái Nguyên”, tác giả Phan Vĩnh Thái, năm 2008
3 Luận văn “Thực hiện chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
ở trường THCS Tỉnh Tuyên Quang”, tác giả Hà Mỹ Hạnh, năm 2010
4 Luận văn “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường THPT Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội”, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Công, năm 2011
5 Luận văn “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường THPT Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội”, tác giả Nguyễn Thành Tân,
năm 2012
Ngày nay với xu hướng đổi mới giáo dục, với xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của cách mạng công nghệ Hệ thống giáo dục của chúng ta được cải cách theo hướng đào tạo học sinh phổ thông thành người
“năng động, sáng tạo, có sức khỏe và hiểu biết xã hội”, tăng cường các hoạt động ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, giao lưu với các trường tiên tiến và hiện đại, …
Vấn đề HĐGDNGLL luôn được các nhà nghiên cứu trong nước đề cập ở nhiều cấp độ khác nhau như công trình nghiên cứu về HĐGDNGLL của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Trâm, Hà Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Mỹ Công, Nguyễn Thành Tân, … nghiên cứu về phương pháp tổ chức và cơ sở lý luận nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THPT
Những công trình nghiên cứu và luận văn thạc sĩ đã đề cập đến HĐGDNGLL và quản lý HĐGDNGLL ở nhà trường, khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng của HĐGDNGLL đồng thời các tác giả cũng đã đề xuất được
Trang 23một số biện pháp cần thiết, khả thi nâng cao hiệu quả quản lý HĐGDNGLL
ở một số trường Tuy nhiên, mới chỉ dừng lại ở một phạm vi, một trường, một số khía cạnh nào đó, chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý HĐGDNGLL đáp ứng yêu cầu đổi mới ở trường THPT Võ Trường Toản, Quận 12, TP Hồ Chí Minh
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người Dưới góc độ khoa học giáo dục, theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ
Lộc:“Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một
tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”
[15, trang 1]
Theo một số tác giả khác định nghĩa về quản lý:
Theo F.W Taylor (1856 – 1915): “Quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [17, trang 12]
Theo H.Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”[17, trang 12]
Theo Henry Fayol (1845 – 1925): “Quản lý là dự đoán, lập kế hoạch,
tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”[35, trang 103]
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục
Theo nghĩa tổng quan, quản lý giáo dục (QLGD) là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế
Trang 24Theo tác giả Trần Kiểm:“Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có
kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực trẻ em” [20, trang 37]
Theo Nguyễn Ngọc Quang đưa ra định nghĩa quản lý giáo dục như sau:
“Quản lý giáo dục (và nói riêng, quản lý trường học) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [29, trang 35]
Như vậy có thể hiểu: Quản lý giáo dục là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục lên khách thể và đối tượng nhằm
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, những cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả
Ngày nay, với quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo dục không chỉ dành cho thế hệ trẻ mà giáo dục còn cho tất cả mọi người, nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường, các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
1.2.2.2 Khái niệm quản lý nhà trường
Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu Đa phần các hoạt động giáo dục (GD) đều được thực hiện trong nhà trường, thông qua hệ thống nhà trường (phổ thông, TCCN, CĐ, ĐH và
Trang 25sau ĐH) Nhà trường là “tế bào chủ chốt” của hệ thống giáo dục từ trung ương đến cơ sở Theo đó quan niệm QLGD luôn đi kèm với quan niệm quản lý nhà trường (QLNT) Các nội dung QLGD luôn gắn liền với QLNT Quản lý nhà trường có thể được coi như là sự cụ thể hóa công tác QLGD
Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng đến con người (giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, tài chính, thông tin, …) hợp quy luật (quy luật quản lý, quy luật giáo dục, quy luật tâm lý, quy luật xã hội, quy luật kinh tế, …) nhằm đạt mục tiêu giáo dục” [20, trang 39]
Ngày nay nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết
kế sư phạm đơn thuần Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “nhân cách – sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng nguồn vốn con người, vốn tổ chức và cả vốn xã hội
Theo Nguyễn Ngọc Quang,quản lý nhà trường là “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp,…) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn lực dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [29, trang 10]
Bản chất quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học và giáo dục, làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần đạt được mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường là một hoạt động thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của QL, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục
Trang 26Quản lý nhà trường khác với quản lý xã hội khác, nó được quy định với bản chất lao động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình dạy học
và quá trình giáo dục, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tượng QL Sản phẩm của các hoạt động trong nhà trường là nhân cách người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội
Quản lý nhà trường là toàn diện với mục đích là để hình thành nhân cách học sinh
Thực chất quản lý giáo dục, suy cho cùng là tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trong nhà trường vận hành theo đúng mục tiêu Trường học
là một thành tố của hệ thống giáo dục nên quản lý trường học cũng được
hiểu như một bộ phận của quản lý giáo dục “Thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa,… mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” [34, trang 18]
Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục trong một phạm
vi xác định đó là đơn vị giáo dục là nhà trường Do đó quản lý nhà trường
là vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
1.2.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- HĐGDNGLL là hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ học văn hóa trong nhà trường HĐGDNGLL giúp học sinh có cơ hội tham gia các hoạt động thực tiễn, hòa mình vào đời sống xã hội sẽ có thêm những hiểu biết, học thêm được kinh nghiệm giao tiếp, ứng xử (trong gia đinh, thầy cô, bạn bè, …) để làm tăng thêm vốn sống của mình, rèn luyện trở thành người có nhân cách
- Về khái niệm HĐGDNGLL, có rất nhiều ý kiến khác nhau:
Trang 27 Theo chương trình trung học cơ sở của Bộ Giáo dục và Đào tạo có trình
bày: “HĐGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy – học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của học sinh” [3, trang 99]
Theo tài liệu bồi dưỡng giáo viên về HĐGDNGLL lớp 10 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo năm 2006: “HĐGDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ môn văn hóa HĐGDNGLL có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động dạy học tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực hành, thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển các kỹ năng, tình cảm, niềm tin, tạo cơ sở cho
sự phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh trong giai đoạn hiện nay”
Tác giả Đặng Vũ Hoạt quan niệm: “HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học – kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí v.v…để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…)” [17, trang 7]
Theo Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học,ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 3 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ
giáo dục và Đào tạo, điều 26có nói“Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động Hoạt động
Trang 28môn học bắt buộc và tự chọn trong chương trình giáo dục của cấp học
do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh”
- Vì vậy, HĐGDNGLL là hoạt động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức, được thực hiện ngoài giờ các môn học trên lớp, là sự tiếp nối và bổ sung các hoạt động trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn nhằm hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh
- Xuất phát từ vị trí, vai trò và mục tiêu của HĐGDNGLL thì hiện nay HĐGDNGLL đã trở thành chương trình bắt buộc và là một bộ phận trong quá trình giáo dục toàn diện học sinh chính khóa
- HĐGDNGLL do nhà trường tổ chức và quản lý với sự tham gia của các lực lượng xã hội Nó được tiến hành tiếp nối hoặc xen kẽ hoạt động dạy – học trong nhà trường HĐGDNGLL diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình này được thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi
1.2.4 Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quản lý HĐGDNGLL là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh được tiến hành ngoài giờ lên lớp theo chương trình,
kế hoạch đã đề ra nhằm đạt mục tiêu giáo dục học sinh một cách toàn diện Quản lý HĐGDNGLL thực chất là quản lý về mục tiêu giáo dục, quá trình giáo dục, quản lý kế hoạch, đội ngũ, công tác kiểm tra, đánh giá, công tác phối hợp các lực lượng giáo dục thực hiện HĐGDNGLL
Trang 291.3 Lý luận về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh THPT
1.3.1 Mục tiêu của HĐGDNGLL
Song song với quá trình dạy học trên lớp theo thời khóa biểu thì HĐGDNGLL cũng góp phần không nhỏ vào mục tiêu phát triển toàn diện cho học sinh Theo sách giáo viên về hướng dẫn thực hiện HĐGDNGLL ở trường THPT của Bộ giáo dục và Đào tạo [6, trang 3], HĐGDNGLL có mục tiêu giúp cho học sinh:
Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như những giá trị tốt đẹp của nhân loại, góp phần củng cố, mở rộng và khắc sâu kiến thức đã học trên lớp, có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, bước đầu có ý thức định hướng nghề nghiệp
Củng cố vững chắc các kỹ năng cơ bản được rèn luyện từ các cấp học trước, trên cơ sở đó tiếp tục hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu như: năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt động chính trị - xã hội, năng lực tổ chức quản lý, năng lực hợp tác và cạnh tranh lành mạnh
Có thái độ đúng đắn trước những vấn đề của cuộc sống, biết phân biệt đánh giá để tự điều chỉnh và hoàn thiện bản thân mình, hướng tới mục tiêu: chân, thiện, mỹ
1.3.2 Vị trí vai trò của HĐGDNGLL trong giai đoạn hiện nay
1.3.2.1 Vị trí của HĐGDNGLL trong giai đoạn hiện nay
“HĐGDNGLL có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động
tự giáo dục, tự rèn luyện của học sinh, vì nó có nội dung phong phú hơn, các hình thức giáo dục đa dạng hơn, hấp dẫn hơn, phạm vi tiến hành rộng hơn, khả năng liên kết các lực lượng giáo dục dồi dào hơn” [17, trang
11]Quá trình giáo dục và quá trình dạy học là những bộ phận của quá trình
sư phạm toàn diện, thống nhất Trong quá trình giảng dạy, ngoài việc
Trang 30phải luôn luôn có hiệu quả giáo dục (giáo dục nhân cách cho học sinh thông qua các môn học) và tạo cơ sở cho toàn bộ quá trình giáo dục đạt hiệu quả Trong quá trình giáo dục, ngoài việc hình thành cho học sinh về ý thức, hành vi, kỹ năng hoạt động và ứng xử trong các quan hệ xã hội về chính trị, đạo đức, pháp luật còn phải tạo cơ sở cho các em bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã học trên lớp Vì vậy, quá trình giáo dục không những được thực hiện qua các hoạt động giáo dục trên lớp mà còn qua các
HĐGDNGLL.Kết quả giáo dục đó chính là: “Nhân cách -sức lao động”
được hình thành ở học sinh Đó là sự hình thành thái độ, kỹ năng của học sinh HĐGDNGLL là một bộ phận cấu thành trong hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục trong nhà trường được chia làm hai bộ phận: Hoạt động dạy học trên lớp và HĐGDNGLL
Mỗi bộ phận đều có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng chúng đều góp phần vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục Nó thực sự là bộ phận quan trọng trong hoạt động giáo dục ở trường phổ thông.HĐGDNGLL là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường và xã hội
1.3.2.2 Vai trò của HĐGDNGLL trong giai đoạn hiện nay
HĐGDNGLL có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt độngtự giáo dục, tự rèn luyện của học sinh, vì nó có nội dung phong phú hơn, các hình thức giáo dục đa dạng hơn, hấp dẫn hơn, phạm vi tiến hành rộng hơn, khả năng liên kết các lực lượng giáo dục dồi dào hơn[15, trang 18]
HĐGDNGLL giúp các em học sinh củng cố tri thức của mình đã được học trên lớp Học sinh có được các tri thức là nhờ vào nhận thức cácbài giảng của thầy cô, cũng như tích lũy được trong quá trình tự học của mình
Để đối chiếu kiểm nghiệm tri thức đã có được, làm cho tri thức đó trở thành tri thức củamình thì vai trò của HĐGDNGLL rất quan trọng, các HĐGDNGLLsẽ giúp các em đưa kiến thức lý thuyết vào thực tế cuộc sống
Trang 31Giúp các em học sinh bộc lộ khả năng của mình thông qua việc tự tổ chức các hoạt động, từ đó khẳng định vị trí của mình trong tập thể, vấn đề được đưa ra là vấn đề mở, các em dựa vào mục tiêu của các hoạt động, có thể phát huy hết khả năng của mình trong xây dựng đề cương, tổ chức thực hiện, phân công nhân sự, thực hành các hoạt động kiểm nghiệm chất lượng, tự đánh giá và rút kinh nghiệm cho các hoạt động khác
Tạo điều kiện cho các em học sinh chủ động, tích cực, độc lập, sáng tạo trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao Hoạt động nhận thức của học sinh được phát triển tối đa khi trong một hoạt động học sinh vừa là chủ thể, vừa là người thực hiện, vừa là khách thể đánh giá Trong các hoạt động của mình, dưới sự cố vấn của các thầy cô, học sinh chủ động đưa ra những giải pháp tình thế để giải quyết vấn đề một cách hợp lý, logic HĐGDNGLL củng cố các kiến thức đã được học trong các giờ học chính khóa Thông thường việc sử dụng các hình thức HĐGDNGLL khác nhau sẽ làm cho học sinh hiểu rõ hơn những kiến thức mình đã được học HĐGDNGLL có chức năng định hướng, hình thành nhân cách cho học sinh Thông qua nội dung và các hình thức hoạt động, học sinh được hình thành dần các giá trị về Chân –Thiện –Mỹ
HĐGDNGLL có chức năng định hướng học sinh phát triển toàn diện, định hướng nghề nghiệp trong tương lai Thông qua các hoạt động này, các em sẽ biết được mình làm tốt lĩnh vực gì và sẽ tìm hiểu kỹ lĩnh vực
đó, biết bổ sung những kiến thức mà mình chưa có, biết tiết chế những vấn đề làm giảm sự phát triển, từ đó chọn lựa cho mình một nghề nghiệp phù hợp nhất
HĐGDNGLL mang tính chất là tiết học ngoài giờ chính khóa Thế nhưng cũng không thua kém gì với các môn học khác, những tiết học này
đã mang lại nhiều điều bổ ích trong việc nhận thức, bồi dưỡng tư tưởng và tình cảm cho học sinh thông qua những hình thức hoạt động khác nhau Trong các HĐGDNGLL học sinh là những người tự thiết kế tiết họccòn
Trang 32giáo viên là những người chỉ đạo tiết học này Chính vì có đặc thù như vậy nên học sinh cần phải chủ động sáng tạo trong tiết học của mình Trong khâu chuẩn bị học sinh cần phải chuẩn bị kỹ càng hơn, đặt ra những tình huống xảy ra trong quá trình thựchiện tiết học, các biện pháp giải quyết những tình huống này cũng được học sinh đưa vào trong kế hoạch thực hiện chương trình
Như vậy, HĐGDNGLL thật sự cần thiết và là bộ phận không thể thiếu của quá trình sư phạm tổng thể nói chung và cho học THPT nói riêng Thực hiện HĐGDNGLL có nội dung kế hoạch biện pháp và phương pháp
đa dạng phong phú sẽ đạt hiệu quả giáo dục cao
1.3.3 Nội dung HĐGDNGLL
- HĐGDNGLL ở trường THPT rất đa dạng và phong phú về nội dung, hình thức hoạt động khác nhau Nhiều nơi do nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của hoạt động này đã suy nghĩ, đúc rút kinh nghiệm, tìm ra những hình thức hoạt động phù hợp, hấp dẫn, đạt hiệu quả giáo dục cao và có thể phân chia nội dung HĐGDNGLL như sau:
Theo thông tư số 32/TT ngày 15/10/1988 của Bộ Giáo dục và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, có 5 nội dung:
Hoạt động chính trị - xã hội
Hoạt động phục vụ học tập, tìm hiểu khoa học
Hoạt động lao động công ích xã hội
Hoạt động văn hóa – nghệ thuật
Hoạt động thể thao quốc phòng, tham quan du lịch
Theo Điều 26 của Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo có qui định HĐGDNGLL có các nội dung sau:
Trang 33 Hoạt động ngoại khóa về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu
Hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hóa, giáo dục môi trường
Hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh
Theo tài liệu phân phối chương trình THPT năm học 2013 – 2014 về HĐGDNGLL của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn, HĐGDNGLL được thực hiện theo quỹ thời gian là 2 tiết/tháng, nội dung HĐGDNGLL gồm 6 vấn đề chủ yếu sau:
Lý tưởng sống của thanh niên trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tình bạn, tình yêu và gia đình
Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng; bảo vệ di sản văn hóa
Thanh niên với vấn đề lập thân, lập nghiệp
Những vấn đề có tính toàn cầu như: bảo vệ môi trường; hạn chế sự bùng nổ dân số; chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên; thực hiện Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em
- Những vấn đề trên được cụ thể hóa thành 10 chủ đề hoạt động trong 12 tháng, đó là:
Tháng 9: Thanh niên học tập, rèn luyện vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tháng 10: Thanh niên với tình bạn, tình yêu và gia đình
Tháng 11: Thanh niên với truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo
Trang 34 Tháng 12: Thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tháng 1: Thanh niên với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Tháng 2: Thanh niên với lý tưởng cách mạng
Tháng 3: Thanh niên với vấn đề lập nghiệp
Tháng 4: Thanh niên với hòa bình, hữu nghị và hợp tác
Tháng 5: Thanh niên với Bác Hồ
Tháng 6-7-8: Mùa hè tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng
- Căn cứ vào mục tiêu, nội dung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tình hình thực tế, cụ thể ở mỗi trường, tài liệu tham khảo, có thể chia HĐGDNGLL theo các nội dung chính sau:
Hoạt động chính trị, xã hội, đạo đức, pháp luật:
Xã hội nào cũng xây dựng cho mình một mẫu người lý tưởng, mẫu người lý tưởng là mẫu người mang tư tưởng tiên tiến của thời đại và hành động theo lý tưởng ấy Mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa của chúng ta là đào tạo học sinh thành người lao động thành thạo về nghề nghiệp, năng động đáp ứng nền kinh tế nhiều thành phần, những người công dân tốt Vì vậy, giáo dục thế giới quan, tư tưởng chính trị, pháp luật, đạo đức là nhiệm vụ hàng đầu trong nhà trường Trong các giờ dạy, thông qua bài giảng để liên hệ giáo dục thái độ và giá trị, còn HĐGDNGLL thì trực tiếp giáo dục tư tưởng chính trị cho học sinh qua các hoạt động Đây là nội dung quan trọng nhưng khó khăn vì chúng ta không thể tập trung các em lại để phổ biến các chỉ thị, nghị quyết,… mà
để đạt hiệu quả cao cần phải qua các hoạt động văn hóa, xã hội, đoàn thể,
có thực hiện được như vậy học sinh mới tham gia nhiệt tình và hiệu quả đạt được rất cao Một số hình thức tiến hành như:
Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động chính trị ở địa phương
Chăm sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, giúp đỡ gia đình neo đơn, giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó
Trang 35 Tham gia các chương trình từ thiện để giáo dục lòng nhân ái cho HS
Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, bài trừ mê tín dị đoan
Tuyên truyền pháp luật qua các cuộc thi, nói chuyện chuyên đề, tìm hiểu lịch sử địa phương
Tham gia công tác phụ trách Đoàn, Đội tại địa phương
Thông qua các hoạt động trên, không những giáo dục tư tưởng chính trị cho học sinh mà còn hình thành nhiều phẩm chất khác cho các em như: tình đoàn kết, gắn bó yêu thương con người, tự hào về Đảng, Bác Hồ, về quê hương đất nước…
Tìm hiểu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, phục vụ học tập:
Thành lập các câu lạc bộ học thuật cho một số môn như: văn học, toán học, hóa học, vật lý, sáng tạo khoa học kỹ thuật … để học sinh tham gia, qua đó khắc sâu các kiến thức các em học được trên lớp và ứng dụng vào trong thực tế cuộc sống, đồng thời tổ chức các hoạt động vui học đa dạng như: vui để học, văn nghệ, hát các bài hát tiếng anh, làm tập san… Thành lập các câu lạc bộ Kỹ năng, Công tác xã hội, Cán bộ Đoàn để giúp các em có thêm nhiều kỹ năng trong sinh hoạt, cũng như biết yêu thương và giúp đỡ những mãnh đời bất hạnh, trẻ em bị bại não, …
Hoạt động lao động công ích, lao động sản xuất – hướng nghiệp:
Hoạt động lao động nói chung nhằm giáo dục ý thức góp phần xây dựng quê hương, giúp đỡ các gia đình và tham gia vào các quá trình sản xuất ra vật chất cho xã hội Hình thức tiến hành như:
Tham gia trồng cây xanh trong trường, địa phương, dọn vệ sinh môi trường…
Tham gia lao động tu sửa bàn ghế trong lớp, trường, trang trí lớp học
Tham gia lao động tại địa phương: dọn sạch kênh, rạch, giúp ổn định trật tự an toàn giao thông…
Trang 36 Tham gia giúp đỡ các gia đình chính sách, gia đình thương binh liệt
sĩ, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn…
Với những hình thức trên giúp các em hiểu rõ hơn giá trị lao động từ
đó có thái độ đúng với người lao động, tôn trọng thành quả mình làm ra
và của người khác làm ra, yêu quí lao động
Hoạt động văn hóa – nghệ thuật:
Thực chất của hoạt động văn hóa nghệ thuật là làm phong phú thêm đời sống tinh thần, bồi dưỡng lòng khát khao cái đẹp, đưa cái đẹp vào cuộc sống, biết thưởng thức cái đẹp và sáng tạo ra cái đẹp… Có thể tổ chức các cuộc thi mang tính văn hóa giáo dục như:
Thi học sinh tài năng, thi an toàn giao thông, kiến thức pháp luật
Thi sáng tác văn thơ, nhạc, báo tường
Tổ chức hội diễn văn nghệ, triển lãm, trưng bày về truyền thống nhà trường, tranh ảnh học sinh…
Tổ chức các trại truyền thống cho học sinh, các buổi dạ hội…
Hoạt động thể dục thể thao, quốc phòng, tham quan du lịch:
Chỉ thị 112/CT của Hội đồng Bộ trưởng về công tác thể thao trong những năm trước mắt nhấn mạnh: Phải thực hiện nghiêm túc việc dạy và học chương trình thể dục thể thao theo qui định và có biện pháp tổ chức hướng dẫn các hình thức tập luyện và hoạt động thể thao tự nguyện ngoài giờ học
Tổ chức các đội thể dục thể thao: bóng đá, bóng bàn, bóng chuyền, cầu lông, điền kinh, bơi lội, võ thuật, cờ,
Tổ chức Hội khỏe Phù Đổng
Tổ chức kết nghĩa các đơn vị bộ đội, công an
Tổ chức tham quan du lịch, cắm trại, tham quan bảo tàng, danh lam thắng cảnh, di tích văn hóa; tổ chức cắm trại
Trang 37Như vậy, các nội dung của HĐGDNGLL rất phong phú và đa dạng, phục vụ cho các mục tiêu giáo dục toàn diện, bổ sung và khắc phục những nhược điểm của hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp Các nội dung giáo dục trên được tiến hành chủ yếu thông qua tiết sinh hoạt tập thể hàng tuần và sinh hoạt chủ điểm giáo dục hàng tháng Trong thực tế, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, điều kiện của từng đơn vị, nhà trường mà nhà quản lý có thể tiếp cận nội dung hoạt động theo những cách khác nhau
để vận dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả
1.3.4 Hình thức tổ chức HĐGDNGLL
HĐGDNGLL được thực hiện theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/05/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo [6, tr.25-30] Khi tổ chức các hình thức HĐGDNGLL, các nhà quản lý cần chú ý một số vấn đề sau:
Chú ý đến sự đa dạng của các hình thức hoạt động nhằm lôi cuốn học sinh tham gia, kích thích sự tích cực hoạt động của học sinh Muốn vậy, giáo viên phải thay đổi các hình thức hoạt động trong từng chủ đề, tránh lặp đi lặp lại một vài dạng hoạt động gây nhàm chán cho học sinh
Tăng cường vai trò chủ thể của học sinh trong hoạt động, điều này có tác dụng tạo cơ hội để học sinh được rèn luyện và tự khẳng định mình, đồng thời với vai trò chủ thể, học sinh sẽ tự thể hiện khả năng của mình trong hoạt động và giúp giáo viên thể hiện được những ý tưởng của mình khi
Trang 38 Nội dung hoạt động cần phải bám sát mục tiêu của HĐGDNGLL gắn với điều kiện cụ thể của nhà trường, xã hội, địa phương ở từngthời điểm cụ thể
Cần chú ý việc đổi mới và đa dạng hóa các hình thức hoạt động cho phù hợp với đối tượng học sinh nhằm phát huy tối đa khả năng sáng tạo của học sinh trong việc tổ chức các hoạt động
Quy trình tổ chức hoạt động
Bước 1:Xác định yêu cầugiáo dục của hoạt động
Sau khi lựa chọn tên cho hoạt động theo chủ đề của tháng, cần xác định rõ mục tiêu hoặc yêu cầu giáo dục cụ thể về quy mô, đối tượng để chỉ đạo, điều hành theo đúng hướng và đảm bảo mục tiêu của hoạt động:
Mục tiêu về nhận thức: hoạt động nhằm cung cấp cho học sinh những
hiểu biết về vấn đề gì? Nắm được những thông tin gì? Giúp học sinh củng cố hay nâng cao những kiến thức gì?
Mục tiêu về kỹ năng: thông qua hoạt động cần hình thành cho học sinh
những kỹ năng gì? Ở mức độ nào?
Mục tiêu về thái độ: giáo dục cho học sinh thái độ, tình cảm như thế
nào?
Bước 2:Xác định nội dung và hình thức hoạt động
Cần xây dựng nội dung, lựa chọn hình thức tổ chức thực hiện hoạt động theo từng chủ đề của từng tháng Việc xây dựng nội dung và hình thức có thể căn cứ vào khả năng, nhu cầu của học sinh để lựa chọn cho phù hợp, có thể tổ chức quy mô nhỏ theo đơn vị lớp, có thể tổ chức theo quy mô lớn trong toàn trường
Bước 3:Chuẩn bị hoạt động
Hiệu quả của hoạt động phụ thuộc nhiều vào công tác chuẩnbị, điều
đó đòi hỏi trong bước này người thực hiện phải chuẩn bị một cách chu đáo về nội dung, cơ sở vật chất, nhân sự thực hiện hoạt động.Cụ thể:
Trang 39 Xây dựng nội dung và hình thức hoạt động, cơ sở vật chất phục vụ, lực lượng tham gia
Dự kiến các tình huống xảy ra để chủ động giải quyết trong quá trìnhthực hiện
1.4 Lý luận về quản lý HĐGDNGLL
1.4.1 Quản lý xây dựng kế hoạch HĐGDNGLL
- Đây là chức năng quan trọng trong công tác quản lý của hiệu trưởng, nhằm định hướng cho HĐGDNGLL tại nhà trường trong từng thời điểm của năm học Khi thiết kế chương trình kế hoạch HĐGDNGLL, cần xây dựng kế hoạch cả năm cho toàn trường, cho từng khối và từng lớp Ngoài ra, việc xây dựng kế hoạch theo các chuyên đề của bộ môn cần được xây dựng xuyên suốt trong cả cấp học Để xây dựng kế hoạch đạt kết quả cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Về quy trình:Thực hiện các bước sau:
Lập dự thảo kế hoạch
Họp thảo luận dự thảo đối với các bộ phận liên quan
Thống nhất, điều chỉnh trước khi ban hành
- Về nội dung:Nội dung của kế hoạch thực hiện theo các nội dung cụ thể sau:
Xác định đúng mục tiêu quản lý HĐGDNGLL theo các chỉ đạo từng năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo
Xây dựng cụ thể chương trình hành động trong năm học, từng học
Trang 40phương tiện, cơ sở vật chất, kinh phí và xây dựng kế hoạch vềviệc phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
1.4.2 Quản lý đội ngũ thực hiện kế hoạch
Quản lý đội ngũ GVCN thực hiện HĐGDNGLL:Trong thực tế hoạt động tại các nhà trường, GVCN luôn là người thiết kế, tổ chức thực hiện các HĐGDNGLL tại lớp mình Quản lý GVCN thực hiện HĐGDNGLLbao gồm: quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động, công tác chuẩn bị và triển khai của GVCN theo chủ đề hoạt động của từng tháng và cả năm học Dưới góc độ quản lý, lãnh đạo nhà trường phải nắm được nội dung, hình thức tổ chức, thời gian tổ chức và vai trò của GVCN trong việc tổ chức HĐGDNGLL ở các lớp Việc sắp xếp, bố trí đội ngũ cán sự lớp điều hành của GVCN phải phát huy được tính tích cực của học sinh, cách tự quản của lớp cần cụ thể, chi tiết đảm bảo hiệu quả của hoạt động GVCN với tư cách
là người tham mưu, người tổ chức để các lực lượng này cùng tham gia tích cực và có hiệu quả vào HĐGDNGLL tại lớp mình chủ nhiệm Trong quá trình thực hiện, GVCN cần đưa ra các yêu cầu cụ thể về nội dung, cách thức phối hợp, hìnhthức đánh giá đối với học sinh Bên cạnh đó GVCN cũng cần phối hợp với gia đình, các tổ chức xã hội khác để hướng vào tổ chức các hoạt động toàn diện cho học sinh Sau mỗi chuyên đề, mỗi đợt thực hiện các HĐGDNGLL, GVCN đều phải đánh giá kết quả hoạt động của học sinh lấy
đó làm căn cứ để xếp loại hạnh kiểm học sinh mỗi học kỳ và toàn năm học GVCN cần phải có một thang điểm đánh giá để đánh giá từng học sinh thật chi tiết và khách quan
Ngoài ra cần kết hợp đánh giá dưới nhiều hình thức khác nhau như: họcsinh tự đánh giá, tổ nhóm đánh giá, lớp đánh giá
Quản lý đội ngũ cán bộ Đoàn và Ban chỉ đạoHĐGDNGLL
Ban chỉ đạo HĐGDNGLL có vai trò đặc biệt trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện các HĐGDNGLL Với vai trò là thành viên trong ban chỉ đạo HĐGDNGLLcủa nhà trường, Đoàn thanh niên có vai trò rất quan trọng