Ngày 09/12/2000 Quốc hội đã có quyết định số 40 về đổi mới giáo dục phổ thông với mục tiêu: "Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ HÀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN ĐÌNH GIÓT –
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ HÀ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHAN ĐÌNH GIÓT –
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đặng Xuân Hải
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và quý thầy cô,
Phòng Quản lý đào tạo sau Đại học Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc
gia Hà Nội cùng các nhà khoa học, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy,
góp ý, chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới cán bộ, giáo viên, các em học sinh ở
trường THPT Phan Đình Giót đã nhiệt tình cộng tác, giúp đỡ để tôi hoàn
thành luận văn này
Đặc biệt tôi xin trân trọng và bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới
PGS.TS Đặng Xuân Hải - Người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn, động
viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề
tài, song không thể tránh khỏi những thiếu sót trong luận văn, tôi kính mong
nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Điện Biên Phủ, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Phạm Thị Hà
Trang 4GD & ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lu ̣c iii
Danh mu ̣c bảng vi
Danh mu ̣c sơ đồ,biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 8
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài 8
1.1.2 Một số nghiên cứu ở trong nước 9
1.2 Các khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Quản lý và chức năng của quản lý 12
1.2.2 Quản lý giáo dục 16
1.2.3 Quản lý nhà trường 17
1.2.4 Hoạt động dạy học 18
1.2.5 Năng lực 21
1.3 Một số vấn đề lý luận về hoạt động học tập ở trường THPT 24
1.3.1 Bản chất của hoạt động học 24
1.3.2 Hình thành hành động học 26
1.3.3 Một số quan niệm hiện nay về hoạt động dạy học trong nhà trường 28
1.3.4 Những hình thức hoạt động học tập của học sinh 29
1.4 Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT 31
1.4.1 Nhiệm vụ quyền hạn của Hiệu trưởng và của giáo viên THPT 31
1.4.2 Nội dung cụ thể của quản lí hoạt động dạy học ở một nhà trường 33
1.4.3 Đặc điểm quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực 35
Tiểu kết chương 1 36
Trang 6Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT PHAN ĐÌNH GIÓT - THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
37
2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế, xã hội và giáo dục thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên 37
2.1.1 Một số nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của thành phố Điện Biên Phủ 37
2.1.2 Khái quát về giáo dục của thành phố Điện Biên Phủ 38
2.1.3 Một số nét về trường THPT Phan Đình Giót - thành phố Điện Biên Phủ - tỉnh Điện Biên 38
2.2 Quá trình và nội dung khảo sát 41
2.2.1 Thực trạng hoạt động dạy học và QL hoạt động dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót - thành phố Điện Biên Phủ 41
2.2.2 Thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên 46
2.2.3 Thực trạng ứng dụng CNTT và các PTDH - TBDH hiện đại 49
2.2.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 49
2.2.5 Thực trạng bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của giáo viên 50
2.3 Đánh giá thực trạng dạy học và QL dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót - thành phố Điện Biên Phủ 50
2.3.1 Mặt tích cực 50
2.3.2 Hạn chế 50
2.3.3 Nguyên nhân 51
Tiểu kết chương 2 52
Chương 3 : BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT PHAN ĐÌNH GIÓT - THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ THEO HƯỚNG TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 53
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 53
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 53
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 53
Trang 73.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 54
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 54
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính bền vững 55
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại trường THPT Phan Đình Giót - thành phố Điện Biên Phủ theo hướng tiếp cận phát triển năng lực 55
3.2.1 Biện pháp 1: Bồi dưỡng năng lực dạy học cho đội ngũ giáo viên để họ có thể thực hiện được dạy học hướng vào năng lực cho học sinh 55
3.3.2 Biện pháp 2: Tăng cường chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực học sinh 58
3.2.3 Biện pháp 3: Đổi mới việc kiểm tra , đánh giá nhằm thúc đẩy hoạt động tự học của học sinh 63
3.3.4 Biện pháp 4: Tăng cường quản lý nề nếp, kỷ cương trong dạy và học 67 3.3.5 Biện pháp 5: Bảo đảm tốt hơn các điều kiện cho hoạt động dạy học nói chung và tự ho ̣c của học sinh nói riêng 69
3.3.6 Tăng cường quản lý công tác tự học, tự bồi dưỡng, nghiên cứu của giáo viên 71
Tiểu kết chương 3 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
1 Kết luận 84
2 Khuyến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 90
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô số lớp, số học sinh cấp THPT 5 năm gần đây 39Bảng 2.2: Tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên Trường THPT Phan Đình Giót40Bảng 2.3: Kết quả xếp loại hạnh kiểm và học lực của học sinh toàn trường 42Bảng 2.4: Phân bổ học sinh các dân tộc từ năm 2012- 2015 45Bảng 2.5 Thực trạng quản lí hoạt động học tập của học sinh ở trường Phan Đình Giót 45Bảng 2.6: Công tác chuẩn bị giảng dạy của giáo viên nhà trường 47Bảng 2.7 Kết quả khảo sát hoạt động dạy học của giáo viên ở trường THPT Phan Đình Giót 47Bảng 2.8 Kết quả khảo sát phương pháp dạy học của GV tại trường THPT Phan Đình Giót 48Bảng 2.9 Mức độ thực hiện việc quản lí kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
HS 49Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đã đề xuất 81
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 - Sơ đồ khái niệm quản lý [8] 13
Sơ đồ 1.2 - Sơ đồ Chu trình quản lý 16Biểu đồ 2.1: Biểu đồ tỉ lệ học sinh đỗ ĐH, CĐ của trường THPT Phan Đình Giót, TP Điện Biên Phủ 43Biểu đồ 2.2: Biểu đồ biểu thị tỉ lệ học sinh giỏi qua các năm 44
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, chiến lược phát triển nhanh và bền vững nhất đối với mỗi quốc gia, dân tộc là sự chú trọng hàng đầu của Chính phủ về công tác đổi mới hệ thống GD-ĐT, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước Đảng và Nhà nước ta đã hết sức chú trọng phát triển GD-ĐT, coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Ngày 09/12/2000 Quốc hội đã có quyết định số 40 về đổi mới giáo dục phổ thông với mục tiêu:
"Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước."
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 khoá VIII của Ban chấp hành Trung
ương Đảng đã ghi rõ:“Giáo dục và Đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường nhằm nhanh chóng đưa Giáo dục và Đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nước"
Trong Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Chính phủ về
đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục đã nêu: Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành để một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng
Trang 11Bất kỳ thời điểm nào, việc nâng cao chất lượng dạy và học luôn được coi là nhiệm vụ cơ bản, quan trọng nhất của các nhà trường Đó là tiền đề khẳng định, là động lực để mỗi nhà trường khẳng định vị thế của mình Một trong những yếu tố căn bản làm nên thành công là công tác quản lý Xét đến cùng, công tác quản lý nhà trường và việc quản lý hoạt động dạy học là công việc được tiến hành thường xuyên, liên tục, là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo
Đồng hành với quá trình đổi mới đất nước, đổi mới giáo dục, chất lượng giáo dục ở cấp THPT và chất lượng giáo dục đào tạo nói chung ở nước
ta đã có sự khởi sắc, đã đạt được những thành tựu nhất định Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của học sinh, sinh viên và giáo viên được nâng cao, đào tạo được đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật, có những cống hiến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội Chất lượng giáo dục ngày càng được khẳng định theo chiều hướng thực chất
Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể nhưng hệ thống Giáo dục và Đào tạo nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc khóa
VIII đã khẳng định:“Giáo dục nước ta vẫn còn nhiều yếu kém bất cập cả về quy mô lẫn cơ cấu và nhất là chất lượng ít hiệu quả, chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực và công cuộc đổi mới kinh tế xã hội, xây dựng bảo vệ tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Để giải quyết tồn tại trên đòi hỏi chúng ta phải thay
đổi quan niệm, nhận thức về giáo dục, phải hướng tới chất lượng giáo dục, điều đó đồng nghĩa với việc phải chú trọng nâng cao trách nhiệm quản lý và tăng cường các biện pháp để quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực cho cả giáo viên và học sinh
Mặt khác, giáo dục phổ thông giữ vai trò quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng những yêu cầu phát triển KT-XH của một quốc gia Đặc biệt trong thời đại
Trang 12ngày nay, với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, việc nhanh chóng hoà nhập vào cộng đồng khu vực và thế giới, đòi hỏi giáo dục phổ thông của chúng ta phải có những bước tiến mới mạnh mẽ, giúp học sinh phát triển toàn diện đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, biết "giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và của con người Việt Nam"
Chính vì vậy, quản lý nhà trường đặc biệt phải chú trọng đến sản phẩm cuối cùng - học sinh - đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn lực con người trong thời kỳ
CNH-HĐH
Vấn đề quản lý hoạt động giáo dục nói chung và quản lý hoạt động học tập ở trường THPT nói riêng mặc dù đã có nhiều nhà khoa học giáo dục nghiên cứu và đã được áp dụng vào thực tế, song xét từ nhiều góc độ, nhiều phương diện thì chưa được đề cập một cách đầy đủ và sâu sắc Việc quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót - TP Điện Biên Phủ - tỉnh Điện Biên chưa đáp ứng được yêu cầu về đổi mới chú trọng vào điểm đích: phát triển năng lực người học Là người trực tiếp tham gia công tác quản lý ở trường, gắn bó với sự nghiệp giáo dục - đào tạo, nắm được đặc điểm tâm lý học sinh, nhận thức được tính cấp thiết của việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH người viết nhận thấy cần có biện pháp chỉ đạo sát, đúng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục - đào tạo, phát triển năng lực của người học
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả chọn vấn đề : "Quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót - thành phố Điện Biên Phủ theo hướng tiếp cận phát triển năng lực” làm đề tài nghiên cứu; hy vọng sẽ
góp phần vào việc xây dựng công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội
Trang 132 Câu hỏi nghiên cứu
Hoạt động dạy học ở các trường THPT hiện nay đã chú trọng vào mục tiêu năng lực chưa?
Biện pháp nào có thể sử dụng để quản lý có hiệu quả các hoạt động dạy học theo hướng tiếp cận năng lực ở trường THPT Phan Đình Giót - thành phố Điện Biên Phủ - tỉnh Điện Biên
3 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đánh giá đúng thực trạng quản lý dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót - thành phố Điện Biên Phủ - tỉnh Điện Biên và đề xuất được các biện pháp quản lý dạy học thích hợp có thể thúc đẩy việc thực hiện mục tiêu phát triển năng lực cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
4 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên chúng tôi đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học của GV và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh
5 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học ở trường THPT theo hướng tiếp cận phát triển năng lực
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (tập trung vào trường THPT Phan Đình Giót) theo hướng tăng cường phát triển năng lực cho HS
6 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đi sâu vào dạy học hướng vào mục tiêu phát triển năng lực
Trang 14Giới hạn khảo sát: giai đoạn 2012-2015, nghiên cứu tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ (tập trung vào trường THPT
Phan Đình Giót)
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
7.2 Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên (tập trung vào trường THPT Phan Đình Giót)
7.3 Đề xuất một số giải pháp trong công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận
8.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống
Quan điểm tiếp cận hệ thống giúp người nghiên cứu tìm hiểu mối quan
hệ chặt chẽ giữa quản lý hoạt động dạy học với quản lý các hoạt động sư phạm khác ở trường THPT cũng như xem công tác quản lý nhà trường là một hệ thống, trong đó quản lý hoạt động dạy học là một hệ thống con với các yếu tố hợp thành Từ đó giúp tìm hiểu chính xác thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo hướng tiếp cận năng lực
8.1.2 Quan điểm tiếp cận lịch sử - logic
Quan điểm tiếp cận lịch sử - logic giúp người nghiên cứu xác định phạm
vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, đồng thời trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự logic
8.1.3 Quan điểm tiếp cận thực tiễn
Quan điểm tiếp cận thực tiễn giúp phát hiện những đặc điểm về đối tượng học sinh, về môn học, cùng các ưu điểm, mâu thuẫn, tồn tại trong công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót, thành phố
Trang 15Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Từ đó đề xuất được các biện pháp phù hợp với thực tiễn của nhà trường
8.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
8.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa những vấn đề lý luận từ sách, báo, tài liệu và văn kiện, văn bản có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
8.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm nhằm thu thập thông tin qua việc quan sát hoạt động quản lý dạy học ở trường THPT
8.2.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục
a Mục đích điều tra
Thu thập thông tin, số liệu, tư liệu về thực trạng dạy học và quản lý dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn để đề xuất các giải pháp
b Nội dung điều tra
Thực trạng dạy học và công tác quản lý dạy học ở trường THPT khu vực thành phố Điện Biên Phủ (tập trung vào trường THPT Phan Đình Giót); những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân
Khảo sát tính cần thiết và khả thi của hệ thống các biện pháp đề xuất
c Mẫu nghiên cứu
Điều tra cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên (GV), Học sinh của trường THPT Phan Đình Giót - thành phố Điện Biên Phủ
8.2.2.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp lấy ý kiến một số nhà quản lý
có kinh nghiệm, lãnh đạo và chuyên viên trong việc đề xuất các biện pháp quản lý dạy học mang tính đột phá, cấp bách trong việc nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT
Trang 168.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán học như tính tỷ lệ phần trăm, tính hệ số… để thống kê số lượng, chất lượng về đội ngũ CBQL, GV, kết quả học tập của học sinh trường THPT và xử lý số liệu, định lượng kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra những kết luận phục vụ công tác nghiên cứu
9 Những đóng góp của đề tài
9.1 Về mặt lý luận
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận việc quản lý hoạt động dạy học của giáo viên theo hướng tiếp cận phát triển năng lực, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục
9.2 Về mặt thực tiễn
Đề xuất những biện pháp quản lý phù hợp với thực tế và có tính khả thi giúp nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo hướng tiếp cận phát triển năng lực Qua
đó nhân rộng kinh nghiệm quản lý cho các cơ sở giáo dục THPT khác
10 Cấu trúc của luận văn
Đề tài ngoài phần mở đầu và phần kết luận khuyến nghị, cấu trúc bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót - thành phố Điện Biên Phủ
Chương 3: Quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT Phan Đình Giót, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo hướng tiếp cận phát triển năng lực
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong nhà trường dạy học là hoạt động giữ vị trí trung tâm, chi phối mọi hoạt động khác và quyết định chất lượng giáo dục Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất Ở các lĩnh vực quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý quá trình sư phạm, dạy học, quản lý hoạt động dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu, tuy nhiên hướng nghiên cứu theo định hướng phát triển năng lực học sinh là chưa nhiều, trong khi đây là một trong những yêu cầu cần thiết nhất của kết quả đào tạo theo định hướng đổi mới
1.1.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Quản lý hoạt động dạy học thực chất là quản lý hoạt động học tập của học sinh và quản lý hoạt động dạy của giáo viên Học sinh là chủ thể hoạt động học tập Tinh thần, thái độ, động cơ, phương pháp học tập quyết định trực tiếp kết quả học tập của người học
Các nhà nghiên cứu quản lý giáo dục Xô Viết trong những công trình
nghiên cứu của mình đã cho rằng:“Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào công việc tổ chức đúng đắn và hợp lý công tác hoạt động dạy học và học tập”[15]
M.I.Kôndakôp, P.V.Zimin, N.I.Saxerđôtôp đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác dạy học, giáo dục trong nhà trường và xem đây là khâu then chốt trong hoạt động quản lý của người làm công tác quản lý giáo dục[15]
John Dewey (1859-1925), nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng đầu thế kỷ
XX đã đưa ra một phương hướng canh tân giáo dục, ông yêu cầu bổ sung vào vốn tri thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giảng viên, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực
Trang 18tiễn Ông viết: Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh
Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiếng người Nhật Bả n
Tsunesaburo Makiguchi (1871-1944) đã nhấn mạnh: “Giáo viên không bao
giờ học thay cho học viên mà học viên phải tự mình học lấy Nói khác đi, dù giáo viên có làm gì đi nữa thì mọi tri thức truyền thụ vẫn không có giá trị nếu
họ không làm cho học sinh tự mình kiểm nghiệm và thực nghiệm những tri thức đó”[31]
V.A Xukhômlinxki (1918-1970), Nhà sư phạm Xô Viết, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học giáo dục Liên Xô, đã vận dụng lý luận, kinh nghiệm giáo dục xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh cụ thể, đào tạo ra nhiều học trò, đóng góp nhiều lý luận, kinh nghiệm giáo dục thế hệ trẻ Xô Viết Ông có nhiều kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa quá trình giáo dục và tự giáo dục, chủ động tác động của nhà sư phạm với chủ động, tự quản rèn luyện của học sinh
và tập thể học sinh, giải quyết hợp lý giữa giáo dục tập thể và giáo dục cá nhân Ông cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc phối hợp các lực lượng giáo dục xã hội, tự nhiên vào quá trình giáo dục thế hệ trẻ Những tác phẩm giáo dục chủ yếu: “Giáo dục con người chân chính như thế nào”, “Giáo dục cộng sản đối với lao động” v.v Vấn đề quản lý quá trình sư phạm, dạy học, quản
lý hoạt động dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau
1.1.2 Một số nghiên cứu ở trong nước
Đã có một số tác giả nghiên cứu về năng lực, hình thành năng lực Khi nghiên cứu về NL của người thầy giáo, Phạm Minh Hạc cho rằng: sự thành công trong việc dạy học và giáo dục học sinh đòi hỏi người thầy giáo phải có thế giới quan tiên tiến, phẩm chất đạo đức cao quý, trình độ tri thức, kỹ năng
kỹ xảo nghề nghiệp cao, trình độ văn hoá chung và xu hướng sư phạm Ngoài
ra, còn cần một số đặc điểm tâm lý đặc trưng của nhân cách về mặt trí tuệ,
Trang 19tình cảm và ý chí Các đặc điểm này có liên quan mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất, phù hợp với yêu cầu của hoạt động sư phạm, quyết định kết quả của hoạt động đó và chúng chính là các thành tố trong cấu trúc của NLSP Ông khẳng định: NL là một tổ hợp đặc điểm tâm lý của một con người (còn gọi là tổ hợp thuộc tính tâm lý của một nhân cách), tổ hợp này vận hành theo mục đích, tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy NL là những đặc điểm tâm lý cá biệt tạo thành điều kiện, quy định tốc độ, chiều sâu, cường độ của việc tác động của con người vào đối tượng lao động, nghĩa là quy định chất lượng của hoạt động
Phạm Minh Hạc cũng chỉ ra mối quan hệ giữa NL và tri thức, KN, kỹ xảo Theo ông: tri thức, KN, kỹ xảo là chất liệu để tạo thành NL tương ứng Không có tri thức, KN, kỹ xảo thì không có NL, tuy chúng không đồng nhất với nhau
Nhóm tác giả Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Hữu Dũng chia NLSP thành các nhóm: nhóm NL chẩn đoán, nhóm NL đáp ứng, nhóm NL đánh giá, nhóm
NL thiết lập mối quan hệ với người khác, nhóm NL triển khai chương trình dạy học, nhóm NL đáp ứng trách nhiệm với xã hội Tuy nhiên, các tác giả này chưa chỉ ra mỗi nhóm NL kể trên gồm những NL cụ thể nào, cấu trúc của từng NL ra sao
Theo Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Xuân Thức thì năng lực là một thành tố cấu tạo nên nhân cách NL là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả NL của mỗi người không ai giống ai, không bao giờ lặp lại cả về số lượng và chất lượng Các tác giả này
đã chia ra 3 mức độ biểu hiện của năng lực là năng lực, tài năng và thiên tài
Các tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Xuân Thức và Đinh Văn Vang cho rằng giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo quan hệ chặt chẽ với nhau Cùng với năng lực thì tri thức, KN, kỹ xảo thích hợp cũng rất cần thiết cho việc thực hiện có kết quả một hoạt động Có tri
Trang 20thức, KN, kỹ xảo trong một lĩnh vực nào đó là điều kiện cần thiết để có NL trong lĩnh vực này Ngược lại, NL góp phần làm cho việc tiếp thu tri thức, hình thành KN, kỹ xảo tương ứng với lĩnh vực của NL được nhanh chóng và
dễ dàng hơn
Trần Bá Hoành định nghĩa: NL người giáo viên là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học/giáo dục với chất lượng cao Kỹ năng có tính cụ thể, riêng lẻ NL có tính tổng hợp, khái quát Kỹ năng và NL đều là sản phẩm của quá trình đào tạo, rèn luyện Kỹ năng đạt đến mức thành thạo thì thành kỹ xảo NL đạt đến mức cao được xem là tinh thông nghề nghiệp Trần Bá Hoành khẳng định, lao động sư phạm mang tính sáng tạo Mỗi GV phải biết lựa chọn, vận dụng phối hợp các KN thích hợp để hoàn thành mỗi nhiệm vụ dạy học/giáo dục xác định trong hoàn cảnh xác định mới có thể thành công
Có thể xác định các NL của GV gồm: NL chẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng DH/GD, năng lực thiết kế hoạt động DH/GD, năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch DH/GD, năng lực giám sát, đánh giá kết quả các hoạt động DH/GD, năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn DH/GD Ngày nay, thầy giáo có uy tín phải là người có đức và có tài, có năng lực hành động; uy tín của người thầy thì dù ở thời đại nào cũng là đòi hỏi cao nhất của của sự nghiệp “trồng người” Chỉ có nhà giáo dục có uy tín mới thực
sự xứng đáng với sự tin yêu, kính trọng của xã hội, của các thế hệ học trò Năng lực của giáo viên là điều kiện tiên quyết để phát triển năng lực học sinh Qua nghiên cứu một số luận văn thạc sỹ trong nước chưa thấy tác giả nào
đi sâu nghiên cứu về QLHĐHT của học sinh THPT Từ thực tiễn giáo dục và tiếp xúc nhiều đối tượng học sinh THPT, người viết nhận thấy trong công tác quản lý, giáo dục và công tác giảng dạy của các nhà trường cũng còn nhiều tồn tại thiếu sót Từ những tiếp thu lý luận về giáo dục, quản lý giáo dục, quản
lý nhà trường, kết hợp với học tập kinh nghiệm quản lý của các đơn vị khác, chúng tôi quyết định thực hiện một số giải pháp về quản lý hoạt động học tập bước đầu đã có kết quả khả quan Vấn đề quản lý quá trình sư phạm, dạy học,
Trang 21quản lý hoạt động dạy học đã có nhiều luận văn và luận án khoa học giáo dục nghiên cứu
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý và chức năng của quản lý
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng (NXB Giáo dục, 1998) thuật ngữ
quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị,
cơ quan” Các nhà nghiên cứu từ các góc độ tiếp cận khác nhau đã đưa ra các
khái niệm khác nhau:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nói chung
là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”[26,tr.24]
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là quá trình điều khiển của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã định
Theo quan điểm kinh tế học: Quản lý là sự tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến" [16]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức”
[22]
Theo TS.Nguyễn Quốc Chí và PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì:
“Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [8]
- Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm
bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà
Trang 22trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là mét khoa học”[30]
- Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: “Quản lý là phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa cơ cấu sớm đạt mục tiêu”[20]
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như:
W.Taylor (1856-1951) người Mỹ: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và
rẻ nhất”
A Fayol (1841-1925) người Pháp: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích,
cố gắng sử dụng tốt khái niệm nêu trên, ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của quản lý: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý (gọi tắt là đối tượng quản lý), khách thể quản lý và mục tiêu quản lý” Bốn yếu tố này tạo thành sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 - Sơ đồ khái niệm quản lý [8]
Ngày nay thuật ngữ quản lý được dùng khá phổ biến, nhưng chưa có định nghĩa thống nhất Nhiều người cho rằng: Quản lý chính là do một hoặc nhiều người điều phối hành động của người khác nhằm thu được kết quả mong muốn Quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật Quản lý là một khoa học vì nó là hoạt động dựa trên những tri thức khoa học được hệ thống
lý
Môi trường quản
lý
Mục tiêu quản lý
Phương pháp QL
Phương pháp QL
Trang 23hoá, chủ thể quản lý vận dụng các quy luật để giải quyết những vấn đề thực tiễn [24]
"Quản lý là một nghệ thuật vì đây là hoạt động đặc biệt, hoạt động này đòi hỏi phải được vận dụng một cách khéo léo, linh hoạt vào những tình huống rất đa dạng, trong những điều kiện không gian thời gian, hoàn cảnh, đặc điểm khác nhau" [11]
Từ những cơ sở trên, khái niệm quản lý có thể được hiểu một cách khái quát như sau:
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể lên khách thể bằng việc vận dụng những tri thức, kỹ năng nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng và cơ hội của hệ thống tổ chức đạt được mục tiêu dự kiến
Về chức năng quản lý: Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá của hoạt động quản lý Nó tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để đạt được mục tiêu quản lý đề ra
Có nhiều cách phân chia chức năng quản lý, song về cơ bản đều thống nhất có bốn chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
* Chức năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên và cơ bản nhất giúp cho nhà quản
lý tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý và khoa học Trên cơ sở phân tích trạng thái xuất phát, căn cứ vào những tiềm năng đã có, những khả năng sẽ có trong tương lai mà xác định rõ hệ thống các mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của tổ chức Lập kế hoạch bao gồm ba nội dung chủ yếu sau:
- Dự đoán, dự báo nhu cầu phát triển
- Chuẩn đoán, đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức
- Xác định những mục tiêu, biện pháp và phương tiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đề ra
* Chức năng tổ chức
Trang 24Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực để hiện thực hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học những con người, những công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần Công tác tổ chức gồm ba nhiệm vụ chính dưới đây:
- Xác định cấu trúc của bộ máy
- Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy
- Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức
* Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động, ảnh hưởng qua lại của chủ thể quản lý đến hành vi và thái độ của những thành viên trong tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
- Chỉ huy, ra lệnh
- Động viên, khen thưởng
- Theo dõi, giám sát
- Uốn nắn và điều chỉnh
* Chức năng kiểm tra
Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý nhằm đánh giá trạng thái của họ, xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch
đã đạt được ở mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót, lệch lạc tìm ra nguyên nhân của những sai sót, những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, điều chỉnh và tạo thông tin cho quá trình quản lý tiếp theo
Bốn chức năng quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý Chu trình quản lý gồm 4 giai đoạn với sự tham gia của
2 yếu tố quan trọng: Thông tin và quyết định trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lý Chức năng kiểm tra đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động quản lý đồng thời là tiền đề của một quá trình quản
lý tiếp theo Chu trình quản lý được thể hiện ở sơ đồ dưới đây:
Trang 25Lập kế hoạch
Kiểm tra Thông tin Tổ chức
* Khái niệm về giáo dục
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội
Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo dục về mặt chính trị văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng
Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra [28,tr.8]
Tác giả Đỗ Ngọc Đạt cho rằng: “QLGD là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục, sử dụng tốt nhất tiềm năng và điều kiện nhằm đạt được mục tiêu quản lý
đã đề ra theo đúng luật định và thông lệ” [22, tr.8]
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống các tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm
Trang 26làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, và tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [11]
Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục Ở tầm vĩ mô là quản lý nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ GD-ĐT,
Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT; Ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng của các trường phổ thông Phải có hệ thống tác động quản lý theo nội dung, chương trình kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể Phải có một lực lượng đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật tương ứng Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, bởi vậy cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng phục vụ tốt công tác giáo dục
Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý quan trọng nhất, đồng thời là chủ thể trực tiếp quản lý quá trình giáo dục
Tóm lại: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của
nhà quản lý giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung
nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra
1.2.3 Quản lý nhà trường
Trường học là đơn vị cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân; là nơi diễn ra các hoạt động giáo dục đối với tập thể học sinh, sinh viên Quản lý trường học là một bộ phận của QLGD Nhà trường là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách, đường lối giáo dục, phương pháp, nguyên tắc, nguyên lý giáo dục trong phạm vi trách nhiệm của mình nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục - đào tạo được quy định cho từng cấp học, ngành học [29]
Trang 27Quản lý nhà trường là QL HĐGD của giáo viên, QL HĐHT của học sinh, quản lý nhân sự, quản lý học sinh, quản lý CSVC thiết bị, điều kiện phục vụ hoạt động dạy và học Theo Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh
Hạc:“Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục của Đảng để tiến tới mục đích giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”
[16, tr.71]
Tóm lại, quản lý nhà trường là một bộ phận của QLGD Quản lý nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm khoa học và có tính định hướng của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng Người quản lý nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn
1.2.4 Hoạt động dạy học
Dạy học là một quá trình sư phạm, với nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt do nhà trường tổ chức, giáo viên thực hiện nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách Dạy học
là con đường cơ bản để thực hiện mục đích giáo dục xã hội Học tập là cơ hội quan trọng nhất giúp mỗi cá nhân phát triển và thành đạt trong xã hội
Dạy học là một quá trình toàn vẹn có sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học Đó là quá trình vận động
và phát triển của các thành tố tạo nên hoạt động dạy học Hiệu quả của hoạt động dạy học phụ thuộc vào mối quan hệ tương tác, sự hỗ trợ của hoạt động dạy và hoạt động học, hoạt động dạy học “là một quá trình bộ phận, một phương tiện trao đổi học vấn, phát triển năng lực và giáo dục phẩm
Trang 28chất nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng nhận thức và thực hành” Nói cách khác, hoạt động dạy học
là quá trình vận động kết hợp giữa hai hoạt động dạy và học nhằm đạt được nhiệm vụ của dạy học
Hoạt động dạy học là một hệ thống toàn vẹn bao gồm các thành tố cơ bản: Mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, người dạy, người học Các thành tố này tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau để thực hiện nhiệm vụ dạy học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
Hoạt động dạy học gắn liền với hoạt động giáo dục Cả hai hoạt động này đều hướng tới một mục tiêu chung là phát triển toàn diện nhân cách người học
Nói tóm lại, hoạt động dạy học là quá trình mà trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người giáo viên làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
Bản chất của hoạt động dạy học thể hiện tính thống nhất của hoạt động dạy và hoạt động học, sự thống nhất biện chứng giữa các thành tố của hoạt động dạy học trong quá trình triển khai hoạt động dạy học
V.I Lênin đã khái quát quá trình nhận thức của loài người: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu trượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn,
đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”
Hoạt động dạy học là một hệ thống toàn vẹn mà các thành tố của nó luôn luôn tương tác với nhau theo những quy định riêng, thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau để tạo nên sự thống nhất biện chứng: giữa dạy và học, giữa truyền đạt và lĩnh hội, giữa điều khiển và tự điều khiển trong quá trình dạy học
Trang 29Dạy và học là hệ thống hoạt động thống nhất biện chứng còn bởi sự quy định lẫn nhau của các hoạt động này cả về nội dung lẫn hình thức Dạy học là một quá trình cộng tác, tương tác giữa thầy và trò Chủ thể hoạt động dạy là giáo viên, chủ thể hoạt động học là học sinh Quá trình vận động tích cực, sáng tạo của chủ thể này làm cho họ phát triển, hoàn thiện mình hơn cả về phẩm chất lẫn năng lực Trong đó hoạt động dạy của thầy
và trò phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp phát huy tối đa khả năng sáng tạo của người học giúp họ trưởng thành hơn trong hoạt động đó
1.2.4.1 Hoạt động dạy
Theo tác giả Lê Văn Hồng thì “Hoạt động dạy là sự tổ chức, điều khiển, tối ưu quá trình học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành và phát triển nhân cách của mình Ở đây, thầy giáo là chủ thể của hoạt động dạy theo phương thức nhà trường với nội dung dạy học quy định trong chương trình, giúp học sinh lĩnh hội nền văn hoá xã hội, phát triển tâm lý thông qua tái tạo nền văn hoá đó, hình thành kỹ năng, thái độ” [13 ,tr.20]
Như vậy hoạt động dạy thực chất chính là việc tổ chức hoạt động học; nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của người giáo viên ảnh hưởng rất lớn đến phương pháp và kết quả học tập của học sinh Hoạt động dạy giúp học sinh tiếp thu tri thức mới và qua học tập học sinh hình thành phương pháp tư duy, kỹ năng và thái độ
1.2.4.2 Hoạt động học
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc thì “Học là khái niệm dùng để chỉ việc học theo phương thức thường ngày, còn hoạt động học là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức đặc thù (phương thức nhà trường), nhằm lĩnh hội các hiểu biết mới, kỹ năng, kỹ xảo mới”[14 ,tr62]
Theo Lê Văn Hồng “Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị” [14, tr.82]
Trang 30Như vậy có thể nói hoạt động học là hoạt động bằng chính khối óc và
cơ bắp, nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành nên những giá trị, những kinh nghiệm và phương thức hoạt động tạo nên sự phát triển cho bản thân người học bằng một phương thức nhất định
1.2.5 Năng lực
1.2.5.1 Khái niệm năng lực, phát triển năng lực
Năng lực là khả năng thực hiện công việc một cách hiệu quả , đáp ứng yêu cầu có tính thách thức (Competence is the ability to perform in work roles
or jobs to the standard required in employment (Field & Drysdale, 1991)
Mô ̣t người có năng lực (trong mô ̣t hoàn cảnh cu ̣ thể ) là người có phẩm chất cá nhân tốt, có khả năng vận dụng tri thức , kỹ năng và lựa chọn các giải pháp tối ưu để xử lí các công việc đạt được yêu cầu cao (A competent person
is, within a certain context (situation) able/capable ,The possession of certain attributes (knowledge, skills, attitudes),to choose from a set of available behaviours and to execute suitable behaviours in order to reach a certain goal (Kirschner, Van Vilsteren, Hummel, & Wigman, 1997)
Năng lực gắn với phẩm chất cá nhân vượt trô ̣i ; Năng lực gắ n với tri thức, kỹ năng và tính sáng tạo ; Năng lực nhâ ̣n diê ̣n ở khả năng thực hiê ̣n các nhiê ̣m vu ̣ có tính thách thức và gắn với t hành quả công việc cụ thể (Mulder, 2001)
"Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao" (Từ điển Tiếng Việt)
"Năng lực là đặc điểm cá nhân thể hiện độ thông thạo, thể hiện sự thành thực chắc chắn một hay một số hoạt động nào đó Năng lực gắn với phẩm chất, trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ cá nhân Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu song không phải là bẩm sinh mà là kết quả của phát triển xã hội"(Bách khoa toàn thư VN)
Trang 31Theo đề án đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm
2015 đã nêu rõ: Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và
có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm
chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó Năng lực không chỉ có kiến thức, kỹ năng, thái độ mà nó còn được thể hiện quả kết quả hoạt động
Nói tóm lại khái niệm năng lực có thể hiểu như sau: “Năng lực là những khả năng cá nhân được hình thành trên nền tảng hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ của cá nhân và khả năng tích hợp khai thác và vận dụng nền tảng này để giải quyết hoặc triển khai thực hiện thành công và hiệu quả những nhiệm vụ hoặc những vấn đề đặt ra cho mỗi cá nhân”
Như thế NL được hình thành và hoàn thiện trong hoạt động (học tập, lao động nghề nghiệp) NL có mối quan hệ biện chứng với tri thức, KN, kĩ xảo Có kiến thức, KN, kĩ xảo trong một hoạt động nào đó là điều kiện để phát triển NL trong lĩnh vực ấy Ngược lại, NL thúc đẩy quá trình nắm tri thức, KN, kĩ xảo diễn ra dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn Nói chung, NL là khái niệm biểu đạt khả năng và mức độ hoàn thành một hoạt động hoặc một nhóm hoạt động có mục đích của một cá nhân hoặc một tổ chức với một thời gian nhất định trong môi trường biến đổi NL là một đặc trưng cá thể, một tiêu chí phân biệt cá nhân này với cá nhân khác trong cùng hoạt động Hiệu quả cuối cùng của một hoạt động có thể như nhau, nhưng NL mỗi người có biểu hiện sinh động làm nên sắc thái riêng biệt, tạo nên dấu ấn riêng, thể hiện bản lĩnh cá nhân Xét cho cùng, không có một NL nào của cá nhân lại không thể hiện trong một hoạt động thích hợp nào đó Sự hình thành, phát triển và việc đánh giá NL gắn liền với hoạt động sống đa dạng của mỗi cá nhân NL là một yếu tố tiềm ẩn, chỉ có thể biểu hiện thông qua hệ thống KN cụ thể của cá
Trang 32nhân Trong quá trình phát triển năng lực, kỹ năng có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng Cùng với tri thức (hiểu biết) và thái độ, phát triển kỹ năng là điểm xuyên suốt, có tác dụng quyết định đến việc hình thành năng lực Việc nắm vững và thực hành kỹ năng là quá trình vận dụng và đào sâu tri thức, hình thành thái độ làm việc tích cực trong thực tế Đồng thời, sự thống nhất giữa phẩm chất và NL của người giáo viên được thể hiện bằng hệ thống KN sư phạm - đó là những việc làm cụ thể, những hành động sư phạm cần thiết để đánh giá GV và SV sư phạm Cũng có quan điểm “NL được tính bằng hiệu quả của hoạt động Không đạt được hiệu quả cao trong hoạt động thì không gọi là có NL” Quá trình hình thành năng lực nói chung và kỹ năng nghề nghiệp nói riêng là một quá trình lâu dài cần được thực hiện xuyên suốt từ khâu đào tạo GV trong các trường sư phạm và tiếp tục trong công tác bồi dưỡng GV ở các nhà trường
1.2.5.2 Tiếp cận phát triển năng lực học sinh
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực cho người học, nghĩa
là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học Để đảm bảo điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang cách dạy học vận dụng kiến thức và rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục Để thực hiện được chủ trương trên cần:
Các cơ sở giáo dục và đào tạo chuẩn bị tốt cho việc triển khai chương trình và sách giáo khoa phổ thông mới với nhiều yêu cầu trong đó nhấn mạnh
Trang 33đổi mới dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh
Các cơ sở giáo dục và đào tạo chỉ đạo các trường thực hiện các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học thông qua tổ chức các hội thảo, các lớp bồi dưỡng, tập huấn về phương pháp dạy học, đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo cụm chuyên môn, cụm trường; tổ chức hội thi giáo viên giỏi các cấp, động viên khen thưởng các đơn vị, cá nhân có thành tích trong hoạt động đổi mới phương pháp dạy học và các hoạt động hỗ trợ chuyên môn khác
Triển khai việc "Đổi mới sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học" đây là hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướng lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm, ở đó, giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến việc học như: học như thế nào? học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? Nội dung và phương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không, kết quả học tập của học sinh có được cải thiện không? cần điều chỉnh như thế nào?
Khi dạy và học tiếp cận được phát triển năng lực học sinh không những chú trọng về hoạt động trí tuệ mà còn chú trọng rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn
HĐH là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính bản thân mình
HĐH là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức nhằm tiếp thu
kỹ năng, kỹ xảo
Trang 34HĐH không chỉ hướng vào việc tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới mà còn hướng vào việc tiếp thu cả những tri thức của chính bản thân hoạt động, nói cách khác là tiếp thu các phương pháp giành tri thức đó (cách học) [14,tr.83]
1.3.1.1 Nhiệm vụ học tập
Đối với học sinh, mục đích thiết yếu là chiếm lĩnh đối tượng của HĐH (gọi tắt là đối tượng học tập) Trong thực tiễn giáo dục, đối tượng học tập phải được cụ thể hoá thành hệ thống các mục đích bộ phận Học sinh phải vươn tới từng mục đích bộ phận này bằng cách thực hiện từng nhiệm vụ học tập tương ứng do người dạy giao cho Bởi vậy, việc tổ chức cho học sinh chiếm lĩnh đối tượng, trong thực tiễn giáo dục diễn ra dưới hình thức tổ chức cho các em thực hiện một hệ thống nhiệm vụ học tập Sự sắp xếp các nhiệm vụ học tập phải làm thành một hệ thống có tính phát triển Do đó cũng có thể nói, thầy giáo tổ chức quá trình phát triển của học sinh bằng cách lập ra và tổ chức cho các em thực hiện một hệ thống nhiệm vụ học tập [17, tr.70]
1.3.1.2 Phương tiện học tập
Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc thì trong hoạt động học, học sinh phải tự tạo cho chính mình phương tiện thực hiện, không thể chỉ dùng những phương tiện đã có do một quá trình khác ngoài quá trình học tập tạo ra (giấy, bút, …) Tính chất đặc thù của hoạt động học là ở chỗ: mọi yếu tố của nó đang được hình thành bởi chính nó Phương tiện hoạt động học cũng vậy, nó không có sẵn trong tâm lý chủ thể, mà được hình thành chính trong quá trình diễn ra hoạt động này Phương tiện chủ yếu của hoạt động học trước hết là các hành động học tập Phương tiện này được học sinh tự hình thành trong quá trình diễn ra hoạt động học tập [17, tr.74]
1.3.1.3 Những điều kiện của hoạt động học
Hoạt động học bao giờ cũng diễn ra trong điều kiện chỉ đạo về mặt sư phạm của hoạt động dạy Chất lượng và hiệu quả của hoạt động học chủ yếu phụ thuộc vào nội dung và tính chất hoạt động dạy Nhà trường phải đổi mới
Trang 35cả nội dung lẫn phương pháp, đổi mới mối quan hệ thầy - trò trong quá trình dạy và học
Vì vậy để đảm bảo cho hoạt động học đạt được kết quả cao thì phải có mối liên hệ hợp tác và trao đổi giữa những người cùng học dưới sự chỉ đạo và
tổ chức của thầy, trong giao lưu, trong tập thể [17, tr.76]
Chúng tôi thấy rằng nội dung bài học và hình thức trình bày cùng với phương pháp dạy học tích cực, hợp tác, giao lưu có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả của hoạt động học; điều này giúp học sinh có động lực học, nắm vững kiến thức và rèn luyện nhiều kỹ năng
1.3.2 Hình thành hành động học
1.3.2.1 Hình thành động cơ học tập cho học sinh
Khi nói đến hoạt động thì phải có động cơ của nó, động cơ tâm lý không phải đơn thuần ở bên trong cá thể Nó phải được vật thể hóa ở đối tượng của hoạt động Nghĩa là động cơ phải mang một hình thức tồn tại vật chất hiện thực ở bên ngoài Với nghĩa đó, đối tượng của hoạt động chính cũng
là nơi hiện thân của động cơ hoạt động ấy Động cơ học tập của học sinh được hiện thân ở những tri thức, kỹ năng, thái độ…(đối tượng của các hoạt động học) mà giáo dục nhà trường sẽ đưa lại cho các em Động cơ học tập, biểu hiện ra ngoài ở lòng khao khát đối với tri thức, muốn hiểu biết nhiều hơn những điều mới lạ Nhà trường nên làm cho tri thức, kỹ năng, thái độ trở nên thiết thân đối với học sinh, các em yêu thích môn học, say mê hứng thú học tập [27]
Động cơ học tập không có sẵn, cũng không thể áp đặt từ ngoài, mà phải được hình thành dần dần chính trong quá trình đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập của học sinh, dưới sự hướng dẫn, tổ chức của thầy Vì vậy, người thầy cần tổ chức cho học sinh tự phát hiện những điều mới lạ (cả nội dung tri thức lẫn phương pháp giành lấy tri thức đó) Các em từng bước giải quyết thành công nhiệm vụ học tập sẽ tạo hứng thú say mê với tri thức và chính hoạt động học tập Học tập dần dần trở thành một nhu cầu không thể thiếu của chính học
Trang 36sinh Nó tạo nên sức mạnh tinh thần thường xuyên thúc đẩy các em vượt qua khó khăn để học tập với sự tự nguyện, say mê, hứng thú [13, tr.78,79,80,81]
Để tạo động cơ học tập cần phối hợp giáo dục động cơ học tập và tổ chức dạy học cho học sinh dựa trên cơ sở tâm lý về động cơ, lý luận giáo dục
và hoạt động dạy học
1.3.2.2 Hình thành mục đích học tập
Giáo sư Phạm Minh Hạc đề cập đến mục đích học tập như sau: Muốn cho HĐHT thực hiện được động cơ của nó, trước hết động cơ của hoạt động này phải được cụ thể hoá thành hệ thống các khái niệm của môn học ấy Thông qua hành động học tập, học sinh chiếm lĩnh từng mục đích bộ phận riêng lẻ, dần dần chiếm lĩnh toàn bộ đối tượng Bản chất của HĐHT là hoạt động chuyển hướng vào làm thay đổi chính chủ thể của nó Sự thay đổi này biểu hiện ở sự thay đổi mức độ làm chủ những khái niệm, những giá trị, những chuẩn mực, những quy luật và những phương thức hành vi phù hợp với chúng Chính những cái đó làm thành nội dung của mục đích học tập [12, tr.82, 83, 84]
Như vậy, trong quá trình học tập của học sinh thì từng bước các em làm chủ những tri thức khoa học và từ đó làm cơ sở để tiếp thu những khái niệm mới, có phương pháp nhận thức và phát triển tư duy Qua học tập, từng đơn vị kiến thức ở các bộ môn dưới sự ảnh hưởng của người thầy, học sinh được hình thành những giá trị, chuẩn mực và hành vi Như vậy thông qua dạy chữ
để dạy người và thông qua hoạt động học các em được phát triển nhân cách toàn diện
1.3.2.3 Hình thành các hành động học tập
Đối tượng của HĐHT cần phải được cụ thể hoá thành hệ thống nhiệm
vụ mà học sinh sẽ thực hiện thông qua những hành động học tập Người giáo viên trong quá trình giảng dạy cần đề ra hệ thống nhiệm vụ học tập theo một trình tự logic, học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập này làm cơ sở để giải quyết nhiệm vụ tiếp theo Do đó học sinh phải cố gắng nắm vững kiến thức
Trang 37những nội dung đã học mới tiếp thu và giải quyết nhiệm vụ học tập kế tiếp Người giáo viên phải thường xuyên kiểm tra việc học bài và làm bài của học sinh, kịp thời củng cố những kiến thức cho học sinh, nhất là học sinh yếu
Việc giảng dạy trên lớp, người giáo viên phải tổ chức được các hành động học tập cho học sinh, chính học sinh tiến hành các hành động học tập mới tạo nên sự phát triển trong tâm lý học sinh Các hành động học tập ở nhà của học sinh vô cùng quan trọng, giúp các em nắm vững nội dung học tập, rèn luyện tư duy, kỹ năng Chính vì vậy, việc quản lý kiểm tra HĐHT ở nhà của học sinh là rất quan trọng, giáo viên phải đề ra nhiệm vụ học tập phù hợp, đảm bảo tính vừa sức, kích thích tạo động lực học tập ở nhà của học sinh
1.3.3 Một số quan niệm hiện nay về hoạt động dạy học trong nhà trường
Trong tài liệu bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông theo chương trình liên kết giữa Việt Nam - Singapore năm 2009 đã nêu lên một số quan niệm hiện nay về hoạt động dạy học trong nhà trường như sau:
Chuyển từ việc lấy dạy học làm trung tâm sang việc lấy học tập làm trung tâm, giáo viên hướng sự chú ý vào việc xây dựng quy trình học tập hơn chú ý vào công nghệ dạy học; họ lấy việc học tập của học sinh làm trung tâm của sự nghiệp giáo dục, tạo ra cơ hội học tập cho học sinh phù hợp với hoàn cảnh cụ thể
Lưu ý giúp đỡ học sinh để có kinh nghiệm học tập, tạo môi trường an toàn về mặt tình cảm, biên soạn nội dung học tập có thể lôi cuốn học sinh Nhà trường cần tạo dựng những nhân tố thu hút việc dạy và học, tạo không khí lớp học để các em cảm thấy được chấp nhận; cảm thấy thoải mái và tôn trọng trật tự, quy định và quy trình rõ ràng
Quan niệm về hoạt động dạy học là: Người học tự tìm kiếm kiến thức bằng hoạt động của chính mình; người học phải có năng lực tự thể hiện mình
và năng lực hợp tác, học bạn; người học phải có năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh
Trang 38Xu hướng cơ bản trong đổi mới phương pháp dạy học là quan điểm dạy học tích cực Vấn đề lãnh đạo và quản lý đổi mới phương pháp dạy học là cốt lõi của đổi mới lãnh đạo và quản lý hoạt động dạy học ở trường phổ thông, đồng thời là đòn bẩy trực tiếp để nâng cao chất lượng dạy học Với quan điểm: “học sinh làm trung tâm”, việc lãnh đạo và quản lý đổi mới phương pháp dạy học tập trung vào đổi mới cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh, làm cho học sinh tích cực hơn trong suy nghĩ, hành động, hợp tác và bày tỏ ý kiến của mình nhiều hơn”
Lãnh đạo và quản lý hoạt động dạy học tức là lãnh đạo và quản lý hoạt động dạy của giáo viên cũng như lãnh đạo và quản lý HĐHT của học sinh Tuy nhiên, việc lãnh đạo và quản lý HĐHT của học sinh là quản lý gián tiếp thông qua giáo viên Chính người giáo viên mới là người trực tiếp quản lý việc học của học sinh [1]
Như vậy, dạy học thực chất là tổ chức hoạt động học cho học sinh Việc học tập của học sinh là trung tâm của sự nghiệp giáo dục; tất cả hoạt động của nhà trường đều hướng đến tạo điều kiện tối ưu cho học tập Người học tự nỗ lực, chủ động, tích cực tìm kiếm tri thức trong sự tương tác với môi trường học tập Như vậy đổi mới phương pháp dạy học là vấn
đề quan trọng nhất để phát huy tối đa hiệu quả hoạt động học tập và nâng cao chất lượng giáo dục
1.3.4 Những hình thức hoạt động học tập của học sinh
Giáo trình giáo dục học đại cương, của Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh khái quát các hình thức học tập của học sinh ở trường trung học như sau: HĐHT có các hình thức như học tập chính khoá ở trường, tự học
ở nhà, học nhóm, hoạt động ngoại khoá, tham quan, phụ đạo
- Hình thức học tập chính khoá ở trường: Hình thức này gồm học bài mới, củng cố tri thức và rèn luyện kỹ năng, ôn tập, tiết bài tập, tiết kiểm tra
- Tự học: Tự học là hoạt động tự giác, có mục đích của cá nhân, là tự mình động não suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí trệ và có khi cả cơ bắp cùng
Trang 39các phẩm chất, động cơ, tình cảm… để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào
đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình Cốt lõi của việc học là tự học Tự học là nói đến nội lực của người học, chất lượng của học tùy thuộc vào nội lực Dù điều kiện tác động từ bên ngoài đối với hoạt động học
dù tốt đến mấy, nhưng nếu con người không có đủ nỗ lực bản thân để tự học,
tự biến đổi mình đến mức cần thiết thì không thể nào đạt được mục tiêu mong muốn [16, tr.31]
Tự học có nhiều hình thức như tự học ở lớp khi đang diễn ra quá trình dạy và học, tự học ở nhà Tự học ở nhà cũng là hình thức tự học có hướng dẫn của giáo viên Tự học ở nhà của học sinh thường là nắm vững nội dung học tập đã học trên lớp, hoàn thành bài tập, thực hiện bài thực hành hoặc chuẩn bị bài học mới
+ Hình thức học tập theo nhóm:
Hình thức học tập theo nhóm là hình thức tổ chức dạy học trong đó học sinh được chia thành từng nhóm, trao đổi thảo luận, tranh luận…với nhau về những vấn đề nhất định của nội dung tài liệu học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên [16, tr.221]
Học tập theo nhóm là sự tác động trực tiếp giữa học sinh với nhau, phối hợp cùng hoạt động Hình thức học tập theo nhóm có sự kết hợp tính tập thể
và tính cá nhân rất cao
+ Hình thức hoạt động ngoại khoá
Hoạt động ngoại khoá là một hình thức tổ chức dạy học có tính chất tự nguyện được tiến hành ngoài giờ lên lớp Mỗi học sinh có thể căn cứ vào hứng thú, nhu cầu, năng lực…của mình mà tham gia hoạt động này hay hoạt động khác Nội dung hoạt động ngoại khoá như các mặt văn hoá, khoa học, thể dục thể thao Tổ chức hoạt động ngoại khoá, dưới hình thức ngoại khoá các bộ môn văn hoá, câu lạc bộ…[16, tr.224]
+ Hình thức tham quan học tập
Trang 40Tham quan học tập là hình thức tổ chức dạy học nhằm tổ chức cho học sinh thâm nhập thực tế cuộc sống bằng cách trực tiếp quan sát và nghiên cứu những hiện tượng, sự vật trong thiên nhiên, trong cuộc sống xã hội mà rút ra những bài học cần thiết [20,tr.225]
+ Phụ đạo
Là hình thức tổ chức dạy học bằng sự giúp đỡ trực tiếp của giáo viên đối với từng học sinh Phụ đạo thường được tiến hành với hai loại đối tượng: học sinh yếu kém và học sinh giỏi Như vậy phụ đạo đồng nghĩa với dạy học cá biệt [16,tr.227]
Theo tác giả luận văn học chính khoá là hoạt động học của học sinh theo chương trình do Bộ Giáo dục quy định, do nhà nước thống nhất quản lý, được các cấp quản lý và cơ sở giáo dục linh động triển khai, tổ chức thực hiện Trong học chính khoá giáo viên trực tiếp tổ chức hoạt động học và nó có ảnh hưởng lớn đến các hình thức học tập khác Các hình thức học tập tác động qua lại và hỗ trợ nhau cùng quy định chất lượng học tập và trong học chính khoá
có hình thức học nhóm, tự học và phụ đạo
1.4 Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT
1.4.1 Nhiệm vụ quyền hạn của Hiệu trưởng và của giáo viên THPT
1.4.1.1 Nhiệm vụ quyền hạn của Hiệu trưởng
Theo Điều lệ trường trung học, Hiệu trưởng có quyền hạn sau đây:
- Xây dựng tổ chức bộ máy nhà trường;
- Thực hiện các nghị quyết của Hội đồng trường;
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
- Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước, quản lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên;
- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận