1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông tỉnh nam định

115 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GD KNS cho HS phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Đội ngũ và năng lực giáo dục của giáo viên GV , nội dung chương trình dạy học, giáo dục của nhà trường, tính tích cực chủ động của HS khi tham g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

HOÀNG THỊ NGỌC BÍCH

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN

GIẢNG DẠY KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

HOÀNG THỊ NGỌC BÍCH

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN

GIẢNG DẠY KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Tính

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên với những tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Hội đồng đào tạo, Hội đồng khoa học thạc sỹ chuyên ngành “Quản lý giáo dục”, đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường ĐHGD

- ĐHQGHN đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị cho tôi hệ thống tri thức rất quý báu về khoa học quản lý giáo dục, những phương pháp nghiên cứu khoa học

và các điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Giáo dục, khoa sau đại học Đại học Giáo dục, Sở giáo dục đào tạo Nam Định ,các ban lãnh đạo,các đoàn thể, chuyên gia sư phạm, các giáo viên cốt cán , các bạn đồng nghiệp, các bậc cha mẹ học sinh và các em học sinh tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên Nghĩa Tân, trường THPT Ngô Quyền , THPT B Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới T.S Trần Văn Tính – người thầy đã trực tiếp tận tình dạy bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin cảm ơn sự tạo điều kiện của gia đình, bạn bè ủng hộ tôi hoàn thành khóa học và luận văn này

Mặc dù cũng có nhiều cố gắng, nhưng trong luận văn này cũng khó tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết Kính mong quý thầy cô, anh chị, bạn bè đồng nghiệp quan tâm góp ý để luận văn được hoàn thiện tốt hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Tác giả

Hoàng Thị Ngọc Bích

Trang 4

GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN GIẢNG DẠY KNS CHO HỌC SINH THPT 5

1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Những nghiên cứu về giáo dục KNS 5

1.1.2 Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên 9

1.1.3 Sơ lược về công tác bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên giảng dạy KNS cho học sinh THPT 14

1.2 Các khái niệm cơ bản 17

1.2.1 Khái niệm quản lý 17

1.2.2 Khái niệm về kỹ năng, kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống 23

1.2.3 Khái niệm về ĐNGV, ĐNGV THPT, ĐNGV cốt cán 29

1.2.4 Khái niệm về phát triển, phát triển đội ngũ, phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán, phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS 31

1.3 Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy kỹ năng sống cho học sinh 33

1.3.1 Chương trình bồi dưỡng đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS của trường ĐHGD – ĐHQG HN 33

3 Về thái độ 35

1.3.2 Kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh trong các nhà trường 36

1.3.3 Ý nghĩa việc bồi dưỡng giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh 36

Trang 6

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy

KNS cho học sinh THPT 37

1.4.1 Yêu tố quản lý 37

1.4.2 Yếu tố đào tạo chuyên môn và các cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước và của ngành giáo dục và đào tạo 38

1.4.3 Yếu tố về cơ sở vật chất 38

1.4.4 Yếu tố về điều kiện xã hội 39

1.4.5 Yếu tố về giáo dục ( chương trình giáo dục phổ thông mới) 39

1.4.6 Yếu tố về nhận thức của chính đội ngũ làm giáo viên cốt cán 40

1.4.7 Uy tín, thương hiệu của cơ sở giáo dục 41

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 42

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN GIẢNG DẠY KNS CHO HỌC SINH THPT TỈNH NAM ĐỊNH 43

2.1 Sơ lược tình hình quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định 43

2.1.1 Vài nét về vị trí địa lý, tình hình kinh tế chính trị tỉnh Nam Định 43

2.1.2 Những nét nổi bật về giáo dục và giáo dục THPT tỉnh Nam Định 45

2.1.3 Tình hình chung về giáo dục KNS cho học sinh THPT tỉnh Nam Định và ĐNGV cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh phổ thông 46

2.2 Giới thiệu khảo sát 47

2.2.1 Mục đích khảo sát 47

2.2.2 Nội dung khảo sát 47

2.2.3 Phương pháp khảo sát 47

2.2.4 Đối tượng khảo sát 47

2.3 Thực trạng về công tác bồi dưỡng và phát triển ĐNGV giảng dạy KNS cho học sinh THPT tỉnh Nam Định 48

2.3.1 Nhận thức của chính ĐNGV THPT về giáo dục KNS cho học sinh và công tác phát triển ĐNGV cốt cán 48

Trang 7

2.3.2 Thực trạng bồi dưỡng ĐNGV cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh

THPT tại tỉnh Nam Định 51

2.3.3 Thực trạng nhu cầu bồi dưỡng giảng dạy KNS cho học sinh của GV 60

2.3.4 Thực trạng triển khai GD KNS cho HS và công tác phát triển ĐNGV cốt cán giảng dạy KNS 65

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 69

CHƯƠNG 3 : BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN GIẢNG DẠY KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH THPT TỈNH NAM ĐỊNH 71

3.1 Các nguyên tắc lựa chọn biện pháp 71

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống 71

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp giữa lý luận và thực tiễn 71

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 72

3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi và hiệu quả 72

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính nhất quán 73

3.2 Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh THPT tỉnh Nam Định 73

3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống và công tác phát triển ĐNGV cốt cán cho cán bộ, giáo viên 73

3.2.2 Tăng cường tổ chức các hoạt động thực tiễn để ĐNGV cốt cán thực nghiệm giảng dạy 75

3.2.3 Tổ chức tuyển chọn giáo viên cốt cán giảng dạy kĩ năng sốngcho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định 76

3.2.4 Tổ chức bồi dưỡng ban đầu và thường xuyên về GD KNS cho ĐNGV cốt cán sau khi tuyển chọn 79

3.2.5 Xây dựng quy hoạch phát triển ĐNGV THPT giảng dạy KNS sau năm 2018 82

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92

Trang 8

1 Kết luận 92

2 Khuyến nghị 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 100

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Đánh giá mức độ tự tin của GV về KN của chính họ 48

Bảng 2 2 Đánh giá của cán bộ, GV về đối tượng giáo dục KNS cho học sinh 49

Bảng 2.3 Tự đánh giá c ủa Hiê ̣u trưởng, GĐ TTGDTX về đối tượng giáo dục KNS cho học sinh 50

Bảng 2.4 Mức độ triển khai các nội dung giảng dạy các GTS và KNS cho HS trong quá trình giảng dạy 56

Bảng 2.5 Mức độ các khó khăn khi tiến hành hoạt động giảng dạy giáo dục 58 KNS cho học sinh 58

Bảng 2 6 a Nhu cầu về hình thức bồi dưỡng nâng cao về hoạt động giảng dạy GTS và KNS cho học sinh 60

Bảng 2.6 b Nhu cầu về nội dung bồi dưỡng nâng cao về hoạt động giảng dạy GTS và KNS cho học sinh 61

Bảng 2.7 Thực trạng nhu cầu bồi dưỡng về giảng dạy KNS cho học sinh của GV 63

Bảng 3.1 Đối tượng khảo nghiệm 86

Bảng 3.2 Tổng hợp khảo sát về mức độ cần thiết 87

Bảng 3.3 Tổng hợp khảo sát về mức độ khả thi 88

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội hiện đại có những thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội

và lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa gặp phải, chưa ứng phó, đương đầu hoặc có những vấn đề đã xuất hiện trước đây nhưng nó chưa phức tạp, khó khăn và đầy thách thức như trong

xã hội hiện đại nên con người dễ hành động theo cảm tính và không tránh khỏi rủi ro Con người muốn tồn tại được, sống được phải trang bị kỹ năng sống (KNS) để giúp con người có thể giải quyết được những khó khăn thách thức của cuộc sống Nói cách khác, mỗi con người ngày nay muốn đến được bến bờ thành công và hạnh phúc trong cuộc đời cần phải có một cách sống hay nói một cách khác là có một số kiến thức nhất định về các vấn đề của cuộc sống mà người ta thường gọi là KNS để đáp ứng những thách thức và thời cơ trong quá trình toàn cầu hoá mà mục đích chính là nâng cao chất lượng cuộc sống

Giáo dục kỹ năng sống (GD KNS) cho học sinh (HS) là một trong những nhiệm vụ quan trọng để giáo dục toàn diện trong nhà trường nhằm giúp HS có khả năng thích ứng với yêu cầu luôn thay đổi của nhà trường và của xã hội cũng như môi trường xung quanh GD KNS cho HS phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Đội ngũ và năng lực giáo dục của giáo viên (GV) , nội dung chương trình dạy học, giáo dục của nhà trường, tính tích cực chủ động của HS khi tham gia các hoạt động giáo dục và tham gia vào cuộc sống trải nghiệm, môi trường giáo dục trong

và ngoài nhà trường, các biện pháp quản lý của nhà trường và của người hiệu trưởng đối với đội ngũ giáo viên giảng dạy và hoạt động giáo dục KNS

Thực tế giáo dục phổ thông đã đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên còn thiên lệch về mặt học vấn, gia đình, nhà trường chưa quan tâm nhiều đến GD KNS cho HS, do vậy hiện tượng lệch chuẩn về hành vi đạo đức, các biểu hiện thiếu văn hóa trong HS vẫn thường xuyên xảy ra, nguy cơ bạo lực học đường

có chiều hướng ngày càng gia tăng

Trang 11

Giáo dục phổ thông tỉnh Nam Định trong những năm qua luôn đạt được những thành tích đáng tự hào, luôn có nhiều sự chuyển biến, tiến bộ trong hoạt động quản lý giáo dục, chỉ tiêu đỗ tốt nghiệp, kết quả các đội tuyển học sinh giỏi các cấp , kết quả tuyển sinh… Các trường đã tiến hành lồng ghép, tích hợp GD KNS cho các em HS thông qua các hoạt động giáo dục và đã thu được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó nguyên nhân chính là KNS chưa được coi là môn học chính thức và chưa có đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh trong các nhà trường tại tỉnh Nam Định

Căn cứ vào nội dung công văn số 4938/BGDĐT- GDTX ngày 11/9/2014 của Bộ Giáo dục và đào tạo gửi các Sở giáo dục và đào tạo về việc

cử giáo viên TTGDTX tham gia lớp bồi dưỡng về giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống Ngày 24/10/2014 Sở Giáo dục và đào tạo Nam Định đã có công văn số 1322/SGDĐT – GDCN&GDTX gửi Trường ĐHGD- ĐHQG HN về việc đề nghị phối hợp bồi dưỡng về giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống Hiện nay Trường ĐHGD- ĐHQG HN đã phối hợp với Sở Giáo dục và đào tạo Nam Định đã triển khai chương trình đào tạo , bồi dưỡng cho 34 giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh trong các nhà trường trên địa bàn tỉnh Nam Định, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp giảng dạy KNS cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS trên địa bàn tỉnh Nam Định

Từ lý do đó, tác giả chọn đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên cốt

cán giảng dạy KNS cho học sinh THPT tỉnh Nam Định” với mong muốn

phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh, góp phần hoàn thiện hơn trong việc quản lý giáo dục KNS , nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trường THPT trong địa bàn tỉnh Nam Định

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về công tác phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy kỹ năng sống cho học sinh THPT, đề xuất

Trang 12

một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh THPT tỉnh Nam Định

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra như trên, đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau :

3.1 Nghiên cứu lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy kĩ năng sống cho học sinh THPT

3.2 Khảo sát thực trạng về việc phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh THPT tỉnh Nam Định

3.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán

giảng dạy KNS cho học sinh THPT tỉnh Nam Định

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4 1 Đối tượng nghiên cứu

Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh THPT

- Đội ngũ giáo viên phụ trách công tác đoàn thể và GVCN tại các

trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định năm học 2014 – 2015

6 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu đó là : Cần những biện pháp gì để

phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Nam Định?

7 Giả thuyết khoa học

Hiện nay chưa có đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh trong các trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định Vì vậy, xây dựng

Trang 13

đội ngũ giáo viên cốt cán vững chắc sẽ là nền tảng để thay đổi hoạt động giáo dục KNS cho học sinh tỉnh Nam Định và để giáo dục KNS trở thành môn học trong các nhà trường, thực tiễn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục sau năm

9 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

- Phương pháp xử lý số liệu thống kê

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh THPT

Chương 2 Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy

KNS cho học sinh THPT tỉnh Nam Định

Chương 3 Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng

dạy KNS cho học sinh THPT tỉnh Nam Định

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CỐT CÁN

GIẢNG DẠY KNS CHO HỌC SINH THPT 1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề liên quan đến luận văn đã được nghiên cứu, công bố tại các công trình trong nước và trên thế giới.Các nghiên cứu này có thể theo các vấn

đề cụ thể như sau :

1.1.1 Những nghiên cứu về giáo dục KNS

Có thể nhận định rằng trong những thập kỷ qua, vấn đề KNS đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm KNS bắt đầu xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF.Trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” (Living values) Chương trình này được UNESCO, Uỷ ban UNICEF của Tây Ban Nha và Hiệp hội hành tinh, tổ chức Brahma và các chuyên gia giáo dục UNICEF (New York) tham gia

Thuâ ̣t ngữ KNS được người Viê ̣t Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF năm 1996 “GD KNS để bảo vê ̣ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Quan niê ̣m về KNS được giới thiê ̣u trong chương trình này chỉ bao gồm những KN cốt lõi như: KN tự nhâ ̣n thức, KN giao tiếp, KN xác đi ̣nh giá tri ̣, KN ra quyết đi ̣nh nhằm vào những chủ đề giáo du ̣c sức khỏe do các chuyên gia Úc tâ ̣p huấn Tham gia chương trình này đầu tiên có ngành Giáo du ̣c và Hô ̣i Chữ thâ ̣p đỏ

Từ năm 1997 đến năm 2002, ở Lào ban đầu KNS chủ yếu được nghiên cứu trong lĩnh vực có liên quan đến giáo dục phòng chống HIV /AIDS đã được lồng ghép vào các chương trình giáo du ̣c chính quy, không chính quy và các trường Sư pha ̣m đào ta ̣o GV Về sau KNS được mở rô ̣ng ra các lĩnh vực khác như: Giáo dục dân số, giáo dục sức khỏe sinh sản , giáo dục sức khỏe và

vê ̣ sinh cá nhân , giáo dục môi trường Những KN cơ bản được giáo du ̣c là :

KN giao tiếp có hiệu quả ; KN giải quyết vấn đề ; KN tư duy sáng ta ̣o , tự phê

Trang 15

phán; KN ra quyết đi ̣nh ; KN tự nhâ ̣n thức , đă ̣t mu ̣c tiêu ; KN đương đầu với xúc cảm, stress; KN xác đi ̣nh giá tri ̣

Những kinh nghiệm và bài ho ̣c rút ra từ cá c hoa ̣t động GD KNS ở Lào là cần phải biên soa ̣n và in ấn nhiều tài liê ̣u hướng dẫn giảng da ̣y và đào ta ̣o GV, cán bộ quản lý nhà trường để mở rộng việc học tập và giảng dạy KNS ở nhà trường

Tháng 12 năm 2003 tại Bali – Indonesia đã diễn ra hô ̣i thảo về GD KNS trong giáo du ̣c không chính quy với sự tham gia của 15 nước vùng Châu Á – Thái Bình Dương Qua báo cáo của các nước cho thấy có nhiều điểm chung nhưng cũng có những nét riêng trong quan niê ̣m về GD KNS của các nước

Hội thảo Bali đã xác đi ̣nh mu ̣c tiêu của GD KNS trong giáo du ̣c không chính quy của các nước Châu Á – Thái Bình Dương là nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời ta ̣o ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuô ̣c sống

Hội thảo Bali đã đưa ra yêu cầu khi thiết kế chương trình GD K NS phải đảm bảo 3 thành tố

- KN cơ bản: Đo ̣c, viết, ghi chép, báo cáo

- KN chung: Tư duy phê phán , tư duy sáng ta ̣o , ra quyết đi ̣nh, giải quyết vấn đề

- KN cụ thể: Tạo thu nhập, tạo bình đẳng giới, bảo vệ sức khỏe

Tác giả Nguyễn Thị Oanh đã xuất bản cuốn “ KNS cho tuổi vi ̣ thành niên” (năm 2005) Cuốn sách đã đề câ ̣p đến những KN tâm lý xã hô ̣i cơ bản

và tuổi vị thành niên (Sống có mu ̣c đích , các mối quan hệ và giao tiếp , làm chủ cảm xúc và quản lý stress )

Bộ Giáo du ̣c &Đào ta ̣o phối hợp với ngành Công an và Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia đưa chương trình giảng da ̣y thí điểm và tổ chức nhiều cuô ̣c thi tìm hiểu Luâ ̣t An toàn giao thông cho t rẻ em các trường từ mẫu giáo

Trang 16

đến THPT để trang bị cho các em những kiến thức ban đầu về Luật an toàn giao thông

Đề tài cấp Bô ̣ “ Giáo dục một số KNS cho học sinh THPT ” Mã số B

2005 - 75 - 126 do bà Nguyễn Thanh Bình c hủ nhiệm đề tài và các cộng sự trường Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m Hà Nô ̣i bắt đầu triển khai nghiên cứu từ năm 2005 -

2006 Đề tài đã tiến hành điều tra nhu cầu của ho ̣c sinh THPT về những KNS cần cho lứa tuổi của các em , xây dựng cơ sở khoa ho ̣c cho viê ̣c xác đi ̣nh chương trình GD KNS cho đối tượng này và tiến hành thử nghiê ̣m mô ̣t số chủ

đề

Nghiên cứ u “GD KNS ở Viê ̣t Nam” - Trưởng nhóm là bà Nguyễn Thanh Bình, nghiên cứu tâ ̣p trung tìm hiểu quá trình nhâ ̣n thức về KNS và tổng quan của các chủ trương , chính sách , điều luâ ̣t phản ánh yêu cầu tiếp câ ̣n KNS trong giáo du ̣c và GD KNS ở Viê ̣t Nam từ trẻ Mầm non đến người lớn thông qua giáo du ̣c chính quy và giáo du ̣c thường xuyên

UNICEF đã hỗ trợ XD tài liệu GD KNS cho HS tiểu học miền núi bao gồm những nội dung bổ trợ như giáo dục KN an toàn giúp các em biết phòng tránh hoặc xử lý những tai nạn về sông nước, điện giật, sét đánh giáo dục trẻ

em gái ở miền núi với các KN tự nhận biết mình thuộc giới nào, giữ vẻ đẹp con gái, biết về tuổi dậy thì

Bài viết của tác giả Nguyễn Quang Uẩn bàn về: “Khái niệm KNS xét

dưới góc độ tâm lý học” (năm 2008) Tác giả đã đưa ra khái niệm “KNS là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các KN nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và quan hệ với bản thân, với xã hội

có kết quả trong những điều kiện xác định của cuộc sống” và cách phân loại

KNS bao gồm: nhóm KNS hướng vào bản thân, nhóm KNS hướng vào các quan hệ, nhóm KNS hướng vào công việc

Tác giả Nguyễn Thị Oanh đã xuất bản cuốn: “10 cách thức rèn KNS cho

trẻ vị thành niên” (năm 2008) Cuốn sách đã nêu lên một số vấn đề chung về

KNS và 10 cách thức rèn KNS cho lứa tuổi vị thành niên

Trang 17

Đề tài cấp Bộ: “Thực trạng biểu hiện của một số xúc cảm và KN đương

đầu với cảm xúc tiêu cực ở thiếu niên” do Đào Thị Oanh và Vũ Thị Lệ Thuỷ

thực hiện năm 2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện tượng bạo lực học đường, hành vi xâm kích, gây rối trật tự xã hội của thanh thiếu niên gia tăng

do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do trẻ thiếu khả năng chế ngự các cảm xúc của bản thân, chưa biết đương đầu một cách hiệu quả với các cảm xúc tiêu cực và chưa hình thành một phong cách đương đầu nhất định với cảm xúc tiêu cực

Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã xuất bản cuốn “Giáo trình chuyên đề

GD KNS” (năm 2009) Cuốn sách đã nêu lên một số vấn đề chung về KNS và

GD KNS và một số chủ đề GD KNS cốt lõi cho HS THPT

Tác giả Huỳnh Văn Sơn đã viết cuốn “Nhập môn KN sống” (năm 2009)

Tác giả đã chỉ ra khái niệm KN sống , bao gồm 24 KN: KN tự đánh giá ; KN xác lập mục đích sống; KN phán đoán cảm xúc của người khác; KN kiềm chế

cảm xúc Và cuốn : “Bạn trẻ và kỹ năng sống ” (năm 2009) Nô ̣i dung cuốn

sách bàn đến vấn đề hành trang cần có của thanh niên hiện đại đó là KNS Tác giả đưa ra những KNS cần thiết cho thanh niên là tự đánh giá mình , KN tư duy sáng ta ̣o, KN tác đô ̣ng đến tâm lý của người khác, KN hợp tác, lắng nghe,

KN biết chấp nhâ ̣n người khác

Luận án tiến sỹ Giáo dục học của Phan Thanh Vân: “GD KNS cho HS

THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL” (năm 2010) Luận án đã xác

định các KN sống để hình thành cho HS THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL là các KN cơ bản như: KN giao tiếp; Xác định giá trị; KN đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; KN giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực Kết quả của việc hình thành những KN này là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là XD hoặc thay đổi hành vi ở các em theo hướng tích cực phù hợp mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học, dựa trên

cơ sở giúp HS có tri thức, giá trị, thái độ và KN phù hợp

Trang 18

Tổng hợp các công trình nghiên cứu về KNS trên thế giới và ở Việt Nam, Bộ GD&ĐT đã đưa vào chương trình GD KNS cho HS THPT tập trung nghiên cứu, giáo dục và thực hành KN gồm: KN tự nhận thức, KN xác định giá trị, KN giao tiếp; KN ra quyết định, KN kiên định, KN đạt mục tiêu

1.1.2 Những nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên

Xây dựng và phát triển ĐNGV trong giáo dục được các nước trên thế giới đặt lên hàng đầu, là một trong những nội dung cơ bản trong các cuộc cách mạng cải cách giáo dục, chấn hưng, phát triển đất nước Lê Nin rất coi trọng việc xây dựng ĐNGV và yêu cầu: “Nâng cao một cách có hệ thống, kiên nhẫn, liên tục trình độ và tinh thần của GV nhưng điều chủ yếu là cải thiện đời sống vật chất cho họ” [101, tr.241] Đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về quản lí và phát triển ĐNGV trong khu vực và trên thế giới Có thể kể một số công trình của các tác giả tiêu biểu như Eleonora Vilegas-Reiers (1998); Glatthorn (1995); Ganser (2000); Felding và Schalock (1985); Cochran-Smith và Lytle (2001); Walling và Levis (2000); Cobb (1999); Kettle và Sellars (1996); Kalelestad và Olweus (1998); Youngs (2001); Grosso de Leon (2001); Guzman (1995); Mc Ginn và Borden (1995); Tattlo (1999); Darling-Hammond (1999); Loucks-Horsely và Matsumoto (1999); Borko và Putnam(1995) Ngoài ra, chúng ta còn gặp những kết quả nghiên cứu về GV phổ thông trong các báo cáo của Uỷ ban quốc gia về giáo dục và tương lai Hoa Kì các năm 1996, 1997 Tất cả các công trình trên có thể phân chia theo 4 hướng nghiên cứu chính:

- Nghiên cứu các mô hình và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển nghề nghiệp GV

- Nghiên cứu cải tiến các kĩ năng và tăng cường hiểu biết nghề nghiệp cho GV Xu hướng này đang được các quốc gia trong khối APEC triển khai thực hiện đào tạo, bồi dưỡng GV Theo xu hướng này , các quốc gia ở Châu Á – Thái Bình Dương cũng coi đào tạo và bồi dưỡng GV là một trong những

Trang 19

khâu then chốt để phát triển kinh tế ở các nước này Các nước này rất coi trọng nâng cao nghề nghiệp liên tục cho GV

- Nghiên cứu phát triển nghề nghiệp cho GV như là một yêu cầu của tiến trình cải cách giáo dục

Trong nghiên cứu của mình về đào tạo GV, Michel Develay đã bắt đầu

từ lí luận về học đến lí luận về dạy để nghiên cứu về đào tạo GV Theo ông:

“Đào tạo GV mà không làm cho họ có trình độ cao về năng lực tương ứng không chỉ với các sự kiện, khái niệm, định luật, định lí, hệ biến hóa của môn học đó, mà còn cả với khoa học luận của chúng là không thể được” [81 tr.69] Ngoài ra, trong tác phẩm này, ông còn đề cập đến nội dung, cách thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp của GV

Báo cáo tại Hội thảo ASD Armidele năm 1985 do UNESCO tổ chức,

đã đề cập đến vai trò của GV trong thời đại mới, cụ thể là người thiết kế, tổ chức, cổ vũ, canh tân Để GV thực hiện tốt các vai trò này, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng GV như: Chương trình đào tạo GV cần triệt để sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy học tốt nhất; GV phải được đào tạo để trở thành nhà giáo dục hơn là thợ dạy; việc dạy học phải thích nghi với người học chứ không phải buộc người học tuân theo những quy định đặt sẵn từ trước theo thông lệ cổ truyền

Công trình nghiên cứu chung của các nước thành viên OECD đã chỉ ra các yêu cầu của một GV bao gồm: kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và phạm vi bộ môn mình dạy; kĩ năng sư phạm; có tư duy phản ánh, năng lực tự phê; biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; có năng lực quản lí

Tại Hội thảo Khoa học Chất lượng giáo dục và vấn đề đào tạo GV do Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tháng 4/2004, nhiều báo cáo tham luận của các tác giả như Trần Bá Hoành, Mai Trọng Nhuận, Nguyễn

Trang 20

Thị Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm, Đặng Xuân Hải… đã đề cập đến việc đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV trước yêu cầu mới

Trong bài viết “Cải cách sư phạm và đổi mới mô hình đào tạo GV THPT” (2011), tác giả Trần Khánh Đức đã nêu rõ những yêu cầu mới của xã hội và nền giáo dục hiện đại đối với ĐNGV, mô hình tổng thể nhân cách người GV và các đề xuất nội dung chuyển đổi mô hình đào tạo GV ở các trường ĐHSP

Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài: “Đánh giá thực trạng triển khai chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho GV phổ thông” do tác giả Cao Đức Tiến làm Chủ nhiệm đề tài, đã đánh giá việc bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì đã tạo ra được một thói quen tự học tập, tự bồi dưỡng trong toàn thể

GV trên phạm vi cả nước Nhu cầu được bồi dưỡng thường xuyên (đào tạo tiếp sau đào tạo ban đầu) đã trở thành ý thức tự giác trong mỗi GV, nhằm cập nhật hoá kiến thức, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục

Báo cáo Nghiên cứu đánh giá Thực trạng đội ngũ nhà giáo Việt Nam

do Viện Chiến lược và chương trình giáo dục tiến hành đã đề cập số lượng, chất lượng GV, thực hiện chế độ chính sách đối với GV, từ đó đưa ra giải pháp trong việc đào tạo, bồi dưỡng GV

Trong bài viết “Chất lượng GV”, tác giả Trần Bá Hoành đã đưa ra cách tiếp cận chất lượng GV từ các khía cạnh như đặc điểm lao động của người

GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lượng từng GV và ĐNGV Theo tác giả, có 3 yếu

tố ảnh hưởng đến chất lượng GV, đó là: quá trình đào tạo - sử dụng - bồi dưỡng GV, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của GV, ý chí thói quen

và năng lực tự học của GV Đồng thời, tác giả cũng đưa ra 3 giải pháp cho vấn đề GV: phải đổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng GV

Trang 21

Trong bài viết: “Đổi mới mô hình đào tạo GV trong các trường đại học

sư phạm theo hướng tiếp cận năng lực” đăng trên Tạp chí Giáo dục (tháng 01/2012), các tác giả Bùi Minh Đức, Đào Thị Việt Anh, Hoàng Thị Kim Huyền đã nêu ra mô hình đào tạo GV ở các nước có nền giáo dục tiên tiến Cùng với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực, các chương trình đào tạo và bồi dưỡng GV cũng được cải tiến, điều chỉnh, thậm chí đổi mới toàn bộ theo chủ trương hình thành và phát triển các năng lực nghề nghiệp cho GV Các tác giả cũng đã đề xuất giải pháp đổi mới việc đào tạo GV như sau:

(1) Các trường sư phạm đào tạo GV cần đổi mới chương trình theo hướng tiếp cận năng lực ;

Chương trình đào tạo GV trước hết cần xác định được hệ thống các năng lực chung - những năng lực mà sinh viên của các ngành cần phải có và những năng lực riêng (năng lực môn học) cho sinh viên các ngành cụ thể;

(2) Đội ngũ giảng viên phải có những năng lực cần thiết và nhất là phải giỏi những năng lực môn học cụ thể, thay đổi nhận thức, kĩ năng, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá;

(3) Công tác quản lí, tổ chức đào tạo của các bộ phận chức năng trong trường cũng phải thay đổi theo hướng tiếp cận năng lực học sinh

(4) Chương trình đào tạo GV trước hết cần xác định được hệ thống các năng lực chung - những năng lực mà sinh viên của các ngành cần phải có và

những năng lực riêng (năng lực môn học) cho sinh viên các ngành cụ thể;

(5) Đội ngũ giảng viên phải có những năng lực cần thiết và nhất là phải giỏi những năng lực môn học cụ thể, thay đổi nhận thức, kĩ năng, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá;

(6) Công tác quản lí, tổ chức đào tạo của các bộ phận chức năng trong trường cũng phải thay đổi theo hướng tiếp cận năng lực học sinh

Trang 22

Trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành quản lí giáo dục, vấn đề ĐNGV là một vấn đề quan trọng, đã có nhiều luận văn nghiên cứu về xây dựng và phát triển ĐNGV ở các cấp học, ngành học như tác giả

Vũ Đình Chuẩn, Nguyễn Công Chánh…………

1.1.3 Sơ lược về công tác bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên giảng dạy

KNS cho học sinh THPT

Hiện nay, trong chương trình giáo dục phổ thông, KNS chưa phải là

môn học chính thức mà thực tế chương trình giáo dục KNS cho học sinh ở nước ta được thực hiện từ lâu qua việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, tích hợp ở một vài môn học và qua các chương trình, dự án như: Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật; giáo dục phòng, chống bom mìn cho học sinh tiểu học; giáo dục sống khỏe mạnh, KNS cho trẻ và trẻ vị thành niên…… Thứ trưởng GD và ÐT Trần Quang Quý cho biết, học sinh, nhất là học sinh trung học hiện nay chưa được trang bị một cách hệ thống KNS cơ bản để thích nghi với đời sống kinh tế - xã hội có nhiều biến đổi Những kỹ năng cần thiết chưa được học sinh chú ý rèn luyện Ðáng chú ý, đội ngũ giáo viên giảng dạy KNS tốt cần có kỹ năng, kiến thức sâu, rộng và bản thân phải là tấm gương về đạo đức lối sống Vì vậy cần đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên làm sao đáp ứng yêu cầu của vấn đề giáo dục KNS

Về việc triển khai Chương trình GDKNS của Bộ GDĐT

Từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 3/2012, Bộ GD-ĐT có khá nhiều hoạt động tập huấn triển khai GDKNS Kinh phí và các nhóm chuyên gia soạn thảo Chương trình cho các đợt tập huấn GDKNS được huy động từ nhiều nguồn Dự án, Đề tài khác nhau

- Hậu Giang, hai ngày 3/8 và 4/8 /2010 Sở GD-ĐT phối hợp với Bộ GDĐT đã

tổ chức tập huấn cho hơn 300 GV trong khuôn khổ của phong trào thi đua

“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”

Trang 23

- Tp HCM, phòng GD-ĐT Quận 8 tổ chức 1 lớp GDKNS cho THCS trong hai ngày, từ ngày 13/8 đến 14/8/2010 cho tổng phụ trách Đội, GVCN, các tổ trưởng chuyên môn

- Vụ GD trung học (Thông tư 3408/ GDTrH, ngày 15/6/2010, kinh phí từ Dự

án phát triển giáo dục trung học) tập huấn bồi dưỡng trong 5 ngày/ đợt chủ

yếu dành cho GV môn GD Công dân (GDCD) ở THCS, THPT toàn quốc về

“Giá trị sống và KNS” Đợt 1 từ 02- 07/8/2010, tại Hải phòng cho 31 tỉnh, thành phía Bắc và đợt 2 từ 09 -14/8/2010 tại Lâm Đồng cho 32 tỉnh, thành còn lại Mỗi sở GDĐT cử 05 học viên: 01 chuyên viên Phòng Giáo dục Trung học phụ trách môn (GDCD), 01 giáo viên dạy môn GDCD ở cấp THCS; 01 giáo viên dạy môn GDCD của trường THPT chuyên; 02 giáo viên dạy môn GDCD ở THPT;

- Một nhóm NC của Viện KHGD VN, trong khuôn khổ kinh phí một Đề án

(?) của Bộ, cũng đã triển khai 3 đợt cho THCS, THPT, mỗi đợt 3 ngày cho

từng vùng miền (10- 13/8 tại Hà Nội, cho 19 tỉnh phía Bắc; 16-19/8 tại Tây Nguyên, cho 19 tỉnh miền Trung và từ 24-27/8 tại Tp HCM cho 19 tỉnh phía Nam) Đối tượng: Mỗi tỉnh cử 1 chuyên viên và 5 GV bộ môn (Văn, Sinh, Địa, GDCD và GV phụ trách HĐ GDNGLL)

- Ngày 17/2/2012 Bộ GD & ĐT có công văn số 654/BGDĐT-VP gửi các Sở GD&ĐT, các trường PT trực thuộc Bộ GD&ĐT, các trường THPT chuyên thuộc các cơ sở giáo dục đại học, các trường thực hành sư phạm thuộc trường ĐHSP về việc tập huấn CBQL, GV về giáo dục GTS, KNS, tư vấn học đường cho HS THCS, THPT và sử dụng bộ công cụ đánh giá năng lực trí tuệ học sinh Trung học Nội dung công văn nêu rõ nhằm bồi dưỡng kiến thức, trang bị

KN cho CBQL, GV thực hiện việc GD GTS, KNS, Bộ GD&ĐT tổ chức khóa tập huấn cho CBQL, GV cốt cán các tỉnh, Thành phố về GD GTS, KNS cho học sinh THCS, THPT Triển khai nội dung công văn này, Vụ GD trung học

(kinh phí từ Dự án phát triển giáo dục trung học) tiếp tục triển khai lần thứ 2

tập huấn bồi dưỡng cho GV cốt cán ở THCS, THPT toàn quốc về “Giá trị

Trang 24

sống và KNS” Đợt 1 từ 27- 02/2/2012, tại Hải phòng cho 23 tỉnh, thành phía Bắc; đợt 2 từ 05 - 10/3/2010 tại Đà Nẵng cho 19 tỉnh, thành khu vực miền Trung (từ Ninh Bình trở vào Ninh Thuận; và Đợt 3, từ 12- 16/3/ 2012 cho các tỉnh, thành còn lại Mỗi sở GDĐT cử 10 người: 01 chuyên viên Phòng Giáo dục Trung học kiêm phụ trách nhóm, 04 giáo viên THCS và 05 giáo viên THPT;

- Thông tư số 04/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định quản lý hoạt động giáo dục

kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ chính khóa, đồng thời nâng cao năng lực tổ chức và giảng dạy giáo dục kĩ năng sống cho giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên; Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề nghị trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức các khóa bồi dường giáo viên dạy kỹ năng sống Ngày 4 tháng 9 năm 2014, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã có thông báo số 738/ĐHGD-ĐT về việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, cấp chứng chỉ cho giáo viên về nội dung giáo dục giá trị sống,

kỹ năng sống Bộ Giáo dục và Đào tạo đề nghị các sở giáo dục và đào tạo căn

cứ vào tình hình thực tế tại địa phương để chọn cử cán bộ, giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên am hiểu, có khả năng giảng dạy và tổ chức các lớp về giáo dục kỹ năng sống tham dự bồi dưỡng theo công văn trên Đối với địa phương có nhiều giáo viên có nhu cầu được bồi dưỡng thì Sở giáo dục và đào tạo liên hệ trực tiếp với trường Đại học Giáo dục để tổ chức các khóa bồi dưỡng tại địa phương

- Ngày 28/01/2015, Bộ giáo dục và đào tạo đã có công văn số 463/BGDĐT - GDTX về việc hướng dẫn triển khai thực hiện giáo dục kỹ năng sống tại các

cơ sở GDMN, GDPT va GDTX Trong nội dung công văn nêu rõ : Các Sở GDĐT tổ chức tập huấn giáo viên tích hợp giáo dục KNS vào các môn học; xây dựng kế hoạch đao tạo đội ngũ giáo viên dạy KNS tại các cơ sở giáo dục;Các trung tâm GDTX cử giáo viên tham gia các khóa đao tạo về giáo dục KNS;

Trang 25

- Nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo và thực hiện chủ trương tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên Trường Đại học Giáo

dục - ĐHQGHN tổ chức các khóa bồi dưỡng giảng viên / giáo viên về: Giáo

dục giá trị sống và kỹ năng sống.Hai chương trình này đã được tổ chức bồi

dưỡng cho giáo viên toàn quốc trong những năm gần đây dành cho các đối tượng là GV các trường phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, Cán bộ làm công tác Đoàn, Đội trong nhà trường Cụ thể

là lớp bồi dưỡng cho 54 giáo viên của Sở giáo dục đào tạo Hà Nội (đã cấp

chứng chỉ), 34 giáo viên thuộc các TTGDTX tỉnh Nam Định ( đối tượng

nghiên cứu của đề tài)

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm quản lý

1.2.1.1 Khái niệm quản lý

Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo

phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nó với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học

Nhà triết học V.G.Afanetser cho rằng: Quản lý xã hội một cách khoa học là nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng phát triển xã hội

và hướng sự vận động xã hội cho phù hợp khuynh hướng ấy, phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển, khắc phục trở ngại, duy trì sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống, tiến hành một đường lối đúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan, mối tương quan giữa những lực lượng xã hội, một đường lối gắn bó, chặt chẽ với nền kinh tế và sự phát triển tinh thần xã hội

Trang 26

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý

là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đề ra”

Theo tác giả Phan Văn Kha, khái niệm quản lý trong hoạt động giáo dục được hiểu là: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định”

Mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản lý song có thể khái quát nội hàm của khái niệm quản lý đã đề cập tới các vấn đề chủ yếu sau: + Quản lý phải có mục tiêu cần đạt được của hệ thống;

+ Quản lý phải bao gồm hai yếu tố chủ thể quản lý và khách thể quản lý; + Quản lý là tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó;

+ Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống, nó có cấu trúc và vận hành trong môi trường xác định

Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (Chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (Khách thể quản lý), nhằm đạt được mục tiêu quản lý Nói cụ thể: Bản chất của hoạt động quản lý là việc phát huy được nhân tố con người trong tổ chức Trong quản lý nhà nước về giáo dục, đó là sự tác động của Nhà nước đến các cơ sở giáo dục và các lực lượng khác trong nhà trường nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục

Như vậy, Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích đã đề ra

Các chức năng cơ bản của quản lý:

Trang 27

Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: Quản lý là

hệ thống gồm bốn chức năng cơ bản: Kế hoạch hoá; tổ chức; lãnh đạo/chỉ đạo

và kiểm tra

Trong bốn chức năng quản lý, chức năng kế hoạch hoá là nền tảng của quản lý Bởi vì đó là việc xây dựng các định hướng và đưa ra quyết định tổ chức thực hiện trong thời gian nhất định của tổ chức Chức năng kế hoạch hoá bao gồm việc xác định sứ mệnh, dự báo tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập thông tin về thựuc trạng của tổ chức tù đó xác định mục tiêu dựa trên việc tính toán các nguồn lực, các giải pháp Mục đích của việc lập kế hoạch là lựa chọn một đường lối hành động mà một tổ chức nào đó và mọi bộ phận của

nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu mà tổ chức đã đề ra

Chức năng tổ chức là sắp xếp, tuyển chọn xác định một cơ cấu định trước về các vai trò của từng con người đảm đương trong một cơ sở thông qua việc phân tích công việc, đề ra nhiệm vụ để lựa chọn người vào việc và cả việc tính toán phân bổ nguồn lực khác để xây dựng cơ chế làm việc thích hợp, như vậy tổ chức là công cụ quản lý

Để tổ chức cơ sở hoạt động có hiệu quả, người quản lý cần thực hiện chức năng chỉ đạo Đây là quá trình tác động điều khiển con người làm cho họ nhiệt tình, tự giác nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu cảu tổ chức Người quản lý phải ra quyết định, có thông báo, hướng dẫn để động viên mọi thành viên trong tập thể hăng hái làm việc

Chức năng kiểm tra là việc đánh giá và điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt tới các mục tiêu của tổ chức đã đề ra Kiểm tra đánh giá là kết quả của việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức nhằm tìm ra những mặt ưu điểm, hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo Để công tác kiểm tra đánh giá chính xác, sử dụng kết quả đánh giá sao cho có lợi cần xây dựng các tiêu chí (chuẩn) để thực hiện kiểm tra đánh giá, sử dụng các phương pháp phù hợp, thu thập thông tin đầy đủ, sau đó phân tích thông tin để đánh giá

Trang 28

Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý và có mối quan

hệ biện chứng, tạo sự kết nối giữa các chu trình theo hướng phát triển Trong

đó, thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thựuc hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc quyết định trong quản lý

Từ những phân tích trên có thể rút ra kết luận chung về quản lý như sau: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có mục đích, có tổ chức, có lựa chọn của chủ thể quản lý đến đối tượng (khách thể) quản lý nhằm giữ cho sự vận hành của tổ chức được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã

đề ra với hiệu quả cao nhất

lý Quản lý trường học có thể hiểu như bộ phận của quản lý giáo dục nói chung

Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS Bản chất của của việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục

Trang 29

Quản lý nhà trường là tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam XHCN mới, tức là cụ thể hoá đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS

Như vậy, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng, đó là nhà trường Vì thế quản lý nhà trường phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo

Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý các lĩnh vực khác Ở đây những tác động của chủ thể quản lý là những tác động của công tác tổ chức sư phạm đến đối tượng quản lý nhằm giải quyết những nhiệm vụ giáo dục của nhà trường Đó là hệ thống tác động có phương hướng, có mục đích,

có một quan hệ qua lại lẫn nhau, phụ thuộc nhau

Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những đặc thù riêng của nó Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định bởi bản chất lao động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình dạy học, giáo dục Trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể tự hoạt động của bản thân mình Sản phẩm của nhà trường là nhân cách người HS được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng rèn luyện và phát triển theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận

Quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả Thành công hay thất bại của một sự cải tiến trong ngành Giáo dục đều phụ thuộc rất lớn vào những điều kiện đang tồn tại, phổ biến của nhà trường Vì vậy, muốn

Trang 30

thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục phải xem xét đến những điều kiện đặc thù của mỗi nhà trường, phải chú trọng thực hiện việc cải tiến công tác quản

lý giáo dục đối với nhà trường, nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Tóm lại: Quản lý nhà trường là một bộ phận của quản lý giáo dục Thực chất của quản lý nhà trường, suy cho cùng là hệ thống những tác động có mục đích, có KH, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo

dục thế hệ trẻ Người quản lý nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành

tố vận hành liên kết chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn

1.2.1.3 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội

Theo P.V Khuđôminxky: “QLGD là tác động có hệ thống, có KH, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD&ĐT đến trường học) nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về giáo dục, của sự phát triển cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em”

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QLGD là tổ chức các hoạt động dạy học,

có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức

là cụ thẻ hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối ấy thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước”

Trang 31

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại quan niệm về quản lý giáo dục như sau:

“QLGD là hệ thống các tác động có mục đích, có KH hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mối về chất”

Từ những quan niệm trên cho thấy khi nói đến quản lý giáo dục chứa đựng những nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục

Ỏ tầm vi mô là quản lý của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường phổ thông Phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chương trình KH thống nhất từ Trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội Phải có một lực lượng đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, bởi vậy cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng phục vụ công tác giáo dục

Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng quản lý quan trọng nhất, đồng thời lại là chủ thể trực tiếp quản lý quá trình giáo dục

Tóm lại: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc vận hành nguyên lý, phương pháp chung nhất của KH nhằm đạt được những mục tiêu đề ra Những tác động đó thựuc chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có KH quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo

1.2.2 Khái niệm về kỹ năng, kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống

1.2.2.1 Khái niệm kỹ năng :

KN là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học trong và ngoài nước quan tâm.Ở góc độ khác nhau, các tác giả có các quan niệm khác

Trang 32

nhau về KN: KN được xem là mặt kỹ thuật của hành động; là khả năng của cá nhân; ở một bình diện khác, KN là hành vi ứng xử

Quan niệm thứ nhất: coi KN là mặt kỹ thuật thao tác hành động hay hoạt

động Đại diện cho quan niệm này là các tác giả như: Ph.N.Gônôbôlin, V.A.Cruchetxki, V.X.Cudin, A.G.Côvaliô Các tác giả này cho rằng, muốn thực hiện được một hành động cá nhân phải có tri thức về hành động đó, tức

là phải hiểu được mục đích, phương thức và các điều kiện để thực hiện nó.Vì vậy nếu ta nắm được các tri thức về hành động, thực hiện được nó trong thực tiễn là ta đã có KN hành động

Ph.N.Gônôbôlin (1973) cho rằng: KN là những phương thức tương đối

hoàn chỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo - những cái được con người lĩnh hội trong quá trình hoạt động

V.A.Cruchetxki (1980) cho rằng: “KN là phương thức thực hiện hoạt

động – cái mà con người lĩnh hội được” Để làm rõ khái niệm KN, tác giả đã phân tích kỹ vai trò của việc tập luyện trong thực tiễn, trong hoạt động, trong quá trình hình thành KN Tác giả viết: trong một số trường hợp thì KN là phương thức sử dụng các tri thức vào trong thựuc hành, tức là khi có tri thức con người phải áp dụng và sử dụng chúng vào trong cuộc sống, vào trong thực tiễn.Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành KN trở nên được hoàn thiện và trong mối quan hệ đó hoạt động của con người cũng trở nên hoàn hảo hơn trước

Như vậy, các quan niệm nói trên nhấn mạnh mặt kỹ thuật của KN, coi

KN như là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động, họ chưa nói tới kết quả hành động

Quan niệm thứ hai: coi ký năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của

hành động mà nó còn là khả năng của cá nhân trong hoạt động KN theo quan niệm này vừa có tính ổn định, lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính

Trang 33

mục đích, đại diện cho quan niệm này là các tác giả: K.K.Platônôv, A.V.Barabasicoov, A.V.Pêtrôvski

Theo K.K.Platônôv thì người có KN không chỉ hành động có kết quả

trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong những điều kiện khác nhau.Do vậy, theo ông “KN là khả năng của con người thực hiện một hành động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiêm - những cái đã được lĩnh hội từ trước.Hay nói cách khác KN được hình thành trên cơ sở của tri thức và kỹ xảo”

A.V.Pêtrôvski quan niệm: “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức

hay các khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định, được gọi là các KN”

Quan niệm của các nhà giáo dục Việt Nam như Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Lê Văn Hồng, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Văn Tính cũng tương tự như quan niệm của các tác giả nói trên

Tác giả Lê Văn Hồng có viết: KN là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp) để giải quyết một nhiệm vụ mới

Trong từ điển Tiếng Việt, KN được định nghĩa theo quan điểm thứ hai như sau: “KN là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”

Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: “KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm

đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép KN không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật mà còn là biểu hiện năng lực của con người”

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Trần Văn Tính quan niệm : “ Kỹ năng là khả năng thao tác, thực hiện một hoạt động nào đó”

Như vậy theo khuynh hướng này, KN không chỉ được hiểu là kỹ thuật

mà còn đem lại kết quả cho hoạt động đay là quan niệm tương đối toàn diện

Trang 34

và khái quát về KN Tuy nhiên, các tác giả chưa quan tâm phân tích về mặt thao tác, hành động của KN

Từ những quan niệm trên, chúng tôi đi đến kết luận: KN là khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và những cách thức hành động đúng đắn vào thực tiễn để thực hiện có kết quả hoạt động đó

1.2.2.2 Khái niệm kỹ năng sống:

Khi quan niệm về KN sống có rất nhiều quan niệm khác nhau, một số

tổ chức quốc tế định nghĩa khái niệm KN sống như sau:

Theo tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO): KN sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng

và tham gia vào cuộc sống hàng ngày

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng cho rằng: KN sống là những KN thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn khoẻ mạnh.Đó là những

KN mang tính tâm lý xã hội và KN về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống hàng ngày

Theo chương trình GD KNS của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF, 1996): KN sống bao gồm những KN cốt lõi như: KN tự nhận thức,

KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN ra quyết định, KN kiên định và KN đạt mục tiêu

Người Ấn Độ hiểu KN sống là những khả năng tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người, gồm có: KN giải quyết vấn đề,

tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, KN giao tiếp, KN đàm phán, KN đối phó với tình trạng căng thẳng, KN từ chối, KN kiên định, hài hoà và KN ra quyết định

Philipine cho rằng KN sống là những năng lực thích ứng và tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có thể đối phó một cách hiệu quả với những yêu

Trang 35

cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày

Ở Bhutan người ta hiểu KN là bất kỳ KN nào góp phần phát triển xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá, tinh thần và tạo quyền cho cá nhân trong cuộc sống hàng ngày của họ và giúp xoá bỏ nghèo đói dẫn đến phẩm cách và cuộc sống hạnh phúc trong xã hội

Thuật ngữ KN sống được người Việt Nam biết đến nhiều từ chương trình của UNICEF (1996) “ GD KNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên trong và ngoài nhà trường” Khái niệm KN sống được giới thiệu trong chương trình này bao gồm những KN sống cốt lõi như:

KN tự nhận thức, KN giao tiếp, KN xác định giá trị, KN ra quyết định, KN kiên định và KN đạt mục tiêu.Tham gia chương trình đầu tiên này có ngành Giáo dục và Hội Chữ thập đỏ Sang giai đoạn 2 chương trình này mang tên:

“Giáo dục sống khoẻ mạnh và KNS” Ngoài ngành Giáo dục còn có Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Hội Liên hiệp phụ nữ đã định nghĩa như sau: KNS là các KN thiết thực

mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khoẻ mạnh và hiệu quả Theo họ những KN cơ bản như: KN ra quyết định, KN từ chối, KN thương thuyết, đàm phán, KN lắng nghe, KN nhận biết (ở đây KN giao tiếp được phân nhỏ

để dễ hiểu hơn)

Khái niệm KNS được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng hơn sau Hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS” được tổ chức ngày 23 đến ngày 25 tháng

10 năm 2003 tại Hà Nội, đó là:

- Năng lực thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày

- Hành vi làm cho cá nhân thích ứng và giải quyết có hiệu quả các thách thức của cuộc sống

- Những KN liên quan đến tri thức, những giá trị

Trang 36

- Năng lực đáp ứng và những hành vi tích cực giúp con người có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống

Từ những quan niệm trên có thể thấy các quốc gia đều dựa trên quan niệm về KN sống của các tổ chức quốc tế (WHO, UNESCO, UNICEF) nhưng

có tính chất khác biệt do điều kiện chính trị, kinh tế văn hoá của từng quốc gia Nội dung GD KNS vừa đáp ứng những cái chung có tính chất toàn cầu vừa có tính chất đặc thù quốc gia Một số quốc gia coi trọng một số KN như:

KN tư duy, KN thích ứng, KN giao tiếp, KN hợp tác và cạnh tranh, KN luân chuyển công việc.Một số nước khác lại chú trọng đến KN xóa đói giảm nghèo, KN phòng chống HIV/AIDS Trong đề tài này chúng tôi hiểu khái niệm KN sống như sau:

KNS là tất cả những KN cần thiết trực tiếp giúp cá nhân sống thành công

và hiệu quả, trong đó tích hợp những khả năng, phẩm chất, hành vi tâm lý, xã hội và văn hoá phù hợp và đương đầu được với những tác động của môi trường Những KNS cốt lõi cần nhấn mạnh là KN tư duy, KN giao tiếp, KN

ra quyết định, KN xác định giá trị, KN xử lý tình huống, KN làm chủ bản thân, KN tự nhận thức

KNS là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp con người có thể kiểm soát quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày

1.2.2.3 Khái niệm về giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục là một quá trình xã hội hóa nhân cách con người được tiến hành

có mục đích, có KH, có nội dung chương trình và được thực hiện bởi đội ngũ những nhà sư phạm Trong nhà trường THPT giáo dục được tiến hành với nhiều nội dung khác nhau nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện đó là: Giáo dục trí tuệ, giáo dục lao động, giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, GD KNS vv Giáo dục KNS cho HS THPT được đặt trong mối quan hệ với hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục, sinh hoạt tập thể của HS và các hoạt động khác, thông qua những hoạt động đó giúp HS THPT có cơ hội trải nghiệm nhằm

Trang 37

thực hiện có hiệu quả mục tiêu dạy học, giáo dục của nhà trường và phát triển năng lực cá nhân HS đáp ứng yêu cầu của cuộc sống

“GD KNS là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là XD

những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên

cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các KN thích hợp” (Chuyên đề “KN sống” - Nguyễn Thanh Bình)

Như vậy, GD KNS làm thay đổi những thói quen, hành vi tiêu cực thành những thói quen, hành vi tích cực, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.Chất lượng đó được thể hiện thông qua việc các cá nhân đó giải quyết các vấn đề của mình trong xã hội một cách hiệu quả

1.2.3 Khái niệm về ĐNGV, ĐNGV THPT, ĐNGV cốt cán

1.2.3.1 Khái niệm về ĐNGV

Theo tác giả Virgilk Rowland “Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia

trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức và hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực của họ cho giáo dục”

Một số tác giả Việt Nam quan niệm như sau:

“Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, tập thể

người đó bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và công nhân viên Nếu chỉ đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và đội ngũ cán bộ giáo dục

Từ những quan niệm đã nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước, ta

có thể hiểu đội ngũ giáo viên như sau: Đội ngũ giáo viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức), cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhà giáo, cùng thực hiện các nhiệm vụ và được hưởng các quyền lợi theo Luật giáo dục và các luật khác được nhà nước quy định

Từ khái niệm đội ngũ giáo viên nói chung ta còn có khái niệm đội ngũ riêng cho từng bậc học, cấp học, như: Đội ngũ giáo viên mầm non, đội ngũ

Trang 38

giáo viên tiểu học, đội ngũ giáo viên THCS, đội ngũ giáo viên THPT, đội ngũ giáo viên dạy nghề, đội ngũ giáo viên THCN, đội ngũ giáo viên cốt cán, ……

1.2.3.2 Khái niệm về ĐNGV cốt cán

Trong bất cứ một tổ chức nào cũng cần những con người nòng cốt, biết thắp lửa, biết dấn thân, biết cách tân các hoạt động của tổ chức Ở nhà trường lớp người này được gọi là giáo viên cốt cán

Giáo viên cốt cán từ bao năm nay đã là lực lượng rất cần thiết cho sự phát triển nhà trường Việt Nam Ngày nay họ càng cần thiết cho công cuộc đổi mới giáo dục, khi nền giáo dục đang phải chuyển biến mạnh mẽ từ giáo dục kiến thức cho học sinh sang giáo dục phát triển năng lực học sinh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam

Hiện nay, ĐNGV cốt cán giảng dạy KNS cho học sinh phổ thông chưa

có đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, chưa có đội ngũ nào được đào tạo chuyên nghiệp tại các trường Sư phạm Để đáp ứng được yêu cầu Kế hoạch hành động của ngành Giáo dục, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, đòi hỏi phải có một đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp giảng dạy KNS cho học sinh trong các trường phổ thông, góp phần hoàn thiện hơn trong việc quản lý giáo dục KNS , nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS Hơn nữa, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp vững chắc giảng dạy

Trang 39

KNS cho học sinh sẽ là nền tảng để thay đổi hoạt động giáo dục KNS cho học sinh và để giáo dục KNS trở thành môn học trong các nhà trường, thực tiễn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục sau năm 2018

1.2.4 Khái niệm về phát triển, phát triển đội ngũ, phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán, phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy KNS

1.2.4.1 Khái niệm về phát triển:

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ

ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [21, 769]

Đặc trưng của sự phát triển là hình thức phát triển xoáy trôn ốc và theo các chu kì Phát triển là một quá trình nội tại, biến chuyển từ thấp lên cao, trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng nền tảng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển

Phát triển làm cho sự vật, hiện tượng biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Trong quá trình phát triển, cái mới, cái tiến bộ sẽ hình thành thay thế cái cũ, cái lạc hậu

Mọi sự vật, hiện tượng chỉ có tính ổn định tương đối; chúng luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển Phát triển là tất yếu

Trong phát triển thì phát triển nguồn nhân lực được phát biểu khái niệm như sau:

“Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi, chuyển biến số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp độ khác nhau, đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội”

1.2.4.2 Khái niệm về phát triển đội ngũ:

Việc xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên thực chất là phát triển nguồn nhân lực trong giáo dục Theo Nguyễn Minh Đường, phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu theo những nghĩa sau:

“Với nghĩa hẹp nhất, đó là quá trình đào tạo và đào tạo lại, trang bị hoặc bổ sung thêm những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để người lao

Trang 40

động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ mà họ đang làm hoặc để trên một việc mới”

“Với nghĩa rộng hơn là bao gồm cả bổ túc văn hoá cho người lớn,

xoá mù chữ là những cơ sở tri thức cần thiết để học nghề và phát triển nghề nghiệp”

Phát triển đội ngũ giáo viên trong giáo dục chính là xây dựng một tập thể những người gắn bó với lý tưởng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất đạo đức trong sáng, lành mạnh, có ý chí kiên định Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, họ biết giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, đồng thời có khả năng tiếp thu nền văn hoá tiến bộ của nhân loại, trên

cơ sở đó làm tốt nhiệm vụ giáo dục trong đơn vị của mình

1.2.4.3 Khái niệm về phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế, việc phát triển đội ngũ GV cốt cán cho ngành giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy kỹ năng sống cho các trường là hết sức cấp thiết Đội ngũ

GV cốt cán luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất góp phần quyết định sự phát triển của một nhà trường, bởi lẽ chính họ là đầu tàu tham gia tổ chức thực hiện có hiệu quả các khâu của quá trình dạy học, giáo dục và phát triển chuyên môn, phát triển nhà trường

Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán là từ lực lượng giáo viên cốt cán ban đầu phát triển, nhân rộng lực lượng giáo viên đáp ứng yêu cầu về chất lượng và số lượng giáo viên đảm nhiệm công tác giáo dục và giảng dạy trong các nhà trường

Việc phát triển đội ngũ GV cốt cán chính là việc góp phần đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục trong các trường THPT, đồng thời tạo nguồn phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường phổ thông và ngành giáo dục và đào tạo trong tương lai

Ngày đăng: 10/06/2016, 10:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Thuý Anh - Lê Minh Châu (2010), GD KNS trong môn GDCD ở trường THPT, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: GD KNS trong môn GDCD ở trường THPT
Tác giả: Đặng Thuý Anh - Lê Minh Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
2. Đặng Quốc Bảo (2007), Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
3. Nguyễn Thanh Bình (2009, 2011), Giáo trình chuyên đề GD KNS, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chuyên đề GD KNS
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm
5. Lê Minh Châu - Bùi Ngọc Diệp - Trần Thị Tố Oanh (2010), GD KNS trong Hoạt động giáo dục NGLL ở trường THPT. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: GD KNS trong Hoạt động giáo dục NGLL ở trường THPT
Tác giả: Lê Minh Châu - Bùi Ngọc Diệp - Trần Thị Tố Oanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
7. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009), Đại cương khoa học quản lý : Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2009
8. Vũ Cao Đàm (1996), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1996
10. Trần Khánh Đức (2004), Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực. NXB GD. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: NXB GD. Hà Nội
Năm: 2004
13. Nguyễn Trọng Hậu (2013), Quản lý nguồn nhân lực , Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn nhân lực
Tác giả: Nguyễn Trọng Hậu
Năm: 2013
14. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2013), Quản lý giáo dục: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2013
15. Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Đinh Thị Kim Thoa – Trần Văn Tính – Vũ Phương Liên (2009), Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THPT. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Đinh Thị Kim Thoa – Trần Văn Tính – Vũ Phương Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
16. Luật Giáo dục và các quy định mới nhất đối với ngành GD&ĐT (2009). Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục và các quy định mới nhất đối với ngành GD&ĐT
Tác giả: Luật Giáo dục và các quy định mới nhất đối với ngành GD&ĐT
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động - Xã hội
Năm: 2009
17. Trịnh Văn Minh (2013), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong Quản lý giáo dục, Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong Quản lý giáo dục
Tác giả: Trịnh Văn Minh
Năm: 2013
18. Nguyễn Thị Oanh (2005), KNS cho trẻ vị thành niên. Nxb ĐHSPHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: KNS cho trẻ vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nxb ĐHSPHN
Năm: 2005
19. Huỳnh Văn Sơn (2009), Bạn trẻ và KNS, Nxb LĐ-XH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạn trẻ và KNS
Tác giả: Huỳnh Văn Sơn
Nhà XB: Nxb LĐ-XH
Năm: 2009
20. Trần Quốc Thành (2013), Lý luận quản lý - Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận quản lý -
Tác giả: Trần Quốc Thành
Năm: 2013
21. Trần Anh Tuấn, Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam: Cần có tầm nhìn chương trình hành động quốc gia và Bàn về một Chương trình GDKNS thích ứng với thực tế đổi mới giáo dục hiện nay, Kỷ yếu hội thảo GTS- KNS cho học sinh, sinh viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam: Cần có tầm nhìn chương trình hành động quốc gia và Bàn về một Chương trình GDKNS thích ứng với thực tế đổi mới giáo dục hiện nay
23. Nguyễn Quang Uẩn (2008), “Khái niệm KNS xét dưới góc độ tâm lý học”, Tạp chí Tâm lý học, số 6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm KNS xét dưới góc độ tâm lý học”
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Năm: 2008
24. Phan Thanh Vân (2010), GD KNS cho HS THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL, Tóm tắt luận án tiến sĩ Giáo dục học, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: GD KNS cho HS THPT thông qua hoạt động giáo dục NGLL
Tác giả: Phan Thanh Vân
Năm: 2010
4. Bộ GD&ĐT (2007), Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học Khác
6. Chính phủ Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2010), Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục Đại học giai đoạn 2010-2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.4 Mức độ triển khai các nội dung giảng dạy các GTS và KNS cho - Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông tỉnh nam định
Bảng 2.4 Mức độ triển khai các nội dung giảng dạy các GTS và KNS cho (Trang 64)
Bảng 2.5 Mức độ các khó khăn khi tiến hành hoạt động giảng dạy giáo dục - Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông tỉnh nam định
Bảng 2.5 Mức độ các khó khăn khi tiến hành hoạt động giảng dạy giáo dục (Trang 66)
Bảng 2.7 Thực trạng nhu cầu bồi dưỡng giảng dạy KNS cho HS của GV  Đối tượng GV có nhu cầu được - Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông tỉnh nam định
Bảng 2.7 Thực trạng nhu cầu bồi dưỡng giảng dạy KNS cho HS của GV Đối tượng GV có nhu cầu được (Trang 71)
Bảng 3.2. Tổng hợp khảo sát về mức độ cần thiết - Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông tỉnh nam định
Bảng 3.2. Tổng hợp khảo sát về mức độ cần thiết (Trang 95)
Bảng 3.3. Tổng hợp khảo sát về mức độ khả thi - Phát triển đội ngũ giáo viên cốt cán giảng dạy kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông tỉnh nam định
Bảng 3.3. Tổng hợp khảo sát về mức độ khả thi (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w