1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố hà nội (TT)

25 403 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 151,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ hay siêu thị luôn là câu hỏi mà những người sảnxuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội cân nhắc.. Đã có một số nghiên cứu tập

Trang 1

m - ^ HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ TÂN LỘC

NGHIÊN CỨU TIÊU THỤ RAU

THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

Trang 2

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn: GS.TS ĐỖ KIM CHUNG

Phản biện 1 : GS.TS HOÀNG NGỌC VIỆT

Phản biện 2: PGS.TS NGÔ THỊ THUẬN

Phản biện 3: PGS.TS NGUYỄN HOÀNG LONG

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:

Học viện Nông nghiệp Việt NamVào hồi giờ, ngày tháng năm 2016

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trang 3

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ hay siêu thị luôn là câu hỏi mà những người sảnxuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội cân nhắc Khâu tiêu thụ sản phẩm luôn là vấn đề khókhăn nhất đối với họ Sự liên kết giữa các tác nhân thành chuỗi cung ứng rau còn lỏng lẻo,chưa bền vững dẫn tới giá cả sản phẩm bán ra thị trường với mức giá không ổn định, bấpbênh, sản xuất đối mặt với nhiều rủi ro, người sản xuất luôn là người chịu thiệt hại nhất.Khó khăn này đã diễn ra nhiều năm và đặc biệt nay khó khăn hơn trong điều kiện thực hiệntái cơ cấu ngành nông nghiệp nên nhiều địa phương chuyển đổi sang trồng rau Việc hìnhthành chuỗi liên kết là cần thiết và điều này cũng đã được nhấn mạnh trong thông điệp đầunăm 2014 của thủ tướng Chính phủ Mặt khác, có nhiều người tiêu dùng (NTD) muốn muasản phẩm rau an toàn (RAT) song RAT không dễ dàng phân biệt, nhiều nhà cung ứng còntrà trộn, điểm bán còn để lẫn lộn

Nhìn tổng thể thấy được tiêu thụ rau qua hệ thống chợ và siêu thị đều có những thuậnlợi nhất định, trở ngại và khó khăn riêng, và khó khăn lớn nhất là hiện thành phố không dễdàng dẹp bỏ được những người bán hàng không đúng vị trí quy định và quản lý người bánrong thật khó Rau được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị ổn định đã giúp hình thành nên kênhtiêu thụ rau chất lượng Sản xuất theo kế hoạch tiêu thụ mang lại thu nhập ổn định khôngchỉ cho những người làm công tác thu gom mà cả cho những người sản xuất và NTD cũnghoàn toàn yên tâm với nguồn sản phẩm

Bên cạnh đó, người sản xuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội chịu rất nhiều áp lực:

về tốc độ đô thị hóa, biến đổi khí hậu, nguồn nước, môi trường ô nhiễm cạnh tranh vớicác sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc

Vậy trong bối cảnh đó, các đối tượng sản xuất rau trên địa bàn thành phố đã thựchiện tiêu thụ sản phẩm của họ làm ra như thế nào? Kênh nào là kênh tiêu thụ phù hợp với họhiện tại và chiến lược trong tương lai?

Đã có một số nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu những vấn đề về kỹ thuật, thịtrường hoặc về tiêu dùng hoặc chỉ tập trung vào RAT song chưa có nghiên cứu nào đi sâunghiên cứu từ việc tiêu thụ rau của người sản xuất, để thấy được thuận lợi, khó khăn và giảipháp giúp cho thúc đẩy phát triển tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị, từng bướckhắc phục tình trạng bán sản phẩm tại các vị trí không chính thống mà Hà Nội lâu nay chưagiải quyết được

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu chung

Phản ánh hiện trạng và đề xuất các giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển tiêu thụ rauthông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, thông qua đó góp phầnthúc đẩy sản xuất rau phát triển, ổn định tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu về rau ngày càng

Trang 4

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

1) Tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị bao gồm các nội dung nào?2) Những bài học kinh nghiệm nào có thể áp dụng cho thành phố Hà Nội từ thựctiễn tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị của một số nước trên thế giới?

3) Người mua rau tươi tại hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn Hà Nội mong đợichất lượng rau như thế nào?

4) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ vàsiêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội?

5) Để phát triển tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn HàNội, cần áp dụng những giải pháp nào?

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung vào nghiên cứu tiêu thụ rau của các đối tượng sản xuất khác nhau trên địabàn thành phố Hà Nội thông qua hệ thống chợ và siêu thị

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về nội dung: Nội dung nghiên cứu tập trung vào tiêu thụ rau tươi được sản xuất tại

địa bàn Hà Nội thông qua hệ thống chợ và siêu thị

Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Về thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 2002 đến 2014 để thấy rõ sự thay đổi

trong tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị Dữ liệu sơ cấp được thu thập chủyếu trong năm 2014 Các giải pháp được đề xuất đến năm 2020 và những năm tiếp theo.1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Về mặt lý luận và học thuật: Đã hệ thống hóa và làm rõ được những vấn lý luận và

thực tiễn về tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị Tác giả đưa ra khái niệm về tiêuthụ rau thông qua hệ thống chợ và hệ thống siêu thị Tất cả góp phần cung cấp cơ sở lý luậncho các nghiên cứu có liên quan; Làm sáng tỏ nội dung về tiêu thụ rau thông qua hệ thốngchợ và siêu thị Thấy được kinh nghiệm quản lý hai hệ thống này ở một số nước trên thếgiới, nhất là ở các nước phát triển Nghiên cứu đã xây dựng phương pháp tiếp cận và khungphân tích về thực trạng tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống kể trên Xây dựng các chỉ tiêuđánh giá hiện trạng tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống và xác định các nhân tố chủ yếu ảnh

Trang 5

hưởng đến quá trình tiêu thụ.

- Về thực tiễn: Đã phản ánh rõ hiện trạng tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và

siêu thị trên địa bàn Hà Nội Phát hiện được đối tượng tiêu thụ rau qua siêu thị thành cônghơn cả là các hộ thuộc các HTX kiểu mới và doanh nghiệp nhờ vào công tác tổ chức từ sảnxuất đến tiêu thụ Lượng rau tiêu thụ thông qua kênh siêu thị chỉ đáp ứng 3% nhu cầu raucủa toàn thành phố Song lượng rau được sản xuất tại Hà Nội chỉ chiếm 70% lượng rauđược tiêu thụ tại các siêu thị hiện nay, tức tương đương với 66,5 tấn/ngày, ước đạt 4,04%sản lượng rau của Hà Nội Trong khi đó lượng rau tiêu thụ thông qua hệ thống chợ là40,31% và cũng lượng như vậy được tiêu thụ thông qua bán rong và những vị trí khôngchính thống Nghiên cứu đã xác định được 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới việc tiêu thụ rauthông qua hệ thống chợ và siêu thị Đồng thời đề xuất được 3 nhóm giải pháp nhằm pháttriển tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống Các giải pháp phát triển tiêu thụ rau thông qua hai

hệ thống này không chỉ có ý nghĩa áp dụng thực tiễn đối với ngành hàng rau của Hà Nội màcòn là bài học kinh nghiệm cho các nông sản khác trong cùng địa bàn và các địa phươngkhác góp phần cải thiện việc quản lý trong tiêu thụ rau và làm đẹp mỹ quan thành phố Kếtquả luận án là cơ sở khoa học cho việc định hướng và đưa ra giải pháp phát triển tiêu thụrau thông qua hệ thống chợ và siêu thị Luận án là kênh cung cấp thông tin quan trọng chocác nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý của Bộ, Thành phố, các cơ quan tham mưu,các tổ chức nghiên cứu, kinh tế - xã hội và các cá nhân tham khảo

1.5 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Nội dung chính của luận án: Gồm 6 phần được trình bày trong 150 trang Phần mởđầu bao gồm 6 trang, phần 2 từ trang 7 đến trang 35, phần 3 từ trang 36 đến trang 54, phần

4 từ trang 55 đến trang 124, phần 5 từ trang 125 đến 146, phần 6 có 4 trang

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 KHÁI NIỆM VỀ TIÊU THỤ VÀ CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN

2.1.1 Khái niệm về tiêu thụ

Tiêu thụ sản phẩm rau là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, kinh doanh rau

Là quá trình dịch chuyển sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng và chuyển dần từtrạng thái vật chất sang hình thái tiền tệ Là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển củangười sản xuất, kinh doanh rau

Gần đây, hình thành phương thức marketing mới là dựa vào nhu cầu của thị trường để

có những quyết định sản xuất và kinh doanh nông nghiệp một cách đúng đắn nhất

2.1.2 Khái niệm về ch ợ, siêu thị và hệ thống ch ợ và siêu thị

Có nhiều khái niệm khác nhau về chợ, song theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP thì

khái niệm về chợ "Là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang

tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư";

Thực tế phân chia ra các chợ theo các cách gọi khác nhau: chợ loại 1, chợ loại 2 vàchợ loại 3 (quy mô); Chợ quy hoạch và chợ tạm/chợ cóc (Tính chất); Chợ bán buôn và bán

Trang 6

lẻ (Loại hình); Chợ kiên cố, bán kiên cố (Hình thức xây dựng) Ngày nay, chợ còn đượchiểu rộng hơn đó là thị trường

Tác giả đưa ra khái niệm về Hệ thống chợ là tập hợp các loại chợ có liên quan với

nhau và có sự phân công, phân cấp trên phương diện: dồng lưu chuyển hàng hóa và phân loại người tiêu dùng cuối cùng.

Siêu thị: Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm Thương mại của Bộ Thương mại Việt

Nam (nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004: “Siêu thị là

loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh; Có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; Đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; Có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”;

Theo Kotier and Armstrong (2011), "Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn có

mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa".

Như vậy, dù nhìn nhận siêu thị theo khái niệm nào đi chăng nữa thì đó là mô hìnhkinh doanh hiện đại, một loại hình mới xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1993 Có siêu thị loại

1, loại 2 và loại 3; Siêu thị bán buôn và bán lẻ Về bản chất có siêu thị của Việt Nam và liêndoanh

Từ các khái niệm về siêu thị kể trên, tác giả đưa ra khái niệm về hệ thống siêu thị: Hệ

thống siêu thị là tập hợp các loại siêu thị với quy mô, mức độ khác nhau có sự phân công, phân cấp về địa điểm, quy mô, doanh số, người bán và người mua.

2.2 ĐẶC ĐIỂM TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ

Đặc điểm chung: Các sản phẩm rau tươi được đưa vào tiêu thụ ngay sau khi thu

hoạch, có tỷ lệ nước cao, có khối lượng lớn, cồng kềnh, chiếm nhiều diện tích, dễ dập náttrong quá trình vận chuyển, chi phí bảo quản lớn

Đặc điểm riêng: Đó là 1 kênh truyền thống và 1 kênh hiện đại Chúng có điều kiện

cơ sở hạ tầng và hình thức quản lý khác nhau Đặc biệt là công tác quản lý chất lượng rau

của đơn vị bán hàng và cơ quan nhà nước Như vậy, chúng ta thấy bức tranh nghịch cảnh

giữa hai hệ thống chợ và siêu thị: tự do và yêu cầu chặt chẽ và qua đây khiến chúng ta suy nghĩ: ai là người sản xuất có thể tiếp cận để bán được hàng vào siêu thị? Tỷ trọng rau Hà Nội bán theo từng hệ thống?

2.3 THỰC TIỄN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ TIÊU THỤ RAU THÔNG

QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

VÀ Ở VIỆT NAM

2.3.1 Tại một số nước trên thế giới

Nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua chợ và siêu thị của một số nước trên thế giới đã cóđược bài học về sự cần thiết của hệ thống chợ bên cạnh vai trò quan trọng của hệ thống siêuthị Tại các nước phát triển, tiêu thụ rau chủ yếu thông qua kênh siêu thị song hiện nay họthấy được sự cần thiết của hệ thống chợ nên việc duy trì hệ thống chợ nông sản trong lòngđịa bàn thành phố đã bổ sung và cùng nhau đáp ứng nhu cầu đa dạng của NTD Đồng thời

Trang 7

chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện cho các loại chợ không chính thức hoạt động.Thấy được một trong những yếu tố quan trọng là tổ chức ngành hàng chặt chẽ của siêu thịvới các nhà cung ứng và hạn chế tối đa các khâu trung gian Khuyến khích người sản xuấtbán hàng trực tiếp cho NTD tại các chợ nông sản Tất cả các nguồn rau tại chợ và siêu thịcùng được kiểm soát.

2.3.2 Tại một số địa phương ở Việt Nam

Tiêu thụ rau qua chợ là kênh tiêu thụ truyền thống, đã diễn ra từ bao đời nay đáp ứngnhu cầu của người sản xuất và NTD Hệ thống chợ nằm rải rác ở khắp các địa phương, tùytheo từng địa bàn mà quy mô chợ khác nhau song đến nay việc tiêu thụ rau tại chợ vẫn làkênh chủ lực Tiêu thụ rau thông qua siêu thị mới xuất hiện tại các thành phố lớn như HàNội, TP HCM kể từ khi có chương trình sản xuất RAT có sản phẩm (1997) và sau đó bắtđầu lan ra các thành phố khác như Đà Nẵng, Vinh, Hải Dương Lượng rau tiêu thụ đượcthông qua hệ thống siêu thị còn rất nhỏ Ví dụ tại Hà Nội luôn chỉ đáp ứng dưới 5% so vớitổng nhu cầu rau của toàn thành phố trong suốt những năm qua Mặc dù vậy, việc hìnhthành tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị rất có ý nghĩa trong việc hình thành kênh tiêuthụ chất lượng Do đó, để từng bước phát triển, các địa phương vẫn cần duy trì song song cảhai hệ thống chợ và siêu thị nhằm cùng nhau đáp ứng nhu cầu rau đa dạng của NTD

2.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị cho Hà Nội, Việt Nam

Qua nghiên cứu thực tiễn về tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị của một

số nước trên thế giới và ở Việt Nam, thấy rằng để đáp ứng nhu cầu của các tầng lớp nhândân và nhu cầu đa dạng của NTD, Hà Nội cần: Duy trì cả hai hệ thống chợ và siêu thị; Quản

lý chất lượng rau trên địa bàn thành phố, đặc biệt tại hệ thống chợ; Luôn tính đến khả năngtham gia của người nghèo vào chuỗi giá trị rau; Quản lý người bán hàng trên địa bàn thànhphố, tại các chợ cũng như việc xây dựng, cải tạo và nâng cấp chợ cần được thực hiện theonhiều phương thức khác nhau giúp nâng cao hiệu quả của việc khai thác chợ và thu hút họhoạt động trong chợ; Đặc biệt thúc đẩy liên kết giữa các tác nhân trong ngành hàng raunhằm duy trì quan hệ giữa người sản xuất và người kinh doanh bền vững ở cả hai hệ thống

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Hà Nội là một địa bàn có vùng sản xuất rau lớn tại các huyện ngoại thành và có thịtrường tiêu thụ khối lượng rau rất lớn Diện tích gieo trồng rau của Hà Nội có xu hướngtăng dần, đạt kỷ lục 30.040 ha (2013), nhưng sản lượng rau đạt kỷ lục vào năm 2015 là 655nghìn tấn Các chủng loại rau được sản xuất tại Hà Nội đa dạng, khoảng 40 loại, tuy nhiên,chủ yếu sản xuất rau theo mùa, phần sản xuất rau trái vụ chưa được nhiều do chịu ảnhhưởng của điều kiện thời tiết Địa bàn Hà Nội có 3 đối tượng tham gia sản xuất rau chủ yếu:

hộ nông dân thuộc các HTX NN hoặc HTX DV NN quản lý (gọi chung là HTX NN); Hộnông dân thuộc các HTX kiểu mới hoặc nhóm sản xuất rau hữu cơ (RHC) và từ 2008 cóxuất hiện các doanh nghiệp

Hà Nội với đa dạng kênh phân phối rau như chợ truyền thống, người bán rong và từ

Trang 8

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Phương pháp tiếp cận

Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tiếp cận như theo chuỗi cung ứng; theo cáchình thức tổ chức sản xuất và tiêu thụ; Theo vùng địa lý; Tiếp cận theo khu vực công và tưnhân và tiếp cận hệ thống

3.2.2 Khung phân tích

Trên cơ sở các nội dung được xác định, các yếu tố ảnh hưởng và hướng đề xuất các nhómgiải pháp, khung phân tích được thể hiện tại hình 3.1

Nhóm giải pháp thúc đẩy tiêu thụ rau thông qua hệ thống ch ợ và siêu thị

trên địa bàn TP Hà Nội

1 Giải pháp tạo nguồn cung

đảm bảo

- Đổi mới quy hoạch vùng sản

xuất rau và RAT,

- Cải thiện hiện trạng của các

đối tượng tham gia sản xuất

- Xây dựng và phát triển liên kết

trong sản xuất và tiêu thụ rau

2 Giải pháp tiếp tục hỗ trợ đầu tư công cho sản xuất và tiêu thụ rau và RAT.

- Đầu tư cho sản xuất rau và RAT

- Đầu tư cho tiêu thụ rau và RAT

- Khuyến khích thực hiện các chính sách quản lý chất lượng

và tiêu thụ rau qua hợp đồng

3 Giải pháp thúc đẩy tiêu dùng rau.

- Cung cấp đầy đủ thông tin cho NTD qua các kênh khác nhau.

- Quảng bá giúp NTD nhận diện sản phẩm.

Trang 9

Hình 3.1 Khung phân tích tiêu thụ rau thông qua hệ thống ch ợ và siêu thị

3.2.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Đối với người sản xuất: 5 huyện được chọn đại diện theo phương pháp chọn có chủ

đích là Gia Lâm, Hoài Đức, Thanh Trì, Đông Anh và Sóc Sơn Từ các địa bàn này chọn cácđối tượng là các hộ gia đình sản xuất rau tại các HTX NN và HTX mới hay nhóm sản xuấtRHC Chọn các doanh nghiệp có sự linh hoạt hơn do các doanh nghiệp nằm rải rác tại cácđịa bàn khác nhau

Đối với người kinh doanh: Chọn đại diện 04 chợ bán buôn (chợ nội thành: Long

Biên, Đền Lừ, Minh Khai); chợ ngoại thành: Vân Nội); 05 chợ bán lẻ tại khu vực nội thành(Chợ Hôm (chợ cũ), Nghĩa Tân (chợ mới), chợ 19/12 (mới chuyển đổi), chợ Gia Lâm (quậnmới), chợ tạm tại phường Kim Liên và 02 chợ khu vực ngoại thành như chợ Vàng và chợtạm tại khu đô thị Đặng Xá Các chợ trên là đại diện cho chợ quy hoạch, chợ tạm Chọn 06siêu thị đại diện cho các siêu thị bán buôn, bán lẻ với các quy mô khác nhau và bản chất củachúng là các siêu thị liên doanh hoặc của Việt Nam

Người mua rau tại các chợ và siêu thị: Được chọn tại 11 chợ và 06 siêu thị kể trên.

3.2.4 Phương pháp thu thập thông tin và dữ liệu

Thông tin thứ cấp: Là các thông tin đã công bố qua các nguồn khác nhau như báo

cáo, số liệu thống kê, báo, internet có liên quan đến nội dung nghiên cứu

Thông tin sơ cấp: Được thu thập bằng 4 phương pháp: Điều tra chọn mẫu, phỏng vấn

sâu, lấy ý kiến chuyên gia và quan sát ngoài thực tế Các cuộc khảo sát và phỏng vấn trựctiếp các đối tượng được thông qua các bản câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn

Số lượng mẫu được khảo sát cụ thể như sau: 138 hộ sản xuất rau, trong đó: (i) 120 hộthuộc 4 HTX DV NN và HTX NN; (ii) 13 hộ thuộc 3 HTX kiểu mới; (iii) 05 hộ thuộc nhómsản xuất RHC 04 doanh nghiệp (ở các hình thức khác nhau) 158 người bán rau thuộc 11chợ và 06 siêu thị đã được lựa chọn 170 người mua rau tại các chợ và siêu thị kể trên Đồngthời trao đổi trực tiếp với 09 Ban quản lý (BQL) chợ, 07 Ban giám đốc (BGĐ) HTX, 01 liêntrưởng nhóm sản xuất RHC và 01 nhóm trưởng nhóm RHC Có tham quan tại nhiều điểmsản xuất và kinh doanh khác trong toàn thành phố

Nội dung phiếu điều tra các đối tượng đề cặp đến các khía cạnh khác nhau tùy từngđối tượng là người sản xuất, thu gom, bán buôn, bán lẻ, NTD; BGĐ các HTX, các trưởngnhóm và liên trưởng nhóm sản xuất RHC, doanh nghiệp, các siêu thị

3.2.5 Phương pháp tổng h ọp thông tin và xử lý dữ liệu

Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel

Các phương pháp phân tích được áp dụng như thống kê mô tả; Phương pháp phân tổthống kê; Phương pháp so sánh và phương pháp SWOT để thấy được sự khác nhau của cáccác đối tượng sản xuất, kênh tiêu thụ và hệ thống chung cho quy mô toàn thành phố

3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các nhóm chỉ tiêu như thể hiện nguồn cung cấp rau (Số

chủng loại rau được sản xuất, diện tích gieo trồng rau, Tỷ lệ rau được tiêu thụ qua các kênhkhác nhau, giá bán và số lượng các đơn vị cung cấp rau ); Thể hiện tiêu thụ rau tại chợ vàsiêu thị (Diện tích giành cho việc bày bán rau/điểm; Số lượng chủng loại rau được bán;

Trang 10

Khối lượng rau được tiêu thụ/ngày; Giá bán; Số lượng phương tiện vận chuyển sản phẩmđược sử dụng; Số lần kiểm tra, kiểm soát nguồn rau tại các hệ thống bán); và các nhân tốảnh hưởng đến việc tiêu thụ (Diện tích vùng sản xuất rau và RAT được quy hoạch; Sốlượng GCN RAT hoặc VietGAP được cấp; Chính sách quản lý sản xuất, tiêu thụ và chấtlượng rau ra đời; Số điểm bán RAT của thành phố; Tỷ lệ rau bán được thông qua hợp đồng;

Tỷ lệ sản phẩm được cung ứng thông qua liên kết sản xuất và tiêu thụ thông qua liên kết; Sốlượng chợ được cải tạo, xây mới; Số lượng siêu thị tại từng giai đoạn và Số lần muarau/tuần)

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 THỰC TRẠNG TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊTRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.1.1 Hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố

Hiện nay, trên toàn địa bàn thành phố có 411 chợ, trong đó đã có 380 chợ được phânhạng: 12 chợ loại I, 69 chợ loại II và 299 chợ loại III Các chợ này được phân bố rải ráckhắp các quận, huyện trên địa bàn thành phố Tuy nhiên, chợ loại I chỉ có ở một số huyện vàquận trung tâm Trong số 12 chợ loại I, có 8 chợ hiện đang hoạt động với hình thức chợ đầumối có bán các sản phẩm rau Với sự phân bố như hiện nay, mạng lưới chợ đã rất thuận lợicho cả người bán và người mua hoạt động

Số lượng siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng luôn ở trạng thái gia tăng songRAT chỉ được bán tại các siêu thị tổng hợp Tính đến tháng 6/2014 có 156 siêu thị, trong đó

có 87 điểm bán rau trên toàn thành phố Một số kênh siêu thị chính đó là Metro Casch &Carry, Big C, Intimex, Fivimart thuộc các siêu thị liên doanh và của Việt Nam Chúng baogồm cả siêu thị bán buôn và bán lẻ Trong 5 năm gần đây, các siêu thị đã nỗ lực trong việccung ứng rau nên chủng loại rau khá phong phú, khối lượng bán gia tăng và ngày càng thuhút nhiều NTD mua rau tại siêu thị

4.1.2 Nguồn và đối tượng cung rau

Về nguồn rau tại thị trường Hà Nội Nguồn rau được sản xuất tại Hà Nội mới đáp

ứng được 52% nhu cầu rau của toàn thành phố, nên thành phố Hà Nội vẫn thiếu rau, nhất làcác tháng mùa mưa Lượng rau bổ sung vào Hà Nội từ các tỉnh lân cận, các vùng chuyêncanh và nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc Các chủng loại rau nhập khẩu chủ yếu là càchua, cải bắp, cải thảo, khoai tây (Trung Quốc) và khoai tây (Mỹ - vào các siêu thị) Mặc

dù thiếu, rau được sản xuất tại Hà Nội vẫn được đưa đến một số địa bàn khác trong nước ở

vụ đông và xuất khẩu (chủ yếu rau gia vị) Cụ thể thông tin được mô phỏng qua sơ đồ 4.1

Trang 11

Nguồn bổ sung rau vào Hà Nội Chuyển rau ra khỏi Hà Nội

(48-50% nhu cầu rau của Hà Nội) (4,5-7,0% sản lượng rau của Hà Nội)

Ước từ 553.846 đến 600.000 tấn/năm) (Ước từ 27.000 đến 42.000 tấn/năm)

Sơ đồ 4.1 Tóm tắt nguồn cung rau tai thi trường Hà Nôi và rau Hà Nôi

cung ứng cho địa bàn khác (ngoài Hà Nôi)

Đối tượng tham gia cung ứng rau: Trên địa bàn Hà Nội có ba đối tượng tham gia sản

xuất cung ứng rau ra thị trường đó các hộ thuộc các HTX NN, HTX kiểu mới và nhóm sảnxuất RHC và doanh nghiệp Bằng cách xác định các thành phần tham gia sản xuất trên từngđịa bàn và tham khảo thống kê số lượng hộ tham gia sản xuất rau của Sở NN và PTNT HàNội, tính toán được các số liệu phản ánh tại bảng 4.1

đó là các nhà cung ứng vào siêu thị phải do siêu thị đã lựa chọn, còn tại chợ, ai có sản phẩmnào hoặc có khả năng kinh doanh đều có thể tham gia Tại chợ bán buôn và bán lẻ, tiêu chíchính lựa chọn nhà cung ứng là giá bán và bề ngoài sản phẩm, còn các tiêu chí khác như độ

an toàn của rau (GCN) thì không ai yêu cầu Tại các siêu thị, có 6 tiêu chí lựa chọn nhà cungứng được đặt ra là: giá, độ an toàn (GCN), mức độ đa dạng của chủng loại rau, Tình trạngpháp lý của nhà cung ứng, lượng hàng/lần giao, bề ngoài của rau và ngoài ra còn có siêu thịquan tâm đến mức độ chuyên nghiệp của nhà cung ứng (đóng gói, giao hàng đúng giờ )

Từ 2012 trở lại đây, các siêu thị quan tâm nhiều đến

Bảng 4.1 Tỷ lệ diện tích và sản lượng rau của các đối tượng tham gia sản xuất rau trên địa bàn Hà Nôi

Trang 12

1 0

Nguồn hàng rau tới hệ thống chợ và siêu thị: Tóm tắt sơ đồ tiêu thụ rau thông qua các

kênh tại hệ thống chợ như sơ đồ 4.2

Sơ đồ 4.3 Tóm tắt nguồn rau tới hệ thống siêu thị tại Hà Nội

tiêu chí an toàn thay bằng tiêu chí về giá được ưu tiên so với trước đây

Sơ đồ 4.2 Tóm tắt các kênh tiêu thu rau thông qua hệ thống ch ơ tại Hà Nội

Nguồn rau được sản xuất ra trên địa bàn Hà Nội được đưa đến các chợ chủ yếu bởi các hộthuộc các HTX NN, phần do các hộ thuộc các HTX kiểu mới và doanh nghiệp không đán kể, chỉ làphần dôi dư so với kế hoạch hoặc rau không đủ tiêu chuẩn bán vào siêu thị hoặc bếp ăn

Tóm tắt nguồn hàng cung ứng đến kênh siêu thị trên địa bàn thành phố (sơ đồ 4.3)

Nguồn rau tươi tới các siêu thị hiện tại bao gồm chủ yếu nguồn rau được sản xuất tại Hà Nội.Ước nguồn từ Hà Nội được bán tại các siêu thị chiếm 70% tổng lượng rau do các siêu thị bán được.Chủ yếu là các loại rau ăn lá theo mùa

Quan hệ giữa nhà cung ứng và người kinh doanh: Tại các chợ bán buôn có 62,5% những

người thu gom, bán buôn thường duy trì quan hệ thường xuyên Tỷ lệ này là 68% tại các chợ bán lẻ

Có 25% người được hỏi lại không muốn duy trì việc trao đổi thường xuyên vì lo rằng khi người bán

có rau xấu vẫn nài ép mua, tỷ lệ này ở chợ bán lẻ là 29% Số còn lại cho rằng thuận mua, vừa bán.Giữa họ thường không có những bản hợp đồng, nếu họ đã quen biết chỉ cần thoả thuận miệng Đốivới các siêu thị, 100% mong muốn duy trì quan hệ thường xuyên và việc mua bán thông qua hợpđồng, thời hạn ký kết thường là 1 năm Các chỉ tiêu về tiêu chuẩn sản phẩm cũng được đề cặp tại cácphụ lục hợp đồng

Ngày đăng: 10/06/2016, 10:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 4.1. Tóm tắt nguồn cung rau tai thi trường Hà Nôi và rau Hà Nôi - Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố hà nội  (TT)
Sơ đồ 4.1. Tóm tắt nguồn cung rau tai thi trường Hà Nôi và rau Hà Nôi (Trang 11)
Bảng 4.1. Tỷ lệ diện tích và sản lượng rau của các đối tượng tham gia sản xuất rau trên địa  bàn Hà Nôi - Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố hà nội  (TT)
Bảng 4.1. Tỷ lệ diện tích và sản lượng rau của các đối tượng tham gia sản xuất rau trên địa bàn Hà Nôi (Trang 11)
Sơ đồ 4.2. Tóm tắt các kênh tiêu thu rau thông qua hệ thống ch ơ tại Hà Nội - Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố hà nội  (TT)
Sơ đồ 4.2. Tóm tắt các kênh tiêu thu rau thông qua hệ thống ch ơ tại Hà Nội (Trang 12)
Sơ đồ 4.3. Tóm tắt nguồn rau tới hệ thống siêu thị tại Hà Nội - Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố hà nội  (TT)
Sơ đồ 4.3. Tóm tắt nguồn rau tới hệ thống siêu thị tại Hà Nội (Trang 12)
Bảng 4.7. Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của các đối tượng tham gia sản xuất - Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố hà nội  (TT)
Bảng 4.7. Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của các đối tượng tham gia sản xuất (Trang 16)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w