1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên

216 378 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 4,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

iv M0, m3/ha Trữ lượng rừng trước khai thác Mkt, m3/ha Trữ lượng của bộ phận cây khai thác Mđg, m3/ha Trữ lượng của bộ phận cây đổ gãy Mmdkt, m3/ha Trữ lượng rừng mất đi do khai thác và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

ƢỜ ỌC Ệ

NGUYỄN QUỐC ƢƠ

Á Á SỰ AY Ổ A D NG CÂY GỖ ƢỚC VÀ SAU KHAI THÁC CHO KIỂU RỪNG LÁ RỘ ƢỜNG XANH Ở

KHU VỰC TÂY NGUYÊN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ỆP

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

ƢỜ ỌC Ệ

NGUYỄN QUỐC ƢƠ

Á Á SỰ AY Ổ A D NG CÂY GỖ ƢỚC VÀ SAU KHAI THÁC CHO KIỂU RỪNG LÁ RỘ ƢỜNG XANH Ở

KHU VỰC TÂY NGUYÊN

Chuyên ngành: iều tra và Quy hoạch rừng

Trang 5

ii

LỜI CẢ Ơ

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Lâm học, Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Lâm nghiệp; Lãnh đạo Trường Trung học Lâm nghiệp Tây Nguyên đã quan tâm, chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình đào tạo và nghiên cứu xây dựng luận án

Trong thời gian thực hiện luận án, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình, chu đáo của thầy giáo hướng dẫn khoa học GS.TS Vũ Tiến Hinh để hoàn thành luận án Qua đây, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới GS.TS Vũ Tiến Hinh

Nhân dịp này, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơ Pai, Hà Nừng, Đăk Tô, M’Đrăk đã giúp đỡ tôi thu thập số liệu hoàn thành luận án này Tác giả xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học

đã có những ý kiến góp ý quý báu để tác giả bổ sung và hoàn thiện luận án

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn quý Thầy giáo, Cô giáo, gia đình và bạn

bè đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ về vật chất và tinh thần để tác giả có thêm nghị lực hoàn thành luận án này

Với tất cả sự nỗ lực của bản thân nhưng về trình độ và thời gian hạn chế nên luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp

Trang 6

iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

G, (m2/ha) Tiết diện ngang lâm phần

G0, (m2/ha) Tiết diện ngang trước khai thác

Gkt, (m2/ha) Tiết diện ngang của bộ phận cây khai thác

Gđg, (m2/ha) Tiết diện ngang của bộ phận cây đổ gãy

G1, (m2/ha) Tiết diện ngang mất đi do khai thác và đổ gãy: G1 = (Gkt + Gđg)

G2, (m2/ha) Tiết diện ngang sau khai thác: G2= (G0 - G1)

Hvn, (m) Chiều cao vút ngọn

HL2 Tỷ lệ hỗn loài của các loài có độ nhiều >5%

IVI: Chỉ số quan trọng (Importance Value Index)

ki0 Hệ số tổ thành trước khai thác

Trang 7

iv

M0, (m3/ha) Trữ lượng rừng trước khai thác

Mkt, (m3/ha) Trữ lượng của bộ phận cây khai thác

Mđg, (m3/ha) Trữ lượng của bộ phận cây đổ gãy

Mmdkt, (m3/ha) Trữ lượng rừng mất đi do khai thác và đổ gãy: Mmdkt = (Mkt +

Mđg)

M2, (m3/ha) Trữ lượng rừng sau khai thác: M2= (M0 – Mmdkt)

mtg Số loài tham gia công thức tổ thành

mtg- Số loài mất đi trong công thức tổ thành sau khai thác

mtg+ Số loài mới thêm vào trong công thức tổ thành sau khai thác

N0, (cây/ha) Mật độ rừng trước khai thác

Nkt, (cây/ha) Mật độ của bộ phận cây khai thác

Nđg, (cây/ha) Mật độ của bộ phận cây đổ gãy

Nmdkt, (cây/ha) Mật độ rừng mất đi do khai thác và đổ gãy: Nmdkt = (Nkt + Nđg)

N2, (cây/ha) Mật độ rừng sau khai thác: N2= (N0 – Nmdkt)

OTC, ODB Ô tiêu chuẩn, Ô dạng bản

SPSS (Statistical Package and Social Sciences)

Gói phân tích thống kê dành cho khoa học xã hội

Trang 8

v

MỘT SỐ THUẬT NGỮ DÙNG TRONG LUẬN ÁN

Khai thác chọn: Là việc chặt hạ gỗ nhằm lợi dụng lượng tăng trưởng của

rừng để đạt mục đích kinh tế là chính, nhưng phải đảm bảo phát triển, sử dụng rừng bền vững đã xác định trong phương án điều chế rừng hoặc phương án quản lý rừng bền vững hoặc phương án khai thác

Khai thác tác động thấp: Là một hệ thống các biện pháp từ khâu lập kế

hoạch (kế hoạch dài hạn, kế hoạch giai đoạn và kế hoạch năm) đến thiết kế khai thác; triển khai các hoạt động phụ trợ như làm đường, kho bãi, chặt hạ, vận xuất, xử

lý rừng sau khai thác… đồng thời giám sát, đánh giá nhằm thực hiện tốt cho mục tiêu quản lý rừng bền vững

hóm loài cây ưu thế: Là tập hợp những loài cây chiếm tỷ trọng lớn trong

quần xã thực vật rừng, có tổng hệ số tổ thành ki ≥ 50%

Loài cây mất đi: Là loài cây có mặt trong công thức tổ thành trước khai thác

nhưng sau khai thác tỷ trọng của loài bị giảm sút và không còn xuất hiện trong công thức tổ thành sau khai thác

Loài cây mới thêm vào: Là loài cây không có mặt trong công thức tổ thành

trước khai thác nhưng sau khai thác có sự biến động tỷ trọng giữa các loài và loài này lại xuất hiện trong công thức tổ thành sau khai thác

Trữ lượng khai thác: Là trữ lượng mất đi do khai thác (m3/ha)

Trữ lượng đổ gãy: Là trữ lượng mất đi do đổ gãy trong quá trình khai thác

(m3/ha)

Trữ lượng mất đi sau khai thác: Là tổng trữ lượng mất đi do khai thác và

đổ gãy (m3

/ha)

Cường độ khai thác: Được tính theo tỷ lệ phần trăm (viết tắt là %) giữa trữ

lượng của những cây gỗ chặt trong ô so với tổng trữ lượng rừng của ô đó tại thời điểm thiết kế (không tính cây chặt bài thải và đổ vỡ)

Trang 9

vi

Cường độ đổ gãy: Được tính theo tỷ lệ % giữa trữ lượng các cây gỗ đổ gãy

do quá trình khai thác trong ô với tổng trữ lượng của ô đó trước khai thác

Cường độ tổng hợp sau khai thác: Được tính theo tỷ lệ % giữa trữ lượng

các cây gỗ mất đi sau khai thác trong ô với tổng trữ lượng của ô đó trước khai thác

Cây phẩm chất A: Là cây thân thẳng, đẹp, đoạn gỗ thân dài

Cây phẩm chất B: Là cây có khuyết tật nhưng vẫn có thể lợi dụng được từ

50 ÷ 70% thể tích của thân cây

Cây phẩm chất C: Là cây cong queo sâu bệnh hoặc cụt ngọn, rỗng ruột, chỉ

có thể sử dụng dưới 50% thể tích của thân cây

Trang 10

vii

MỤC LỤC

Trang LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT iii

MỘT SỐ THUẬT NGỮ DÙNG TRONG LUẬN ÁN v

MỤC LỤC vii

DANH MỤC BẢNG, BIỂU x

DANH MỤC HÌNH VẼ xii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của luận án 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Những đóng góp của luận án 4

6 Cấu trúc luận án 4

Chương 1 5

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Ở nước ngoài 5

1.1.1 Phương thức khai thác 5

1.1.2 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng 8

1.1.3 Tái sinh rừng 10

1.1.4 Cấu trúc tổ thành 13

1.1.5 Đa dạng tầng cây gỗ 15

1.1.6 Ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh học trong nghiên cứu đa dạng thực vật 16

1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật 17

1.2 Ở trong nước 20

1.2.1 Phương thức khai thác 20

1.2.2 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng 24

1.2.3 Tái sinh rừng 26

Trang 11

viii

1.2.4 Cấu trúc tổ thành 30

1.2.5 Đa dạng tầng cây gỗ 32

1.2.6 Ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh học trong nghiên cứu đa dạng thực vật 34

1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật 35

1.3 Thảo luận 36

Chương 2 38

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Nội dung nghiên cứu 38

2.1.1 Xác định một số đặc điểm cơ bản của đối tượng rừng khai thác 38

2.1.2 Đánh giá sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác 38

2.1.3 Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác 38

2.1.4 Đánh giá sự thay đổi tổ thành tái sinh rừng trước và sau khai thác 38

2.1.5 Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh 39

2.2 Phương pháp nghiên cứu 39

2.2.1 Quan điểm và phương pháp luận 39

2.2.2 Phương pháp kế thừa tài liệu 40

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 40

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 43

Chương 3 56

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56

3.1 Một số đặc điểm cơ bản của đối tượng rừng khai thác 56

3.1.1 Một số nhân tố điều tra cơ bản 56

3.1.2 Phân bố số cây và trữ lượng theo nhóm gỗ 60

3.1.3 Phân bố số cây và trữ lượng theo dạng sống 64

3.1.4 Phẩm chất của các bộ phận cây rừng 66

3.1.5 Ảnh hưởng của khai thác đến cấu trúc mật độ và trữ lượng rừng 68

3.1.6 Đánh giá sự thay đổi trạng thái rừng trước và sau khai thác 71

3.2 Đánh giá sự thay đổi về tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác 72

3.2.1 Sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác theo loài cây (N%) 72

3.2.2 Sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác theo chỉ số (IV%) 80

3.2.3 Sự thay đổi tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác theo nhóm gỗ 88

Trang 12

ix

3.2.4 Sự thay đổi số lượng loài và trữ lượng theo dạng sống 98

3.3 Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác 101

3.3.1 Sự thay đổi một số chỉ số đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác 101

3.3.2 Đa dạng loài theo cấp kính 106

3.3.3 Đa dạng theo nhóm gỗ 108

3.3.4 Đa dạng loài theo dạng sống 111

3.3.5 Biến động đa dạng loài 113

3.4 Đánh giá sự thay đổi tái sinh rừng trước và sau khai thác 118

3.4.1 Tổ thành tầng cây tái sinh 118

3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá tái sinh rừng 123

3.4.3 Mối quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao với tổ thành tầng cây tái sinh 132

3.5 Đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh 133

3.5.1 Đối với thiết kế khai thác 133

3.5.2 Đối với quá trình khai thác 134

3.5.3 Giải pháp kỹ thuật lâm sinh sau khai thác 141

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 145

1 Kết luận 145

1.1 Sự thay đổi trạng thái rừng trước và sau khai thác 145

1.2 Sự thay đổi về tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác 145

1.3 Sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác 145

1.4 Sự thay đổi tái sinh rừng trước và sau khai thác 146

1.5 Về đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh 147

2 Tồn tại 147

3 Khuyến nghị 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

Tiếng nước ngoài

PHỤ BIỂU

Trang 13

x

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Trang

Biểu 2.1: Điều tra thống kê tầng cây gỗ 42

Biểu 2.2: Phân cấp trữ lượng theo nhóm gỗ 43

Biểu 2.3: Phân bố cây tái sinh theo cỡ chiều cao 54

Biểu 2.4: Phân bố cây tái sinh theo cỡ đường kính 54

Bảng 3.1: Một số nhân tố điều tra cơ bản của các OTC 57

Bảng 3.2: Phân bố số cây và trữ lượng theo nhóm gỗ 61

Bảng 3.3: Phân bố số cây và trữ lượng theo dạng sống 65

Bảng 3.4: Phẩm chất của các bộ phận cây rừng 66

Bảng 3.5: Số cây mất đi và cường độ tổng hợp khai thác 68

Bảng 3.6: Trữ lượng và cường độ tổng hợp khai thác 70

Bảng 3.7: Công thức tổ thành theo N% một số OTC 72

Bảng 3.8: Sự thay đổi một số chỉ tiêu trong công thức tổ thành trước và sau khai thác 75

Bảng 3.9: Công thức tổ thành theo IV% một số OTC 80

Bảng 3.10: Sự thay đổi một số chỉ tiêu trong công thức tổ thành trước và sau khai thác 82

Bảng 3.11: Các loài cây ưu thế chủ yếu có ∑IV%≥50% 87

Bảng 3.12: Công thức tổ thành nhóm gỗ theo số cây một số OTC 89

Bảng 3.13: Sự thay đổi một số chỉ tiêu trong công thức tổ thành nhóm gỗ theo số cây trước và sau khai thác 90

Bảng 3.14: Công thức tổ thành nhóm gỗ theo trữ lượng một số OTC 93

Bảng 3.15: Sự thay đổi một số chỉ tiêu trong công thức tổ thành nhóm gỗ theo trữ lượng trước và sau khai thác 95

Bảng 3.16: Công thức tổ thành dạng sống theo số cây N% 98

Bảng 3.17: Công thức tổ thành dạng sống theo trữ lượng M% 99

Bảng 3.18: Chỉ số phong phú của loài R 101

Bảng 3.19: Kết quả tính chỉ số Simpson 103

Trang 14

xi

Bảng 3.20: Mức độ đa dạng loài H 104

Bảng 3.21: Kết quả so sánh mức độ đa dạng cây gỗ giữa trước và sau khai thác 105

Bảng 3.22: Phân bố số loài bị mất đi theo cỡ kính trong từng OTC sau khai thác 107 Bảng 3.23: Đa dạng loài theo nhóm gỗ 109

Bảng 3.24: Đa dạng cá thể theo nhóm gỗ 110

Bảng 3.25: Đa dạng loài theo dạng sống 112

Bảng 3.26: Tỷ số hỗn loài 113

Bảng 3.27: Chỉ số đa dạng Rensyi tầng cây cao các trạng thái rừng 116

Bảng 3.28: Công thức tổ thành tầng cây tái sinh một số OTC 118

Bảng 3.29: Sự thay đổi một số chỉ tiêu trong công thức tổ thành tái sinh trước và sau khai thác 120

Bảng 3.30: Mật độ cây tái sinh 124

Bảng 3.31: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 125

Bảng 3.32: Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao 127

Bảng 3.33: Phân bố cây tái sinh theo cấp đường kính Doo 128

Bảng 3.34: Hình thái phân bố cây tái sinh 131

Bảng 3.35: Mối quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao với tổ thành tầng cây tái sinh 132 Bảng 3.36: Bảng tra trữ lượng đổ gãy Mđg từ trữ lượng khai thác Mkt 136

Bảng 3.37: Bảng tra tỷ lệ đổ gãy do khai thác I%đg từ cường độ khai thác I%kt 139

Bảng 3.38: Các loài cây lựa chọn làm giàu rừng 144

Trang 15

xii

DANH MỤC HÌNH VẼ

Trang

Hình 2.1: Sơ đồ 1 ô tiêu chuẩn 41

Hình 3.1: Phân bố số cây theo nhóm gỗ 64

Hình 3.2: Phẩm chất theo số cây trước và sau khai thác 67

Hình 3.3: Cường độ khai thác và tỷ lệ đổ gãy theo số cây 69

Hình 3.4: Cường độ khai thác và tỷ lệ đổ gãy theo trữ lượng 71

Hình 3.5: Sự thay đổi tổ thành loài cây theo N% trước và sau khai thác 79

Hình 3.6: Sự thay đổi tổ thành loài cây theo IV% trước và sau khai thác 86

Hình 3.7: Chỉ số phong phú R trước và sau khai thác 102

Hình 3.8: Phân bố số loài mất đi theo từng cỡ đường kính 108

Hình 3.9: Đa dạng loài theo nhóm gỗ 110

Hình 3.10: Đa dạng cá thể theo nhóm gỗ 111

Hình 3.11: Đa dạng loài theo dạng sống 113

Hình 3.12: Biểu đồ chỉ số đa dạng Rensyi OTC 12 khai thác chọn 117

Hình 3.13: Biểu đồ chỉ số đa dạng Rensyi OTC 25 khai thác tác động thấp 117

Hình 3.14: Sự thay đổi tổ thành tầng cây tái sinh trước và sau khai thác 123

Hình 3.15: Phân bố cây tái sinh theo cỡ chiều cao Hvn và cỡ dường kính Doo 130

Hình 3.16: Quan hệ Mmất đi /Mkt 136

Hình 3.17: Quan hệ (I%thskt /I%kt) 138

Trang 16

1

MỞ ẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Rừng tự nhiên nước ta thể hiện rõ những đặc trưng cơ bản của rừng mưa nhiệt đới, phần lớn là rừng thường xanh, kín tán, nhiều tầng, hỗn giao nhiều loài cây, khác tuổi với các loài cây gỗ chiếm ưu thế, có quá trình sinh trưởng, tái sinh liên tục

Điều kiện tự nhiên nhiệt đới nói chung cũng như ở nước ta nói riêng làm cho các hệ sinh thái trong đó có hệ sinh thái rừng sinh sôi phát triển mạnh mẽ nhanh chóng Nhưng nếu chúng bị suy thoái thì tốc độ suy thoái cũng rất nhanh và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng rất khó khắc phục

Có nhiều nguyên nhân làm cho diện tích rừng nước ta bị thu hẹp Sự suy thoái của rừng đã giảm sút nhiều khả năng cung cấp lâm sản và tác dụng phòng hộ của rừng Theo đó là sự gia tăng tác hại của thiên tai, như bão, lũ, hạn, úng dẫn đến tổn thất lớn về tài sản, tính mạng con người

Tầng cây gỗ là thành phần chính tạo lập nên hệ sinh thái rừng, nó đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập tiểu hoàn cảnh rừng, sản lượng gỗ và chức năng sinh thái của rừng Bất cứ biến đổi đáng kể nào của tầng cây gỗ cũng dẫn đến sự thay đổi về năng suất, sản lượng cũng như vai trò sinh thái của rừng

Sự thay đổi tầng cây gỗ của rừng là kết quả của quá trình diễn thế rừng, và

do nhiều nguyên nhân gây ra như các yếu tố thuộc nội tại hoàn cảnh rừng, cũng như các yếu tố tác động bên ngoài Khai thác rừng là một nhân tố bên ngoài ảnh hưởng

cả trực tiếp và gián tiếp đến cấu trúc và tổ thành rừng, đặc biệt là tầng cây gỗ Hoạt động khai thác ảnh hưởng trực tiếp đến tầng cây gỗ (tức là tác động trực tiếp đến cấu trúc rừng), và ảnh hưởng gián tiếp đến tiểu hoàn cảnh rừng, do vậy khai thác sẽ ảnh hưởng rõ đến tầng cây gỗ cả trung gian và dài hạn trong kinh doanh rừng Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, tổ thành và mức đa dạng tầng cây gỗ có quan hệ chặt chẽ không chỉ với trữ lượng gỗ mục đích mà còn có ảnh hưởng rõ rệt đến sự ổn định

và chức năng sinh thái của rừng Việc đánh giá sự thay đổi về tổ thành và sự đa

Trang 17

2

dạng tầng cây gỗ trước và sau khai thác vì thế có ý nghĩa quan trọng cho đề xuất biện pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng sau khai thác nhằm đảm bảo kinh doanh rừng bền vững (hướng tới bền vững về sản lượng, duy trì và phát huy chức năng sinh thái rừng)

Tây Nguyên là vùng có đất đai màu mỡ, khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loài cây So với cả nước thì trữ lượng rừng ở đây còn tương đối cao Kinh doanh khai thác rừng bền vững đang mở ra cho vùng một hướng đi và cơ hội phát triển mới Để quản lý cũng như sử dụng bền vững tài nguyên rừng thì rất cần có những công trình nghiên cứu cụ thể và sâu sắc về những vấn đề có liên quan đến tài nguyên rừng tại đây Một trong những lĩnh vực nghiên cứu có liên quan cần thiết là nghiên cứu về sự thay đổi cấu trúc tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác Tuy nhiên, trong kinh doanh rừng tự nhiên nhiệt đới trên thế giới nói chung và

ở Việt Nam nói riêng, việc khai thác rừng được các nhà khoa học đề xuất đều tập trung vào các chỉ tiêu: cường độ, luân kỳ, lượng khai thác, xác định loài cây mục đích khai thác mà ít chú ý đến tổ thành và sự đa dạng của tầng cây gỗ Việc xác định các biện pháp nuôi dưỡng rừng chủ yếu dựa theo các quy định kỹ thuật chung chung thiếu cơ sở khoa học dẫn đến việc khai thác không hợp lý và nuôi dưỡng rừng kém hiệu quả

Xuất phát từ thực tiễn đó, luận án “Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ

trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực Tây Nguyên” được thực hiện là rất cần thiết và có ý nghĩa Kết quả nghiên cứu của đề

tài là cơ sở khoa học cho việc khai thác và nuôi dưỡng rừng một cách bền vững cho khu vực Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

a Về khoa học

Bổ sung những thông tin khoa học làm sáng tỏ sự thay đổi về tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác Đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh

sau khai thác ở vùng Tây Nguyên

Trang 18

3

b Về thực tiễn

- Làm sáng tỏ được sự thay đổi về tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau

khai thác

- Đưa ra được các biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng, phục hồi rừng

tự nhiên lá rộng thường xanh sau khai thác ở vùng Tây Nguyên

3 Mục tiêu nghiên cứu

a Mục tiêu chung

Đánh giá được sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực Tây Nguyên làm cơ sở khoa học cho đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh sau

khai thác ở vùng Tây Nguyên

b Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá được sự thay đổi về tổ thành cây gỗ trước và sau khai thác

- Đánh giá được sự thay đổi về đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác

- Đề xuất được biện pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng sau khai thác đảm bảo cho rừng phát triển bền vững và duy trì sự đa dạng cây gỗ

4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu: Rừng tự nhiên lá rộng thường xanh là rừng sản

xuất đang đưa vào khai thác chính tại Tây Nguyên

b Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận án, chỉ tiến hành nghiên cứu một số cơ sở khoa học cho đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên lá rộng thường xanh sau khai thác ở vùng Tây Nguyên

- Về địa điểm nghiên cứu: Chỉ tiến hành nghiên cứu một số địa phương có khai thác gỗ tại vùng Tây Nguyên là: Gia Lai và Đắk Lắk loại hình khai thác chọn; Kon Tum loại hình khai thác tác động thấp

- Về thời điểm thu thập số liệu: Trước và ngay sau khi khai thác xong

- Về thời gian nghiên cứu: Từ 2013 đến 2016

Trang 19

4

5 Những đóng góp của luận án

- Về mặt học thuật: Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu bổ sung vào giáo

trình, bài giảng phục vụ cho giảng dạy ở bậc đại học trở lên

- Về mặt lý luận: Bổ sung những thông tin khoa học làm sáng tỏ sự thay đổi

về tổ thành và đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác Đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất biện pháp kỹ thuật khai thác và nuôi dưỡng rừng tự nhiên

lá rộng thường xanh sau khai thác ở vùng Tây Nguyên

- Những luận điểm mới rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án

+ Đã xác định và đánh giá được một số thay đổi cơ bản về tổ thành và phân tích được tính đa dạng loài tầng cây gỗ trước và sau khai thác chọn cho kiểu rừng lá rộng thường xanh tại khu vực Tây Nguyên

+ Đã xây dựng được cơ sở và đề xuất được một cách tương đối hệ thống các biện pháp kỹ thuật từ thiết kế khai thác, xác định các chỉ tiêu kỹ thuật cho khai thác đến các biện pháp xử lý lâm sinh phục hồi rừng sau khai thác theo định hướng điều chế rừng một cách bền vững

- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu;

- Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu;

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận;

- Phần kết luận, tồn tại, khuyến nghị: Các kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế, tồn tại của luận án và các khuyến nghị về nghiên cứu tiếp theo

Ngoài ra còn có hệ thống 38 bảng, 04 biểu, 18 hình vẽ, biểu đồ minh họa Tham khảo 118 tài liệu trong đó 86 tài liệu tiếng Việt, 32 tài liệu tiếng nước ngoài,

có liên quan đến chủ đề nghiên cứu và phần phụ lục gồm các bảng biểu minh họa kết quả điều tra và tính toán

Trang 20

5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤ Ề NGHIÊN CỨU

1.1 Ở nước ngoài

1.1.1 Phương thức khai thác

Rất nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về phương thức khai thác chọn, kết quả nghiên cứu đã đem lại những cống hiến và công trình có giá trị như Baur G.N (1964) [2]: Cơ sở sinh thái học kinh doanh rừng mưa Meyenfeldt von C.M (1978) [105] Stocker G.C (1985) [112] đã nghiên cứu các vấn đề kinh doanh rừng mưa, phục hồi rừng về tái sinh vệt và quản lý rừng mưa nhiệt đới dưới các góc độ khác nhau đã xác định mức độ phù hợp của phương thức khai thác chọn trong kinh doanh rừng mưa nhiệt đới

Theo Baur G.N (1964) [2] những lý do để lựa chọn phương thức khai thác duy trì rừng khác tuổi nhiệt đới là: trong khai thác chỉ cần lấy ra những cây gỗ thành thục và quá thành thục, những cây gỗ có kích thước nhỏ hơn và bất kỳ cây gỗ nào cao to hơn còn lành mạnh mà theo tình hình thông thường là vô dụng song có triển vọng thành loài có giá trị hàng hóa đều được chừa lại; cần tiếp tục bảo vệ đất, tránh xói mòn sau khi mở tán rừng có thể xảy ra mạnh; chống các bất trắc do yếu tố khí hậu có thể xảy ra; những lý do về mỹ quan trong cảnh quan chung của vùng, đặc điểm là những nơi liền kề với các diện tích rừng dùng làm nơi vui chơi, giải trí hay

du lịch Trong nhiều trường hợp, tất cả các lý lẽ trên có thể hoàn toàn được chấp nhận để duy trì một quần xã không đều tuổi Tuy nhiên, cũng cần phải cân nhắc các

lý lẽ này trước khi quyết định đưa ra những xử lý lâm sinh bởi phần lớn các loài cây

gỗ rừng nhiệt đới đều có xu hướng là loài ưa sáng Mặt khác, khác thác chọn nếu số lần khai thác ít, cường độ cao và tập trung sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt hơn là khai thác cường độ thấp số lần khai thác nhiều Hơn nữa, nhiều loài cây đặc biệt là

ở rừng mưa nhiệt đới thường có tán lá cực lớn có thể tạo ra hệ số đổ vỡ cao khi khai thác những cây này [22]

Trang 21

6

Một số phương thức chặt chọn được coi là có nhiều hứa hẹn với những thành

công ban đầu phải kể đến là: i) Phương thức chặt chọn ở Surinam (Nam Mỹ), một

chương trình thử nghiệm chặt chọn ở Surinam được tiến hành trong 17 năm với sự hợp tác giữa trường Đại học tổng hợp Surinam và trường Đại học nông nghiệp Wagenigen (Hà Lan) đã xây dựng một phương thức xử lý rừng có tên gọi là

“phương thức kinh doanh Celos” (CMS – Celos Management System) CMS là một phương thức nhằm khai thác một cách chọn lọc tại rừng mưa nhiệt đới với những xáo trộn nhỏ nhất trong hệ sinh thái rừng trong quá trình bảo tồn những giá trị kinh tế của rừng Đây là một phương thức đa chu kỳ, bởi vì một số thế hệ của những cây gỗ hiện có trong quần xã được chặt hạ trong các chu kỳ khai thác khác nhau khoảng 20 – 30 năm CMS có ưu điểm chính là bảo toàn được cấu trúc rừng

có hầu hết các cấp tuổi gần với trạng thái cân bằng cấp kính ii) Chặt chọn ở

Puecto-Rico (Nam Mỹ), chặt chọn ở đây được xác định trước hết là biện pháp xử lý

nhằm cải thiện quần xã và đưa rừng vào các điều kiện thích hợp để kinh doanh, đưa lại năng suất ổn định theo một phương thức chặt chọn chân chính Bởi vậy, phương thức này còn được gọi là phương thức chặt cải thiện tuyển chọn (selection improvement cutting) Điểm đáng chú ý của phương thức chặt này là, lúc đầu chu

kỳ chặt quy định 5 năm nhưng sau đó tăng lên 10 năm Đây là điều khó tránh khỏi

vì cường độ nhẹ, chu kỳ ngắn đã làm tăng các phí tổn trong khai thác Tuy nhiên, việc kéo dài chu kỳ chặt này không làm đảo lộn ý định chung trong một phương thức chặt chọn mặc dù điều đó có thể làm cho sản lượng hàng năm có thể bị rút bớt bởi qua chu kỳ dài mật độ của quần xã sẽ phải biến động ở mức cách xa hơn mức

mật độ tối ưu cần có (Baur G.N 1964) [2] iii) Chặt chọn ở Indonesia, cũng như

nhiều nước Đông Nam Á khác, rừng mưa ở Indonesia ưu thế thuộc về các loài cây

họ Dầu (Dipterocarpaceae) Các quần xã rừng mưa có giá trị thương mại của quốc

đảo này tập trung chủ yếu ở hai đảo lớn là Kalimantan và Xumatra Những công

việc lâm sinh trước đây của Indonesia tập trung vào kinh doanh rừng Tếch (Tectona

grandis) rộng lớn và rất tốt ở vùng phân mùa rõ rệt, đặc biệt là ở Jawa Tuy nhiên,

gần đây các cơ quan lâm nghiệp của nước này đã chú ý đến việc kinh doanh rừng

Trang 22

7

mưa Với đối tượng này, phương thức chặt chọn và trồng lại theo ngôn ngữ của Indonesia là TPTI (Tebang Pilihdan Taman Indonesia) được áp dụng rộng rãi Một cách tổng quát, TPTI là một phương thức khai thác chọn với chu kỳ 35 năm và giới hạn dưới của cỡ kính được phép khai thác là 50cm Số lượng cây lấy đi trong một lần chặt được khống chế bằng một chỉ số sao cho ít nhất phải chừa lại 25 cây trên một hecta cho chu kỳ sau Thông thường, mỗi lần chặt không lấy đi quá 10 cây/hecta Tại các khoảng trống hình thành sau khai thác được trồng bổ sung cây con sau khi thu hoạch từ một đến hai năm Ở nơi có cây tái sinh sau hai thác dày chỉ

chăm sóc, phát quang cho cây mục đích và tỉa thưa những cây kém giá trị [22] iv)

Chặt chọn ở Ấn Độ, một trong những chế độ quản lý rừng sớm nhất và còn được

chấp nhận rộng rãi nhất là phương thức chặt chọn, nó bao gồm việc khai thác có chọn lọc các cây gỗ có giá trị và dựa vào tái sinh tự nhiên là chủ yếu Phương thức này được áp dụng ở những nơi có các loài cây có giá trị với tỷ lệ thấp; nơi thiếu thông tin về sử dụng đầu ra, khó tiếp cận hoặc có yêu cầu về bảo vệ môi trường Những xử lý sau này của Ấn Độ có cải biến thêm là sử dụng phương thức khai thác chọn, kết hợp với các biện pháp nhằm cải thiện thúc đẩy cây tái sinh có sẵn phát triển lên Về kỹ thuật, chu kỳ chặt chọn khá dài (25 đến 45 năm), không mở tánmạnh bằng cách quy định các giới hạn về đường vanh thân cây và hạn chế số cây lấy ra trên một hecta đồng thời xem xét đến cự ly giữa các cây gỗ chặt hạ Tùy thuộc vào tình hình tái sinh nơi khai thác, có thể bổ sung cây tái sinh thông qua tái sinh nhân tạo nơi không có đủ cây con Sau khai thác, tiến hành chăm sóc, phát quang cho lớp cây tái sinh đã mọc và nâng dần tầm cao của vòm lá Ở quần xã

Dipterocarpus spp và Mesua ferre, dùng kỹ thuật ken cây tầng giữa để nâng cao

vòm lá lên khoảng 9 mét, chăm sóc cây tái sinh, sau 10 năm, cây tái sinh có chiều cao từ 0,3 mét đã sinh trưởng đạt tới 2,25 mét Còn ở nơi không dùng kỹ thuật nâng cao vòm lá, cây tái sinh cùng tuổi chỉ sinh trưởng được 0,3 mét sau khai thác lên 0,75 mét (Baur G.N 1964) [2]

Kỹ thuật khai thác tác động thấp (LIL – Low Impact Logging) hay còn được gọi là khai thác giảm thiểu tác động (RIL - Reducing Impact Logging) đã được

Trang 23

8

chứng minh làm giảm thiểu tác động đến môi trường đến 50% so với phương pháp khai thác thông thường, các khu vực rừng sau khai thác công nghệ RIL có tốc độ phục hồi nhanh hơn, Pinard and Putz (1997) [100] Viện sinh học và khoa học môi trường Malaysia đã tiến hành nghiên cứu đề tài sự tác động của khai thác và khả năng phục hồi CO2 sau khai thác tác động thấp, kết quả cho thấy tỷ lệ cây bị tác động (tổn thương) ở phương pháp thông thường cao hơn RIL Sau khai thác độ che phủ của RIL duy trì ở mức 81%, phương pháp thông thường là 51% Lượng lưu trữ

CO2 sau khai thác RIL cao hơn đến 41%, Philippa R Lincoln (2008) [99]

1.1.2 Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng

Lịch sử quản lý rừng nhiệt đới được phát triển từ những năm đầu của thế kỷ XIX ở Ấn Độ, Mianma và nhanh chóng lan rộng sang nhiều khu vực ở châu Phi Khởi đầu, hoạt động quản lý được thực hiện nhằm bảo vệ có hệ thống các nguồn tài nguyên gỗ Ở giai đoạn sau này, các hoạt động quản lý được đa dạng hóa như: chuyển đổi rừng tự nhiên thành rừng trồng hoặc nông lâm kết hợp, tác động nhằm tạo rừng tự nhiên có năng suất cao hơn, hoặc giảm thiểu tác động và sử dụng tái sinh tự nhiên để tạo ra các lâm phần có mục tiêu lấy gỗ (các hệ thống tái sinh tự nhiên) Ngoài ra, quản lý rừng cũng bao gồm các hệ thống phục hồi bằng việc phục hồi lại rừng trên đất đã bị thoái hóa (các hệ thống phục hồi) Theo (Gomez-Pompa

& Burley, (1991) [92] có thể gộp các hệ thống quản lý rừng trên thế giới về 4 nhóm chính: nhóm các hệ thống thay thế; nhóm các hệ thống rừng chặt trắng; nhóm các

hệ thống thúc đẩy tái sinh tự nhiên; nhóm các hệ thống rừng phục hồi

Nỗ lực đầu tiên về quản lý rừng bền vững, gắn liền với chứng chỉ được thực hiện là thành lập Hệ thống Rừng Trang trại Hoa Kỳ (American Tree Farm System-ATFS) năm 1941, tiếp đó là Hội đồng Quản trị Rừng (Forest Stewardship Council-FSC) năm 1993, Lembaga Ekolabel Indonesia (LEI), Forest Certification Schemes (PEFC) năm 1999 và Hệ thống chứng chỉ gỗ Malaysia MTCS (Malaysian Timber Certification Scheme -MTCS) năm 2001 Cho đến cuối năm 2011, tổng diện tích rừng được quản lý bến vững, được cấp chứng chỉ theo các bộ tiêu chuẩn khác nhau

là 401.418.552 ha, tương đương 10% tổng diện tích rừng toàn cầu [1]

Trang 24

9

Tháng 10 năm 1993, cuộc họp sáng lập FSC với 130 thành viên từ 26 quốc gia diễn ra tại Toronto, Canada đã bầu ra Hội đồng Quản trị rừng đầu tiên Tiếp đó vào năm 1994 các thành viên sáng lập phê duyệt các nguyên tắc và tiêu chí FSC cùng quy định về hệ thống tổ chức FSC Từ đó tới nay FSC đã trải qua quá trình phát triển mạnh mẽ với hệ thống chứng chỉ quản lý rừng bền vững có uy tín trên thế giới FSC là tổ chức uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận,

kể cả Bắc Mỹ và Tây Âu [37] FSC được thành lập vào tháng 10/1993 tại Canada bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 26 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, đại diện các ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ FSC cấp chứng chỉ QLRBV cho rừng ôn đới, nhiệt đới, rừng tự nhiên, rừng trồng và đang mở rộng ra rừng sản xuất lâm sản ngoài gỗ Tổ chức này có trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn-Đức có cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ, công bằng FSC có đại diện tại hơn 50 quốc gia Thành viên FSC được chia thành nhóm xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển) Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC Hội đồng Quản trị rừng quốc tế (FSC) đề xuất 10 nguyên tắc và các tiêu chuẩn quản lý rừng Ủy ban phát triển bền vững (CSD) cũng đề nghị các chỉ thị rừng bền vững Tổ chức các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) và hội tiêu chuẩn Canada (CSA) đã đưa ra hệ thống quản lý ngành lâm nghiệp - tiêu chuẩn ISO 14000

Toronto-Theo Christopher Upton và Stephen Bass (1996) [90], hầu hết các tiêu chuẩn quản lý rừng do các tổ chức quốc tế đưa ra đều được chấp nhận ở mức cao Trong

đó các tiêu chuẩn của FSC được coi là sát thực và có khả năng ứng dụng rộng rãi hơn cả Tuy nhiên, cho đến nay tình hình QLRBV trên thế giới vẫn chưa được cải thiện đáng kể, nhiều khu rừng vẫn đứng trước nguy cơ bị tàn phá nghiêm trọng

Năm 1997, Ngân hàng Thế giới và Quỹ Bảo tồn Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) công bố chương trình hợp tác với mục tiêu đưa 200 triệu hecta rừng được quản lý sản xuất gỗ vào chương trình “Quản lý bền vững được cấp chứng chỉ độc

Trang 25

số, lương thực, khai thác lậu, cháy rừng , hai là bị thị trường thế giới từ chối nếu

gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế Bỏ qua quan niệm rào cản thương mại, các nước thành viên ASEAN đều cần bảo vệ rừng nước mình

và đều cần bán sản phẩm đồ gỗ vào các thị trường quốc tế với giá bán cao Vì đây là nhu cầu cấp bách, khách quan, nên trong các năm 1995-2000 ASEAN đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV cho mình vào năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại Hội nghị Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệp Phnom-penk

2001 Song, do Bộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo theo 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC Tuy vậy, các nước

có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia (Kim ngạch xuất khẩu gỗ 5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7 - 5 tỷ USD/năm), sau đó đến Philippines, Thailand đều được cấp chứng chỉ FSC (theo 10 nguyên tắc của FSC) trong các năm 2002-

hệ cây già cỗi Vì vậy, tái sinh hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần

cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Tái sinh rừng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và duy trì sự đa dạng về thực vật trong các hệ sinh thái rừng (Phùng Ngọc Lan, 1986) [35]

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân

bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng cây gỗ đã được

Trang 26

11

nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930 ; Richards, 1933; 1939; Aubreville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Jones, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur G.N, 1964 ; Rollet, 1969) [106] Do tính phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ

có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định

Khi nghiên cứu tái sinh ở rừng đới châu Phi, A.Obrevin (1938) (dẫn theo Phùng Ngọc Lan, 1986) [35] đã khái quát hóa các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh, nhưng phần lý giải các hiện tượng đó còn bị hạn chế Vì vậy lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa góp ích cho thực tiễn sản xuất các biện pháp kỹ thuật điều khiển tái sinh rừng theo những mục tiêu kinh doanh đã đề ra

Vansteenis (1956) [106] khi nghiên cứu về rừng mưa đã nhận xét, đặc điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới là nguyên nhân dẫn đến đặc điểm tái sinh phân tán liên tục Ngược lại, tái sinh phân tán liên tục ở rừng mưa lại là tiền đề để tạo thành một rừng mưa hỗn loài khác tuổi Tổ thành những loài cây tái sinh mọc ở lỗ trống là những loài cây ưa sáng mọc nhanh, đời sống ngắn, không có mặt trong tổ thành rừng, mà nguồn gốc có thể là do chim, những động vật từ xa mang tới… Tỷ lệ cây

ưa sáng tỷ lệ thuận với kích thước lỗ trống, tức là kích thước lỗ trống càng lớn, thì

tỷ lệ cây ưa sáng càng nhiều Đây là loài cây tiên phong làm nhiệm vụ hàn gắn các

lỗ trống ở trong rừng Sau khi các loài cây ưa sáng đã tạo ra bóng, cây tái sinh của những loài cây chịu bóng có trong thành phần của rừng nguyên sinh xuất hiện, vươn lên thay thế các loài cây ưa sáng Khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Châu Á, tác giả cho thấy có hai đặc điểm tái sinh phổ biến, đó là tái sinh vệt và tái sinh phân tán liên tục

M.Loeschau (1977) 46 đã đưa ra một số đề nghị để đánh giá một khu rừng

có tái sinh đạt yêu cầu hay không phải áp dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tổng quát về mật độ tái sinh như nơi có lượng cây tái sinh rất lớn

Trang 27

12

H Lamprecht (1969) [94] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành các nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Baur G N (1964) [2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy

Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng mưa nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards P.W (1952), Bernard Rollet (1974) Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như: Budowski (1956), Bava (1954), Catinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh

tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh

có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1995) [14]

Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng, độ ẩm đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này: H.Lamprecht (1989) [95] cho rằng kết cấu của quần thụ lâm phần có

Trang 28

Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (Dẫn theo Ghent A W, 1969) [91], với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m2 Để giảm sai số trong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Walton, Barnard (1950) [114] đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau Phương pháp này được

áp dụng nhiều hơn vì nó thích hợp cho từng đối tượng cụ thể

Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ các đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là cơ sở để xây dựng các giải pháp lâm sinh hợp lý Kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm quản lý tài nguyên rừng bền vững Tuy nhiên vì rừng mưa nhiệt đới luôn tồn tại những quy luật hết sức phức tạp, đời sống của nó gắn liền với điều kiện tự nhiên

và tác động của con người Vì thế cần tiếp tục nghiên cứu quy luật tái sinh tự nhiên của hệ sinh thái rừng ở các vùng địa lý khác nhau và mức độ tác động (khai thác) của con người Đó là cơ sở cho việc phân tích và đề xuất các giải pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng một cách khoa học và hợp lý

1.1.4 Cấu trúc tổ thành

Cấu trúc tổ thành khác nhau sẽ dẫn đến sự khác nhau tương ứng về các đặc trưng cấu trúc khác của rừng Vì vậy, nghiên cứu cấu trúc tổ thành nhất là cấu trúc

Trang 29

"Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây"

Baur G.N (1962) [2] khi nghiên cứu rừng mưa ở khu vực gần Belem trên sông Amazôn, trên ô tiêu chuẩn diện tích khoảng hai hecta đã thống kê được 36 họ thực vật và trên ô tiêu chuẩn diện tích hơn bốn hecta ở phía bắc New South Wales cũng

đã ghi nhận được sự hiện diện của 31 họ chưa kể cây leo, cây thân cỏ và thực vật phụ sinh

Trong rừng ẩm nhiệt đới châu Phi, theo Catinot R (1974) [5] có đến vài trăm loài thực vật; còn trong tổ thành thực vật rừng ẩm nhiệt đới ở Đông Nam Á thường

có một nhóm loài ưu thế - nhóm họ dầu, chiếm trên 50% quần thụ

Ở châu Á, trong rừng thứ sinh nhiệt đới vùng Shaxin - Trung Quốc, Zeng và các cộng sự (1998) đã thống kê khoảng 280 loài cây dược liệu, 80 loài cây có dầu

và 20 loài cây có sợi cũng như một số loài cây gỗ có giá trị khác (dẫn theo Zaizhi Z (2001) [118]) Mức độ phong phú của thành phần thực vật trong rừng thứ sinh ở Nepal cũng đã được Kanel K.R và Shrestha K (2001) [96] điểm qua, có đến trên 6.500 loài cây có hoa và 4.064 loài cây không hoa, trong đó có trên 1.500 loài nấm

và hơn 350 loài địa y

Trang 30

Xô (cũ), Nguyễn Bá Thụ (1995) [73] Tác giả đã đưa ra nhận định, một hệ thực vật

cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường có tới 1.500 – 2.000 loài

Engler (1882) đưa ra con số thống kê cho thấy số loài thực vật thế giới là 275.000 loài, trong đó thực vật có hoa có 155.000 - 160.000 loài, thực vật không có hoa 30.000 - 135.000 loài Riêng thực vật có hoa trên thế giới, Van lop (1940) đưa

ra con số 200.000 loài, Grosgayem (1949) là 300.000 loài Hai vùng giàu có nhất thế giới là Brazil 40.000 loài và quần đảo Malaixia 45.000 loài Hệ thực vật giàu loài liên quan không chỉ có điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi mà còn phụ thuộc vào các nhân tố lịch sử Trung Âu có 3500 loài, 800 chi, 120 họ trong khi đó ở Trung Trung Hoa có 2900 loài 936 chi 155 họ (1/6/12,2) (Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) [70]

Theo Phạm Hoàng Hộ (1999-2003) [24], hệ thực vật trên thế giới như sau: Pháp có khoảng 4.800 loài, châu Âu 11.000 loài, Ấn Độ khoảng 12-14.000 loài, Canada có khoảng 4.500 loài kể cả loài du nhập, cả Bắc Mỹ có trên 14.000 loài, Malaysia và Indonesia có khoảng 25.000 loài

Lê Trần Chấn và cs (1999) [13], đưa ra con số về số lượng loài thực vật ở các vùng như sau: vùng hàn đới (đất mới: 208 loài); vùng ôn đới (Litva: 1439 loài), cận nhiệt đới (Palextin: 2334 loài); vùng nhiệt đới ẩm và nhiệt đới gió mùa (Philippin: 8099 loài, Bắc Việt Nam: 5609 loài

Vườn quốc gia Doi Suthep-Pui ở miền Bắc Thái Lan, với diện tích 261km2

có 2.220 loài Trong đó, rừng thường xanh có độ phong phú về loài cây có mạch cao nhất (930 loài) so với các loại rừng khác: rừng rụng lá-tre nứa có 740 loài, rừng

Trang 31

16

hỗn giao có 755 loài, rừng nửa rụng lá - Sồi, có 533 loài, rừng thường xanh - Thông

có 540 loài (Maxwell and Elliott, 2001) [102]

Cho đến nay, chưa có đầy đủ các tài liệu nói về hệ thực vật của các nước Đông Dương Ngoài bộ sách nổi tiếng Flore générale de l’Indochine của Lecomte xuất bản tại Pari (1907 - 1951) [97] Một số công trình tổng quát ít nhiều nói về hệ thực vật Đông Dương như Vidal (1960) [113], Schimid (1989) đã cho con số tổng quát khoảng 10.000 loài và dự đoán có thể con số đó tăng lên 12.000 đến 15.000 loài Những công trình lớn khác cần được kể đến là Bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam viết bằng tiếng Pháp, do Aubreville chủ biên, bộ sách gồm 29 tập

bộ Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam từ 1960 - 1997 [87] bao gồm 74 họ cây có mạch (chưa đầy 20% tổng số các họ) do các nhà thực vật Pháp biên soạn

Theo Lê Trần Chấn và cs (1999) [13], trong phạm vi bắc bán cầu, tỷ lệ 10 họ giàu loài nhất của hệ thực vật giảm dần từ vùng bắc cực đến vùng xích đạo (từ gần 75% đến khoảng 40%) Trong khi đó số họ chiếm vị trí nổi bật trong 10 họ giàu loài nhất tăng dần từ vùng nhiệt đới (10%) đến vùng ôn đới, nhất là hàn đới

Như vậy, từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, tính đa dạng về thực vật

đã được nghiên cứu từ thế kỷ XIX Các nghiên cứu tính đa dạng của thực vật thường tập trung vào việc điều tra thống kê số lượng loài ở vùng, khu vực, một quốc gia cụ thể Trên cơ sở đó đánh giá độ phong phú về thành phần loài, sự phân bố của thực vật… Đây là cơ sở dữ liệu để phân tích tính đa dạng thực vật ở một vùng nào đó và để đánh giá so sánh giữa các vùng, các quốc gia

1.1.6 Ứng dụng các chỉ số đa dạng sinh học trong nghiên cứu đa dạng thực vật

Hầu hết các nghiên cứu phân tích đánh giá về thảm thực vật đều áp dụng phương pháp Quadrat (Mishra, 1968; Rastogi, 1999 và Sharma, 2003) [28] Quadrat

là một ô mẫu hay đơn vị lấy mẫu có kích thước xác định và có thể có nhiều hình dạng khác nhau Có 4 phương pháp Quadrat có thể được áp dụng đó là: phương pháp liệt kê, phương pháp đếm, phương pháp đếm và phân tích, và phương pháp ô

cố định

Trang 32

17

Rastogi (1999) [107] và Sharma (2003) [109], đã đưa ra công thức tính mật

độ và mật độ tương đối của loài trên mỗi ô tiêu chuẩn quadrat

Raunkiaer (1934) [108]; Rastogi (1999) [107] và Sharma (2003) [109] đưa ra công thức tính tần số xuất hiện của loài trên các ô mẫu nghiên cứu

Độ phong phú được tính theo công thức của Curtis và Mc.Intosh (1950) Diện tích tiết diện thân là đặc điểm quan trọng để xác định ưu thế loài, Honson và Churchbill (1961), Rastogi (1999), Sharma (2003) đã đưa ra công thức tính diện tích tiết diện thân và diện tích tiết diện thân tương đối [28]

Giá trị quan trọng (Importance Value - IV%) [28] được các tác giả Curtis & Mc.Intosh (1950); Phillips (1959); Mishra (1968) áp dụng để biểu thị cấu trúc, mối tương quan và trật tự ưu thế giữa các loài trong một quần thể thực vật

Chỉ số đa dạng sinh học loài H được áp dụng phổ biến nhất là phương pháp Shannon and Wiener (1963) [110], chỉ số mức độ chiếm ưu thế (Concentration of Dominance-Cd) được tính toán theo Simpson (1949) [111] Breugel M V (2007) [87] đã sử dụng chỉ số entropy Rensyi để phân tích tính đa dạng của rừng phục hồi sau nương rẫy ở Mexicô

Vấn đề nghiên cứu định lượng đa dạng sinh học trên thế giới được tiến hành rất sớm, đây là công cụ đắc lực phục vụ công tác nghiên cứu đa dạng thực vật; những chỉ số đa dạng sinh học này được nhiều nước trên thế giới quan tâm áp dụng, trong đó chỉ số Shannon and Wiener (1963) là được áp dụng phổ biến nhất khi xác định tính đa dạng sinh học ở một khu vực nào đó, còn chỉ số mức độ quan trọng thường được áp dụng khi tính toán tỷ lệ tổ thành sinh thái của các loài trong quần xã thực vật Cho đến nay thì những chỉ số này vẫn được áp dụng phổ biến, nhưng chỉ số entropy Rensyi lại có ưu việt hơn các chỉ số đa dạng sinh học trên và mới được đưa vào sử dụng

1.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đa dạng thực vật

ĐDSH gắn liền với nguồn sinh kế của các cộng đồng cư dân sống trong và gần hệ sinh thái rừng, các hoạt động sống của họ tác động ảnh hưởng đến công tác

Trang 33

Trên phạm vi toàn thế giới, diện tích rừng nhiệt đới tự nhiên đã giảm từ 1.945 triệu hecta xuống còn 1.803 triệu hecta giữa những năm 1990 và 2000 10 triệu hecta đã được chuyển thành đất trồng trọt, trong khi 142 triệu hecta được chuyển thành các mục đích sử dụng đất khác, chỉ có khoảng 10 triệu hecta đất đã bị mất rừng được tái sinh thành rừng nhiệt đới Do đó tốc độ giảm diện tích rừng nhiệt đới tự nhiên trung bình hàng năm là 14,2 triệu hecta (xấp xỉ 0,7%/năm), bằng tỷ lệ giảm trong vòng 10 năm trước; 1980-1990 (FAO, 2001) [116] Tại Thái Lan, diện tích rừng tự nhiên là 9,8 triệu hecta (19,3% diện tích cả nước) vào năm 2000 Mặc

dù có lệnh cấm khai thác gỗ thương mại từ năm 1989, diện tích rừng tự nhiên giảm trung bình (1995-2000) vẫn là 0,26 triệu hecta (2,3% của năm 1995) (FAO, 1997, 2001) [115, 116] Nhìn chung từ năm 1961, Thái Lan đã mất hơn 2/3 diện tích rừng của mình (Bhumibamon, 1986) [89]

Theo Levingston R., Zamora R (1983) [117], rừng đã cung cấp nguồn nguyên liệu gỗ và một loạt các "sản phẩm ngoài gỗ", người dân địa phương coi

"lâm sản phụ" thường quan trọng hơn gỗ Trong hơn 2 tỷ người sống ở các nước đang phát triển, gỗ là quan trọng nhất, nó cung cấp nguồn năng lượng Hơn 80% lượng tiêu thụ gỗ trong thế giới thứ ba là dùng làm nhiên liệu Củi chiếm trung bình 85% tổng nguồn cung năng lượng của dân cư nông thôn Vào năm 1977, xấp xỉ 300 triệu m3 tương đương 87% tổng sản lượng gỗ đã được sử dụng làm nhiên liệu ở châu Phi, xấp xỉ 200 triệu m3 tương đương 75% ở Mỹ Latinh và 533 triệu m3 tương

Trang 34

đó chuyển đến những khu vực xa hơn chưa bị tác động, rừng vẫn còn nguyên sinh

Và những con đường mòn nhanh chóng được hình thành bởi những người dân để khai thác gỗ và như vậy, hậu quả cuối cùng là rừng bị tàn phá Myers (1980) [103]

đã ước tính rằng đối với mỗi m3 gỗ khai thác xấp xỉ bằng 1/5 hecta rừng bị phá hủy bởi những người dân Các nước ảnh hưởng nặng nhất bởi sự phát triển này là những nước có nguồn thu nhập phụ thuộc vào xuất khẩu gỗ Một ví dụ của Côte d’Ivoire, năm 1973, có đến 33% tổng số lợi nhuận của nước này là bán gỗ Đất nước này rộng nhất châu Phi, xuất khẩu gỗ đứng thứ 5 trên thế giới

Phần lớn ĐDSH tồn tại ở những nơi có các "cộng đồng dân tộc thiểu số" đã từng sống qua nhiều thế hệ; họ sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong môi trường sống của mình theo một cơ cấu bền vững (R.B Primack, 1999) [57] Trước đây, khi nguồn tài nguyên còn dồi dào, dân số ít nên không có nhiều áp lực từ việc phát triển kinh tế, xã hội Về sau, khi nguồn tài nguyên ngày càng suy giảm, áp lực gia tăng dân số, cần mở rộng diện tích đất canh tác, phát triển kinh tế thì việc khai thác tài nguyên đã trở thành mối đe dọa đối với công tác bảo tồn Nhu cầu sử dụng các sản phẩm sinh học tự nhiên ngày càng cao đã dẫn đến khai thác tài nguyên là mối lo ngại lớn về sự suy thoái đa dạng sinh học

Nghiên cứu “Đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu” được LHQ [47] công bố ngày 5/10/2010 cảnh báo ĐDSH rừng đang bị lâm nguy trên phạm vi toàn cầu do tốc độ mất rừng, suy thoái rừng và diện tích rừng nguyên thuỷ giảm quá nhanh trên thế giới Nghiên cứu chỉ rõ các mối đe dọa khác đối với ĐDSH rừng là do việc quản

lý rừng không bền vững, biến đổi khí hậu, cháy rừng, thảm họa tự nhiên, dịch bệnh

và do sự phá hoại của các loài côn trùng và các sinh vật xâm thực

Trang 35

20

Các nhà khoa học Mỹ lần đầu tiên xây dựng thành công bản đồ thay đổi diện tích rừng trên Trái đất [38] với độ phân giải cao, nhằm cung cấp cái nhìn chi tiết về

hệ thống rừng tại các khu vực trên thế giới Theo kết quả nghiên cứu trong giai đoạn

từ năm 2000-2012, khoảng 2,3 triệu km2 diện tích rừng đã biến mất Trong khi đó, chỉ có 0,8 triệu km2 rừng được phủ xanh Trung bình mỗi năm, diện tích rừng nhiệt đới trên trái đất bị mất trên toàn cầu tăng khoảng 2.100 km2 Tốc độ thay đổi mật độ rừng ở các khu rừng phía Đông Nam nước Mỹ cao gấp 4 lần so với các khu rừng ở Nam Mỹ, với hơn 31% diện tích rừng bị mất đi hoặc được tái sinh Paraguay (Nam Mỹ) và Malaysia, Campuchia (Đông Nam Á) là các quốc gia có tỷ lệ mất rừng cao nhất thế giới

Như vậy, các nghiên cứu nêu trên đã chỉ ra những nguyên nhân làm suy giảm tính đa dạng sinh học, nhưng chưa có một nghiên cứu nào nói đến hoạt động của con người thông qua khai thác ảnh hưởng như thế nào đến đa dạng loài cây gỗ Đây là một lĩnh vực còn bỏ ngỏ cần nghiên cứu để đề xuất biện pháp khai thác và nuôi dưỡng rừng sau khai thác đảm bảo cho rừng phát triển bền vững và duy trì sự

Trần Ngũ Phương (1970) [49], đã sớm nghiên cứu về công tác kinh doanh rừng, xác định rõ phương thức khai thác chọn không phải chỉ gồm việc chọn cây để chặt và chừa lại một số cây gieo giống mà còn có một nội dung kỹ thuật toàn diện phải tiến hành chặt những cây lớn đã thành thục đồng thời tỉa thưa các cỡ cây gần thành thục và ít tuổi hơn, chăm sóc cây con, xúc tiến tái sinh tự nhiên và bổ sung tái sinh tự nhiên bằng tái sinh nhân tạo khi cần thiết

Trang 36

21

Lê Sáu (1981) [59] cho rằng xét từ đặc điểm điều kiện tự nhiên, nhu cầu kinh

tế xã hội, tính chất đặc điểm cấu trúc rừng, yêu cầu phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái… thì phương thức khai thác chọn rất phù hợp với nhiều đối tượng rừng gỗ

tự nhiên ở nước ta, tác giả đề nghị sớm hạn chế chặt chọn thô vì nó sẽ gây ra tác hại khôn lường, nên mở rộng áp dụng phương thức chặt chọn đảm bảo tái sản xuất mở rộng vốn rừng và lợi ích của rừng, tác giả cũng đề xuất những biện pháp nâng cao chất lượng công tác bài cây khai thác chọn đảm bảo cho khai thác chọn có thể thực thi các nội dung kỹ thuật nhằm tái sản xuất mở rộng vốn rừng

Nguyễn Văn Trương (1983 – 1984) [82] đã công bố nhiều công trình nghiên cứu cấu trúc rừng phục vụ kinh doanh lợi dụng rừng, với quan điểm nền kinh doanh rừng tiến bộ phải xuất phát từ các nghiên cứu về cấu trúc rừng, đặc biệt là phân phối

số cây trên mặt đất rừng, trong quá trình khai thác chọn phải điều chỉnh cấu trúc rừng phù hợp với mục tiêu kinh doanh đề ra

Nguyễn Ngọc Lung (1983-1987) [39, 40, 41] qua nghiên cứu thực trạng ở các khu rừng khai thác chọn nước ta đã nêu nguyên nhân làm cho rừng bị xuống cấp

và đặt vấn đề phải nhanh chóng sửa đổi bổ sung đối với quy trình khai thác gỗ đã ban hành năm 1963 Tác giả đã xây dựng cơ sở khoa học cho lý thuyết rừng chuẩn

áp dụng vào khai thác chọn ở Việt Nam đồng thời nêu lên một số vấn đề giúp cho việc chỉ đạo công tác khai thác chọn và xây dựng vốn rừng đảm bảo kinh doanh lâu dài

Nguyễn Hồng Quân (1983-1984) [55, 54] nghiên cứu về điều chế rừng ở nước ta tác giả chỉ rõ chính những bất hợp lý trong quá trình áp dụng phương thức khai thác chọn và sự lạc hậu về nội dung kỹ thuật lâm sinh lâu nay đã dẫn đến hậu quả là vốn rừng ngày một nghèo nàn dần, tác giả đã đề xuất quan điểm và biện pháp vừa khai thác vừa xây dựng vốn rừng nhằm khắc phục hậu quả nói trên

Phùng Ngọc Lan (1984) [36] đã đề xuất những giải pháp đảm bảo tái sinh trong khai thác chọn hiện nay góp phần đẩy mạnh kinh doanh lợi rừng và xây dựng vốn rừng

Trang 37

22

Vũ Đình Huề, Phạm Đình Tam (1989) [26] đã tiến hành khảo nghiệm quy phạm khai thác đảm bảo tái sinh ở Hương Sơn - Hà Tĩnh và đưa ra nhận định là phương thức khai thác chọn có kèm theo các biện pháp xử lý lâm sinh mang lại hiệu quả cao nhất cho phục hồi rừng

Nguyễn Hồng Quân, Trương Hồ Tố, Hồ Viết Sắc (1981) [51] đã xác định lượng khai thác, cường độ khai thác cho bốn cấp sản xuất của rừng khộp (không vượt quá 30% với cấp I và II, tối thiểu là 25% cho cấp III và IV), với luân kỳ khai thác xác định là 20 năm

Nguyễn Hồng Quân (1982) [52, 53] đã xác định phương hướng điều chế chung cho rừng tự nhiên Việt Nam; và đề xuất hướng điều chế tạm thời cho rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng với cường độ khai thác (25-30%), luân kỳ 20 năm và lượng khai thác được điều chỉnh qua tiết diện ngang

Nguyễn Văn Trương (1984) [83] đã đề xuất hướng khai thác nuôi dưỡng cho rừng nhiệt đới ẩm hỗn loài Việt Nam để đảm bảo tái tạo lại rừng, trong đó xác định

cơ sở tính toán lượng gỗ khai thác trên số bình quân của G/ha

Về phương diện quản lý, quy phạm QPN 14-92 (1993) [3] đề cập đến nuôi dưỡng rừng sau khai thác chọn với các quy định về kỹ thuật bài cây, cường độ chặt,

số lần chặt, nhưng chỉ nêu những quy định chung nhất, khó vận dụng vào điều kiện thực tế ở từng địa phương

Trần Cẩm Tú (1998) [77] dựa trên hiện trạng về diện tích, trữ lượng, cấu trúc, tăng trưởng và tái sinh, đề xuất hướng điều chế cho rừng sản xuất ở lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh, thông qua chu kỳ kiểm tra (10 năm), tính toán lượng khai thác hiện tại và dự đoán lượng khai thác ở các giai đoạn sau

Theo hướng sử dụng tái sinh nhân tạo để phục hồi rừng tự nhiên sau khai thác có các nghiên cứu của: Bùi Đoàn và các cộng sự (2001) [19] triển khai ở Long Đại (Quảng Bình); Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001) [61] trong nghiên cứu, đánh giá các biện pháp tác động vào rừng tự nhiên sau khai thác ở Hương Sơn, Ba Rền và Kon Hà Nừng

Trang 38

23

Hồ Đức Soa (2001) [62] qua tổng hợp các đặc điểm rừng tự nhiên trước và sau khai thác 15 năm vùng Kon Hà Nừng, cho biết có sự thay đổi rõ rệt về cấu trúc

tổ thành cũng như sự gia tăng số lượng cây tái sinh trên các lâm phần sau khai thác

Hồ Đức Soa - Trần Kế Lâm - Nguyễn Thanh Xuân (2001) [63] từ nghiên cứu nuôi dưỡng rừng tự nhiên vùng bắc Tây Nguyên, cho rằng rừng giàu và trung bình khai thác với cường độ từ 30-50%, kết hợp các biện pháp nuôi dưỡng hợp lý sẽ đảm bảo cho rừng phục hồi tốt cả về chất lượng và trữ lượng Vấn đề này cần phải xem xét thêm, vì nếu khai thác với cường độ lớn đến 50% thì hầu như toàn bộ lớp cây gần thành thục và thành thục bị khai thác hết, rừng bị tàn phá nặng nề, khó phục hồi để đảm bảo luân kỳ khai thác

Để nuôi dưỡng rừng tự nhiên sau khai thác chọn ở Hương Sơn - Hà Tĩnh, Nguyễn Bá Chất (2001, 2003) [11, 12] đề nghị nên điều tiết giảm số loài ít giá trị kinh tế và số cây ở các cỡ kính tập trung (cỡ 8, 12, 16 cm) theo tỷ lệ số cây các cỡ kính với tổng số cây trên hecta ở các lâm phần mẫu, và chặt 20% số cây ít giá trị kinh tế để thúc đẩy sinh trưởng các loài còn lại

Nhằm phục hồi rừng ở vườn quốc gia Yordon - Đăk Lăk, Peter Erskine, Bảo Huy và Võ Hùng (2003) [101] đã đề xuất các phương pháp tác động lâm sinh gồm: xúc tiến tái sinh tự nhiên, trồng bổ sung nơi đất trống, làm giàu rừng và luỗng phát tre nứa xâm chiếm

Như vậy, qua tổng hợp các nghiên cứu nêu trên thì khai thác chọn được các nhà khoa học đề xuất đều tập trung vào các chỉ tiêu: cường độ, luân kỳ, lượng khai thác, xác định loài cây mục đích khai thác và đề xuất giải pháp lâm sinh sau khai thác rừng

Nhưng ảnh hưởng của khai thác chọn đến cấu trúc tổ thành và tái sinh tự nhiên, cũng như các đặc trưng cấu trúc tổ thành và tái sinh tự nhiên rừng trước và sau khai thác chọn vẫn còn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu Các hạn chế trong kỹ thuật thi công khai thác rừng, việc vận dụng quy trình khai thác vào điều kiện thực

tế ở địa phương trước và sau khai thác chọn chưa được đề cập đầy đủ; cho thấy

Trang 39

lệ đất có rừng lên 47% vào năm 2020 [75]

Năm 1998 có Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR cũng là một tổ chức NGO thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam đảm nhiệm cuộc vận động này, đồng thời còn phải soạn thảo Bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV, và vận động thành lập mạng lưới mô hình các chủ rừng quản lý tốt Giống như các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm và thương mại tự nguyện phấn đấu thực hiện các tiêu chí quản lý chất lượng và môi trường để đạt chứng chỉ ISO 9000 và 14000 vì lợi ích của chính mình và vì lợi ích và uy tín của quốc gia mình QLRBV và CCR là cách

áp dụng đặc thù cho ngành lâm nghiêp Trong nửa thế kỷ từ 1945 đến 1990 tại Việt Nam, rừng liên tục giảm diện tích từ 14,3 xuống 9,2 triệu hecta (mất 5,1 triệu hecta), tốc độ mất rừng cao nhất là giai đoạn 1980-1990 (mất 1,5 triệu hecta rừng),

mà lý do chính là do quản lý rừng không bền vững [76]

Từ năm 1993, nhờ nỗ lực to lớn của nhà nước và nhân dân thông qua các chương trình lớn như: 327, 661, trên 2 triệu hecta rừng đã được phục hồi Song đó mới là con số về số lượng, nếu rừng không được QLRBV thì việc mất rừng sẽ song song diễn ra với quá trình phục hồi rừng và chất lượng rừng cũng như các chức năng phòng hộ môi trường, xóa đói giảm nghèo cũng không thể phát huy được Các chương trình trồng rừng chỉ có ý nghĩa nếu như diện tích rừng hiện có được quản lý bảo vệ tốt Tháng 2/1998 một hội thảo quốc gia để xây dựng chương trình QLRBV được Bộ NN&PTNT, tổ chức FSC quốc tế, tổ chức WWF Đông Dương và đại sứ quán Hà Lan đồng tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh Tại hội thảo này đã thành

Trang 40

25

lập Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (viết tắt là NWG) để thực hiện quá trình này

Từ tháng 6/2006 Viện QLRBV và CCR đã được thành lập nhằm tăng cường năng lực thực hiện quá trình QLRBV ở Việt Nam, và thu hút mọi sự hỗ trợ quốc tế, trước hết là cầu nối giữa các chủ thể QLRBV Việt Nam với FSC quốc tế Việt Nam thường xuyên thắt chặt quan hệ quốc tế bằng cách tham gia các hội nghị, hội thảo chuyên đề và theo vùng của FSC, tham gia các hoạt động và hội nghị cấp chuyên gia về QLRBV và CCR của khối ASEAN [42] Năm 2006 Việt Nam mới có 10.000 hecta rừng trồng đạt chứng chỉ FSC [43]

Năm 2008, Viện QLRBV bắt đầu tiến hành thử nghiệm mô hình chứng chỉ rừng theo nhóm cho gần 300 hộ trồng rừng sản xuất tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái và hướng dẫn Công ty Hải Vương xin cấp Chứng chỉ quản lý rừng của FSC

Năm 2010, lần đầu tại Việt Nam có một nhóm các hộ trồng rừng quy mô nhỏ

đã được Hội đồng Quản trị rừng (FSC) cấp chứng nhận quản lý rừng đạt tiêu chuẩn quốc tế bền vững về mặt môi trường, có lợi cho xã hội và mang lại lợi ích kinh tế Nhóm trồng rừng này gồm 118 hộ sinh sống tại năm thôn thuộc hai huyện Gio Linh

và Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Theo đó, diện tích rừng Keo được cấp chứng chỉ của nhóm là 317 hecta, đến năm 2013 đã có trên 800 hecta của 13 nhóm hộ được cấp chứng chỉ rừng FSC Hỗ trợ xin cấp chứng chỉ là một hoạt động của dự án: "Quản

lý rừng và kinh doanh lâm sản bền vững" của Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF) Dự án nhằm kết nối thị trường giữa các khu rừng ở Việt Nam và các công

ty quốc tế có chính sách thu mua thông qua việc cấp chứng chỉ FSC Bên cạnh lợi ích kinh tế, các hộ dân còn được hoàn thiện kỹ năng quản lý rừng

Đến năm 2011 (nguồn Vụ Sử dụng rừng – Tổng cục Lâm nghiệp), đã có 10 Công ty Lâm nghiệp thuộc 6 tỉnh được Bộ đã thẩm định và UBND tỉnh phê duyệt các phương án Tổng diện tích tự nhiên được thực hiện 220.535 hecta, trong đó: có rừng tự nhiên: 160.177 hecta; rừng trồng: 6.100 hecta Sản lượng khai thác hàng năm: 56.000 m3/25.000 m3 được thực tế khai thác trước khi thực hiện phương án Đến năm 2011, diện tích rừng đã giao cho các hộ gia đình là 3.431.555 hecta (rừng

Ngày đăng: 10/06/2016, 09:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Đăng An (2012), Hiện trạng chứng chỉ rừng thế giới, Diễn đàn gỗ Việt Nam, http://furniturevietnam.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng chứng chỉ rừng thế giới
Tác giả: Phan Đăng An
Năm: 2012
2. Baur G.N. (1964), Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa, Vương Tấn Nhị dịch, Nxb KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Tác giả: Baur G.N
Nhà XB: Nxb KHKT
Năm: 1964
3. Bộ Lâm nghiệp (1993), Quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QPN 14-92), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QPN 14-92)
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1993
4. Bộ Lâm nghiệp (1994), Các văn bản pháp luật về lâm nghiệp, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản pháp luật về lâm nghiệp
Tác giả: Bộ Lâm nghiệp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
5. Catinot.R (1974), Hiện tại và tương lai của rừng nhiệt đới ẩm (Thái Văn Trừng và Nguyễn Văn Dưỡng dịch), Tài liệu Khoa học Lâm nghiệp, Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp, 79 (3), tr. 22-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tại và tương lai của rừng nhiệt đới ẩm (Thái Văn Trừng và Nguyễn Văn Dưỡng dịch)
Tác giả: Catinot.R
Năm: 1974
6. Trần Văn Con (2008), "Nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng sản xuất là rừng gỗ nghèo, lá rộng thường xanh và nửa rụng lá ở các vùng sinh thái khác nhau", Tạp chí Nông nghiệp & PTNT, (4), tr. 92-96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm học rừng sản xuất là rừng gỗ nghèo, lá rộng thường xanh và nửa rụng lá ở các vùng sinh thái khác nhau
Tác giả: Trần Văn Con
Năm: 2008
7. Trần Văn Con (2009), "Động thái tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng núi phía Bắc", Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, (7), tr. 99-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động thái tái sinh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh vùng núi phía Bắc
Tác giả: Trần Văn Con
Năm: 2009
8. Trần Văn Con và cộng sự, (2010), Nghiên cứu các đặc điểm lâm học (diễn thế, cấu trúc, tổ thành, tái sinh (TS), tăng trưởng, khí hậu thuỷ văn, đất,…) của một số hệ sinh thái rừng (HSTR) tự nhiên chủ yếu ở Việt Nam, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Khoa học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các đặc điểm lâm học (diễn thế, cấu trúc, tổ thành, tái sinh (TS), tăng trưởng, khí hậu thuỷ văn, đất,…) của một số hệ sinh thái rừng (HSTR) tự nhiên chủ yếu ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Con và cộng sự
Năm: 2010
9. Lê Thành Công, Lê Quốc Huy (2009), "Kết quả phân tích định lƣợng các chỉ số đa dạng sinh học loài thảm thực vật tại rừng đặc dụng Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội", Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (4), tr. 1096-1104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả phân tích định lƣợng các chỉ số đa dạng sinh học loài thảm thực vật tại rừng đặc dụng Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
Tác giả: Lê Thành Công, Lê Quốc Huy
Năm: 2009
10. Lê Thiết Cương (2000), Nghiên cứu cấu trúc rừng theo đai cao cho một số trạng thái rừng ở Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây, Luận văn Thạc sĩ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc rừng theo đai cao cho một số trạng thái rừng ở Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây
Tác giả: Lê Thiết Cương
Năm: 2000
11. Nguyễn Bá Chất và CTV (2001), "Nghiên cứu bổ sung các giải pháp lâm sinh áp dụng ở Lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh", Kết quả nghiên cứu về trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 71-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bổ sung các giải pháp lâm sinh áp dụng ở Lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Bá Chất và CTV
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
12. Nguyễn Bá Chất (2003), "Nuôi dưỡng rừng tự nhiên ở Hương Sơn - Hà Tĩnh", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (3), tr. 335-337 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi dưỡng rừng tự nhiên ở Hương Sơn - Hà Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Bá Chất
Năm: 2003
13. Lê Trần Chấn, Trần Tý, Nguyễn Hữu Tứ, Huỳnh Nhung, Đào Thị Phƣợng, Trần Thúy Vân (1999), Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam
Tác giả: Lê Trần Chấn, Trần Tý, Nguyễn Hữu Tứ, Huỳnh Nhung, Đào Thị Phƣợng, Trần Thúy Vân
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1999
14. Nguyễn Duy Chuyên (1995), "Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu Nghệ An", Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ Lâm nghiệp 1991-1995, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 53-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh tự nhiên rừng lá rộng thường xanh hỗn loại vùng Quỳ Châu Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Duy Chuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1995
15. Nguyễn Duy Chuyên (1985), Bước đầu nghiên cứu tái sinh khu rừng Quỳ Châu, Nghệ An, Viện Điều tra quy hoạch rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu tái sinh khu rừng Quỳ Châu, Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Duy Chuyên
Năm: 1985
16. Pham Hoài Đức (1999), Báo cáo hội thảo tổ chức vùng ASEAN quản lý rừng bền vững, Kuala Lum pur, Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hội thảo tổ chức vùng ASEAN quản lý rừng bền vững
Tác giả: Pham Hoài Đức
Năm: 1999
17. Ngô Tiến Dũng, Nguyễn Nghĩa Thìn, Vũ Anh Tài, Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Thị Kim Thanh (2005), "Đa dạng nguồn tài nguyên, nguy cơ đe dọa và biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật vườn quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đăk Lắk", Tạp chí Nông nghiệp & PTNT, (20), tr. 96 -100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng nguồn tài nguyên, nguy cơ đe dọa và biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên thực vật vườn quốc gia Yok Đôn, tỉnh Đăk Lắk
Tác giả: Ngô Tiến Dũng, Nguyễn Nghĩa Thìn, Vũ Anh Tài, Nguyễn Anh Đức, Nguyễn Thị Kim Thanh
Năm: 2005
18. Đinh Quang Diệp (1993), Góp phần nghiên cứu tiến trình tái sinh tự nhiên ở rừng Khộp - Easuop Đắk Lắk, Luận án PTS Nông nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu tiến trình tái sinh tự nhiên ở rừng Khộp - Easuop Đắk Lắk
Tác giả: Đinh Quang Diệp
Năm: 1993
19. Bùi Đoàn và các cộng sự (2001), "Nghiên cứu bổ sung phân chia trạng thái và các biện pháp khôi phục rừng ở Long Đại Quảng Bình", Kết quả nghiên cứu về trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.59-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bổ sung phân chia trạng thái và các biện pháp khôi phục rừng ở Long Đại Quảng Bình
Tác giả: Bùi Đoàn và các cộng sự
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2001
20. Elliott S., David Blakesley, Maxwell J. F., Susan Doust và Sutthathorn Suwannaratana (2006), Trồng rừng như thế nào: những nguyên lý và thực hành phục hồi rừng nhiệt đới, Nxb Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng rừng như thế nào: những nguyên lý và thực hành phục hồi rừng nhiệt đới
Tác giả: Elliott S., David Blakesley, Maxwell J. F., Susan Doust và Sutthathorn Suwannaratana
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1:  ột số nhân tố điều tra cơ bản của các OTC - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Bảng 3.1 ột số nhân tố điều tra cơ bản của các OTC (Trang 72)
Hình 3.1:  hân bố số cây theo nhóm gỗ - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Hình 3.1 hân bố số cây theo nhóm gỗ (Trang 79)
Bảng 3.5: Số cây mất đi và cường độ tổng hợp khai thác - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Bảng 3.5 Số cây mất đi và cường độ tổng hợp khai thác (Trang 83)
Bảng 3.6:  rữ lượng và cường độ tổng hợp khai thác - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Bảng 3.6 rữ lượng và cường độ tổng hợp khai thác (Trang 85)
Bảng 3.22:  hân bố số loài bị mất đi theo cỡ kính trong từng O C sau khai thác - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Bảng 3.22 hân bố số loài bị mất đi theo cỡ kính trong từng O C sau khai thác (Trang 122)
Hình 3.8:  hân bố số loài mất đi theo từng cỡ đường kính - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Hình 3.8 hân bố số loài mất đi theo từng cỡ đường kính (Trang 123)
Hình 3.9:  a dạng loài theo nhóm gỗ - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Hình 3.9 a dạng loài theo nhóm gỗ (Trang 125)
Hình minh họa - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Hình minh họa (Trang 132)
Bảng 3.28: Công thức tổ thành tầng cây tái sinh một số O C - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Bảng 3.28 Công thức tổ thành tầng cây tái sinh một số O C (Trang 133)
Hình 3.14: Sự thay đổi tổ thành tầng cây tái sinh trước và sau khai thác - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Hình 3.14 Sự thay đổi tổ thành tầng cây tái sinh trước và sau khai thác (Trang 138)
Bảng 3.31: Chất lƣợng và nguồn gốc cây tái sinh - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Bảng 3.31 Chất lƣợng và nguồn gốc cây tái sinh (Trang 140)
Bảng 3.32:  hân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Bảng 3.32 hân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao (Trang 142)
Hình 3.15:  hân bố cây tái sinh theo cỡ chiều cao  vn và cỡ dường kính Doo - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Hình 3.15 hân bố cây tái sinh theo cỡ chiều cao vn và cỡ dường kính Doo (Trang 145)
Bảng 3.35:  ối quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao với tổ thành tầng cây tái - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Bảng 3.35 ối quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao với tổ thành tầng cây tái (Trang 147)
Hình 3.16: Quan hệ M mất đi  /M kt - Đánh giá sự thay đổi đa dạng cây gỗ trước và sau khai thác cho kiểu rừng lá rộng thường xanh ở khu vực tây nguyên
Hình 3.16 Quan hệ M mất đi /M kt (Trang 151)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w