1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

47 693 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 849,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 Đặc biệt hơn 10 năm qua, trong quá trình hiện đại hóa, kiên trì chuyển dịch

Trang 1

QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Đặc biệt hơn 10 năm qua, trong quá trình hiện đại hóa, kiên trì chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, An Giang lại tiếp tục giành thêm thắng lợi lớn đó là phát triển vượt bậc trong thủy sản nói chung, đặc biệt sản xuất, chế biến và xuất khẩu

cá tra Từ chăn nuôi nhỏ lẽ ở một số địa phương đến nay mở rộng toàn tỉnh, từ sự có mặt ở một ít thị trường trong nước đến xuất khẩu trên thế giới, đến nay trở thành thương hiệu “cá tra Việt Nam” luôn được yêu chuộng ở hầu hết các Châu lục

Từ nhiều năm qua thủy sản An Giang là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước

về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản, nhất là cá tra Do đó, để thủy sản phát triển đúng định hướng và yêu cầu đặt ra, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương chính sách, trong đó có Quy hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 và Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh An Giang đến năm 2010

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh, bước đầu có hiệu quả, ngành thủy sản đang vấp phải những khó khăn, thách thức lớn Đó là đòi hỏi sự bền vững của môi trường sinh thái và nguồn lợi tự nhiên, sự bền vững của các vấn đề kinh tế - xã hội và các cạnh tranh gay gắt trên thị trường xuất khẩu thủy sản

Từ những kết quả đã đạt được, đối mặt với khó khăn, thách thức, ngành thủy sản tỉnh An Giang cần phải định hướng Quy hoạch vùng sản xuất thủy sản gắn liền với ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và đặc biệt nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích cũng như tiết kiệm tài nguyên, ứng phó với biến đổi khí hậu

trong tương lai qua đó góp phần vào tăng trưởng kinh tế xã hội của địa phương

II CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ:

Trang 2

- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006 của Chính phủ về việc Lập, thẩm định và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP

- Thông tư số 01/2012/TT-BKHĐT ngày 09/02/2012 về việc Hướng dẫn xác định mức chi phí cho lập, thẩm định và công bố quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế

- xã hội; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu

- Thông tư số 05/2013/TT-BKHĐT ngày 31/10/2013 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư Hướng dẫn tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và công bố quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu

- Luật Thủy sản được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003

- Luật Công nghệ cao (Luật số 21/2008/QH12 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2009)

- Luật Tài nguyên nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/05/1998

- Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 27/12/1993

- Nghị định số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh các ngành nghề thủy sản

- Quyết định 801/QĐ-TTg, ngày 27/6/2012 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đến năm

2030

- Quyết định số 1445/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/8/2013 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015;

- Nghị quyết 09-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh AG ngày 27/6/2012 về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2012 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

- Thông báo số 427/TB-UBND ngày 04/9/2012 Thông báo kết luận của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân tỉnh tại Hội nghị triển khai Nghị quyết 09-NQ/TU ngày 27/6/2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

- Thông báo số 314/TB-UBND ngày 27/01/2014 Thông báo kết luận của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân tỉnh tại cuộc họp bàn về danh mục một số sản phẩm hàng hóa nông nghiệp công nghệ cao và xử lý vướng mắc còn tồn đọng trong Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Trang 3

- Quyết định số 396/QĐ-UBND ngày 01/3/2013 của UBND tỉnh về việc Ban hành Kế hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang từ nay đến năm 2015

- Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 29/11/2012 của UBND tỉnh về việc Ban hành Kế hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2012 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

PHẦN II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Trang 4

là An Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Tịnh Biên và Tri Tôn Đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn có 156 đơn vị gồm 119 xã, 21 phường và 16 thị trấn

Tỉnh An Giang có vị trí địa lý:

Từ 10010’30’’ đến 10037’50’’ vĩ độ Bắc

Từ 104047’20’’ đến 105035’10’’ kinh độ Đông

Được giới hạn bởi:

– Phía Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia;

– Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp;

– Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang;

– Phía Nam và Đông Nam giáp Tp Cần Thơ

An Giang nằm ở vùng hạ lưu sông Mê Kông, là tỉnh đầu nguồn của vùng đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và có hai con sông chính là: sông Tiền dài 80 km, sông Hậu dài 100 km, cùng với nhánh sông Châu Đốc (28 km) và sông Vàm Nao (7 km) Tất cả tạo nên cảnh quan đặc thù của vùng sông nước An Giang, hết sức thuận lợi cho nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản phát triển

2 Khí hậu - Thủy văn:

2.1 Khí hậu:

Trang 5

- Chế độ nhiệt:

Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm dao động từ 26,15oC - 28,6oC, nhiệt

độ trung bình cao nhất vào tháng 4 là 28,6o

C, tháng 5 là 28,5oC, tháng 9 là 28oC Nhiệt độ thay đổi trong năm gần như theo quy luật tháng 4, tháng 5, tháng 9 là các tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm Nhiệt độ thấp nhất là vào các tháng 11 đến tháng 2 (26,15oC - 26,4oC) Nhìn chung tỉnh An Giang, có nền nhiệt cao và ổn định với nhiệt độ trung bình năm là 27oC khu vực đồi núi thường có nhiệt độ bình quân thấp hơn so với khu vực đồng bằng 2o

C, tổng tích ôn trên 10.000oC Nhiệt độ trong đất và trong nước ở An Giang tuy có biến động song không lớn ở cả môi trường nước và đất

là những điều kiện vô cùng thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản

- Chế độ mưa:

An Giang có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11), lượng mưa nhiều và phân bổ theo mùa, lượng mưa hàng năm bình quân từ 1.500 mm - 1.600 mm/năm, cao nhất đạt 2.100 mm/năm và thấp nhất là 900 mm/năm và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) Mùa mưa góp một lượng nước lớn chảy tràn vào đồng ruộng, vùng trũng nội địa, làm tăng diện tích nước mặt, đồng thời cũng chính nguồn nước mát ngọt trong các thủy vực đó là môi trường thuận lợi

để cá, tôm có điều kiện sinh sôi phát triển Ngoài ra, đây chính là một đặc điểm sinh thái rất có lợi cho việc bố trí nuôi sinh thái xen canh một vụ lúa một vụ tôm vừa đảm bảo tính bền vững giảm nguy cơ dịch bệnh và vừa đảm bảo sản lượng lương thực

- Chế độ gió:

An Giang có chế độ gió khá thuần nhất do địa hình bằng phẳng và xa biển, từ tháng 11- 4 hướng gió có tần suất cao nhất là Ðông Bắc, từ tháng 5 -10 hướng gió có tần suất cao nhất là Tây Nam Tốc độ gió ở biển Tây Nam Bộ khá lớn, hầu hết ở các nơi đạt đến tốc độ gió trung bình là 3m/giây

2.2 Thủy văn:

Chế độ thủy văn có tác động rất lớn đến nhiều mặt trong đời sống người dân đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh An Giang nói riêng, nhất là việc phát triển nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh

- Lưu lượng nước:

Lưu lượng nước biến động lớn và chịu ảnh hưởng của thủy triều, của lưu lượng nguồn, mưa tại chỗ, gió chướng nhưng dòng chảy trong năm khá ổn định do tác động điều tiết của Biển hồ

Lưu lượng đầu nguồn chảy vào châu thổ phân định theo mùa rõ rệt và biểu thị qua chế độ dòng chảy Vào mùa lũ, nước từ thượng nguồn chảy xuống xuôi theo một chiều (bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11) Trong đó, tháng có dòng chảy lớn nhất là tháng 9 và tháng 10 Mùa khô, toàn bộ hệ thống sông ngòi, kênh, mương chảy theo hai chiều, vào mùa này tháng có dòng chảy lớn nhất là tháng 4

Trang 6

Dòng chảy trong mùa lũ đem nguồn phiêu sinh, nguồn dưỡng khí dồi dào tăng sinh khối thủy vực, đây cũng là một đặc điểm để phát triển mô hình nuôi thủy sản bãi bồi, ao,

Tình trạng ô nhiễm môi trường nước trong nuôi trồng đã và đang diễn ra phổ biến và đến mức báo động, tuy nhiên người nuôi thủy sản vẫn thiếu ý thức, trách nhiệm trong việc xả thải nước chưa qua xử lý ra môi trường tự nhiên Hầu hết các hộ nuôi, nhất là các hộ nuôi lồng bè, đều không có hệ thống xử lý nước thải, bùn thải và thường xả thẳng nguồn thải ra sông Một số ít vùng nuôi của doanh nghiệp có đầu tư

hệ thống xử lý nước thải (chiếm khoảng 10% diện tích nuôi)

Thực tế cho thấy, các phương pháp xử lý nước thải hiện đang áp dụng đều có kinh phí đầu tư lớn, nhu cầu phải có diện tích rộng để xây dựng ao lắng, ao xử lý, vì vậy chỉ thích hợp ứng dụng đối với mô hình nuôi có quy mô lớn, vùng nuôi thuộc các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, vùng nuôi có quy mô trên 10 ha Một số khó khăn nữa là nhiều hộ nuôi không còn quỹ đất trống để làm ao xử thải (tỉ lệ diện tích đất dành cho xử lý nước thải từ 15 - 25% tổng diện tích) Mặc khác, công nghệ, thiết bị xử lý nước thải đạt hiệu quả thì chi phí đầu tư lớn, tăng giá thành sản phẩm đây cũng là một trong những trở ngại lớn trong việc xử lý ô nhiễm môi trường nước, nhất là nước thải trong nuôi trồng thủy sản

II CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN:

- Nhóm đất cát núi: phân bố tập trung ở các triền núi thuộc thành phố Châu Đốc và các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, diện tích 22.675,02 ha, chiếm 6,41% diện tích

tự nhiên Loại đất này rất dễ rửa trôi và nghèo dinh dưỡng không thích hợp canh tác lúa, rau màu Ở khu vực đỉnh núi của các khối núi lớn như núi Cấm, núi Cô Tô, núi Dài có thể trồng cây dược liệu, cây ăn trá ưa lạnh, su su, nơi các sườn

- Nhóm đất phù sa cổ: phân bố chủ yếu ở huyện Tịnh Biên, Tri Tôn (vùng tiếp giáp với biên giới Vương quốc Campuchia và tỉnh Kiên Giang), diện tích 14.617,72

ha, chiếm 4,13% diện tích tự nhiên, thành phần cơ giới xốp, mềm Đây là nhóm đất

có khả năng sản xuất nông nghiệp như luân canh 2-3 vụ lúa – màu; nuôi trồng thủy sản (lúa – cá)

Trang 7

-Nhóm đất phù sa: diện tích 226.866,0 ha, chiếm 64,15% diện tích tự nhiên, và được phân thành các loại như sau:

* Đất phù sa đang phát triển, glây, dinh dưỡng khá: chiếm diện tích 16.742,75

ha (chiếm 4,92% diện tích tự nhiên), phân bố chủ yếu ở huyện Chợ Mới, thành phố Long Xuyên, Châu Thành, Châu Phú, và một ít ở các huyện Phú Tân và Tân Châu Loại đất này thích hợp với sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản

* Đất phù sa đang phát triển, glây, dinh dưỡng kém: có diện tích 15.977,51 ha (chiếm 4,69% diện tích tự nhiên), phân bố chủ yếu ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn và một ít ở huyện Châu Phú, cũng do phân bố ở địa hình khá cao (dọc theo các chân núi của vùng Bảy Núi) nên sa cấu chủ yếu là thịt đến cát pha Loại đất này thích hợp với canh tác lúa và trồng các loại rau màu

* Đất glây, tầng mặt dày, dinh dưỡng khá, có dấu tích phù sa bồi: có diện tích 70.729,21 ha (chiếm 20,76% diện tích tự nhiên), phân bố tập trung ở các huyện cù lao

An Phú, TX Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới, các vùng đất ven sông của các huyện/thị Châu Đốc, Châu Phú, Châu Thành, Long Xuyên và một diện tích nhỏ của huyện Thoại Sơn Loại đất này nghèo chất dinh dưỡng, cộng với sự thấp trũng của phẫu diện là yếu tố cơ bản không có lợi cho việc trồng các loại cây trồng cạn Do đó cần bố trí mùa vụ hay có biện pháp canh tác thích hợp để mang lại hiệu quả cao

* Đất glây, tầng mặt dày, dinh dưỡng kém: có diện tích 15.231,53 ha (chiếm 4,47% diện tích tự nhiên), phân bố tập trung ở thành phố Châu Đốc, và số ít ở các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn và Chợ Mới Loại đất này không thích hợp cho việc trồng các loại cây trồng cạn

* Đất glây, đọng mùn, dinh dưỡng kém: có diện tích 87.887,26 ha (chiếm 25,80% diện tích tự nhiên), tập trung thành vùng lớn ở các huyện Châu Phú, Châu Thành và Thoại Sơn, rải rác với diện tích nhỏ ở huyện Tri Tôn và thành phố Châu Đốc

* Đất glây, tầng mặt mỏng, dinh dưỡng kém: có diện tích 20.297,74 ha (chiếm 5,96% diện tích tự nhiên), đây là loại đất mới của An Giang và chỉ có ở huyện Chợ Mới Do khu vực đất chủ yếu nằm trong đê bao nên đất có lượng phù sa thấp

- Nhóm đất phèn: diện tích 44.687,06 ha, chiếm 12,64% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới

và được phân thành 2 loại như sau:

* Đất phèn hoạt động nông: xuất hiện chủ yếu ở Tịnh Biên và Tri Tôn và một

ít ở Châu Phú Loại đất này có độ phì tự nhiên tư trung bình đến khá, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, tỷ lệ sét cao (41-55%), hàm lượng cát mịn (21,2-38%),

Trang 8

đất dễ bị dính dẻo khi ướt, cứng và nứt nẻ thành rảnh khi khô Loại đất này không thích hợp sản xuất nông nghiệp, có thể trồng một số giống lúa chịu phèn trong vụ mùa, mùa khô có thể lên líp trồng khoai Hướng sử dụng thích hợp đối với loại đất này là trồng lúa 1 vụ hoặc 2 vụ với các giống lúa chịu phèn và các loại rau màu thích hợp khác và có thể kết hợp nuôi cá

* Đất phèn hoạt động sâu: xuất hiện ở hầu hết các huyện trong tỉnh, trừ huyện

An Phú, trong đó tập trung chủ yếu ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn, Châu Phú, Châu Thành và Chợ Mới Loại đất này nghèo chất dinh dưỡng, tỷ lệ các chất dinh dưỡng không cân đối và nhiều biến động Đây là loại đất hạn chế đối với sản xuất nông nghiệp, có thể trồng lúa 1 – 2 vụ nhưng năng suất không cao, có thể trồng hoa màu vào mùa khô Tuy nhiên, trong điều kiện cần thiết thì có thể thâm canh tăng vụ

do có thuận lợi gần nguồn nước ngọt

- Nhóm đất phù sa bồi: tập trung chủ yếu ven theo sông Tiền và sông Hậu, có diện tích 30.793,17 ha (chiếm 8,71% tổng diện tích đất toàn tỉnh), phân bố ở các huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân, thành phố Châu Đốc, Châu Phú, và xã Mỹ Hòa Hưng của TP Long Xuyên Đất có thành phần sét khá cao so với các biểu loại đất ven sông khác, dưới tầng canh tác thường xuất hiện một tầng tích tụ sét, có khả năng trao đổi cation bằng hoặc hơn 24 cmol(+) kg - 1 sét trong suốt và độ bão hòa base (bởi NH4OAc) bằng hoặc lớn hơn 50% trong suốt tầng B đến độ sâu 125 cm Hàm lượng dinh dưỡng không cao lắm, nhưng tiềm năng đất còn rất tốt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Tóm lại: tài nguyên đất tỉnh An Giang có chất lượng khá cao, độ phì trung

bình đến khá, nguồn nước ngọt quanh năm, hệ thống sông, kênh rạch dày đặc, tạo cơ chế ém phèn tự nhiên, thoát rửa phèn tốt phù hợp với sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

2 Tài nguyên nước:

a) Tài nguyên nước mặt

Nguồn cung cấp chủ yếu từ Sông Tiền và sông Hậu và hơn 280 tuyến sông rạch lớn khác, lưu lượng của các sông khá lớn nên đủ cung cấp nước cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt kể cả trong mùa khô Nguồn nước mặt của tỉnh khá dồi dào, có khả năng khai thác đa mục tiêu trong đó quan trọng nhất là mục tiêu sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, trong những năm gần đây, dưới tác động của nhiều yếu tố như: xâm nhập mặn, xây dựng các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong, ô nhiễm môi trường nước cũng gây ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Trang 9

b) Tài nguyên nước dưới đất

Nước dưới đất ở An Giang có trữ lượng khá dồi dào, có thể khai thác và phục

vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt (trừ vùng núi Tri Tôn và Tịnh Biên) Theo thống kê chưa đầy đủ, toàn tỉnh có 7.133 giếng khoan, phục vụ sinh hoạt 92,14%, phục vụ sản xuất 7,86% và khảo sát sơ bộ có khoảng 240 giếng bị ô nhiễm hoặc có nguy cơ nhiễm bẩn các loại cần phải xử lý trám lấp để bảo vệ nguồn nước

3 Đặc điểm xã hội:

3.1 Dân số:

Dân số tỉnh An Giang tính đến 31/12/2012 có 2.153.716 người trong đó dân số trung bình ở nông thôn chiếm 70,01% (1.507.843 người); dân cưchủ yếu là người Kinh chiếm 95%, còn lại là người dân tộc thiểu số, gồm: dân tộc Khmer chiếm 3,9%, dân tộc Chăm chiếm 0,62% và dân tộc Hoa chiếm 0,64%

Dự kiến năm 2010 có khoảng 2.170.295 người với 525.765 hộ, năm 2015 có 2.293.903 người và 2020 có 2.419.281 người

3.2 Tôn giáo:80% dân số theo đạo Phật giáo Hòa Hảo, số còn lại theo đạo

Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Cao Ðài, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, không đạo

3.3 Văn hóa:

- Lao động từ 15 tuổi trở lên tập trung ở nông thôn chiếm 80,5% trong tổng số laođộng của tỉnh An Giang Trong đó, tỉ lệ lao động ở khu vực nông thôn không biết chữ chiếm 11,08%, chưa tốt nghiệp cấp I chiếm 42,47%, tốt nghiệp cấp III chiếm 3,53%

- Lao động ở khu vực nông thôn có chuyên môn kỹ thuật chiếm 5,37%, từ sơ cấp học nghề trở lên chiếm 8,06%, không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 91,94% trong tổng số 743.763 lao động

- Trình độ văn hóa của lực lượng lao động tỉnh An Giang là rất thấp, đây là

một trong những bất lợi đối với phát triển kinh tế của tỉnh.(nguồn: Cục Thống kê)

PHẦN III THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

GIAI ÐOẠN 2002 – 2013

Trang 10

I HIỆN TRẠNG VỀ KHU HỆ THỦY SẢN:

1 Khu hệ cá (Fish fauna):

Có khoảng 140 loài cá, xuất hiện trên địa bàn tỉnh An Giang, số lượng loài xuất hiện thay đổi theo từng mùa trong năm (số lượng loài cá xuất hiện ở tỉnh An Giang cần được nghiên cứu chi tiết thêm) Với các họ xuất hiện có ưu thế là Cyprinidae, Pangasiidae, Bagridae, Cobitidae, Gobiidae, Siluridae Số loài cá xuất hiện phong phú vào mùa lũ, mùa khô số lượng loài xuất hiện giảm đi, đây cũng là một đặc trưng của vùng

Có hai loài cá du nhập vào Việt Nam là cá lau kiếng (Hypostomus punctatus),

cá chim trắng (Colossoma brachypomum) đây là hai loại cá có xuất xứ từ Nam Mỹ,

có khả năng thích nghi cao, khả năng cạnh tranh bắt mồi vượt trội so với các loài cá bản địa, có khả năng phá vỡ khu hệ thủy sản vùng đồng bằng sông Cửu Long, rất cần nghiên cứu kỹ lưỡng hai loài này, các loài cá khác nhập khẩu vào Việt Nam nói chung và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nói riêng

Các loài cá ở tỉnh An Giang (cá ở sông Tiền, sông Hậu, ở các nhánh sông, kênh rạch, vùng trũng ngập nước, ) rất phong phú và đa dạng, do vậy để tận dụng được ưu thế này bền vững cần phải khai thác, nghiên cứu, phát triển và bảo tồn một cách hợp lý

2 Ðộng thực vật phù du và động vật đáy:

2.1 Thực vật phù du (Phytoplankton):

Thực vật phù du ở thủy vực An Giang với các ngành có số lượng chiếm ưu thế

là Cholorophyta, Bacillriophyta, Euglenophyta, Cyanophyta, Pyrrophyta, Chryrophyta có số lượng thấp

Thành phần giống loài khá phong phú, số lượng dồi dào, thành phần và số lượng biến động Ngành tảo khuê (Cyclotella comta, Surirella robusta, ), tảo lục (Closterium acerosum for rectum, Pediastrum biradiatum, ) phong phú là nguồn thức

ăn tốt cho nuôi trồng thủy sản, bên cạnh đó có các giống loài tảo lam (Aphanocapsa pulchra, Polycistis, Oscillatoria, ), tảo mắt (Euglena oblonga, Phacus longicauda, )

là loài tảo độc không có lợi cho nuôi thủy sản

2.2 Ðộng vật phù du (Zooplankton):

Với số lượng loài chiếm ưu thế của lớp Rotatoria, Protozo,… Ðộng vật phù du

là loài thức ăn giàu chất dinh dưỡng và năng lượng cho nhiều loại cá ở giai đoạn ấu trùng, rất khó thay thế bằng thức ăn nhân tạo nào khác, bên cạnh có một vài loài gây bệnh cho tôm cá

2.3 Ðộng vật đáy (Zoobenthos):

Với các loài có số lượng chiếm ưu thế của lớp Crustacea, Isecta, Bivalvia, Gastropoda, Oligochaeta, Polychaeta Ðộng vật đáy là loại thức ăn tốt của các loài cá

Trang 11

sống ở tầng đáy ăn tạp, ăn động vật Bên cạnh đó có một số loài làm ô nhiễm đáy là Didymops sp (Isecta), Dero dosalis (Oligochaeta)

Ðộng thực vật phù du, động vật đáy ở tỉnh An Giang rất đa dạng và phong phú Chúng là loại thức ăn tốt cho cá Bên cạnh đó, có một số loại tảo độc đối với cá, một số loài động vật phù du gây bệnh cho cá, một số loài động vật đáy làm ô nhiễm đáy

3 Ðánh giá chung về khu hệ thủy sản:

Khu hệ thủy sản của tỉnh An Giang đa dạng và phong phú, rất thích hợp cho phát triển trong nuôi trồng thủy sản Ðây là một ưu thế nổi trội của vùng, song để tận dụng có hiệu quả và bền vững khu hệ thủy sản cần phải có sự quan tâm và đầu tư đúng, hợp lý về nghiên cứu chuyên sâu, bảo tồn, nuôi trồng, khai thác

Ðặc biệt đối với các giống loài không phải là giống loài bản địa của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, trước khi nhập giống vào cần phải khảo nghiệm và nghiên cứu kỹ, tránh phá vỡ khu hệ thủy sản của vùng, vì khu hệ thủy sản nước ngọt đồng bằng sông Cửu Long đa dạng và phong phú nhất ở Việt Nam

Trang 12

II TÌNH HÌNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN GIAI ĐOẠN 2002 - 2013:

Bảng 1: Tổng hợp tình hình nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2002 – 2013

Trong đó: cá tra (ha) 111157 150120 131652 145510 145421 216526 268091 242507 231071 267990 245690 242524

Năng suất (tấn/ha) 62 75 93 68 180 155 226 219 231 262 291 290

Năng suất (tấn/ha) 1,08 1,24 1,16 1,18 1,35 1,63 2,16 1,9 2,03 2,63 2,25 1,49

(Nguồn: Cục Thống kê An Giang)

Trang 13

Tính đến năm 2013, diện tích nuôi trồng thủy sản theo các Quy hoạch nêu trên thực tế có 4 huyện đạt < 50 %, cá biệt huyện An Phú chỉ đạt khoản 15%; 06 huyện đạt từ 50-76%, chỉ có Thoại Sơn đạt quy hoạch đã đề ra Tuy nhiên, nhìn chung công tác quy hoạch thủy sản trong thời gian qua mặc dù chưa đạt được yêu cầu nhưng đã thành công trong các mục tiêu định tính như: đã định vị được vùng nuôi trồng thủy sản, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn, phát triển nuôi trồng theo phương thức công nghiệp, thu hút được nhiều doanh nghiệp vào đầu tư phát triển ngành hàng và đã tạo được niềm tin, an tâm sản xuất; bước đầu quan tâm đến các vấn

đề xử lý nước thải trong nuôi trồng thủy sản, bảo vệ môi trường sinh thái,…

Bảng: Tổng hợp so sánh diện tích nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch

tại các thời điểm năm 2007, 2010, 2013

Diện tích

DT nuôi thực tế năm 2007*

DT nuôi thực tế năm

2010

Diện tích nuôi thực tế năm 2013

Diện tích theo QH thủy sản đến năm

2010 **

Tỷ lệ đạt được so với

2010 (%)

Tỷ lệ đạt được so với

Trang 14

Tri Tôn 37 42 42 115 36,5 36,5

(Ghi chú: * năm 2007 là năm có diện tích nuôi lớn nhất

** Theo Quyết định số 3354/QĐ-UBND ngày 19/12/2007)

2 Ðối tượng nuôi:

Trước năm 2002 đối tượng nuôi chính là: cá basa, cá tra, cá lóc bông, cá hú, cá

he, ngoài ra còn có các đối tượng nuôi phụ là cá lóc, cá rô đồng, cá rô phi, cá bống tượng, cá sặc rằn, cá trê phi, cá trê lai, cá chép, cá hường

Từ năm 2003 đến nay: đối tượng nuôi chính là cá tra, cá lóc bông, cá basa, cá

hú, cá he, tôm càng xanh, cá rô phi, ngoài ra còn có các đối tượng nuôi phụ là cá lóc, cá

rô đồng, cá thát lát, cá trê phi, cá trê lai, cá mè vinh, cá chép, cá chim trắng, cá mè, cá hường

Trong giai đoạn này đối tượng nuôi xuất khẩu chủ lực là: cá tra được nuôi ao, các đối tượng khác được nuôi trong ao và lồng bè chủ yếu tiêu thụ nội địa Một số đối tượng nuôi chính từ năm 2002 đến nay như sau:

* Đối với cá tra, cá basa:

Đây là một trong những đối tượng nuôi chủ lực trong phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh, diện tích và sản lượng nuôi cá tra tăng dần hàng năm, đỉnh điểm diện tích đạt gần 1.400 ha với sản lượng đạt khoảng 270 ngàn tấn vào năm 2007 Từ năm 2008 đến nay diện tích nuôi cá tra, basa liên tục giảm và đến cuối năm 2013 chỉ còn khoảng 800 ha, nguyên nhân chủ yếu do giá cả không ổn định,… người nuôi không có lãi nên người nuôi thu hẹp dần diện tích Phần lớn diện tích nuôi cá tra hiện nay do doanh nghiệp đầu tư theo quy trình khép kính từ nuôi đến chế biến và xuất khẩu

Một số địa phương có diện tích nuôi cá tra lớn của tỉnh là huyện Chợ Mới (chiếm 31% tổng diện tích), Châu Phú (20%), Thoại Sơn (15%), Châu Thành (11%), Phú Tân (8%) và Tp Long Xuyên (6%) Cá tra được nuôi với nhiều loại hình khác nhau như nuôi ao, nuôi cồn – bãi bồi, nuôi đăng quầng, lồng bè Những năm gần đây ngư dân chủ yếu nuôi theo hình thức thâm canh trong các ao, hầm (1) Nuôi trong ao:

là hình thức nuôi chủ yếu hiện nay, những hộ nuôi qui mô nhỏ tận dụng ao, mương vườn sẵn có; những hộ nuôi qui mô lớn có vị trí ao nuôi gần các sông rạch để thuận tiện cho việc cấp thoát nước, vận chuyển hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm (2) Nuôi trên cồn, bãi bồi: hình thức nuôi này mới được áp dụng trong vài năm gần đây và có

xu hướng phát triển mạnh vì có thể thả mật độ cao để tăng năng suất và tăng sản

Trang 15

lượng; nguồn nước cung cấp thuận lợi, thu hoạch và vận chuyển dễ dàng (3) Nuôi đăng quầng: tập trung ở các sông nhánh có tốc độ dòng chảy thấp, hoặc nằm khuất trong các khúc co dọc theo sông Tiền và sông Hậu (4) Nuôi trong lồng bè: nuôi trong

bè đang có xu hướng giảm nhanh do hiệu quả kinh tế giảm liên tục và thấp hơn so với các mô hình nuôi khác

* Đối với Tôm càng xanh:

Đây là một trong những đối tượng nuôi chủ lực trong phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh, ban đầu được triển khai nuôi tại xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn với vài ha, tuy nhiên diện tích tăng dần theo từng năm và phát triển mạnh nhất vào năm 2007 với 650 ha tương đương với sản lượng 1060 tấn….Từ năm 2009 đến nay diện tích nuôi tôm càng xanh giảm liên tục đến năm 2013 chỉ còn 238 ha với sản lượng đạt khoảng 356 tấn Nguyên nhân, do khó khăn về con giống, dịch bệnh, thời tiết, thị trường,… hiệu quả nuôi không cao, nên người nuôi thu hẹp quy mô và diện tích nuôi Tôm càng xanh được nuôi với nhiều hình thức khác nhau như: nuôi luân canh trong ruộng lúa (nuôi trên chân ruộng), nuôi thâm canh trong ao đất, nuôi trong mương vườn cây ăn trái và nuôi đăng quầng Tính đến nay, hình thức nuôi tôm càng xanh phổ biến vẫn là nuôi trên ruộng luân canh với cây lúa, tập trung chủ yếu ở huyện Thoại Sơn và các huyện Châu Thành, Châu Phú và Phú Tân

* Đối với cá Lóc:

Mô hình nuôi cá lóc của tỉnh đã phát triển từ nhiều năm qua, tuy nhiên, mới phát triển mạnh trong những năm gần đây với hình thức nuôi trong bồn, bể…diện tích và sản lượng tăng dần qua các năm từ hơn 47 ha vào năm 2004 đến năm 2013 tăng gần gấp đối với 93 ha và sản lượng đạt 13.019 tấn Hai địa phương Long Xuyên

và Châu Thành chiếm gần 70% sản lượng cá lóc của tỉnh Ngoài việc bán tươi, đến nay cá lóc được đưa vào chế biến thành sản phẩm “khô cá lóc” Hiện có nhiều cơ sở chế biến khô cá lóc ở Chợ Mới, Thoại Sơn… và tỉnh đã từng bước phát triển thương hiệu này như “khô cá lóc Chợ Mới” (nhãn hiệu tập thể, bắt đầu từ năm 2006), “khô cá lóc Thoại Sơn” Bên cạnh tiêu thụ trong tỉnh, các sản phẩm cá lóc An Giang được tiêu thụ ở các tỉnh trong vùng ĐBSCL và Tp.HCM Tỉnh cũng đã hỗ trợ cho các cơ

sở chế biến khô cá lóc tham gia các hội chợ, quảng bá sản phẩm

* Cá rô, cá rô phi:

Nghề nuôi cá rô, cá rô phi của tỉnh đã được nông dân nuôi nhiều dưới hình thức thâm canh hoặc bán thâm canh trong ao đất, lồng bè, trong mương hay trên ruộng lúa Vùng nuôi phân bố rải rác dọc theo các tuyến kinh cấp I và cấp II và tập trung nhiều nhất ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, chủ yếu là cá

rô phi Sản lượng nuôi cá rô, rô phi năm 2003 là 925 tấn đến năm 2013 sản lượng đạt

Trang 16

khoảng 1415 tấn, trong đó: lồng bè: 857 tấn Trong những năm gần đây, nhờ nghiên cứu, hoàn chỉnh quy trình sản xuất giống cá đơn tính toàn đực và nuôi thương phẩm

cá rô phi Novit-4, giúp nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế cho nghề nuôi thương phẩm của tỉnh Tuy nhiên, năng suất nuôi bình quân hiện nay vẫn còn rất thấp và nghề nuôi còn nhiều bất ổn Do đó, để phát triển nghề nuôi cá rô, rô phi một cách có hiệu quả và bền vững, cần giải quyết tốt vấn đề thị trường tiêu thụ và tiếp tục chọn tạo con giống có chất lượng cao và cải tiến quy trình nuôi để tăng năng suất, hạ giá thành, tăng tính cạnh tranh

Ngoài ra, còn có một số đối tượng khác như: cá thát lát, cá điêu hồng, cá hô,

… hiện đang nuôi trên địa bàn tỉnh

3 Giống thủy sản:

2.1 Giống bản địa:

Từ những năm cuối thập niên 90, cá basa, cá hú được câu từ tự nhiên (chiều cao thân của cá từ 0,6 - 2cm, thời gian khai thác từ tháng 5 âm lịch đến tháng 10 âm lịch hàng năm) đem về nuôi dưỡng trong các lồng bè khi đạt yêu cầu cá giống được thả vào các bè, ao nuôi thương phẩm Giống cá tra chủ yếu được vớt từ tự nhiên dưới dạng cá bột đem lên nuôi dưỡng trong ao một thời gian, sau đó được ương lên thành

cá giống để thả nuôi thương phẩm trong ao

Từ khi nghề nuôi cá tra, cá basa phát triển phục vụ cho chế biến và xuất khẩu thì giống cá tra, cá basa được sinh sản nhân tạo, hoàn chỉnh quy trình,… phục vụ cho nuôi Các loại cá khác như cá he, cá trê, cá mè vinh, cá chép, cá lóc bông, cá lóc, cá

rô đồng, cá rô phi, cá hường chủ yếu sinh sản nhân tạo và cung cấp đủ số lượng giống cho nhu cầu nuôi trong tỉnh và khu vực đồng bằng sông Cửu Long

2.2 Giống du nhập (là giống ở các tỉnh ngoài khu vực đồng bằng sông Cửu

Long, ở nước ngoài):

Trang 17

Hiện nay, theo kết quả thống kê chưa đầy đủ, trên địa bàn tỉnh An Giang khoảng 48 trại sản xuất, ương giống Năng lực sản xuất khoảng 4.500 triệu con cá bột các loại/năm Con giống thủy sản thả nuôi gồm cá loại: tra, basa, lóc bông, lóc, he,

hú, trê, mè vinh, Tình hình sản xuất và cung cấp giống cho nhu cầu nuôi trong

những năm qua không ngừng tăng Nhìn chung, nguồn cung cấp giống thủy sản toàn

tỉnh không đảm bảo về chất lượng và số lượng cho nhu cầu nuôi thủy sản Giải quyết việc thiếu giống nuôi thủy sản phải nhập giống từ các tỉnh khác trong khu vực như Ðồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long, TP.HCM

Ðối với các trại tư nhân, việc áp dụng các qui trình sản xuất giống không được tuân thủ nghiêm ngặt khoa học (chỉ chạy theo lợi nhuận kinh tế) từ khâu chọn và nuôi

vỗ cá bố mẹ đến khâu sinh sản, ương nuôi cá bột, cá giống do đó dẫn đến suy thoái cá

bố mẹ, chất lượng cá giống không đảm bảo (tính thích nghi môi trường kém, khả năng kháng bệnh yếu, ), cá giống hao hụt nhiều trong quá trình nuôi thương phẩm gây tổn thất kinh tế Ngoài ra, việc trang bị máy móc ở các trại giống còn thô sơ, lạc hậu, hầu hết chất lượng con giống ở các trại sản xuất tư nhân có chất lượng không cao dẫn đến hao hụt nhiều trong quá trình nuôi Trại giống có qui mô lớn trực thuộc Nhà nước là Trung tâm Giống Thủy sản An Giang

4 Mô hình nuôi thủy sản:

3.1 Nuôi ao:

Ðối tượng nuôi chính là cá tra, cá lóc, cá rô, tôm càng xanh, rô phi, cá trê, cá thát lát Hiện nay, người nuôi cá đang tận dụng đất bãi bồi, đất dọc theo bờ sông Tiền, sông Hậu đào ao nuôi cá có hiệu quả kinh tế cao, chất lượng cá tốt Song phần lớn không có hệ thống xử lý nước thải (ao lắng, xử lý nước bằng hóa chất,…) trước khi thải ra sông, điều này cũng báo động trong một vài năm tới việc ô nhiễm chất lượng nước mặt đối với sông Tiền, sông Hậu là điều không thể tránh khỏi Do đó, cần xúc tiến nhanh các biện pháp, giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản nói riêng và nuôi cá tra nói chung là hết sức cần thiết và cấp bách trong thời gian tới

3.2 Nuôi lồng, bè:

Ðối tượng nuôi chính: hú, he, rô phi, cá lóc bông, chim trắng, điêu hồng,… Trước năm 2002, loại hình nuôi bè phát triển chủ yếu một số đối tượng nuôi phục vụ tiêu thụ nội địa, một số ít là xuất khẩu (cá tra, cá basa) Tuy nhiên, từ năm

2003 đến nay, số lượng lồng bè nuôi cá của tỉnh tăng mạnh trong giai đoạn

2004-2007, từ năm 2008 đến nay, số lượng lồng bè giảm dần chủ yếu nuôi các đối tượng phục vụ cho tiêu thụ nội địa

Khu vực tập trung nhiều bè nhất (về số lượng lồng bè, thể tích nuôi) là khu vực ngã ba sông Châu Ðốc nơi giáp ranh của các huyện An Phú (xã Ða Phước), Châu Ðốc (Vĩnh Ngươn, Vĩnh Mỹ), Tân Châu (xã Châu Phong), Phú Tân (xã Mỹ Hiệp)

Các khu vực bè tập trung khác (ít hơn so với khu vực trên) là Đoạn sông Hậu thuộc huyện Châu Phú (xã Khánh Hòa, Mỹ Thuận - Mỹ Phú), Ðoạn sông Kênh Xáng

Trang 18

thuộc huyện Tân Châu (xã Long An, Tân An), Ðoạn sông Cái Vừng thuộc huyện Phú Tân (thuộc xã Long Sơn, Long Hòa, Phú Lâm, Phú Thạnh), Đoạn sông Hậu thuộc xã

Mỹ Hòa Hưng – Long Xuyên (xung quanh xã Mỹ Hòa Hưng), Đoạn sông Hậu thuộc huyện Châu Thành (thuộc xã Hòa Phú I, II ; xã Hòa Long), Đoạn sông Hậu thuộc xã Phước Hưng huyện An Phú, Đoạn sông Tiền khu vực thuộc xã Vĩnh Xương - Tân Châu

3.3 Nuôi trên ruộng lúa:

Ðối tượng nuôi chủ yếu là tôm càng xanh, cá rô phi, chép, mè vinh, rô, cá lóc Nuôi tôm chân ruộng phát triển từ năm 2000 đến nay tăng nhanh về diện tích, sản lượng nuôi Khu vực nuôi tôm chân ruộng chủ yếu tập trung ở huyện Thoại Sơn và một số vùng thuộc huyện Châu Thành, Châu Phú

5 Sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2002 - 2013:

Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng hàng năm nếu như năm 2002 sản lượng nuôi

là 111.599 tấn đến năm 2013 sản lượng nuôi là 327.200 tấn, tổng sản lượng nuôi trồng 2002-2013 là 2.776.908 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 8,02% góp phần vào tăng trưởng kinh tế xã hội chung của tỉnh (xem bảng 1 đính kèm)

6 Kim ngạch xuất khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu thủy sản (chủ yếu là cá tra) có mức tăng trưởng cao, nếu

như năm 2002, sản lượng sản phẩm chế biến cá tra xuất khẩu là 23.200 tấn tương đương 66,6 triệu USD đến năm 2013 sản lượng sản phẩm chế biến cá tra xuất khẩu là 170.226 tấn tương đương kim ngạch xuất khẩu 409,837 triệu USD, cá biệt năm 2008 kim ngạch xuất khẩu đạt trên 423 triệu USD Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất

khẩu bình quân hàng năm (giai đoạn 2002-2013) là 24,4% góp phần vào tăng trưởng

kinh tế xã hội chung của tỉnh (xem bảng 1 đính kèm)

7 Thức ăn, vật tư phục vụ nuôi thủy sản:

a) Thức ăn tự chế:

Từ năm 2002 trở về trước:

- Khoảng 95 % sử dụng thức ăn tự chế, 5% thức ăn viên trong qui trình nuôi

cá tra bằng mô hình ao

Khoảng 95% sử dụng thức ăn tự chế, 5% thức ăn viên trong qui trinh nuôi cá tra, cá basa bằng mô hình lồng bè

Từ năm 2002 đến năm: lượng thức ăn tự chế sử dụng trong nuôi cá (ao hầm và lồng bè) ngày càng giảm dần, trong những năm gần đầy hầu hết hộ nuôi cá sử dụng thức ăn công nghiệp với tỉ lệ > 95% thức ăn công nghiệp và < 5% thức ăn tự chế

b) Thức ăn công nghiệp:

Hiện tại có các loại thức ăn viên là Cargill (Mỹ), Proconco (Pháp), Cataco (Việt Nam), Ocialis (Pháp), Uni-President (Ðài Loan), Mỹ Trường, AFIEX, CP (Thái Lan)

Trang 19

8 Phòng và trị bệnh, kỹ thuật nuôi:

7.1 Phòng và trị bệnh:

Hiện nay, trong quá trình nuôi thủy sản (cá, tôm) xuất hiện nhiều loại bệnh gây suy yếu sức khỏe của cá và dẫn đến cá chết dần dần, đôi khi chết hàng loạt gây tổn thất lớn về kinh tế cho người nuôi thủy sản

Các loại bệnh cá thường gặp là :

- Bệnh do vi khuẩn: Bệnh gan thận mủ, Bệnh đốm trắng, bệnh nhiễm trùng

huyết, bệnh lở loét, bệnh đốm đỏ, bệnh mù mắt hay nổ mắt, bệnh nhiễm vi khuẩn

- Bệnh ký sinh trùng: Bệnh trùng bánh xe, bệnh trùng quả dưa, bệnh sán lá gan

(bệnh gạo cá), bệnh sán lá đơn chủ, bệnh giun tròn, bệnh trùng mỏ neo, bệnh rận cá, bệnh bào tử trùng

- Bệnh dinh dưỡng : Bệnh thiếu vitamin C, bệnh thiếu một số khoáng chất,

bệnh thiếu các acid amin, bệnh thiếu các vitamin

Mặc dù công tác phòng và trị bệnh được hỗ trợ bởi cán bộ kỹ thuật cơ quan chuyên ngành, trường Đại học Cần Thơ, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II, nhưng công tác phòng và trị bệnh cá vẫn chưa đáp ứng được cho nhu cầu nuôi thủy sản, do vậy dịch bệnh là một trong những yếu tố gây bất lợi cho người nuôi thủy sản

Thuốc phòng và trị bệnh cá hiện tại có nhiều loại trên thị trường, đáp ứng đủ cho nhu cầu nuôi, với chất lượng và giá cả khác nhau giúp cho người nuôi thủy sản thuận lợi trong việc phòng trị bệnh cá

7.2 Kỹ thuật nuôi: Ða số người nuôi thủy sản ở tỉnh có nhiều năm kinh

nghiệm trong nghề nuôi cá, nhưng việc đầu tư nghiên cứu và áp dụng khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng thủy sản còn nhiều bất cập Vì thế, hiệu quả kinh tế chưa cao, đây là một trở ngại đối với nghề nuôi cá truyền thống ở An Giang

9 Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất:

Từ năm 2000 đến nay, đã nghiên cứu và triển khai ứng dụng nhiều qui trình kỹ thuật có hiệu quả như: qui trình sinh sản nhân tạo giống cá tra, basa , qui trình sản xuất giống cá rô phi đơn tính toàn đực; Áp dụng các quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá tra theo tiêu chuẩn Global GAP, ASC,…; qui trình sản xuất giống tôm càng xanh bằng công nghệ nước xanh cải tiến và nước trong hở; nuôi Lươn đồng trong

bể xi măng bằng dạt tre mật độ cao; sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá lóc, các sặc rằn, …… Rào cản kỹ thuật, cùng với hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, nhất là lĩnh vực nông nghiệp trong đó có nuôi trồng thủy sản Do đó, việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao, nhất

là khâu sản xuất giống vào nuôi trồng thủy sản là hết sức cần thiết nhằm tạo ra năng suất cao, chất lượng vượt trội và đặc biệt tăng giá trị và tăng thu nhập cho người dân

Trang 20

10 Các loại dịch vụ, lao động:

Các loại dịch vụ phổ biến trong nuôi thủy sản là dịch vụ cung cấp thức ăn nuôi thủy sản (tấm cám, cá biển, ) dịch vụ cung cấp thuốc thú y thủy sản (cửa hàng thuốc thú y thủy sản ), dịch vụ vận chuyển cá (cá giống, cá thương phẩm)

Lao động nuôi trồng thủy sản

III GÍA TRỊ SẢN XUẤT THỦY SẢN GIAI ĐOẠN 2002 - 2013 (Giá hiện hành):

Đơn vị tính: triệu đồng

Chỉ tiêu

Giá trị sản lượng thủy sản nuôi trồng (tr đồng)

Giá trị sản lượng thủy sản khai thác

Giá trị dịch

vụ thủy sản

Tổng giá trị sản xuất thủy sản (tr đồng)

Trang 21

2013 5.213.790 855.740 294.489 6.364.019

(Nguồn: Cục Thống kê)

IV CHẾ BIẾN, THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ:

1 Chế biến:

1 Chế biến công nghiệp:

Hiện nay, toàn tỉnh có 17 Công ty với 23 nhà máy hoạt động chế biến thủy sản với tổng công suất sản xuất trên 330.000 tấn/năm, trong đó tổng công suất chế biến hàng giá trị gia tăng là 4.960 tấn, với hơn 28.000 lao động, tổng vốn đầu tư trên

1.947.970 triệu đồng

Thời gian đầu (1998-2001) do chưa tìm được thị trường xuất khẩu nên lượng

cá tra nuôi chủ yếu được tiêu thụ nội địa, xuất khẩu chỉ chiếm dưới 10% Năm 2002, đánh dấu sự tăng trưởng đột phá của thị trường xuất khẩu, có đến 54% sản lượng nuôi được đưa vào chế biến để xuất khẩu Những năm gần đây, tỷ trọng này chiếm trên 95%

Ngành chế biến thủy sản đông lạnh của tỉnh có trình độ công nghệ tương đối hiện đại, máy móc thiết bị được lắp đặt đồng bộ của các hãng chuyên ngành nổi tiếng như: My com, Nissin (Nhật), Bizzer (Đức), Trane (Mỹ), và Gram (Đan Mạch) Sản

phẩm có thể cạnh tranh và xuất khẩu vào các thị trường khó tính trên thế giới

Các doanh nghiệp đã không ngừng đầu tư nâng công suất chế biến, đa dạng hóa các mặt hàng từ thủy sản, đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước Hầu hết, các doanh nghiệp chế biến thủy sản đều đăng ký thực hiện quản lý chất lượng sản phẩm theo các tiêu chuẩn quốc tế như: ISO, HACCP, chứng nhận HALAL,… của tổ chức cộng đồng người hồi giáo, Code xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU,

(nguồn: Sở Công Thương) 1.2 Chế biến thô sơ:

Hiện có 92 cơ sở chế biến khô các loại với công suất tiêu thụ nguyên liệu thô trung

bình khoảng 30.000 tấn/năm Sản phẩm chính là khô cá tra phồng, khô cá sặc, khô cá

lóc, bong bóng cá tra, bao tử cá tra,… Thị trường tiêu thụ chủ yếu nội địa và Campuchia

2 Thị trường tiêu thụ:

2.1 Thị trường tiêu thụ:

Thị trường xuất khẩu chính các sản phẩm thủy sản (chủ yếu là cá tra) của tỉnh

An Giang: EU, Mỹ, Châu Á,… Ngoài thị trường xuất khẩu, các công ty đang mở rộng thị trường nội địa trên toàn quốc nhằm tăng mạnh thị phần tiêu thụ sản phẩm trong nước

2.2 Phát triển sản xuất các mặt hàng chủ lực:

Trang 22

Từ 2002 đến nay, sản phẩm sản xuất chính của các công ty là Fillet, nguyên con, cắt khúc đông lạnh, đông rời Ðối tượng sản xuất chính của các sản phẩm này là

cá tra, basa, rô phi

kể vào quá trình phát triển kinh tế và an sinh xã hội của địa phương

Tình hình nuôi trồng thủy sản trong thời gian qua có những bước tăng trưởng đáng kể, luôn tăng trưởng trên 10% trong ngành nông nghiệp Đây là xu thế đúng hướng nhằm khai thác thế mạnh trong nông ngư nghiệp của tỉnh, đồng thời, từng bước thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ngư dân có truyền thống nuôi thủy sản từ lâu và ngày càng tích lũy nhiều kinh nghiệm hơn trong sản xuất cùng với các chủ trương, cơ chế chính sách của nhà nước thông qua các chương trình, dự án đã tập trung đầu tư cho phát triển thủy sản đã góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội và giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động ở địa phương

Chất lượng và giá trị của các sản phẩm nuôi trồng ngày càng cao, trở thành một trong những nguồn nguyên liệu chính giúp cho ngành chế biến phát triển, nâng cao giá trị của các mặt hàng trong nước và thế giới

2 Hạn chế, tồn tại và nguyên nhân:

Tuy thành tựu đạt được đã góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu, tăng dần thu nhập cho nông dân, đời sống kinh tế của nhân dân ngày một nâng lên, song về khách quan nhận xét vẫn còn hạn chế:

- Chưa hướng được nuôi loại thủy sản nào, nuôi bao nhiêu và cung cấp cho thị trường nào Do đó, dẫn tới tình trạng sản phẩm lúc thừa, lúc thiếu không chủ động; bên cạnh, một số hộ nuôi tự phát không theo qui hoạch chung của tỉnh

- Ngư dân có khả năng huy động số lượng lớn vốn để đầu tư nuôi nhưng chưa hạch toán kỹ ở lãi suất, thời gian vay để tính vào chi phí Một bộ phận ngư dân không

có tay nghề nhưng thấy đầu tư có hiệu quả ở những lúc cá có giá nên góp phần làm ảnh hưởng đến nghề nuôi thủy sản của tỉnh

- Hiện tượng tranh mua, tranh bán, mất cân đối cung cầu, giá cả (nguyên liệu, xuất khẩu) không ổn định làm cho nghề nuôi thủy sản phát triển chưa thật sự ổn định

và bền vững

Trang 23

- Tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước chưa được giải quyết một cách tối ưu

- Trình độ lao động trong nuôi trồng thủy sản còn thấp, nên việc tiếp thu công nghệ và áp dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế

- Đầu tư còn nhiều bất cập, chưa huy động tốt các nguồn lực của các thành phần kinh tế để đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tạo ra những vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung Đặc biệt là đầu tư hạ tầng thủy lợi phục vụ thủy sản còn hạn chế

- Sự tăng trưởng về diện tích, sản lượng trong nuôi trồng thủy sản những năm qua chủ yếu theo chiều rộng, chưa mang tính chiều sâu, chưa có sự đảm bảo tính ổn định, bền vững Nuôi trồng thủy sản còn đặt nặng về sản lượng mà chưa chú trọng chất lượng nên sản phẩm thủy sản xuất khẩu thường bị rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu

Ngày đăng: 10/06/2016, 04:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tổng hợp tình hình nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2002 – 2013 - QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 1 Tổng hợp tình hình nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2002 – 2013 (Trang 12)
Bảng tổng hợp: Khả năng khai thác đất nuôi trồng thủy sản - QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng t ổng hợp: Khả năng khai thác đất nuôi trồng thủy sản (Trang 31)
Bảng 2: Quy hoạch sản xuất giống ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 - QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 2 Quy hoạch sản xuất giống ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 (Trang 32)
Bảng 3: Tổng hợp diện tích nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao - QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 3 Tổng hợp diện tích nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao (Trang 33)
Bảng 5: Tổng hợp diện tích nuôi tôm càng xanh ứng dụng công nghệ cao - QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 5 Tổng hợp diện tích nuôi tôm càng xanh ứng dụng công nghệ cao (Trang 34)
Bảng 6: Tổng hợp diện tích nuôi cá sặc rằn ứng dụng công nghệ cao - QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 6 Tổng hợp diện tích nuôi cá sặc rằn ứng dụng công nghệ cao (Trang 34)
Bảng 7: Diện tích nuôi cá lóc ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 - QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 7 Diện tích nuôi cá lóc ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020 (Trang 35)
Bảng 10: Tổng hợp các phương án dự kiến sản lượng thủy sản - QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 10 Tổng hợp các phương án dự kiến sản lượng thủy sản (Trang 36)
Bảng 11: Sản lượng nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao - QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
Bảng 11 Sản lượng nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w