Vào những thập niên của thế kỷ XX, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ. Sự gia tăng mạnh mẽ đó đòi hỏi các quốc gia phải có chiến lược hội nhập phù hợp vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Trong bối cảnh này, không thể phát triển nếu như không mở cửa hội nhập. Tuy vậy, hội nhập một mặt sẽ đón nhận được những cơ hội cho phát triển, Song mặt khác, cũng phải đối với hàng loạt những thách thức do chính xu thế toàn cầu hoá đặt ra. Vì vậy, trong Đại hội đảng IX của Đảng ta đã nêu rõ: “Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế” và Đảng ta đã khẳng định: chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường” (văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, tr 157,120 – NXB chính trị quốc gia). Đã có rất nhiều đề án, tài liệu nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, đây là vấn đề mang tính thời đại và còn trong quá trình diễn biến nên em xin mạnh dạn chọn đề tài: “Toàn cầu hóa về kinh tế và vấn đề chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Ngành dệt may đã chủ động hội nhập sau khi Việt Nam gia nhập WTO” do trình độ và thời gian có hạn nên đề án của em không tránh khỏi những thiếu sót sai lầm. Em rất mong có sự đóng góp của cô giáo và các bạn để đề án của em hoàn thiện hơn.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Vào những thập niên của thế kỷ XX, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập
kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ Sự gia tăng mạnh mẽ đó đòihỏi các quốc gia phải có chiến lược hội nhập phù hợp vào nền kinh tế thế giới
và khu vực Trong bối cảnh này, không thể phát triển nếu như không mở cửahội nhập Tuy vậy, hội nhập một mặt sẽ đón nhận được những cơ hội cho pháttriển, Song mặt khác, cũng phải đối với hàng loạt những thách thức do chính
xu thế toàn cầu hoá đặt ra Vì vậy, trong Đại hội đảng IX của Đảng ta đã nêurõ: “Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, bao trùm hầu hếtcác lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, sức ép cạnh tranh và tính tuỳ thuộc lẫnnhau giữa các nền kinh tế” và Đảng ta đã khẳng định: "chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng caohiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dântộc, bảo vệ môi trường” (văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, tr157,120 – NXB chính trị quốc gia)
Đã có rất nhiều đề án, tài liệu nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, đây
là vấn đề mang tính thời đại và còn trong quá trình diễn biến nên em xin
mạnh dạn chọn đề tài: “Toàn cầu hóa về kinh tế và vấn đề chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Ngành dệt may đã chủ động hội nhập sau khi Việt Nam gia nhập WTO” do trình độ và thời gian có hạn nên đề
án của em không tránh khỏi những thiếu sót sai lầm Em rất mong có sự đónggóp của cô giáo và các bạn để đề án của em hoàn thiện hơn
Trang 2CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TOÀN CẦU HOÁ
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
I Khái niệm về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1 Khái niệm về toàn cầu hoá
Thuật ngữ toàn cầu hoá ( tiếng anh viết là globalization) xuất hiện đầutiên trong từ điển của Anh vào năm 1961 và được sử dụng phổ biến từ khoảngcuối thập niên 1980 trở lại đây để diễn đạt một nhận thức mới của loài người
về một hiện tượng, một quá trình trong quan hệ quốc tế hiện đại, Tuy đến nay,hiên tượng này không còn mới mẻ gì, nhưng để hiểu đúng và đầy đủ về nó thìcần phải xem xét nó trên nhiều phương diện Điều cần thấy là do thực tế vậnđộng của toàn cầu hoá cùng với những hệ quả của nó đã đưa lại những cách lýgiải và thái độ không giống nhau về xu thế này Nó xuất phát từ lý do chủ yếu
là sự khác biệt về lợi ích và nhận thức Nhưng chung quy lại thì toàn cầu hoá
có thể được hiểu theo hai nghĩa như sau:
Theo quan niệm rộng: Các định nghĩa loại này xác định toàn cầu hoánhư là một hiện tượng hay một quá trình trong quan hệ quốc tế làm tăng sựtuỳ thuộc lẫn nhau của đời sống xã hội( từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hoáđến môi trường ) giữa các quốc gia Tiến sỹ janart scholte đưa ra một địnhnghĩa rất tổng quát và rộng lớn về khái niệm toàn cầu hoá khi cho rằng:” toàncầu hoá là một quan niệm có nhiều mặt vì nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xãhội, chính trị và các hậu quả của sự phân phối” Cũng theo tinh thần đó, cáchọc giả GS.TS Dương phú hiệp và học giả Lê Hữu nghĩa đưa ra một địnhnghĩa cụ thể hơn:” toàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽnhững mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vựcđời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, các dân tộc trên toàn thếgiới”
Theo quan niệm hẹp, Toàn cầu hoá là một xu hướng bao gồm nhiềuphương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Trong các mặt đó thì toàn
Trang 3cầu hoá kinh tế vừa là trung tâm, vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩycác lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hoá nói chung và thực tế toàn cầu hoákinh tế đang là xu thế nổi bật nhất Nhìn chung các định nghĩa thuộc loại nàyxem toàn cầu hoá là một khái niệm kinh tế chỉ hiện tượng hay quá trình hìnhthành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và tuỳ thuộc lẫn nhau giữacác nền kinh tế quốc gia
Về cơ bản, toàn cầu hoá bao hàm sự tăng lên của thị trường chức năngthế giới không ngừng xâm nhập và lấn át các nền kinh tế quốc gia đang trongquá trình mất đi đặc tính quốc gia Charles p oman định nghĩa toàn cầu hoálà:” sự tăng lên, hoặc một cách chính xác hơn là sự tăng ngày càng nhanh củacác hoạt động kinh tế vượt ra khỏi biên giới giữa các quốc gia và các khuvực” Như vậy, thực chất của toàn cầu hoá về kinh tế là tự do kinh tế và hộinhập quốc tế, trước hết là về thương mại, đầu tư , dịch vụ tự do hoá kinh tếcũng có những mức độ khác nhau, từ giảm thuế quan đến xoá bỏ thuế quan,
từ tự do thương mại đến tự do hoá đầu tư, dịch vụ, từ tự do hoá kinh tế trongquan hệ hai bên đến nhiều bên, trong quan hệ khu vực đến toàn cầu
Theo GT.TS Dương Phú Hiệp thì” toàn cầu hoá kinh tế chính là sự giatăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khuvực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động pháttriển hướng tới một nền kinh tế thống nhất, sự gia tăng của xu thế này đượcthể hiện sự mở rộng mức độ và quy mô mậu dịch thế giới, sự lưu chuyển củacác dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu”
`1.2 Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế.
a) Định nghĩa về hội nhập
Như vậy, quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá là một Xu thế tất yếucủa các nước, khi trình độ lực lượng sản xuất đã phát triển cao , khi đó cầnphải có sự hợp tác quốc tế và quốc tế hoá sản xuất Các quốc gia dù muốn haykhông đều chịu tác động của quá trình toàn cầu hoá và đương nhiên để tồn tại
Trang 4và phát triển trong điều kiện hiện nay không thể không tham gia quá trìnhtoàn cầu hoá tức là phải hội nhập quốc tế.
Thực ra, khái niệm hội nhập cũng được xuất hiện cùng với các kháiniệm về toàn cầu hoá, khu vực hoá và việc nghiên cứu nó cũng đã được tiếnhành từ lâu tuy nhiên chưa có một định nghiã nào đầy đủ về nó được thừanhận Về thực chất, hội nhập chính là sự chủ động tham gia vào quá trình toàncầu hóa, khu vực hóa Có thể định nghĩa như sau:” hội nhập kinh tế quốc tế làquá trình chủ động gắn nền kinh tế và thị trường của từng nước với kinh tếkhu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hoá và mở cửa trên các cấp độđơn phương, song phương và đa phương”
Mỗi nước có thực sự hội nhập, có thực sự tham gia vào quá trình toàncầu hóa là do chính sách bên trong của mỗi nước có làm cho nước đó thamgia vào các định chế, tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực Vì vậy, nội dungchủ yếu của quá trình này là:
b) Các hình thức và mức độ hội nhập kinh tế quốc tế.
Do các nước đều có một điều kiện nhất định nên hình thức và mức độhội nhập của các quốc gia cũng rất khác nhau Tuỳ theo chính sách mở cửa tự
do hoá để hội nhập mà có những cấp độ khác nhau ở cấp độ đơn phương,song phương hoặc đa phương
Ở cấp độ đơn phương,ở mức độ này các quốc gia chỉ chủ động thức hiệnnhững biện pháp tự do hoá mở cửa đối với những lĩnh vực mà họ thấy cầnthiết vì mục đích phát triển kinh tế của mình, chứ không nhất thiết do quyđịnh của các định chế, tổ chức kinh tế quốc tế họ đã tham gia
Ở cấp độ song phương, các nước đàm phán để ký với nhau các hiệpđịnh song phương trên cơ sở nguyên tắc của một khu vực mậu dich tự do
Ở cấp độ đa phương, nhiều nước cùng nhau thành lập hoặc tham gia vàonhững định chế, tổ chức kinh tế và khu vực toàn cầu Nó có thể là những địnhchế tổ chức kinh tế khu vực bao gồm các nước thành viên cùng trong một khuvực địa lý giới hạn( Ví dụ: liên minh châu âu-EU, diễn đàn hợp tác kinh tế
Trang 5châu á- thái bình dương- APEC) Những định chế, tổ chức toàn cầu bao gồmcác thành viên từ nhiều khu vực khác nhau trên thế giới
II Các nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá kinh tế.
2.1 Sự phát triển của khoa học- công nghệ.
Đây là nhân tố quan trọng nhất và xuyên suốt các thời kỳ phát triển củaquá trình toàn cầu hoá Vì bản chất của toàn cầu hoá là kết quả của sự pháttriển ngày càng cao của lực lượng sản xuất Như vậy thì suy cho cùng thì toàncầu hoá là kết quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất mà nó luôn gắnliền với sự phát triển của khoa học công nghệ nhưng sự phát triển của lựclượng sản xuất phải đạt đến một trình độ nhất định Khi mà bắt buộc phải có
sự hợp tác quốc tế và chuyên môn hoá sản xuất, khi mà sự tiến bộ của phươngtiện giao thông làm cho thế giới bị thu nhỏ lại về không gian và thời gian Sựphát triển đó phá vỡ kinh tế tự cấp tự túc mở rộng thị trường giao lưu, traođổi hàng hoá không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn diễn ra trên thị trườngkhu vực và thế giới Lúc này , nhu cầu tiêu dùng của dân cư không chỉ đápứng bằng năng lực sản xuất của từng quốc gia riêng lẻ mà còn được cung cấp
từ các nước khác trên thế giới và khu vực
Những tiến bộ của khoa học- kỹ thuật và công nghệ bao gồm nhữngphát minh sáng chế, các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, các giống mới, cácphương pháp công nghiệp hiện đại, các lý thuyết và phương thức quản lý mớitrong mọi lĩnh vực được áp dụng vào trong thực tiễn, kinh doanh làn tăngnăng suất lao động tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội vớigiá rẻ hơn, tạo ra tiền đề thúc đẩy sự hình thành và phát triển sự phân công,chuyên môn hoá lao động sản xuất và kinh doanh theo ngành nghề, cùng lãnhthổ giữa các quốc gia nhờ đó, sự trao đổi quốc tế về hàng hoá, dịch vụ, vốn,lao động và tri thức ngày một tăng
Hiện nay, dưới tác động của cuộc cách mạng về công nghệ thông tin,một mô hình kinh tế đã hình thành Đó là mô hình kinh tế tri thức trong đó trithức trỏ thành một lực lượng sản xuất ngày càng quan trọng Nó mở ra thời kỳ
Trang 6mới tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh xu thế toàn cầu hoá Các công việc giaodịch được thực hiện ngày càng nhanh mặc dù cách xa về địa lý nhưng cáchàng hoá có hàm lượng tri thức cao ngày càng được trao đổi nhiều trên thịtrường thế giới Ngoài ra , mạng internet hình thành cho phép con người cóthể biết được hầu hết mọi diễn biến của đời sống kinh tế- xã hội trên thế giớitrong giây lát và chính điều này, sẽ góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạođiều kiện cho dân chủ phát triển, thúc đẩy nhu cầu mở cửa, giao lưu, hội nhập
2 Chính sách mở cửa, tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế.
Đây là yếu tố mang tính chủ quan tạo điều kiện và thúc đẩy sự phát triểntheo hướng phục vụ cho lợi ích của các quốc gia Nhân tố này đóng vai tròthen chốt đến mức độ hội nhập của quốc gia đó Tuỳ theo tình hình trongnước mà quốc gia đó hội nhập vao xu thế toàn cầu hoá ở mức độ nào Nộidung của chính sách mở cửa , tự do hoá là loại bỏ dần dần các hàng rào nhântạo cản trở sự giao lưu quốc tế như hạn chế dần sự độc quyền nhà nước trongsản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu, cho phép nước ngoài đầu tư kinhdoanh một cách ít hạn chế nhất, thực hiện cạnh tranh tự do, binh đẳng giữacác thành phần kinh tế, hạ thấp và bãi bỏ hàng rào thuế quan đối với hàngxuất nhập khẩu Tuy nhiên điều cần phải thấy là nếu thực hiên ồ ạt các chínhsách trên thì đối với những quốc gia mà nền kinh tế còn yếu kém lại là”condao hai lưỡi” bóp chết các ngành sản xuất trong nước còn non trẻ Ngay cảnhững nước có nền sản xuất lớn thì có những ngành họ cũng phải bảo hộ nhất
là nông nghiệp Điều này cho thấy quá trình toàn cầu hoá là một quá trình rấtphức tạp đầy mâu thuẫn và sự khôn khéo của các quốc gia trong các chínhsách kinh tế của mình
Tác động của chính sách mở cửa, tự do hoá có thể đánh giá qua các mặtnhư sau:
Sự gia tăng của thương mại quốc tế qua những chỉ số cơ bản như tăngtổng giá trị tuyệt đối của thương mại thế giới, tỷ lệ giữa tổng giá trị thương
Trang 7mại và GDP của thế giới, khoảng cách giữa mức tăng thương mại thế giới vàtăng trưởng hàng năm.
Đầu tư trực tiêp nước ngoài và di chuyển tư bản giữa các nước tăngnhanh
Sự gia tăng của các luồng lưu chuyên công nghệ và phân công giữa cácnước thể hiên qua số lượng người làm việc được lưu chuyển giữa các nước vàmức tăng hàng năm của dòng lưu chuyển này Sự trao đổi công nghệ thể hiệnqua các hợp đồng mua bán và dự án chuyển giao công nghệ cũng như tổnggiá trị của các hợp đồng , dự án đó
3 Sự quốc tế hoá các hoạt động kinh doanh và vai trò của các công ty xuyên quốc gia.
Sự quốc tế hoá hoạt động sản xuất kinh doanh không những là nguyênnhân quan trọng trực tiếp gây ra quá trình toàn cầu hoá mà con là nhân tố thúcđẩy các giai đoạn của quá trình Chính sách mở cửa tự do hoá thương mại củacác nước đã làm cho các công ty có thể phân bố cơ cấu sản xuất trên toàn cầuthông qua việc đầu tư nước ngoài Nhờ các tiến bộ về khoa học công nghệthông tin, các công ty có thể bố trí những bộ phận khác nhau của dây chuyênsản xuất ở các nước mà vẫn quản lý được Về thực chất, sự quốc tế hoá cáchoạt động sản xuất chẳng qua là sự mở rộng quy mô sản xuất trên phạm vitoàn cầu nhưng tại sao lại phải mở rộng phạm vi sản xuất ở các nước bởi vì cóthể tận dụng nguồn nguyên nhiên vật liệu các nước và giúp các nước chuyênmôn hoá sâu hơn qua đó giảm giá thành và tăng sức cạnh tranh của các sảnphẩm Đồng thời có thể mở rộng thị trường ở các nước này Khi các công tynày mở chi nhánh ở các nước thì việc làm , vốn công nghệ và kỹ năng cũng
đã được luân chuyển khắp thế giới
Do tác động của hai nhân tố đầu , làm cho các quá trình sản xuất kinhdoanh ngày càng được quốc tế hoá rộng rãi và ở mức độ cao hơn nhưng quátrình này tác động trở lại hai nhân tố kia thúc đẩy nó phát triển và chủ yếuthông qua:
Trang 8Thứ nhất là do hàm lượng công nghệ cao ngày càng lớn trong các hànghoá và dịch vụ sản xuất ra đòi hỏi cac yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanhcác nước (như vốn, máy móc, thiết bị,nguyên nhiên vật liệu, kỹ thuật, côngnghệ, thông tin, nhân công ) nhiều hơn, phân công lao động sâu sắc hơn Ngày nay, hầu hết các sản phẩm trên thế giới dù là dưới dạng hàng hoá
và dịch vụ đều được thông qua một quá trình mang tính quốc tế hoá cao Mỗimột quốc gia đều có thể tham gia vào dây chuyền sản xuất quốc tế theo mộtnhiên cứu của ngân hàng thế giới, năm 1995 sản phẩm chế tạo của các chinhánh chiếm tới 20% tổng sản lượng thế giới trong ngành này
Thứ hai vai trò ngày càng lớn của các công ty xuyên quốc gia Vai tròquan trọng của các công ty xuyên quốc gia đối với xu thế toàn cầu hoá thểhiện ở chỗ chúng không những đóng góp tích cực vào việc phát triển lựclượng sản xuất thế giới mà còn trực tiếp liên kết các nền kinh tế quốc gia lạivới nhau và làm cho quá trình phân công lao động quốc tế trở nên sâu sắc hơnthông qua các hoạt động chủ yếu là:
- Đầu tư và tiến hành sản xuất kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới
- Tham gia vào việc lưu chuyển tư bản, các giao dịch tài chính vàchuyển giao công nghệ giữa các nước trên thế giới
- Thúc đẩy thương mại toàn cầu hoá và khu vực thông qua lưu chuyểnhàng hoá, dịch vụ “ nội bộ của các công ty xuyên quốc gia Trao đổi nội bộgiữa các chi nhánh chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị thương mại thế giới
- Gây ảnh hưởng đến chính sách của các nước Do các công ty xuyênquốc gia có thế lực kinh tế rất to lớn, họ có ảnh hưởng không nhỏ quá trìnhquyết sách ở các nước, đặc biệt là đối với những chính sách kinh tế- xã hội cóảnh hưởng tới lợi ích của các công ty xuyên quốc gia, tác động này có thể tíchcực và cũng có thể tiêu cực đối với các nước trong quá trình tự do hoá mởcửa
Trang 9CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA NGÀNH DỆT MAY SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
2.1 Một vài chính sách của đảng và nhà nước đối với ngành dệt may
a) Chính sách về bảo hộ hàng sản xuất trong nước
Do tinh trạng thiết bị cũ , nhiều năm chưa được đổi mới lại thêm côngnghệ lạc hậu nên sản phẩm sản xuất ra chỉ đạt mức trung bình, đáp ứng mộtphần nhu cầu bình thường của người dân Trong khi đó các nước khác vớimáy moc hiện đại và công nghiệp tiên tiến đã sản xuất ra rất nhiều loại vải cómẫu mã đẹp ,chất lượng cao , sẵn sàng tràn vào thị trường việt nam để lũngđoạn thị trường Trước sức ép của hàng ngoại nhập vào nước ta có thể đánh
đổ hàng Dệt may trong nước , Nhà nước có chủ trương bảo vệ hàng nôịi địa.Chính sách bảo vệ hàng dệt may nội địa được thực hiện qua các biện phápchính sau đây:
- Lập hàng rào thuế quan đối với hàng ngoại nhập
Để hỗ trợ các biện pháp về thuế quan và hạn ngạch hàng nhập , Nhà nước tatăng cường quản lý thị trường như đòi hỏi các chủ hàng vận chuyển phải cóhoá đơn , chứng minh xuất xứ hàng hoá, truy thu thuế và triệt để thu thuếdoanh thu Tuy nhiên do lực lượng thu thuế của ta dàn mỏng nên khâu quản lýthị trường còn nhiều sơ hở, kết quả thu được không đạt như mong muốn
Trang 10b) Chính sách về khuyến khích xuất khẩu
Xuất khẩu hàng hoá là một trong những mục tiêu lớn của Nhà nước tanhằm cân bằng kim ngạch xuất nhập khẩu Đối với ngành Dệt may là mộtngành mà nguyên liệu chủ yếu phụ thuộc nước ngoài, hàng năm chúng ta phảinhập khoảng 60.000-70.000 tấn bông, xơ sợi và hàng tấn hoá chất thuốcnhuộm, phụ ting cơ kiện thay thế đưa kim ngạch nhập khẩu lên khoảng 120-
150 triệu USD Muốn cân bằng kim ngạch xuất- nhập khẩu , không có cáchnào khác là phải đẩy mạnh sản xuất khẩu Để khuyến khích xuất khẩu, từnhiều năm nay Nhà nước không đánh thuế xuất bkhẩu ào mặt hàng Dệt mayhay nói cách khác là áp dụng biểu thuế suất bằng 0% đối với các mặt hàngDệt may Đây là mức thuế thấp nhằm tạo điều kiên cho hàng Dệt may xuấtkhẩu được thuận lợi Dự kiến trong mấy năm tới đây, Nhà nước cũng sẽ ápdụng chính sách ưu đãi hàng xuất khẩu
c) Chính sách về khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt nam
Luật đầu tư nước ngoài vào Việt nam ra đời đã được nhiều công ty từcác quốc gia và khu vực hưởng ứng Với điều khoản rộng rãi, thoáng và luônđược điều chỉnh ho phù hợp luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam đã được dưluận đánh giá cao
Qua xem xét các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt nam về ngành Dệt,chúng ta nhận they có một số điểm sau đây:
-Hầu hết các dự án đầu tư của các nước Đông á và các nước Đông Nam
á, Nhật Bản, Tây Âu và Bắc Mỹ chưa sẵn sàng đầu tư vào ngành Dệt Việtnam
-Đa phàn các thiết bị máy móc đưa vào hầu hết đã qua sử dụng Đây làmột sự chuyển dịch của các nước NIC nhằm đổi mới công nghệ hiện đại tạichính quốc, ận dụng giá trị sử dụng còn lại của thiết bị và khai thác nhân công
rẻ tai Việt Nam
Rõ ràng trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành Dệtmay, chúng ta gạp phải một mâu thuẫn Đó là mâu thuẫn giữa ý muốn chủ
Trang 11quan đưa nhanh ngành Dệt trở thành ngành công nghiệp chủ lực có máy mócthiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến và vốn đầu tư thiếu Chấp nhân đưa thiết
bị cũ vào Việt Nam, ngành Dệt may nước ta tiếp tục đi sau ngành Dệt may thếgiới nhưng trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển người lao động chưa có
đủ việc làm thì chung ta phải tạm thời chấp nhận ở mức độ nhất định
2.2 Định hướng phát triển ngành dệt may
a) Giải pháp về thị trường
Thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là nguồn đầu ra của qua trình sảnxuất kinh doanh, thị trường là vấn đề hết sức quan trọng mang tính sống còncủa mỗi doanh nghiệp vì nó đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp Để nâng cao hiệu qủa hoạt động sản xuất kinh doanh hàng may mặctrước tiên là phải nghiên cứa tìm hiểu thị trường tiêu thụ một cách chu đáo.Hoạt động nghiên cứa thị trường đòi hỏi phải nắm bắt được những thông tinthiết yếu về nhu cầu, khả năng tiêu thụ cũng như các điều kiện xâm nhập thịtrường của hàng Dệt – May Từng bước củng cố, mở rộng các thị trườngtruyền thống ( Khối Đông Âu, Nga…) đồng thời tích cực tìm mọi cách xâmnhập, chiếm lĩnh các thị trường tiểm năng mới như Nhật, Mỹ, Châu Á…Trước mắt, để tăng tỷ trọng xuất khẩu hàng Dệt – May cần phải tập trung vàocác thị trường trọng điểm, đó là thị trường EU, Nhật…
Quá trình tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi hay không đòi hỏi cả một cơchế hệ thống hoàn hảo từ công nghệ sản xuất, hoàn thành sản phẩm đến việctiếp thị, quảng cáo, tiêu thụ được trên thị trường sẽ đem lại doanh thu, lợinhuận cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm.Đối với ngành Dệt – May, việc đề ra chính sách sản phẩmđúng đắn phù hợp với từng thời kỳ, từng thị trường có ý nghĩa hết sức to lớntrong việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tăng thêm kim nghạch xuất khẩu,chiếm lĩnh thị trường trong nước và thế giới trong giai đoạn hiện nay
Chính sách sản phẩm hàng Dệt – May trước tiên phải bảo đảm phù hợpthị hiếu ngời tiêu dùng và khả năng từng thị trường tiêu thụ sản phẩm Bắt