Phương pháp trung bình: đưa ra cơ sở lí thuyết của phương pháp và một số kiểu BT áp dụng. Hiện nay, học sinh ở các trường phổ thông được làm quen và vận dụng nhiều phương pháp giải bài tập hóa học dựa trên các cơ sở lí thuyết đã có, bao gồm phương pháp đại số; phương pháp đại số kết hợp giải nhanh có sử dụng định luật bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn nguyên tố, định luật bảo toàn điện tích, bảo toàn electron, … Một số phương pháp mới như: phương pháp tự chọn lượng chất, phương pháp sử dụng giá trị trung bình (phương pháp trung bình), phương pháp đường chéo, …cũng ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong giải các dạng bài tập nhất định và đã đem lại hiệu quả cao. Để chọn nhanh đáp án của bài tập trắc nghiệm khách quan, yếu tố quan trọng là cần biết cách phân tích đề bài, lập bước giải từ đó lựa chọn phương pháp phù hợp. Lựa chọn phương pháp có thể coi là bước cuối cùng của tư duy trong việc giải quyết một bài tập cụ thể, và đây cũng là bước quyết định khả năng giải thành công cũng như tốc độ làm bài. Phương pháp trung bình tuy không phải là một phương pháp mới trong giải bài tập hóa học, nhưng phạm vi áp dụng của phương pháp là khá lớn đối với nhiều chuyên đề, nhiều dạng bài tập của nhiều nội dung kiến thức khác nhau, từ hóa học đại cương, đến hóa vô cơ và hữu cơ; ở những bài toán đơn giản và phức tạp.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
I.1 Cơ sở lí luận dạy học
Hóa học là bộ môn khoa học lí thuyết và khoa học thực nghiệm, cả hai yếu tố đềuđóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp những nhận thức, hiểu biết cho HStrong lĩnh vực hóa học
Học sinh được làm quen với môn học từ chương trình lớp 8- THCS và tiếp tụcđược hình thành, phát triển và hoàn thiện kiến thức ở chương trình THPT Nội dung mônhọc bao gồm các thuyết và định luật cơ bản của Hóa học (như thuyết cấu
tạo nguyên tử, định luật tuần hoàn, thuyết cấu tạo hợp chất hữu cơ, …), các nguyên tố vàhợp chất vô cơ, các hợp chất hữu cơ
Kể từ năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chuyển cấu trúc đề thi tốt nghiệp vàtuyển sinh đại học – cao đẳng môn Hóa học từ hình thức tự luận sang trắc nghiệm kháchquan Cùng với sự đổi mới về cấu trúc đề thi và kiểm tra là những yêu cầu về đổi mớiphương pháp dạy và học, không chỉ chú trọng vào việc giúp HS nắm vững kiến thức màcòn luyện tập rèn kĩ năng giải nhiều dạng bài tập với nhiều phương pháp, đặc biệt là rèncho HS các phương pháp giải nhanh Muốn vậy GV trước hết cần hướng dẫn HS trongviệc nhận thức và tư duy khi đứng trước một kiểu, một dạng bài tập nào đó, để tìm raphương pháp giải phù hợp, đặc biệt lựa chọn những phương pháp giải nhanh hiệu quả
I.2 Cơ sở thực tiễn
Hiện nay, học sinh ở các trường phổ thông được làm quen và vận dụng nhiềuphương pháp giải bài tập hóa học dựa trên các cơ sở lí thuyết đã có, bao gồm phươngpháp đại số; phương pháp đại số kết hợp giải nhanh có sử dụng định luật bảo toàn khốilượng, định luật bảo toàn nguyên tố, định luật bảo toàn điện tích, bảo toàn electron, …Một số phương pháp mới như: phương pháp tự chọn lượng chất, phương pháp sử dụng
giá trị trung bình (phương pháp trung bình), phương pháp đường chéo, …cũng ngày
càng được ứng dụng rộng rãi trong giải các dạng bài tập nhất định và đã đem lại hiệu quảcao
Để chọn nhanh đáp án của bài tập trắc nghiệm khách quan, yếu tố quan trọng làcần biết cách phân tích đề bài, lập bước giải từ đó lựa chọn phương pháp phù hợp Lựa
Trang 4chọn phương pháp có thể coi là bước cuối cùng của tư duy trong việc giải quyết một bàitập cụ thể, và đây cũng là bước quyết định khả năng giải thành công cũng như tốc độ làmbài.
Phương pháp trung bình tuy không phải là một phương pháp mới trong giải bài tậphóa học, nhưng phạm vi áp dụng của phương pháp là khá lớn đối với nhiều chuyên đề,nhiều dạng bài tập của nhiều nội dung kiến thức khác nhau, từ hóa học đại cương, đếnhóa vô cơ và hữu cơ; ở những bài toán đơn giản và phức tạp
Để học sinh có cách nhìn nhận và có khả năng vận dụng phương pháp trung bìnhmột cách thành thạo hơn, tôi đã có những nghiên cứu nhất định và trong quá trình giảngdạy đã hướng dẫn học sinh cách nhận biết dạng bài phù hợp với phương pháp cũng nhưcách sử dụng phương pháp để giải bài tập
Vì những lí do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài: “Vận dụng sáng tạo phương pháp trung bình trong giải bài tập hóa học ở trường phổ thông” nhằm góp phần vào
mục tiêu xây dựng và đổi mới phương pháp dạy và học ở trường phổ thông
II MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Phân dạng bài tập nhằm đưa ra dấu hiệu nhận biết kiểu bài có sử dụng phươngpháp trung bình;
- Trình bày các cách áp dụng khác nhau của phương pháp vào từng kiểu bài cụ thểđể làm nổi bật tính sáng tạo trong vận dụng phương pháp;
- Rút kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy bộ môn ở nhà trường phổ thông
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Các bài tập hóa học nằm trong chương trình THPT, chương trình luyện thi đạihọc, cao đẳng, ôn HSG;
- Thực nghiệm nghiên cứu trên đối tượng học sinh các lớp 12A3, 12A6, 12A7,12A8 và đội tuyển thi HSG lớp 11 và 12 năm học 2012 – 2013 trường THPT Lưu NhânChú - Đại Từ - Thái Nguyên
IV KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu tài liệu, bao gồm: sách giáo khoa THPT các lớp 10 đến 12 thuộcchương trình hóa học cơ bản và nâng cao, sách tham khảo về phân loại và phương phápgiải các dạng bài tập theo chuyên đề, các tài liệu thu thập từ các nguồn khác…
- Xây dựng hệ thống các dạng câu hỏi và bài tập theo chuyên đề, phân loại bài tậptheo mức độ nhận thức và tư duy của học sinh;
- Lập đề cương, xây dựng nội dung nghiên cứu cụ thể;
- Khảo sát kết quả và kết luận Rút ra kinh nghiệm cho bản thân trong quá trìnhdạy học
Trang 6NỘI DUNG
I Cơ sở của phương pháp
Với một hỗn hợp chất bất kì gồm nhiều chất cùng tác dụng với chất khác (trong đócác phương trình hóa học (PTHH) cùng loại, cùng hiệu suất, sản phẩm có dạng tương tựnhau), ta có thể biểu diễn chúng thông qua một đại lượng đại diện, thay thế cho cả hỗn
hợp, gọi là đại lượng trung bình (như khối lượng mol trung bình, số nguyên tử trung
bình, số nhóm chức trung bình, số nguyên tử Cacbon trung bình, số liên kết π trung bình,
…), được biểu diễn qua biểu thức:
X n X
Với: Xi: Đại lượng đang xét của chất thứ i trong hỗn hợp
ni: Số mol của chất thứ i trong hỗn hợp
Ví dụ: Với một hỗn hợp chứa các chất hữu cơ A, B, C, … (chứa C, H, O) có thểthay tương đương bằng C H O x y z
+ Giá trị khối lượng mol trung bình
Để áp dụng phương pháp, cần:
- Xác định kiểu bài cần sử dụng phương pháp trung bình (thường là bài toán vềhỗn hợp chất trong đó các chất có mối liên hệ hoặc đặc điểm chung nhất định);
Trang 7- Xác định đúng giá trị trung bình cần dùng để giải quyết bài toán, từ đó dựa vàodữ kiện đầu bài tính trị số trung bình rồi dựa vào kết quả tính trị số trung bình để biệnluận, kết luận;
- Các trị số trung bình thường được sử dụng: Khối lượng mol trung bình, sốnguyên tử (C, H, N) trung bình, số hiệu nguyên tử trung bình, số nhóm chức trung bình,số liên kết π trung bình, …
II Ý nghĩa của việc sử dụng phương pháp trung bình trong giải bài tập hóa học
Phương pháp này thể hiện nhiều ưu điểm khi giải quyết các bài toán xác định cácchất trong một hỗn hợp, các nguyên tố kế tiếp nhau trong bảng tuần hoàn, …một cáchnhanh chóng, chính xác, hiệu quả, giảm bớt số bước giải toán theo cách giải thôngthường;
Phương pháp góp phần trong việc hỗ trợ HS giải nhanh các bài tập trắc nghiệmkhách quan, các bài tập Hóa học nâng cao, bài toán khó; giúp GV và HS có sự đổi mớitrong phương pháp dạy và học
III Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu tài liệu và kinh nghiệm giảng dạy, học tập, quanhững phân tích và đánh giá của bản thân, tôi nhận thấy có khá nhiều dạng bài sử dụngđến phương pháp trung bình, từ những bài toán tư duy đơn giản đến những dạng toán cónhiều bước giải và tư duy phức tạp
Về phạm vi áp dụng: phương pháp thường được dùng để giải các loại bài tập hữu
cơ, vô cơ, đại cương như: bài tập xác định công thức phân tử của chất hóa học, tính thểtích, tính số mol hoặc % số mol, % thể tích các chất khí, …
Nhóm 1: Bài tập Hóa đại cương sử dụng phương pháp trung bình
Trong nhóm này, ta thường gặp một số dạng bài tập như: bài tập xác định tên của 2 nguyên tố hóa học liền kề trong bảng tuần hoàn, bài tập xác định thành phần đồng vị của một nguyên tố, …
VD1: Nguyên tử khối trung bình của một nguyên tố R là 79,91; R có 2 đồng vị Biết 79Z R
chiếm 54,5%, nguyên tử khối của đồng vị còn lại có giá trị nào sau đây?
VD2: X, Y là 2 nguyên tố liên tiếp trong chu kì, tổng số hạt mang điện trong 2 nguyên tử
X, Y là 30 Vị trí của X, Y trong bảng tuần hoàn là:
Trang 8A X, Y thuộc chu kì 3
B X, Y thuộc chu kì 2
C X thuộc nhóm IIA, Y thuộc nhóm IIIA
D X thuộc nhóm IIIA, Y thuộc nhóm IVA
Tóm tắt cách giải:
Tổng số hiệu nguyên tử của 2 nguyên tố
30152
Z = =
∑
⇒2 nguyên tố có số hiệu nguyên tử hơn kém nhau 1 đơn vị.
Gọi Zlà số hiệu nguyên tử trung bình của 2 nguyên tố
VD3: Hợp chất M tạo ra từ 2 nguyên tố X và Y có dạng YX3, trong đó 2 nguyên tố X và
Y thuộc cùng một nhóm A và 2 chu kì liên tiếp trong bảng tuần hoàn, có tổng giá trị điệntích hạt nhân bằng 24 X và Y lần lượt là
Tóm tắt cách giải:
Với ∑Z =24, X và Y là 2 nguyên tố thuộc chu kì nhỏ trong bảng tuần hoàn, có điện tích
hạt nhân hơn kém nhau 8 đơn vị
Gọi Zlà số hiệu nguyên tử trung bình của 2 nguyên tố
Ta có:
1 2
Nhóm 2: Bài tập Hóa học vô cơ sử dụng phương pháp trung bình
Dạng bài tập hay gặp nhất ở nhóm này là các bài toán xác định các nguyên tố kế tiếp trong cùng nhóm chứa trong một hỗn hợp đơn chất hoặc hợp chất nhất định Ta thường dùng giá trị M đê giải dạng bài tập này Sau đây là một số bài tập phân chia mức độ từ
dễ đến khó theo cấp độ tư duy, vận dụng:
VD1: Cho 4,4 g hỗn hợp X gồm 2 kim loại kiềm thổ kế tiếp nhau trong bảng tuần hoàn
tác dụng vừa đủ với dung dịch HCl thu được 3,36 lit khí (đktc) 2 kim loại đã cho là:
Trang 9Biết M1<M <M2 ⇒
2 nguyên tố cần tìm là Mg và Ca
Đáp án: B.
VD2: A và B là 2 nguyên tố kim loại kiềm nằm ở 2 chu kì kế tiếp trong bảng tuần hoàn
(biết MA<MB) Hòa tan 1 lượng hỗn hợp của A và B vào một lượng H2O dư thu đượcdung dịch X và 0,336 lit H2 (đktc) Cho dung dịch HCl dư vào dung dịch X, cô cạn sảnphẩm thu được 2,075 g hỗn hợp muối khan A và B lần lượt là:
VD3: Hỗn hợp khí SO2 và O2 có tỉ khối hơi so với CH4 bằng 3 Cần thêm vào 20 lit hỗn
hợp trên bao nhiêu lit O2 để tỉ khối hơi so với CH4 bằng 2,5?
Tóm tắt cách giải:
Gọi M M1 ; 2lần lượt là khối lượng mol trung bình của hỗn hợp trước và sau khi thêm O2
Ta có M1=3.16 48= Áp dụng phương pháp đường chéo cho giá trị M1ta được
2
2
11
SO O
V
V =
Hay trong 20 lit hỗn hợp đầu có 10 lit SO2 và 10 lit O2
Xử lí tương tự với giá trị M2ta được: sau khi trộn thêm O2, tỉ lệ thể tích
2
2
13
SO O
V
V =
Vìlượng SO2 không đổi nên thể tích khí O2 trong hỗn hợp sau khi trộn là 30 lit
Vậy: thể tích khí O2 đã thêm vào hỗn hợp ban đầu là 20 lit
Trang 10VD4: Cho hỗn hợp X chứa 1 kim loại kiềm và 1 kim loại kiềm thổ kế tiếp nhau trong
cùng chu kì phản ứng hết với H2O thu được dung dịch A và 2,24 lit khí (đktc) Cho dungdịch thu được tác dụng vừa đủ với dung dịch HCl, cô cạn sản phẩm sau phản ứng thuđược 13 g hỗn hợp muối khan Hai kim loại cần tìm là:
M Cl M OH
n n
X X
M M
>
⇔ <
Trang 11Vậy, kim loại kiềm M thỏa mãn điều kiện trên là Cs (133)
Đáp án: D.
Nhóm 3: Bài tập Hóa học hữu cơ sử dụng phương pháp trung bình
Ở nhóm này, các bài tập thường xoay quanh yêu cầu xác định CTPT của hợp chất hữu
cơ, tính tỉ lệ số mol (tỉ lệ thể tích, phần trăm khối lượng) của các chất trong hỗn hợp Trị
số trung bình thường sử dụng là: Khối lượng mol phân tử trung bình, số nguyên tử C (hoặc H, O, N, …) trung bình, số liên kết πtrung bình, số nhóm chức trung bình, …
Dưới đây là các bài tập phân chia theo dạng và mức độ từ dễ đến khó :
Dạng 1 Bài tập về phản ứng đốt cháy hỗn hợp chất hữu cơ
* Bài toán ở mức độ vận dụng cơ bản:
VD1: Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp X gồm 2 hiđrocacbon A, B kế tiếp nhau trong dãy
đồng đẳng thu được 96,8 g CO2 và 57,6 g H2O Công thức phân tử của A, B và thànhphần % số mol mỗi chất trong hỗn hợp X là:
⇒A và B thuộc dãy đồng đẳng ankan
Gọi công thức phân tử (CTPT) chung của hỗn hợp ankan là C H n 2n+2
(nlà số nguyên tử Ctrung bình của hỗn hợp)
VD2: Đốt cháy hết 0,5 mol hỗn hợp X gồm 2 hiđrocacbon mạch hở A, B thuộc cùng dãy
đồng đẳng (phân tử khối hơn kém nhau 28 đvC) cần dùng 40,32 lit O2, tạo ra 26,88 lit
CO2 (các thể tích khí đo ở đktc) Công thức phân tử của A và B là:
Trang 12Gọi nlà số nguyên tử C trung bình của hỗn hợp X
VD3: Đốt cháy hoàn toàn 12,1 g hỗn hợp 2 amin no, đơn chức, mạch hở là đồng đẳng kế
tiếp trong khí O2 vừa đủ Sản phẩm thu được sục vào dung dịch nước vôi trong dư thấy thoát ra 3,36 lit khí N2 (đktc) Công thức phân tử của 2 amin đó là:
C.C3H9N và C4H11N D.C3H9N và C4H9N
Tóm tắt cách giải:
Gọi chung CTPT của 2 amin là C H n 2n+3N
Theo đầu bài: n2 amin = 2 n N2
= 0,3 mol
⇒ M2 mina ≈ 40,333 ⇔ 14n+ 17 40,333 ≈ ⇔ ≈n 1, 667
⇒ 2 amin thỏa mãn là CH5N và C2H7N.
Đáp án: A.
VD4: Hiđro hóa hoàn toàn m gam hh X gồm 2 andehit no, đơn chức, mạch hở, kế tiếp
nhau trong dãy đồng đẳng thu được (m+1) g hh 2 ancol Mặt khác, khi đốt cháy hoàntoàn cũng m gam X thì cần vừa đủ 17,92 lit khí O2 giá trị của m là:
Tóm tắt cách giải:
Xác định tổng số mol của hh X = số mol H2 = delta m = 0,5 mol
Gọi chung CTPT của hh X là CnH2nO Từ PTHH của phản ứng cháy xây dựng biểu thứcliên hệ tìm được n= 1,4
Đáp án: A.
* Bài toán ở mức độ vận dụng nâng cao:
VD5 (ĐH-2009) Cho hh X gồm 2 ancol đa chức, mạch hở thuộc cùng dãy đồng đẳng.
Đốt cháy hoàn toàn hh X, thu được CO2 và H2O theo tỉ lệ số mol tương ứng là 3:4 Haiancol đó là:
A C3H5(OH)3 và C4H7(OH)3 B C2H5OH và C4H9OH
C C2H4(OH)2 và C4H8(OH)2 D C2H4(OH)2 và C3H6(OH)2
Tóm tắt cách giải:
Loại phương án B do 2 ancol phải là đa chức
Gọi chung 2 ancol có CT là CnH2n+2Oa (n là giá trị số nguyên tử C trung bình), theo tỉ lệ
pư đốt cháy ⇒ n=3
⇒ 2 ancol cần tìm lần lượt chứa 2 C và 4 C trong phân tử
Đáp án: C.
Trang 13VD6 (ĐH-2009) Cho hh X gồm 2 axit cacboxylic no, mạch không phân nhánh Đốt cháy
hoàn toàn 0,3 mol hỗn hợp X, thu được 11,2 lit CO2 (đktc) Nếu trung hòa 0,3 mol X thìcần dùng 500 ml dung dịch NaOH 1M Hai axit đó là:
Tóm tắt cách giải:
Số nguyên tử C trung bình n= 0,5/0,3=1,667 ⇒ Trong 2 axit nhất định có 1 axit là
HCOOH là axit đơn chức ⇒ theo tỉ lệ pư với NaOH ⇒ axit còn lại phải là đa chức ⇒
loại C, D Vậy axit còn lại có 2 chức Gọi axit còn lại có công thức là CxHyO4
Ta có: số nhóm chức COOH trung bình của hỗn hợp X =
NaOH X
n
51,667
3≈
Áp dụng phương pháp đường chéo cho dữ kiện số nhóm COOH trung bình ta được kết
1 2
VD7 (ĐH- B-2010) Hỗn hợp khí X gồm 1 ankan và 1 anken Tỉ khối của X so với H2
bằng 11,25 Đốt cháy hoàn toàn 4,48 lit X, thu được 6,72 lit CO2 (các thể tích khí đo ởđktc) CT của ankan và anken lần lượt là:
A CH4 và C2H4 B C2H6 và C2H4 C CH4 và C3H6 D CH4 và C4H8
Tóm tắt cách giải:
Khối lượng mol trung bình của X: M = 22,5; nX = 0,2 mol
⇒ mX = 4,5 g.
Áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố: mX = mC + mH (mC =0,2.12=3,6g) ⇒ mH = 0,9 g
Xét tỉ lệ số mol nguyên tử C và số mol nguyên tử H có: nC/nH = 0,2/0,9=1/3 ⇒ CT chung
của X là CnH3n (n là giá trị TB) ⇒ n=1,5⇒ C1,5H4,5 ⇒ chắc chắn có CH4, không có C2H4
⇒ loại A, B
Gọi anken cần tìm là CaH2a Gọi x là số mol CH4 ⇒ số mol CaH2a là 0,2-x
Từ các PTHH của phản ứng đốt cháy hoàn toàn các chất (chú ý số mol H2O = ½ số mol
H2 = 0,45 mol), ta thiết lập hệ phương trình liên hệ a, x ⇒ x=0,15 và a=3
Đáp án: C.
VD8 (ĐH-B-2010) Hỗn hợp M gồm andehit X (no, đơn chức, mạch hở) và hidrocacbon
Y, có tổng số mol là 0,2 (số mol của X nhỏ hơn số mol của Y) Đốt cháy hoàn toàn M,thu được 8,96 lit CO2 (đktc) và 7,2 g H2O Hidrocacbon Y là:
Trang 14Tóm tắt cách giải:
CO H O
n =n ⇒ Y là anken, loại A, B
Tỉ lệ số mol: M: CO2 =1:2 ⇒ số nguyên tử C trung bình của M là 2 (trong đó anken Y
phải có ít nhất 2C trong phân tử) ⇒ andehit X phải là HCHO hoặc CH3CHO.
Vì số mol X<Y ⇒ nX<0,1 mol; nY>0,1 mol ⇒ loại trường hợp X là HCHO vì khi đó Y
là C3H6, để từ 0,2 mol hỗn hợp thu được 0,4 mol CO2 thì số mol 2 chất phải bằng nhau⇒
mẫu thuẫn giả thiết Vậy, X và Y đều phải chứa 2C trong phân tử
Đáp án: D.
VD9 (ĐH-B-2010) Đốt cháy hoàn toàn một lượng hỗn hợp X gồm 2 ancol (đều no, đa
chức, mạch hở, có cùng số nhóm OH) cần vừa đủ V (lit) khí O2, thu được 11,2 lit khí CO2
và 12,6 g H2O (các thể tích khí đo ở đktc) Giá trị của V là:
Tóm tắt cách giải:
Số mol CO2 = 0,5 mol, số mol H2O = 0,7 mol
Số nguyên tử C trung bình : n = 0,5/(0,7-0,5) = 2,5 Vì ancol là đa chức ⇒ chắc chắn có
1 ancol chứa 2 nguyên tử C, chứa 2 chức
⇒ gọi CT chung của 2 ancol là CnH2n+2O2 (n=2,5)
Từ tỉ lệ O2 và CO2 trong pư đốt cháy xác định được số mol O2 = 0,65 mol ⇒ thể tích V=
14,56 lit
Đáp án: A.
VD10 (ĐH-A-2011) Trung hòa 3,88 g hỗn hợp X gồm 2 axit cacboxylic no, đơn chức,
mạch hở bằng dung dịch NaOH, cô cạn toàn bộ dung dịch sau phản ứng thu được 5,2 gmuối khan Nếu đốt cháy hoàn toàn 3,88 g X thì thể tích O2 (đktc) cần dùng là:
VD11 (ĐH-A-2011) Hóa hơi 15,52 g hỗn hợp gồm 1 axit no, đơn chức X và một axit no,
đa chức Y (số mol X lớn hơn số mol Y) thu được 1 thể tích hơi bằng thể tích của 5,6 g N2
(đo ở cùng điều kiện nhiệt độ, áp suất) Nếu đốt cháy toàn bộ hỗn hợp 2 axit trên thì thuđược 10,752 lit CO2 (đktc) CTCT của X, Y lần lượt là :
C CH3-CH2-COOH và HOOC-COOH D CH3-COOH và HOOC-CH2-COOH