Nhận thức được vai trò quan trọng của công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng, tôi chọn đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG
Vĩnh Long, năm 2016
TRƯƠNG QUỐC VŨ
GIẢI PHÁP HẠN CHÉ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH
PHÚ MỸ HƯNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯƠNG QUỐC VŨ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG
Vĩnh Long, năm 2016
GIẢI PHÁP HẠN CHÉ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH
PHÚ MỸ HƯNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60340102
LUẬN VĂN THẠC SỸ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRƯƠNG ĐÔNG
LỌC
Trang 3Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Phú Mỹ Hưng” này là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện.
Các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và chính xác Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Vĩnh Long, tháng 02
năm 2016 Người thực
hiện
Trương Quốc Vũ
Trang 4Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Phú Mỹ Hưng”, Tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, giảng viên,cán bộ các phòng, ban chức năng Trường Đại Học Cửu Long Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó.
Cám ơn PGS.TS Trương Đông Lộc đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn bạn bè, đồng nghiệp của Tôi đang công tác tại Agribank Phú Mỹ Hưng và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này
Vĩnh Long, tháng 02 năm 2016
Người thực hiện
Trương Quốc Vũ
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU 01
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 03
1.1.5 Những thiệt hại do rủi ro tín dụng ngân hàng gây ra 151.1.5.1
1.1.6 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng 16
1.3
Trang 62.1.3 Sơ lược hoạt động Agribank Phú Mỹ Hưng trong giai đoạn 2012-2014 29
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG 30
2.3 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI 39 AGRIBANK PHÚ MỸ HƯNG
2.3.1 Nguyên tắc tổ chức hoạt động quản trị rủi ro tín dụng 39
Trang 72.4.2.1 Bước 1 Phòng ngừa rủi ro 51
2.4.2.4 Bước 4 Lập kế hoạch hành động và tổ chức thực hiện 53
2.4.3 Tổ chức thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng 54
2.4.4 Tổ chức công tác kiểm tra - giám sát tín dụng độc lập trong ngân hàng 55
2.5 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI 55
AGRIBANK PHÚ MỸ HƯNG TRONG THỜI GIAN OUA
2.6 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÉN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA 58 AGRIBANK PHÚ MỸ HƯNG
2.6.1.1 Sự thay đổi chính sách điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà 58n.6 l.v Ngân hàng thiếu thông tin khi đưa ra quyết định cho vay 58
2.6.1.5 Nguyên nhân không tuân thủ các quy định, quy trình tín dụng 60
2.6.1.7 Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN 60
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHÉ RỦI RO TÍN 67 DỤNG TẠI AGRIBANK PHÚ MỸ HƯNG
3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIỆU TÍN DỤNG ĐÉN NĂM 2020 67
3.1.1 Định hướng của Agribank Việt Nam đến năm 2015 và tầm nhìn đến 673.1.2 Định hướng hoạt động tín dụng của Agribank Phú Mỹ Hưng đến năm 67
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁI* HẠN CHÉ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI 68 AGRIBANK PHÚ MỸ HƯNG
3.2.1 Xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng thích hợp 683.2.2 Hoàn thiện và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình cho vay 693.2.3
Trang 8Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ theo mục đích sử dụng vốn và ngành nghề hoạt động 33Bảng 2.6: Cơ cấu dư nợ phân theo biện pháp bảo đảm tiền vay 34
Bảng 2.8: Bảng xếp loại khách hàng doanh nghiệp theo điểm số 46
Hình 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị rủi ro tín dụng 39
Trang 9Doanh nghiệp nhà nước Hệ thống xếp hạng Kho bạc nhà nước Kế hoạch kinh doanh Kiểm tra kiểm soát nội bộ Ngân hàng Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát Triển Nông thôn
Ngân hàng Thương mạiNgân hàng thương mại cổ phầnNgân hàng thương mại nhà nướcQuỹ dự phòng rủi ro
Quản trị rủi ro tín dụngRủi ro tín dụng
Tổ chức kinh tế
Tổ chức tín dụngThương mại cổ phần
Xử lý rủi ro
Trang 10bị hiện đại ngân hàng còn là nhà tư vấn, lập kế hoạch tài chính giúp doanh nghiệp.
Hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro trong suốt quá trình hoạt động, ở tất cả các sản phẩm, các lĩnh vực Kinh nghiệm cho thấy khó
có thể tránh được hết rủi ro mà quan trọng hơn là việc chấp nhận và có biện pháp phòng ngừa chúng để đạt được kết quả hoạt động tốt dựa trên cơ sở quản lý rủi ro hiệu quả Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, có bốn loại rủi ro mà các NHTM thường phải quan tâm, nhiều nhất là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, trong đó rủi ro tín dụng là dễ xảy ra nhất và thường là lớn, vì đây là hoạt động cơ bản của NHTM và hoạt động này cũng tăng trưởng nhanh theo thời gian; mặt khác, năng lực quản trị rủi ro còn nhiều bất cập trong khi môi trường kinh doanh và pháp luật chưa ổn định do vậy, rủi ro về tín dụng luôn là mối đe dọa đến
sự an toàn và phát triển bền vững của các NHTM
Trong tình hình hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang chịu tác động của những cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới, và hệ thống ngân hàng cũng không ngoại lệ, từ năm 2011 đến năm
2014, nợ xấu của các ngân hàng kể cả NHTM nhà nước và NHTMCP tăng rất cao Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam là một trong những ngân hàng hàng đầu trong khối ngân hàng Việt Nam, tình hình kiểm soát tín dụng thời gian qua cũng được xem là khá tốt nhưng vẫn không thể tránh được “cơn lốc nợ xấu” Đứng trước tình hình đó, đòi hỏi Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Phú Mỹ Hưng (sau đây được gọi là Agribank Phú Mỹ Hưng) phải nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất có thểnhững nguy cơ tiềm ẩn gây nên rủi ro
Nhận thức được vai trò quan trọng của công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng, tôi chọn đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Phú Mỹ Hưng” cho luận văn Thạc sỹ để từ đó
nhận diện dấu hiệu, tìm ra nguyên nhân, đề ra giải pháp hữu ích cho việc quản lý và phòng ngừa rủi ro tín dụng nhằm góp phần vào sự tăng trưởng kinh doanh an toàn, hiệu quả và nâng cao năng lực cạnh tranh với các ngân hàng khác
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 11- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Agribank Phú Mỹ Hưng.
- Đề xuất một số iải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank Phú Mỹ Hưng
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rủi ro tín dụng cho vay các khách hàng của Agribank Phú Mỹ Hưng
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu: rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Agribank Phú Mỹ Hưng trong thời gian 3 năm 2012 - 2014
4 CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Phần mở đầu.
Chưong 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng, các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội Ngày nay tín dụng được hiểu là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định
Tín dụng ngân hàng: là một giao dịch vay mượn tài sản giữa ngân hàng (bên cho vay) và
khách hàng (bên đi vay), trong đó bên đi vay được sử dụng tài sản của bên cho vay trong một khoảng thời gian được thỏa thuận trước và phải hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên chovay khi đến hạn thanh toán Nói một cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sở hữu vốn giữa ngân hàng và khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định
Theo luật các TCTD do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII,
kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 , thì “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặccam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”
Trang 12Tương tự các hình thức tín dụng khác, tín dụng NH được giao kết dựa trên các nguyên tắc là: bên vay vốn phải hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và tiền lãi sau một thời gian xác định đúng như các thỏa thuận với phía NH.
Quá trình cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm 04 giai đoạn sau:
+ Giai đoạn xét duyệt cấp tín dụng:
Đây là giai đoạn đầu của quá trình cấp tín dụng của ngân hàng Trong giai đoạn này, ngân hàng nhận và kiểm tra hồ sơ của khách hàng, sau đó tiến hành thẩm định để ra quyết định về việc cấp hay không cấp tín dụng đối với khách hàng
+ Giai đoạn phát tiền vay:
Sau khi một khoản cấp tín dụng đã được ngân hàng chấp thuận cấp tín dụng, Ngân hàng thực hiện việc giải ngân vốn cho khách hàng theo tiến độ thực hiện dự án hoặc đề nghị rút vốn vay của khách hàng trên cơ sở kiểm tra các căn cứ phát tiền vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
+ Giai đoạn kiểm tra sử dụng vốn:
Ngân hàng xây dựng kế hoạch kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng bao gồm các nội dung: khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích không? Tình trạng tài sản bảo đảm như thế nào? Khách hàng có thực hiện các cam kết trong hợp đồng tín dụng không?
+ Giai đoạn thu hồi nợ:
Giai đoạn này được tiến hành song song với quá trình kiểm tra sử dụng vốn vay của khách hàng Ngân hàng phải kiểm soát chặt chẽ nguồn thu của khách hàng để thu hồi nợ cũng như theodõi chặt chẽ việc trả nợ của khách hàng để kịp thời phát hiện và xử lý các khoản nợ có dấu hiệu không trả đúng hạn hoặc không thu hồi được
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người
đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn;
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc;
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
1.1.1.3 Vai trò của tín dụng
- Một là cung ứng vốn cho nền kinh tế: Tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu và còn là công cụ thúc đẩy tích tụ vốn cho các tổ chức kinh tế Nó là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư
- Hai là thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá: Tín dụng thúc đẩy quá trình lưu thông hàng
Trang 13hoá, phát triển sản xuất Đây là cơ sở đảm bảo cho lưu thông tiền tệ được ổn định, tạo ra nhiều
cơ hội, việc làm, thu hút nhiều lực lượng sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định
Do đó, nhu cầu về vốn của doanh nghiệp để đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật, quy trìnhquản lý mới, tiên tiến sẽ rất lớn thì mới có thể đứng vững trong cạnh tranh Trong khi thị trường chứng khoán của nước ta hiện nay chưa thực sự phát triển ổn định, không thể đáp ứng được nhu cầu vốn cho các tổ chức kinh tế Vì vậy, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn chủ yếu, gần như duy nhất cho các doanh nghiệp để đổi mới, phát triển
1.1.1.4 Chức năng và nguyên tắc của tín dụng
- Chức năng: Tập trung và phân phối lại tài nguyên theo nguyên tắc có hoàn trả; tiết kiệm
tiền mặt và chi phí lưu thông; phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế
- Nguyên tắc: Vốn vay phải hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi; Vốn vay phải sử dụng đúng
mục đích và có hiệu quả; Vốn vay phải đảm bảo giá trị vật tư hàng hóa tương đương
1.1.1.5 Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ: cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính hoặc các nghiệp vụ tài trợ vốn khác của ngân hàng cho khách hàng theo nguyên tắc thỏa thuận và có hoàn trả
- Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyêntắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi
1.1.1.6 Phân loại tín dụng ngân hàng
Việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu thức nhất định tùy theo yêu cầu của khách hàng
và mục tiêu quản lý của ngân hàng Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:
* Căn cứ vào thời hạn tín dụng :
Phân chia theo thời gian có 3 loại :
Trang 14- Tín dụng ngắn hạn: có thời gian cho vay đến 12 tháng, chủ yếu đươc sử dụng để bù đắp
sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
- Tín dụng trung hạn: từ trên 12 tháng đến 60 tháng, thường được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: trên 60 tháng, thường để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và
mở rộng sản xuất có quy mô lớn
+ Cho vay từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng đối với các khách hàng ít có nhu cầu vay thường xuyên
+ Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho kháchhàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng
+ Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa Ngân hàng cho doanh nghiệp vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi bán hàng
+ Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận
- Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức bằng văn bản với Bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (Bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với Bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay Phân theo mục tiêu có các loại bảo lãnh như sau:
+ Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư (hay chủ thầu) về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định dự thầu
+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất thay kháchhàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết gây tổn thất cho bên thứ ba.+ Bảo lãnh tiền ứng trước: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho bên thụ hưởng bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh không trả
+ Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của ngân hàng đối với người cho vay (tổ chức tín dụng, các
Trang 15cá nhân ) về việc sẽ trả gốc lãi đúng hạn nếu khách hàng (người đi vay) không trả đươc.
+ Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiền theo đúng hợp đồng kinh tế cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng không thanh toán đủ
- Cho thuê tài chính: là hình thức cho thuê tài sản, theo đó Bên thuê sử dụng tài sản cho
thuê của Bên cho thuê trong một thời gian nhất định Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê và nhận tiền cho thuê theo hợp đồng cho thuê Tuy nhiên, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng thương mại không được phép thực hiện hoạt động cho thuê tài chính, mà phải thành lập pháp nhân riêng (công ty Cho thuê tài chính) để thực hiện nghiệp vụ này
- Chiết khấu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của một giấy nợ (thương phiếu hoặc giấy tờ có giá) trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một giấy nợ chưa đến hạn
- Các hình thức cấp tín dụng khác: thẻ ghi nợ, bao thanh toán, L/C,
* Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, có 2 loại :
- Tín dụng có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng được cấp có thế chấp, cầm cố bằng tài sản (của bên vay hoặc bên thứ ba) Sự bảo đảm này là biện pháp đảm bảo cho ngân hàng có đươc nguồn thu nợ thứ hai khi khách hàng không có hoặc không có đủ khả năng hoàn trả nợ đúng hạn
- Tín dụng không có tài sản bảo đảm: là loại tín dụng được cấp dựa trên uy tín và khả năng tài chính lành mạnh của khách hàng hoặc được bảo lãnh bằng uy tín của bên thứ ba
* Phân loại khác :
- Theo mục đích sử dụng vốn có tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng
- Theo đối tượng tín dụng sử dụng vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh có tín dụng vốn lưu động và tín dụng vốn cố định
- Theo đối tượng cho vay tiêu dùng: tín dụng nhà đất (cho vay mua nhà, đất, xây dựng/sửa chữa nhà), cho vay mua ô tô, cho vay du học
Cách phân loại này cho thấy tính đa dạng trong sản phẩm tín dụng của ngân hàng và cho phép ngân hàng theo dõi được danh mục cho vay, rủi ro và sinh lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức, chính sách quản lý phù hợp
1.1.2 Rủi ro tín dụng
Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng Đây là rủi rolớn nhất và thường xuyên xảy ra, có thể khiến ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng
“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.”- theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Thống đốc
Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu
Trang 16hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
+ Rủi ro tín dụng là khả năng tiềm ẩn có thể gây tổn thất về vốn và thu nhập cho ngân hàng phát sinh khi đối tác không đáp ứng được một phần hoặc toàn bộ các điều khoản của Hợp đồng tín dụng hay không thực hiện đầy đủ như đã thỏa thuận theo các điều khoản của Hợp đồng tín dụng;
+ Rủi ro tín dụng xuất hiện trong quá trình cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán và các hình thức cấp tín dụng khác của ngân hàng
1.1.3 Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng
Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và người đi vay Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên nhân khách quan Rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi ro do nguyên nhân chủ quan Sự tiếp cận các yếu tố, nguyên nhân gây rủi ro sau đây giúp chúng ta nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan hơn, từ đó sẽ đưa ra được những đề xuất phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro tín dụng trong kinh doanh của NHTM một cách hữu ích, thiết thực hơn
1.1.3.1 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan
Quá trình toàn cầu hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường
* Rủi ro từ môi trường kinh doanh
- Chu kỳ kinh tế: sự tăng trưởng kinh tế có tính chu kỳ do đó hoạt động sản xuất kinh doanh
của người đi vay tốt hay xấu phụ thuộc rất lớn vào từng giai đoạn phát triển kinh tế Trong thời
kỳ kinh tế tăng trưởng, các ngành nói chung đều kinh doanh thuận lợi hơn, tỷ lệ thu hồi nợ vì thếtăng đồng thời dư nợ đối với nền kinh tế tăng làm giảm tỷ lệ các khoản nợ xấu Nhưng trong thời kỳ suy thoái, các ngành kinh doanh đặc biệt kinh doanh bất động sản sẽ gặp khó khăn hơn,các món vay, đặc biệt là trung, dài hạn được quyết định dễ dãi trong thời kỳ tăng trưởng sẽ trở thành nợ khó đòi vài năm sau đó Các ngân hàng cần lưu ý yếu tố này trước khi quyết định cho vay
- Nền kinh tế VN vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công, vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu
- Nền kinh tế thị trường thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ
và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tự phát,
Trang 17hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia.
- Thị trường bất động sản : rất nhiều khoản vay của cá nhân có mục đích mua nhà, đất, được đảm bảo bằng bất động sản, nguồn trả nợ cũng từ kinh doanh bất động sản chứ không phải
từ dòng tiền thường xuyên, ổn định Các khoản nợ này có nguy cơ tiềm ẩn rủi ro rất cao do thị trường bất động sản có tính bất ổn cao và những thay đổi do chính sách của Nhà nước sẽ rất khó
dự đoán
- Một yếu tố cũng góp phần tác động đến rủi ro của hoạt động tín dụng là chính sách điều hành, quản lý kinh tế của Nhà nước không ổn định Đặc biệt là tác động cửa các chính sách thuế,xuất nhập khẩu, thay đổi các biến cố kinh tế vĩ mô: tỷ giá, lãi suất; các quy định về kinh doanh bất động sản, chứng khoán sẽ khiến các doanh nghiệp khó có thể chủ động trong chiến lược kinh doanh của mình Môi trường kinh doanh không ổn định sẽ gián tiếp làm suy yếu khả năng tài chính của người vay và tác động trực tiếp đến hoạt động ngân hàng
* Rủi ro do môi trường pháp lý
- Các chính sách, quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng vẫn đang trong quá trình hoàn thiện để tiếp cận các chuẩn mực, quy tắc quốc tế Nhiều khi các quy định pháp luật được ban hành dựa trên ý chí chủ quan của cơ quan ban hành thay vì dựa trên các căn cứ khoa học
- Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương: việc thực thi pháp luật để hỗ trợ hoạt động ngân hàng chưa hiệu quả, đặc biệt là trong việc cưỡng chế thu hồi nợ Theo quy định thì trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay Tuy nhiên trên thực tế, các NHTM không thể cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao tài sản đảm bảo cho ngân hàng để xử lý nếu khách hàng không hợp tác mà phải xử lý qua con đường tố tụng dẫn đến tình trạng NHTM không thể giải quyết được nợ tồn đọng dù có tài sản bảo đảm
- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN: hoạt động thanh tra ngân hàng
và năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa theo kịp sự phát triển của hệ thống ngân hàng Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát chậm đựơc đổi mới, khả năng kiểm soát thị trường tiền
tệ và giám sát rủi ro còn yếu Thanh tra ngân hàng chủ yếu xử lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn, cảnh báo phòng ngừa rủi ro và vi phạm Những sai phạm về cho vay, cấp tín dụng ở một số NHTM có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và
xử lý kịp thời
* Rủi ro do hệ thống thông tin
Những thách thức cho hệ thống ngân hàng là việc thiếu thông tin tương xứng để làm cơ sở trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế, do đó nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng thì
sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng
Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về doanh nghiệp và
Trang 18ngân hàng Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN cũng chỉ cung cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, chưa đáp ứng được đầy
đủ yêu cầu tra cứu thông tin
1.1.3.2 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan
* Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
- Do sự thay đổi của chính sách, pháp luật, cơ chế của nhà nước ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiêp
- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay:
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến
uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác
- Khả năng quản lý kinh doanh kém:
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản
lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
- Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch:
Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam Việc ghi chép các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế
và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng
Năng lực tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tổng thể của khách hàng Không có giao dịch nào là phi rủi ro, nếu khách hàng có tiềm lực tài chính thì việc một giao dịch không thành công sẽ không làm khách hàng mất đi khả năng trả nợ, còn nếu điều kiện tài chính suy yếu sẽ có ảnh hưởng tới tất cả các giao dịch, khi một giao dịch không thành công, lập tức nó sẽ ảnh hưởngđến khả năng trả nợ của khách hàng
- Đạo đức, uy tín của khách hàng vay:
Đây là một trong những yếu tố tác động đến khả năng hoàn trả nợ vay Khi một người có đạo đức, uy tín thì sẽ có nhiều thuận lợi trong kinh doanh, ngay cả khi họ gặp khó khăn về tài chính thì sẽ được nhiều người sẵn lòng giúp đỡ Ngược lại, một người không có đạo đức, uy tín thì không chỉ không thuận lợi trong làm ăn mà ngay cả khi có tiền, đôi lúc họ cũng không trả nợ cho ngân hàng Mặc dù vậy, yếu tố này không dễ đánh giá do nguồn cung cấp thông tin ở Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế và hầu hết là phi chính thức
Trang 19* Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Các ngân hàng không có được một chính sách quản trị tín dụng hợp lý:
Hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng, do vậy một chính sách tín dụng phù hợp với đặc điểm nguồn vốn, nguồn nhân lực, mạng lưới, khả năng quản trị rủi ro, Sẽ giúp hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao hơn Một chính sách tín dụng tốt phải là một ứng dụng thông minh của những nguyên tắc tín dụng thích hợp với những thay đổi của các nhân
tố và môi trường kinh tế Các ngân hàng cần phải làm tốt công tác dự báo và định hướng cho cácđơn vị trực thuộc của mình trong từng giai đoạn phát triển kinh tế Nếu không thực hiện tốt thì những khuyến cáo về ngành hàng nào không nên hoặc hạn chế cho vay thường chỉ được đưa ra khi RRTD đã phát sinh ở một số chi nhánh khác hay tín dụng đã tăng trưởng đến mức nóng.Chính sách tín dụng của Hội sở chính là rất cần thiết nhưng chưa đủ, bản thân mỗi đơn vị thành viên cũng phải đề ra được một chính sách tín dụng phù hợp với địa bàn hoạt động và khai thác tốt nhất năng lực lõi của mình
Tầm nhìn không tốt của các ngân hàng cũng là nguyên nhân của tình trạng cạnh tranh thu hút khách hàng bằng cách giảm tiêu chuẩn xét duyệt cho vay dẫn đến rủi ro tín dụng
- Quy trình cấp tín dụng và mô hình quản trị rủi ro chưa phù hợp:
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước cụ thể từ khi tiếp nhận nhu cầu vay vốncủa khách hàng cho đến khi ngân hàng quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng Nếu quy trình tín dụng không chặt chẽ thì rất dễ dẫn đến tình trạng cán bộ sẽ không thực hiện đầy đủ các bước và những thủ tục cần thiết khi quyết định cho vay và như vậy các khoản vay sẽ tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất cao Bên cạnh đó, việc để một bộ phận thậm chí một cán bộ thực hiện toàn bộ chức năng thẩm định, cho vay, thu nợ và quản lý rủi ro cũng sẽ làm quátải và tăng nguy cơ xảy ra rủi ro đạo đức ở cán bộ làm công tác tín dụng
- Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng:
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra NHNN ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra đượcthực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh
- Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề hạn chế rủi
ro tín dụng Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
- Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay:
Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ đựơc hoàn trả
Trang 20Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này Công tác giám sát món vay, đánh giá lại định kỳ về khách hàng, khoản vay và tài sản thế chấp bị buông lỏng, đặc biệt đối với những khách hàng có quan hệ tín dụng lâu dài, cán bộ tín dụng thường có tâm lý cả nể, tin khách hàng và bỏ qua chế độ kiểm tra định kỳ, phương pháp kiểm tra không khoa học, không phát hiện được những dấu hiệu bất thường trong hoạt động của khách hàng
- Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả:
Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một ngân hàng nào
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý
- Định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng:
Việc định giá khoản vay không đúng mức độ rủi ro của khách hàng, làm thiếu hụt nguồn bù đắp rủi ro của ngân hàng và làm tăng mức độ RRTD từ cả hai phía ngân hàng và khách hàng Chính sách lãi suất không khoa học đã để ngân hàng ở hai thái cực: (1) cho vay dễ dãi với lãi suất thấp, không đủ nguồn bù đắp rủi ro mà phải từ 7 đến 10 năm sau mới bộc lộ, (2) đến khi hếtnguồn thì yêu cầu lãi suất cho vay cao cộng với điều kiện khắt khe dẫn đến mất dự án có độ an toàn và chấp nhận khách hàng có độ rủi ro cao
- Tâm lý ỷ lại tài sản thế chấp:
Liên quan đến tài sản đảm bảo nợ vay, rủi ro thường xảy ra ở các tình huống: (i) không có tài sản đảm bảo, (ii) ỷ lại tài sản thế chấp một cách thái quá và (iii) nhận tài sản thế chấp không
đủ điều kiện và tính pháp lý của quyền sở hữu, tính thanh khoản và yêu cầu không tranh chấp Tài sản đảm bảo nợ vay là phương án dự phòng khi dự án kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro,dòng tiền không như dự kiến Song tâm lý ỷ lại tài sản đảm bảo cũng là một yếu tố gây ra rủi ro,
do các khoản vay cần được trả bằng tiền chứ không phải bằng tài sản
- Không đa dạng hóa danh mục đầu tư:
Các ngân hàng không có bộ phận quản lý rủi ro cho toàn bộ danh mục để tính toán tỷ trọng đầu tư đối với từng ngành hàng, loại cho vay phân theo thời hạn và loại tiền để có rủi ro thấp nhất, phù hợp với chiến lược, cơ cấu nguồn vốn và năng lực bản thân ngân hàng Việc các ngân hàng cho vay quá nhiều vào một ngành nghề hay một nhóm đối tượng khách hàng như doanh nghiệp nhà nước sẽ rất dễ dẫn đến rủi ro
- Chính sách quản trị nguồn nhân lực:
Cán bộ tín dụng là người trực tiếp tham gia vào sản phẩm có tính rủi ro nhất trong hoạt
Trang 21động ngân hàng Chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và đề bạt cán bộ tín dụng ở các ngân hàng có tác động trực tiếp đến hiệu quả thực thi chiến lược, chính sách tín dụng của ngân hàng Một chiến lược, chính sách quản trị tín dụng tốt mà không đi kèm chính sách đúng đắn về nguồnnhân lực sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn và gián tiếp tăng nguy cơ rủi ro đạo đức ở cán
bộ tín dụng
1.1.4 Các dấu hiệu nhận diện rủi ro tín dụng
Giám sát từng khoản cấp tín dụng nhằm phát hiện các “dấu hiệu cảnh báo sớm” để có biện pháp khắc phục kịp thời là thực hiện kiểm tra giám sát khách hàng Trong thực tế, có nhiều biểu hiện của khoản cấp tín dụng sẽ gặp khó khăn như sau:
- Thu nhập của khách hàng vay không ổn định, công việc thay đổi thường xuyên
- Khách hàng chậm chễ trong việc nộp các báo cáo tài chính cho ngân hàng như báo cáo luân chuyển vốn, báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục
- Khách hàng cố tình trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với cán bộ tín dụng trong việc kiểm tra theo định kỳ (hay đột xuất) tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trụ sở, cơ sở sản xuất của mình
- Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích
- Khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích nhưng nhận vốn trong tình trạng chậm trễ sovới kế hoạch, có thể do khách hàng tìm kiếm được nguồn vốn khác rẻ hơn Hoặc cũng có thể do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng phát triển không lành mạnh
- Có sự gia tăng bất thường của lượng hàng tồn kho
- Số dư trên tài khoản tiền gửi của người vay tại ngân hàng giảm sút, hiện tượng rút séc quá
số dư hoặc séc thanh toán bị trả lại
- Khách hàng đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn nợ hay điều chỉnh kỳ hạn nợ
- Hoàn trả nợ vay ngân hàng chậm hoặc quá kỳ hạn hoặc không đầy đủ như cam kết trong hợp đồng tín dụng
- Có sự biến động lớn về tổ chức của doanh nghiệp như thay đổi của ban lãnh đạo doanh nghiệp
- Hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng do những yếu tố khách quan như bão lụt, hoả hoạn hay do cháy kho hàng, mất trộm, tham ô
- Gia tăng các tài sản cố định qua việc sát nhập hoặc mua lại của doanh nghiệp khác
- Khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất thường khác không phải từ hoạt động sản xuát kinh doanh chính hoặc từ hoạt động được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán
- Sử dụng nhiều nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho các hoạt động đầu tư dài hạn và chấp nhận
sử dụng các nguồn vốn với giá cao với mọi điều kiện
Các dấu hiệu trên đây là biểu hiện của những khó khăn về tài chính từ phía khách hàng, sự
Trang 22xuất hiện của chúng báo hiệu khả năng khó hoàn trả vốn cho ngân hàng Vì vậy, nhận biết những dấu hiệu này sẽ giúp ngân hàng tìm biện pháp điều chỉnh và ngăn ngừa kịp thời trước khảnăng phát sinh rủi ro tín dụng của ngân hàng Giám sát tổng thể danh mục tín dụng - phân tích tổng thể danh mục tín dụng nhằm phát hiện tập trung tín dụng
Những vấn đề liên quan tới tín dụng có thể nảy sinh do việc tập trung trong danh mục tín dụng Tập trung tín dụng có thể có nhiều hình thức và có thể phát sinh khi có một số lớn các khoản tín dụng đều có chung những đặc điểm rủi ro tương tự nhau Tập trung tín dụng xảy ra khi danh mục tín dụng tập trung vào:
- Một đơn vị hoặc một nhóm các đơn vị liên kết nhau;
- Một ngành kinh tế nhất định;
- Khu vực địa lí;
- Dạng hợp đồng tín dụng;
- Dạng tài sản bảo đảm;
- Các khoản cho vay cùng một thời gian đến hạn hoặc cùng một loại ngoại tệ
1.1.5 Những thiệt hại do rủi ro tín dụng ngân hàng gây ra
1.1.5.1 Thiệt hại đối với ngân hàng
- Ứ đọng vốn: đến hạn thanh toán, khách hàng không thực hiện được cam kết thanh toán
của mình, vì vậy ngân hàng sẽ thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ của khách hàng hoặc phải chuyển nợ quá hạn Ngân hàng sẽ bị ứ đọng vốn Các khoản nợ quá hạn hay cơ cấu lại thời hạn trả nợ làm cho NHTM rơi vào tình trạng đến hạn phải trả cho người gửi tiền nhưng vẫn chưa thuđược nợ từ người vay Việc bị mất khả năng thanh toán tạm thời của NHTM sẽ làm giảm uy tín kinh doanh của ngân hàng một cách nghiêm trọng, có thể dẫn đến hiện tượng những người gửi tiền đồng loạt đòi rút tiền, đẩy Ngân hàng đến bờ vực phá sản
- Mất vốn: rủi ro không thu được nợ tức là Ngân hàng mất vốn Điều này có thể dẫn đến
kinh doanh thua lỗ, ngân hàng mất khả năng thanh toán và thậm chí phá sản Mặt khác, khi các khách hàng không trả được thì các ngân hàng buộc phải sử dụng các biện pháp xử lý tài sản đảmbảo để thu hồi nợ Tuy nhiên, rủi ro cũng tiềm ẩn ngay cả trong các tài sản đảm bảo nợ do đánh giá tài sản thế chấp và cầm cố không đúng giá trị thực.Tài sản bảo đảm không đáp ứng nhu cầu của thị trường và khó chuyển nhượng nên nếu muốn phát mại tài sản thế chấp hoặc cầm cố cũngrất khó Mặt khác, một số tài sản càng để càng bị mất giá và có thể bị hao mòn vô hình hay hữu hình, hơn nữa ngân hàng còn mất thêm chi phí bảo quản tài sản làm tăng thêm chi phí của Ngân hàng
- Đối với cán bộ nhân viên, do ngân hàng gặp khó khăn trong kinh doanh nên chế độ phúc lợi, thu nhập sẽ bị hạn chế vì thế những người có năng lực thuyên chuyển công tác, càng gây khó khăn cho ngân hàng
1.1.5.2 Thiệt hại đối với nền kinh tế
Hoạt động của Ngân hàng có liên quan đến toàn bộ các hoạt động của nền kinh tế Vì vậy
Trang 23khi rủi ro tín dụng xảy ra làm phá sản một vài Ngân hàng thì có tác động rất mạnh đe dọa sự tồn tại của các NHTM khác, nhiều khi với phản ứng dây chuyền sẽ kéo theo sự sụp đổ của nhiều NHTM trong nền kinh tế Sự sụp đổ này sẽ dẫn tới nguy cơ rối loạn lưu thông tiền tệ trong nước, làm giảm giá đồng bản tệ, dẫn đến đình trệ sản xuất kinh doanh, gây khủng hoảng kinh tế trầm trọng Sự tác động này không chỉ có ảnh hưởng mạnh mẽ trong phạm vi một quốc gia mà
nó có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế của các nước có liên quan và lan rộng ra đến nền tài chính thế giới
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn Nếu tình trạng nàykéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nến kinh
tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay
1.1.6 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng
Theo quyết định Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì các khoản cho vay của các NHTM sẽ được chia thành 05 nhóm như sau:
* Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng
- Nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
* Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
- Nợ gia hạn nợ lần đầu;
- Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
- Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
Trang 24+ Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp;
+ Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự
có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
+ Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà
tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật;
+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;
+ Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảođảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
+ Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;
- Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
* Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
- Khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể
từ ngày có quyết định thu hồi;
- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫnchưa thu hồi được;
* Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được
cơ cấu lại lần đầu;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá
Trang 25vẫn chưa thu hồi được;
- Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;
Như vậy, chất lượng các khoản vay sẽ được chia thành năm (05) mức theo cách phân nhóm
nợ với nhóm 1 là những khoản vay tốt nhất và nhóm 5 là những khoản vay xấu nhất Rủi ro tín dụng sẽ tỷ lệ nghịch với chất lượng khoản vay với nhóm 1 là những khoản vay có rủi ro thấp nhất và nhóm 5 là những khoản vay có rủi ro cao nhất
1.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Đã có rất nhiều nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, chúng tôi xin trình bày một số nghiên cứu, tài liệu có liên quan làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu
- Trương Đông Lộc, Nguyễn Thị Tuyết (2011) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến rủi
ro tín dụng của NHTMCP Ngoại thương Chi nhánh TP Cần Thơ Áp dụng mô hình Probit, kết quả phân tích đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng bao gồm : Khả năng tài chính của khách hàng đi vay, việc sử dụng vốn vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, số lần kiểm tra giám sát khoản vay của cán bộ tín dụng và việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của khách hàng vay Kết quả của nghiên cứu này cung cấp những bằng chứng thực
tế rất có giá trị nhằm giúp các NHTM nói chung và Vietcombank nói riêng hiểu rõ hơn các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
- Trương Đông Lộc (2010) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các NHTM nhà nước ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) Số liệu thu thập từ 202 hồ sơ vay từ 4 NHTM nhà nước là NH Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, NH
Đầu tư và Phát triển, NH Công thương và NH phát triển nhà ĐBSCL Bằng việc sử dụng mô hình logit, kết quả nghiên cứu đã xác định được một số nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng như : khả năng tài chính của người vay, tài sản bảo đảm, ngành nghề chính tạo ra thu nhập để trả
nợ, quá trình kiểm tra giám sát nợ vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng và kinh nghiệm của người vay trong kinh doanh Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng rủi ro tín dụng tương quan thuận với tỷ lệ số tiền vay trên giá trị tài sản đảm bảo và nếu ngành nghề kinh doanh của khách hàng vay là nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp thì có rủi ro cao hơn các ngành kinh doanh khác Tuy nhiên, rủi ro tín dụng lại có mối tương quan nghịch với các yếu tố : khả năng tài chính của người vay, quá trình kiểm tra, giám sát nợ vay của ngân hàng, kinh nghiệm của cán
bộ tín dụng và kinh nghiệm của người vay
- Lê Khương Ninh và Lâm Thị Bích Ngọc (2012) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD trong cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại các chi nhánh NH Đầu tư và phát triển Việt Nam ở ĐBSCL Trên cơ sở hệ thống dữ liệu từ 454 DNNVV ở ĐBSCL và sử dụng phương pháp phân tích hồi quy, kết quả ước lượng cho thấy các yếu tố như quy mô, nợ phải trả, ROA, xếp hạng doanh nghiệp, lịch sử vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng và cạnh tranh có ảnh hưởng đến RRTD của các doanh nghiệp Ngoài ra, bằng cách sử dụng mô hình hồi quy binary logistics, bài viết đã chỉ ra mối quan hệ giữa RRTD với các yếu tố liên quan đến tiềm
Trang 26lực tài chính của người vay (số nợ phải trả và ROA), xếp hạng doanh nghiệp và các yếu tố giúp làm giảm thiểu thông tin bất đối xứng giữa các TCTD và người vay (như thời hạn duy trì tín dụng, lịch sử trả nợ và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng)
- Ngô Thị Thanh Trà (2010) Tác giả sử dụng mô hình điểm số Z, Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng và Mô hình điểm số và xếp hạng doanh nghiệp để tìm hiểu nghiên nhân của rủi
ro tín dụng từ đó đưa ra những giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng Tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Nam Sài Gòn
- Trần Đức Tuấn (2001) dựa vào số liệu thứ cấp, ý kiến cán bộ ngân hàng và những thông tin từ báo chí, từ đó phân tích đề tài đã nêu ra một số nguyên nhân gây ra RRTD của các NHTMquốc doanh tại Cần Thơ là: Ngân hàng chủ quan trong cho vay, cán bộ tín dụng thiếu thông tin
và năng lực phân tích thông tin, do hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng gặp thiên tai Đề tài cũng đã đề ra một số biện pháp nhằm kiểm soát RRTD của các NHTM quốc doanh tại cần Thơ
- Trần Quang Phương (2000) đã nêu ra một số nguyên nhân gây ra RRTD đối với các NHTM tỉnh Cần Thơ là: Công tác quản lý của ngân hàng yếu, ngân hàng thiếu thông tin về khách hàng, ngân hàng thực hiện không nghiêm quy chế tín dụng Trên cơ sở phân tích, đánh giá đề tài cũng đề ra một số giải pháp nhằm hạn chế RRTD
- Ali và Daly (2010) điều tra sự tương tác giữa các tác động theo chu kỳ mặc định tổng hợp trong một nền kinh tế và vốn cổ phần (tổng lượng vốn) của một ngân hàng Nghiên cứu làm mộtphân tích so sánh của hai quốc gia, có nền kinh tế tương đối miễn dịch từ cuộc khủng hoảng gần đây - Úc và Mỹ trong một khoảng thời gian Nghiên cứu những biến kinh tế vĩ mô nào là quan trọng đối với cả hai quốc gia và xem xét tác động của những cú sốc bất lợi với nền kinh tế vĩ môđến lãi suất mặc định ở cả hai nước Sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian hàng quý trong 14 năm (1995Q1 đến 2009Q2) với các biến kinh tế vĩ mô: lãi suất mặc định, GDP, lãi suất trái phiếu (lãitrái phiếu kho bạc kỳ hạn 6 tháng), chỉ số sản xuất công nghiệp và tỷ lệ nợ so với GDP Kết quả cho thấy, cùng một tập hợp của các biến số kinh tế vĩ mô nhưng hiển thị lãi suất mặc định khác nhau ở hai nước Đặc biệt, GDP, lãi suất ngắn hạn và tổng nợ giải thích cho rủi ro vỡ nợ của hai nền kinh tế Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy so với Úc, nền kinh tế Mỹ nhạy cảm hơn với những
cú sốc kinh tế vĩ mô bất lợi Nói rộng hơn, bài nghiên cứu đưa ra vấn đề cuộc khủng hoảng tài chính gần đây đặt ra nhiều thách thức đối với kinh tế vĩ mô và chính sách Trong số những tháchthức đó là sự hội nhập của tín dụng và chu kỳ tài chính vào các mô hình kinh tế vĩ mô chính thống, nâng tầm hiểu biết của chúng ta về liên kết tài chính vĩ mô và công cụ phát triển cho quy định bảo đảm an toàn
- Phạm Phú Nhân (2011) nghiên cứu với mục tiêu là tìm ra các nhóm nguyên nhân chính dẫn đến RRTD tại các NHTM Hướng tiếp cận rủi ro của tác giả là từ nghiên cứu khách quan nhận định của CBTD, chuyên viên quản lý rủi ro và các cấp quản lý khác tại các NHTM Tác giả đưa ra bảng câu hỏi gồm 34 nguyên nhân phát sinh RRTD và gửi đến hơn 200 cán bộ công tác tại các NHTM trên toàn quốc để thu thập ý kiến Bằng phương pháp Nghiên cứu phân tích nhân tố khám phá Explore Factor Anlysis (EFA) và kiểm định Cronbach Alpha, tác giả đã tổng hợp được có 5 nhân tố chính ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM, bao gồm : (i) Nhóm nhân tố
Trang 27F1 : Khách hàng chưa hợp tác và phê duyệt, kiểm soát; đạo đức của cán bộ, (ii) Nhóm nhân tố F2 là Những ảnh hưởng của môi trường kinh tế vĩ mô gồm 4 nguyên nhân như Sự biến đổi tỷ giá, giá dầu, tỷ lệ lạm phát và lãi suất; (iii) Nhóm nhân tố F3 Quy định quản lý TBĐB tại địa phương gồm 3 nguyên nhân ; (iv) Nhóm nhân tố F4 Chính sách cho vay thiếu khoa học gồm 2 nguyên nhân xuất phát từ chính sách tín dụng của các ngân hàng, lãi suất không được xác định khoa học; (v) Nhóm nhân tố F5 Áp lực chỉ tiêu gồm 2 nguyên nhân xuất phát từ áp lực chỉ tiêu
do hội sở đặt ra và áp lực từ đối thủ cạnh tranh
- Nguyễn Trung Kiên (2010) nghiên cứu về rủi ro tín dụng và nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng đối với các NHTM Việt Nam Tác giả căn cứ vào tình hình hoạt động thực tiễn của hệ thống NHTM Việt Nam để đưa ra các nguyên nhân của rủi ro tín dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy là rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Đó
là những nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh doanh như sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới hay thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa đầu tư trong một số ngành ; nguyên nhân từ môi trường pháp lý chưa thuận lợi Nguyên nhân chủ quan là từ phía khách hàng vay: sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trả nợ; Khả năng quản lý kinh doanh kém; tình hình tài chính yếu kém và từ ngân hàng cho vay: lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ; Thiếu giám sát và quản
lý sau cho vay Từ
Trang 28Tổng doanh số cho vay
các nguyên nhân trên, tác giả đã đưa ra biện pháp tính toán xác định rủi ro vàcác phương pháp giải quyết rủi ro
- Nguyễn Văn Đức (2012) nghiên cứu vấn đề rủi ro đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động của NHTM Tác giả sử dụng các khái niệm về đạo đức nghề nghiệp để chỉ ra rủi ro đạo đức trong hoạt động của NHTM là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu
do cán bộ nhân viên của ngân hàng cố ý vi phạm những chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh Qua nghiên cứu và tìm hiểu về mặt lý luận và thực tiễn , tác giả đưa
ra bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp để làm thước đo, nêu lên những tổn thất do rủi ro đạo đứcnghề nghiệp gây ra và đề xuất hai nhóm giải pháp phòng ngừa rủi ro đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Có thể thấy rằng rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của các NHTM Tuy nhiên, do giới hạn về khả năng và thời gian, đề tài này sẽ chỉ xem xét ảnh hưởng của một số nhân tố đến RRTD của Agribank Phú Mỹ Hưng thông qua nghiên cứu định tính và định lượng
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp được thu thập trực tiếp từ các báo cáo tổng kết của Ngân hàng
- Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua tham vấn trực tiếp một số người am hiểu sâu về thực chất hoạt động tín dụng tại TP Hồ Chí Minh
- Để sử dụng phương pháp phân tích hồi quy, tôi quan sát tổng cộng 234 hồ sơ vay vốn baogồm 72 hồ sơ doanh nghiệp và 162 hồ sơ cá nhân Các hồ sơ được lựa chọn là những khoản vay
đã phát sinh trước ngày 31/12/2014 còn số dư, các hồ sơ được chọn đảm bảo rằng tất cả đều đã phát sinh kỳ hạn nợ phải thanh toán, như vậy mới có thể đánh giá được chất lượng của khoản vay một cách tương đối chính xác
- Cách thức chọn hồ sơ: đối với doanh nghiệp tôi chọn tất cả các khoản vay còn số dư đến 31/12/2014 Đối với hồ sơ cá nhân thì sắp xếp 162 khoản vay thoả mãn tiêu chí có dư nợ từ cao đến thấp Sau khi chọn được tên khách hàng thì tiến hành khảo sát hồ sơ tín dụng để thu thập cácyếu tố cần thiết cho mô hình
1.3.2 Phương pháp phân tích
- Để đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng tại Agribank Phú MỹHưng, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng Các chỉ tiêu được sử dụng bao gồm : Hệ số thu nợ; Vòng quay vốn tín dụng; Tổng dư nợ trên tổng vốn huy động; Tổng dư nợ trên tổng tài sản; Tỷ trọng nợ xấu trên tổng dư
nợ và Hệ số rủi ro tín dụng
+ Hệ số thu nợ (%)
Doanh số thu nợ
Hệ số thu nợ =
Trang 29Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả thu nợ của ngân hàng hay khả năng trả nợ vay của khách hàng, cho biết số tiền mà khách hàng thu được trong một thời kỳ kinh doanh nhất định từ một đồng doanh số cho vay Hệ số thu nợ càng lớn thì càng được đánh giá tốt, cho thấy công tác thu hồi vốn của ngân hàng càng hiệu quả và ngược lại
+ Vòng quay vốn tín dụng (vòng)
Doanh số thu nợVòng quay vốn tín dụng = -
Dư nợ bình quân
Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đồng vốn tín dụng thông qua tính luân chuyển của nó,đồng vốn được quay vòng càng nhanh thì càng hiệu quả và đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Trong chỉ tiêu này, dư nợ bình quân được tính bằng bình quân dư nợ hàng tháng của 12 tháng trong năm
+ Tổng dư nợ trên tổng vốn huy động (% lần)
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng đồng vốn huy động của ngân hàng Chỉ tiêu này quálớn hay quá nhỏ đều không tốt, bởi vì nếu chỉ tiêu này quá lớn thì cho thấy khả năng huy động vốn của ngân hàng thấp, ngược lại nếu chỉ tiêu này quá nhỏ cho thấy ngân hàng đã sử dụng vốn huy động ngày càng không có hiệu quả
+ Tổng dư nợ trên tổng tài sản (%)
Đây là chỉ số tính toán hiệu quả tín dụng của một đồng tài sản Ngoài ra, chỉ số này còn giúp xác định quy mô hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng
+ Tỷ trọng nợ xấu trên tổng dư nợ (%)
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động tín dụng của ngân hàng nói chung và đo lường chấtlượng nghiệp vụ tín dụng nói riêng Chỉ tiêu này càng cao cho thấy chất lượng tín dụng của ngânhàng càng kém và ngược lại Mức giới hạn cho phép của mức độ rủi ro tín dụng do Ngân hàng Nhà nước quy định là 3%
Để phân tích rủi ro tín dụng của Agribank Phú Mỹ Hưng, trong đề tài này tôi sử dụng cả nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính
1.3.2.1 Nghiên cứu định tính:
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng Tuy nhiên, không phải nguyên nhân nào cũng có thể định lượng được Do đó, trong phạm vi đề tài này với mong muốn làm sáng tỏ thêm một số vấn đề, tác giả sử dụng phương pháp chuyên gia dưới hình thức tham vấn trực tiếp một
số người am hiểu sâu về thực chất hoạt động tín dụng tại TP Hồ Chí Minh, đồng thời khảo sát các báo cáo tổng kết của ngành ngân hàng, các kết luận thanh tra, liên hệ với những vụ việc đã xảy ra thời gian qua để kiểm định một số giả thuyết như sau:
- Các chính sách của nhà nước có tác động đến rủi ro trong hoạt động và chất lượng
tín dụng của ngân hàng
- Chính sách tín dụng, bộ máy hoạt động và hệ thống văn bản hướng dẫn liên quan
đến hoạt động cho vay ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
Trang 30- Năng lực cán bộ và đạo đức cán bộ làm công tác cho vay không tốt ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng như thế nào
- Ngân hàng không thu nhập được đầy đủ những thông tin cần thiết làm cơ sở cho
việc ra quyết định cho vay
- Năng lực khách hàng ảnh hưởng đến rủi ro hoat động tín dụng ngân hàng
1.3.2.2 Nghiên cứu định lượng:
- Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh và phân tích, đánh giá thực trạng hoạt
động tín dụng tại ngân hàng Các chỉ tiêu được sử dụng bao gồm: Tỷ lệ nợ quá hạn trên
tổng dư nợ; Tỷ trọng nợ xấu trên tổng dư nợ
- Mô hình Probit được sử dụng trong nghiên cứu này có dạng như sau:
Y= a0 + ßlXi + ß2X2 + ß3X3 + ß4X4 + ß5X5 + ß6X6+ ß7Xv + s
Trong đó :
+ Biến phụ thuộc Y là mức độ rủi ro của các khoản vay được đo lường theo 2 khả
năng là có rủi ro (1) và không có rủi ro (0) Trong đề tài, chúng tôi quy ước các khoản vay
có rủi ro là những khoản vay thuộc nhóm nợ xấu (nhóm 3, 4 và 5) và những khoản vay
không có rủi ro thuộc nhóm 1 và 2 Các khoản nợ được phân nhóm phù hợp theo Quyết
định 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Các biến độc lập gồm : X1 , X2, X3, X4, X5, X6 và X7
+ Diễn giải các biến độc lập và kỳ vọng trong mô hình Probit:
ST
1 Kinh nghiệm của
khách hàng đi vay (X1)
Số năm người vay làm việc trong ngành nghề vay vốn tính đến thời điểm vay
Tỷ lệ nghịch
2 Vốn tự có của khách
hàng vay (X2 )
Vốn tự có tham gia vào phương án, dự án/tổng nhu cầu vốn của phương án, dự án (%)
Tỷ lệ nghịch
3 Tài sản đảm bảo của
khách hàng vay (X3) Số tiền vay/tổng trị giá tài sản đảm bảo (%) Tỷ lệ thuận
4 Sử dụng vốn vay (X4) Biến giả, bằng 1 là đúng mục đích, bằng 0 là
sai mục đích
Tỷ lệ nghịch
Trang 31Biến thứ nhất, kinh nghiệm của khách hàng đi vay (X1) Theo Trương Đông Lộc,
Nguyễn Thị Tuyết (2011), năng lực quản trị và kinh nghiệm làm trong lĩnh vực ngành hàng kinh doanh của người vay là những yếu tố quan trọng để thực hiện thành công một
dự án, phương án kinh doanh Người nhiều kinh nghiệm sẽ có khả năng dự báo những tình huống xấu nhất cũng như có khả năng ứng phó kịp thời những bất trắc xảy ra mà không gây ra hậu quả nặng nề Trong nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng rằng những người càng làm lâu trong ngành nghề nào đó thì khả năng thành công càng cao hay kinh nghiệm của người vay tỷ lệ nghịch với rủi ro tín dụng
Biến thứ hai, vốn tự có của khách hàng vay (X2) Theo Trương Đông Lộc,
Nguyễn Thị Tuyết (2011), được đo lường bằng tỷ lệ giữa vốn tự có tham gia vào dự án, phương án trên tổng nhu cầu vốn của dự án, phương án đó Theo các nghiên cứu thì tiềm lực của người vay càng mạnh sẽ làm khả năng chịu đựng rủi ro càng cao Vì vậy trong nghiên cứu này tác giả kỳ vọng rằng vốn tự có của người vay tham gia vào dự án, phương
án càng lớn thì dự án sẽ dễ thành công hơn và rủi ro thấp hơn, hay năng lực tài chính của khách hàng vay tỷ lệ nghịch với rủi ro tín dụng
Biến thứ ba, tài sản đảm bảo của khách hàng vay (X3) Theo Trương Đông Lộc,
Nguyễn Thị Tuyết (2011), biến số độc lập này được đo lường bằng tỷ số giữa số tiền vay trên giá trị tài sản đảm bảo Khoản vay có tài sản đảm bảo sẽ chắc chắn hơn và khả năng thu hồi nợ cao hơn vì lúc đó người vay bị ràng buộc nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng, có nghĩa là tỷ số này có quan hệ tỷ lệ thuận với rủi ro tín dụng
Biến thứ tư, sử dụng vốn vay (X4) Theo Trương Đông Lộc, Nguyễn Thị Tuyết
(2011), trong tất cả các phương án vay vốn, người vay đều phải ghi rõ mục đích sử dụng vốn vay và sau khi đã phát vay ngân hàng có nhiệm vụ phải kiểm tra việc sử dụng vốn vay này Mỗi mục đích vay vốn sẽ gắn liền với thời gian và nguồn trả nợ khác nhau Nếu người vay sử dụng vốn sai mục đích sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ không đúng hạn, hay nói cách khác biến này tỷ lệ nghịch với rủi ro tín dụng Nghiên cứu này sử dụng biến giả bằng 1 nếu sử dụng vốn đúng mục đích, bằng 0 nếu sử dụng sai mục đích
Biến thứ năm, Ngành nghề kinh doanh-Lĩnh vực kinh doanh (X5) Theo Ali và
Tỷ lệ nghịch
6 Loại tài sản đảm bảo
(X )
Biến này nhận giá trị 1 nếu là bất động sản, nhận giá trị 0 nếu là động sản
Tỷ lệ nghịch
7 Kiểm tra, giám sát
khoản vay (X7) Tổng số lần đã kiểm tra trước khi khoản vay chuyển sang nợ xấu/Tổng thời gian đã vay
đến khi khoản vay phát sinh nợ xấu tính theo năm (lần)
Tỷ lệ nghịch
Trang 32Daly (2010), chính sách kinh tế vĩ mô liên quan đến rủi ro tín dụng Trong đề tài này nghiên cứu lĩnh vực cho vay có gắn liền với rủi ro tín dụng từ sự biến động của môi trường kinh doanh hoặc chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước Nếu ngân hàng cho vay đối với lĩnh vực phù hợp theo chính sách điều hành của Nhà nước thì xác suất xảy
ra rủi ro của khoản vay sẽ thấp Như vậy, đối với lĩnh vực cho vay là phi sản xuất kinh doanh/không khuyến khích sẽ chịu rủi ro tín dụng ở mức độ cao hơn Lưu ý: Theo phân lọai của NHNN, các khoản vay mua bất động sản có thu nhập trả nợ từ tiền lương của cán
bộ, công nhân viên được xem là lĩnh vực khuyến khích Nghiên cứu này đề xuất sử dụng biến giả bằng 1 nếu khách hàng vay thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh/khuyến khích, bằng 0 nếu thuộc lĩnh vực phi sản xuất kinh doanh/không khuyến khích
Biến thứ sáu, loại tài sản đảm bảo (X6), lựa chọn loại tài sản đảm bảo nợ vay giúp
cho ngân hàng hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra Đối với tài sản đảm bảo là bất động sản, khi rủi ro xảy ra sẽ ít chịu tổn thất hơn do là bất động sản nên không thể di dời, mất mát
và không bị hao mòn theo thời gian Đối với tài sản là máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển dễ bị giảm giá theo thời gian, rủi ro bị hư hỏng mất mát Loại tài sản đảm bảo, đo lường bằng 1 nếu là bất động sản, bằng 0 nếu là động sản và tài sản khác, kỳ vọng tỷ lệ nghịch
Biến thứ bảy, kiểm tra, giám sát nợ vay (X7) Theo Trương Đông Lộc, Nguyễn
Thị Tuyết (2011), một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng là việc kiểm tra, giám sát sau khi cho vay không chặt chẽ Do khi khoản vay xảy ra rủi ro thì số lần kiểm tra tăng lên nên các tác giả đo lường biến bằng cách lấy tổng số lần đã kiểm tra trước khi khoản vay chuyển sang nợ quá hạn hoặc đến thời điểm nghiên cứu chia cho tổng thời gian
đã vay đến khi khoản vay phát sinh nợ xấu hoặc đến thời điểm nghiên cứu (tính theo năm)
và kỳ vọng rằng nếu số lần kiểm tra càng nhiều thì rủi ro tín dụng càng thấp hay yếu tố kiểm tra, giám sát tỷ lệ nghịch với rủi ro tín dụng
Trang 33Trong chương 1, tôi đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, những vấn đề cơ bản về tín dụng và rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại Đề tài đã nghiên cứu bản chất, các hình thức tín dụng, nguyên nhân rủi ro tín dụng, chỉ ra ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng và nền kinh tế và nêu ra một số chỉ tiêu để đo lường rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Đây là cơ sở lý luận quan trọng phục vụ cho việc phân tích đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng của Agribank Phú Mỹ Hưng ở chương 2.
Trong chương này đề tài cũng đã trình bày nội dung về các phương pháp và mô hình nghiên cứu cũng như cách thức thu thập số liệu Với mục đích có được kết quả nghiên cứu như kỳ vọng và
có giá trị khoa học, trong nghiên cứu này sử dụng mô hình probit để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD của Agribank Phú Mỹ Hưng đồng thời xác định ảnh hưởng của các yếu tố có liên quan đến RRTD Tuy nhiên, RRTD là một vấn đề rất đa dạng và phức tạp nên không thể định lượng hết tất cả các yếu tố, đề tài đã sử dụng thêm phương pháp định tính để tìm hiểu thêm về những nguyên nhân gây ra RRTD mà không thể đo lường được Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày tiếp tục ở chương 2
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK PHÚ MỸ HƯNG
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ AGRIBANK PHÚ MỸ HƯNG:
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển:
Agribank Phú Mỹ Hưng trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 1267/QĐ/HĐQT - TCCB ngày 06/11/2007 của HĐQT NHNo&PTNT Việt Nam
Chi nhánh chính thức hoạt động từ ngày 03/12/2007, trụ sở ban đầu đặt tại số 978, đường Nguyễn Văn Linh, Phường Tân Phong, Quận 7, Tp Hồ Chí Minh Đến ngày 15/04/2009, trụ sở chính dời về tòa nhà Beautiful Sài Gòn tại số 77, Hoàng Văn Thái, Phường Tân Phú, Quận 7, Tp
Hồ Chí Minh
Đến cuối năm 2014, Agribank Phú Mỹ Hưng đã xây dựng được mạng lưới 4 Phòng giao dịch,
6 phòng nghiệp vụ Đội ngũ cán bộ gồm 86 nhân sự, trong đó có 70 người có trình độ đại học, trình
độ sau đại học là 03 thạc sĩ và 01 tiến sĩ
2.1.2 Cơ cấu tổ chức:
Agribank Phú Mỹ Hưng được tổ chức theo mô hình cơ cấu hoạt động của chi nhánh NH cấp 1trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam
Trang 34Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức Agribank Phú Mỹ Hưng
Giám đốc chi nhánh giữ vai trò tổ chức, điều hành hoạt động chung cho cả NH Các Phó giám đốc được phân quyền phụ trách các phòng nghiệp vụ cụ thể Hiện tại chi nhánh có các phòng nghiệp vụ và hệ thống các phòng giao dịch với chức năng như sau:
+ Phòng kế hoạch kinh doanh (hay còn gọi là phòng tín dụng): Chức năng của phòng là
hoạch định kế hoạch trong từng thời kỳ (trong mỗi năm, mỗi 5 năm), xây dựng và bảo vệ kế hoạch trước Agribank Việt Nam và triển khai thực hiện kế hoạch đã được Agribank Việt Nam thông qua Nhiệm vụ chính của phòng KHKD là xây dựng biểu lãi suất tiền gửi - tiền vay, cấp tín dụng (cho vay, cấp bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá, v.v ) và thực hiện các hoạt động liên quan đến mảng tín dụng (Thẩm định cho vay, thu nợ, xếp loại - chấm điểm khách hàng, phân loại nợ - trích lập dự phòng RR, v.v )
+ Phòng kinh doanh ngoại hối: còn được gọi là phòng thanh toán quốc tế Chức năng của
phòng là tư vấn và thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế, chi trả kiều hối, thông báo tỷ giá, v.v Tùy vào chiến lược kinh doanh trong từng giai đoạn, phòng kinh doanh ngoại hối có lúc được nhậpvào phòng KHKD (gọi là tổ thanh toán quốc tế)
+ Phòng dịch vụ & marketing: Chức năng: triển khai việc thực hiện cung cấp sản phẩm mới
đến khách hàng (theo danh mục sản phẩm của Agribank Việt Nam ở từng giai đoạn); khảo sát thông tin, đánh giá thị trường, tìm kiếm khách hàng tiềm năng; xây dựng chương trình khuyến mãi,quảng bá thương hiệu Agribank đến khách hàng Hiện tại, Phòng dịch vụ & Marketing tại chi nhánh còn thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ, lắp đặt hệ thống máy POS (chấp nhận thanh toán thẻ thanh toán của Agribank) tại các đối tác của NH
+ Phòng kế toán & ngân quỹ: được xem là bộ phận “tay hòm chìa khóa” của chi nhánh,
phòng kế toán ngân quỹ xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán các khoản mục thu - chi Quản lý quỹ tiền lương và các quỹ khác, thưc hiện các khoản nộp ngân sách Nhà nước, v.v Bộphận giao dịch viên trực thuộc phòng kế toán & ngân quỹ còn được xem là đại diện hình ảnh của
Trang 35+ Phòng hành chính nhân sự: Có chức năng tổ chức công tác nhân sự, mạng lưới phát triển
nguồn nhân lực, tăng năng suất lao động; lập kế hoạch tiền lương, kế hoạch đào tạo cán bộ nhân viên; quản lý con dấu, thực hiện công tác hành chính, văn thư, lễ tân, phương tiện giao thông, bảo
vệ, y tế của Agribank Phú Mỹ Hưng Phòng hành chính nhân sự còn thực hiện công tác xây dựng
cơ bản, sửa chữa tài sản cố định, mua sắm công cụ lao động, v.v
+ Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ: Chức năng của phòng KTKSNB là đảm bảo việc chấp
hành pháp luật, các quy định của NHNN Việt Nam và các quy đinh, chính sách của Agribank Việt Nam trong hoạt động NH tại Agribank Phú Mỹ Hưng Theo đó, phòng sẽ tiến hành kiểm tra theo định kỳ để kịp thời phát hiện các vi phạm, sai lệch và đề xuất các biện pháp chấn chỉnh, khắc phục.Phòng còn là đầu mối tiếp xúc và phối hợp
làm việc với các đoàn kiểm tra, kiểm toán nội bộ và các cơ quan chức năng bên ngoài
Agribank
+ Hệ thống các phòng giao dịch trực thuộc: Agribank Phú Mỹ Hưng có 4 phòng giao
dịch trực thuộc với tổng nhân sự là 27 người, thực hiện các nghiệp tín dụng và huy động vốn, cung ứng các dịch vụ thanh toán, làm đầu mối phát hành thẻ thanh toán đến khách hàng
2.1.3 Sơ lược hoạt động kinh doanh của Agribank Phú Mỹ Hưng (20122014):
Môi trường kinh doanh cả nước nói chung và của hoạt động NH nói riêng trong vài năm trở lại đây là không ổn định và rất khó dự báo Điều này có tác động đáng kể đến tình hình hoạt động của Agribank Phú Mỹ Hưng
Bảng 2.1 Tình hình hoạt động của Agribank Phú Mỹ Hưng (2012 - 2014):
Qua số liệu tình hình hoạt động, tình hình kinh doanh có biết động lớn trong năm 2013, khi nguồn vốn vốn huy động có sự sụt giảm đột ngột gần 696 tỷ đồng còn xấp xỉ 1.426 tỷ
đồng (từ mức trên 2.122 tỷ đồng ở năm 2012) Dư nợ từ 1.237 tỷ đồng còn 1.160 tỷ đồng Lợinhuận trước thuế giảm từ mức 35,091 còn 21,462 tỷ đồng Chất lượng tín dụng cũng có bước chuyển biến xấu đi, nợ xấu chiếm tỷ trọng 6.48%/Tổng dư nợ vượt mức cho phép của
Agribank Việt Nam
Trước tình hình đó, Agribank Phú Mỹ Hưng đã có thay đổi chiến lược để thích ứng và phát triển Chiến lược kinh doanh trong thời kỳ này là nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ,trình độ đội ngũ cán bộ làm tiền đề giữ vững nguồn vốn huy động, chú trọng khai thác các nguồn vốn có tính chất ổn định cao (tiền gửi có kỳ hạn trên 6 tháng) Tập trung xử lý nợ xấu,
Đvt: triệu đồng, %
Nguồn vốn huy động 2.122.007 1.425.685 1.497.734 -696.322 -32.81 72.049 5,05
Dư nợ cho vay 1.237.333 1.160.855 1.298.953 -76.478 -6,18 138.098 11,90
Tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ 9,25 9,15 9,35 -0,10 -1,08 0,00 2,19
Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ 5,47 6,48 5,95 1,01 18,46 -0,53 -8,18 Trích dự phòng rủi ro 36.518 35.580 37.553 -938 -2.57 1.973 5,55 Lợi nhuận trước thuế 35.091 21.462 24.016 -13.629 -38,84 2.554 11,90
Nguồn: báo cáo nội bộ của Agribank Phú Mỹ Hưng
Trang 36được nhiều kết quả đáng khích lệ.
Cụ thể tại thời điểm cuối năm 2014, Agribank Phú Mỹ Hưng đạt tổng nguồn vốn huy động là 1.498 tỷ đồng, tăng 72 tỷ đồng (tương ứng 5%) Dư nợ cho vay đạt 1.298,953 tỷ đồng, tăng 138 tỷ đồng (tương ứng 11,9%), tỷ lệ nợ xấu giảm còn 5.95/Tổng dư nợ Lợi nhuận trước thuế đạt 24,016 tỷ đồng (tăng 11,9%) so với năm 2013
Ngoài ra, Agribank Phú Mỹ Hưng đã phát hành được 10.257 thẻ thanh toán, tăng 3.108 thẻ so với 2013, tổng số dư tiền gửi từ phát hành thẻ là 22.142,5 tỷ đồng, bình quân số dư trên thẻ đạt 2.150 ngàn đồng
Song song với việc phát hành thẻ, các dịch vụ tiện ích đi kèm cũng được Agribank Phú
Mỹ Hưng tiếp thị rộng rãi đến khách hàng Tính đến cuối năm 2014 đã có 6.980 khách hàng
sử dụng dịch vụ SMS Banking, tăng 1.976 khách hàng so với năm 2013 Việc phát hành thẻ thanh toán quốc tế cũng được đẩy mạnh, đến cuối năm 2014 chi nhánh đã phát hành được
Bảng 2.2 Tổng hợp tình hình huy động vốn
Trang 37Thời điểm cuối năm 2012, tổng nguồn vốn huy động có giá trị cao nhất trong giai đoạn quan sát (2012 - 2014), đạt 2.122 tỷ đồng Đến năm 2013, tổng nguồn vốn giảm đến 696.322
tỷ đồng (tương đương 32,81%), đạt 1.426 tỷ đồng Sang năm 2014, tổng nguồn vốn huy
động tăng nhẹ 72 tỷ đồng (tương ứng 4,81%) và đạt 1.498 tỷ đồng Biến động nguồn vốn
chủ yếu bắt nguồn từ tính chất cơ cấu nguồn vốn huy động mà đặc biệt từ tiền gửi của
TCKT Cụ thể ở năm 2012, tiền gửi của TCKT chiếm đến 69,79%/tổng nguồn vốn Đặc
điểm của nguồn vốn này là quy mô tương đối lớn, luân chuyển nhanh và phụ thuộc rất nhiều vào các ưu đãi của NH đối với TCKT (về phí, lãi suất, hoa hồng môi giới, v.v ) nên công tác giữ chân khách hàng gặp nhiều khó khăn Mặt khác, vốn huy động từ TCKT thường đượcgửi dưới dạng có kỳ hạn dưới 12 tháng hoặc không kỳ hạn nên công tác lập kế hoạch sử
dụng nguồn vốn không hề dễ dàng Năm 2013, chi nhánh tiến hành đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn huy động và chấp nhận giảm một phần nguồn vốn từ TCKT để cắt giảm chi phí Vìvậy, ở các năm 2013, 2014 tỷ lệ nguồn vốn TCKT/tổng nguồn vốn có sự sụt giảm mạnh, lần lượt là 63,13% và 62,75% Mặt khác, Agribank Phú Mỹ Hưng duy trì được lượng tiền gửi dân cư tương đối ổn định qua các năm, đây là nguồn vốn có tính ổn định khá cao, cuối năm
2014 đạt 37,24%/tổng nguồn vốn huy động
Nhìn chung, tình hình huy động vốn qua các năm của Agribank Phú Mỹ Hưng tuy có
giai đoạn sụt giảm song có quy mô đáp ứng yêu cầu ổn định và tăng trưởng dư nợ của chi
nhánh
2012
NĂM 2013
NĂM 2014
SO SÁNH
TUYỆT
1 Tiền gửi dân cư 545.996 525.641 557.690 -20.355 -3,73 32.049 5,75
2 Tiền gửi TCKT 1.481.011 900.032 939.850 -580.979 -39,23 39.818 4,24
3 Tiền gửi KBNN - - - - 0,00 - 0,00
4 Tiền gửi TCTD 95.000 12 194 -94.98 -99,99 182 93,81
- Kỳ hạn duới 12 tháng 137.1
96 98.762 94.326 -38.43 -28,01 -4.436 -4,70
- Kỳ hạn từ 12 đến 24 tháng 4.488 6.788 -4.488 -100,00 6.788 100,00
Nguồn: báo cáo nội bộ của Agribank Phú Mỹ Hưng
Trang 38Từ đầu năm 2012, Lãnh đạo chi nhánh nhận định tình hình kinh doanh có nhiều khó khăn do các yếu tố: (1) Giá xăng, dầu biến động bất thường, (2) Thị trường bất động sản tưởng chừng hồi phục song lại tiếp tục đóng băng, (3) Sức mua của người tiêu dùng giảm Các yếu tố này có khả năng tác động tiêu cực đến tình hình tài chính của khách hàng đang còn dư nợ cũng như khách hàng tiềm năng của chi nhánh.
Trong khi đó, lực lượng CBTD của chi nhánh còn hạn chế về số lượng, tuổi nghề, kinh nghiệm (độ tuổi trung bình và thời gian công tác tín dụng của CBTD tại chi nhánh lần lượt là
28 tuổi, 4 năm) và đang cần được nâng cao kiến thức, hoàn thiện kỹ năng để có thể đáp ứng các tiêu chí ngày càng phức tạp mà nghiệp vụ tín dụng đặt ra
Trước tình hình như vậy, Ban Lãnh đạo Agribank Phú Mỹ Hưng đã lựa chọn chiến lược hoạt động tín dụng là tăng trưởng dư nợ thận trọng, tập trung nâng cao chất lượng tín dụng Chiến lược này được thể hiện rõ qua tình hình dư nợ và cơ cấu dư nợ trong 3 năm qua
Bảng 2.3 Tổng hợp tình hình dư nợ của Agribank Phú Mỹ Hưng
Quan sát giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014, có thể thấy tình hình dư nợ của AgribankPhú Mỹ Hưng có biến động không đáng kể, chủ yếu dao động trên dưới 1.200 tỷ đồng Điều này khá phù hợp với tình hình kinh tế và chiến lược tín dụng thận trọng của chi nhánh
Mặt khác, doanh số cho vay và thu nợ của chi nhánh cũng tăng trưởng qua các năm và đạt lần lượt là xấp 812.055 triệu đồng và 613.957 triệu đồng ở năm 2014 Điều này thể hiện khả năng quay vòng vốn tín dụng của chi nhánh là khá tốt Ngoài ra tỷ lệ cho vay và thu nợ đối với dư nợ ngắn hạn trong doanh số cho vay - thu nợ luôn cao hơn dư nợ trung, dài hạn, cho thấy chi nhánh tập trung thu hồi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn, xem xét cho vay lại, hạn chế gia hạn nợ
Khi xem xét thành phần dư nợ theo thời hạn cho vay nhận thấy, chi nhánh có xu hướng tăng dần tỷ trọng nợ trung, dài hạn/tổng dư nợ và giảm dần tỷ trọng nợ ngắn hạn/tổng dư nợ (tỷ trọng này ở năm 2014 lần lượt là 47% và 53%) Điều này cho thấy sự thay đổi trong định hướng tín dụng của chi nhánh Đó là giảm dần dư nợ ngắn hạn ở một số khách hàng doanh nghiệp có hạn mức vay vốn tương đối lớn Đồng thời tăng cường cho vay trung dài hạn đối
DOANH SỐ
Ngắn hạn 320.736 550.876 499.013 230.140 71,75 -51.863 -9,41 Trung, dài hạn 87.460 158.962 114.944 71.502 81,75 -44.018 -27,69
Nguồn: báo cáo nội bộ của Agribank Phú Mỹ Hưng
Trang 39kinh doanh hoặc cho vay tiêu dùng đối với cá thể, hộ gia đình.
2.2.3 Cơ cấu dư nợ:
tế còn lại
Mặt khác cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế như vậy còn là do đặc thù địa bàn hoạt động của Agribank Phú Mỹ Hưng Trụ sở chính và các phòng giao dịch của chi nhánh tọa lạc kế cận các khu cao ốc văn phòng (Beautiful Sài Gòn, Tòa nhà Phú Mã Dương, v.v ), trung tâm thương mại (Cresent Mall, Trung tâm hội chợ triển lãm Quốc tế,chợ Tân Mỹ, v.v ), khu dân cư (Sky Garden, Hưng Thái, Hưng Vượng, v.v ) và gần khu chế xuất Tân Thuận Điều này tạo cho chi nhánh lợi thế là nguồn khách hàng là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và kinh tế cá thể dồi dào Từ đó thấy rằng tỷ trọng cho vay đối với các đối tượng này cao là dễ hiểu
Doanh nghiệp nhà nước 79.176 6,40 56.201 4,84 67.413 5,19 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 686.249 55,46 670.242 57,74 658.029 50,66
Trang 40TỔNG _I 1.237.333 I 100,00 I 1.160.855 I 100,00 I 1.298.953 I 100,00
Nguồn: báo cáo nội bộ của Agribank Phú Mỹ Hưng.
Danh mục tín dụng của Agribank Phú Mỹ Hưng khá đa dạng, bao gồm nhiều nghành nghề được chia thành 2 nhóm mục đích vay vốn là: cho vay tiêu dùng và cho vay
sản xuất kinh doanh
Chi nhánh dành khoảng 80% dư nợ để cho vay nhiều ngành nghề kinh doanh Trong
đó lĩnh vực Nông Lâm Ngư nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất Qua từng năm tỷ trọng cho
vay ngành khối ngành nghề liên quan đến bất động sản có xu hướng giảm dần (năm
2014, nhóm ngành tư vấn kinh doanh BĐS đạt 7,28% giảm gần ^ so với năm 2012) Các
nhóm ngành tập trung nhiều vốn vay nhất là: kinh doanh kho bãi giao thông vận tải; sản
xuất và gia công chế biển sản phẩm các loại; và thương mại
Tỷ trọng cho vay tiêu dùng của Agribank Phú Mỹ Hưng duy trì ở mức trên xấp xỉ
20% tổng dư nợ qua các năm và tập trung phần lớn ở khoản mục cho vay phục vụ nhu
cầu nhà ở Điều này cho thấy định hướng của chi nhánh vẫn là phục vụ hoạt động sản
xuất kinh doanh
2.2.3.3 Theo biện pháp bảo đảm tiền vay:
Biện pháp đảm bảo tiên vay là một trong những điều kiện để ngân hàng xét duyệt
một khoản vay, nó giúp ngân hàng hạn chế một phần rủi ro khi khách hàng làm ăn thua
lỗ, mất khả năng thanh toán nợ
Nông Lâm Ngư nghiệp 12.261 0,99 10.978 0,95 14.290 1,10Thương mại - Dịch vụ 184.385 14,90 238.263 20,52 241.078 18,56Kho bãi, giao thộng vận tải 289.487 23,4 265.943 22,91 287.349 22,12
Tư vấn, kinh doanh BĐS 165.209 13,35 98.387 8,48 94.561 7,28Xây dựng 89.567 7,24 94.378 8,13 94.089 7,24Sản xuất và gia công chế biến sản phẩm 219.045 17,70 209.346 18,03 238.091 18,33Các ngành nghề khác 31.397 2,54 28.337 2,44 57.364 4,42
Phục vụ nhu cầu bất động sản 189.370 15,30 158.928 13,69 183.028 14,09Các nhu cầu khác 56.781 4,59 56.295 4,85 89.103 6,86
Bảng 2.6 Cơ cấu dư nợ phân theo biện pháp bảo đảm tiền vay
Đvt: triệu đồng, %