1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đấu tranh phòng chống tội phạm chiếm đoạt tài sản tại tp.hcm

85 669 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 227,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, từng bước gia nhập ASEAN, Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cả nước nói chung và Tp. Hồ Chí Minh nói riêng có những bước phát triển vượt bậc trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn của cả nước. Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực của nền kinh tế thị trường, còn có nhiều diễn biến phức tạp, làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội. Tội phạm tại Tp. Hồ Chí Minh những năm gần đây diễn biến khá phức tạp, tính chất, mức độ và thủ đoạn phạm tội của đối tượng gây án ngày càng tinh vi, xảo quyệt đã gây khó khăn cho công tác điều tra và xử lý tội phạm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: TỘI PHẠM HỌC VÀ ĐIỀU TRA TỘI PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Trang 2

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan Luận văn “Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện.

Các suy luận, phân tích, chứng minh, số liệu, kết quả trong Luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO BỘ 5

LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự năm 1999 5

1.1.1 Khái niệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 5

1.1.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các vi phạm dân sự, kinh tế 10

1.2.3Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hồ Chí 18 Minh

1.2.4Tính chất của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hồ 22 Chí Minh

1.2.5Đặc điểm tội phạm học của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố 26

Hồ Chí Minh

1.2.6 Đặc điểm tội phạm học về biểu hiện khách quan tội lừa đảo chiếm đoạt 26 tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 2: NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH 41

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

2.1 Nguyên nhân và điều kiện chung của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt 41

tài sản

Trang 4

2.1.2 Nguyên nhân và điều kiện về cơ chế quản ỉý 45

2.1.3 Nguyên nhân và điều kiện về tâm lý xã hội 47

2.1.4 Nguyên nhân và điều kiện về sự hạn chế của Cơ quan bảo vệ pháp luật 48trong đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

2.2 Nguyên nhân và điều kiện cụ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tài 51 sản tại thành phố Hồ Chí Minh

2.2.2 Nguyên nhân và điều kiện từ phía người bị hại 54

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH 56

PHÒNG, CHỐNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TẠI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1 Thực tiễn phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố 56

Hồ Chí Minh trong thời gian qua

3.2 Dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hồ Chí 62

Minh trong thời gian tới

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo 68

chiếm đoạt tài sản

3.3.3 Giải pháp pháp luật và nghiệp vụ về đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo 71 chiếm đoạt tài sản

Trang 5

-ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á Aseanpol : Hiệp hội Cảnh sát các nước Đông Nam BLHS : Bộ Luật Hình sự

BLTTHS : Bộ luật Tố tụng Hình sựBĐPV : Bộ đội phục viên

CAND : Công an nhân dânCĐTS : Chiếm đoạt tài sảnCNV : Công nhân viênHĐND : Hội đồng Nhân dân

GG : Giam giữGDP : Thu nhập bình quân đầu ngườiLĐCĐTS : Lừa đảo chiếm đoạt tài sảnL/C : Thư tín dụng

NCĐTS : Nhằm chiếm đoạt tài sảnInterpol : Tổ chức Cảnh sát hình sự thế giớiODA : Vốn viện trợ ưu đãi

OTC : Cổ phiếu chưa lên sàn

TS : Tài sản

TB : Trung bình

TC : Tổng cộngUBND : Uỷ ban Nhân dân

VA : Vụ ánVKSND : Viện Kiểm sát Nhân dânWTO : Tổ chức Thương mại Thế giớiXHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tàỉ

Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, từng bước gia nhập ASEAN,

Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cả nước nói chung và Tp Hồ Chí Minh nóiriêng có những bước phát triển vượt bậc trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế, vănhóa lớn của cả nước Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực của nền kinh tế thịtrường, còn có nhiều diễn biến phức tạp, làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội Tộiphạm tại Tp Hồ Chí Minh những năm gần đây diễn biến khá phức tạp, tính chất,mức độ và thủ đoạn phạm tội của đối tượng gây án ngày càng tinh vi, xảo quyệt đãgây khó khăn cho công tác điều tra và xử lý tội phạm Đặc biệt đối với loại tội phạmxâm phạm quyền sở hữu đã xuất hiện nhiều thủ đoạn lừa đảo mới để chiếm đoạt tàisản có giá trị lớn, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế Tội phạm đã lợi dụng sơ hởcủa pháp luật, sự non yếu trong quản lý nhà nước, yếu kém của cán bộ, khai thácmặt trái của kinh tế thị trường, lợi dụng sơ hở trong đầu tư xây dựng, quản lý kinh

tế, đất đai để lừa đảo, thông qua hoạt động môi giới dịch vụ, đại lí mua bán hàngxuất nhập khẩu, mạng Internet, các hợp đồng tín dụng, vay vốn để chiếm đoạt tàisản với số lượng lớn, làm tổn thất nguồn tài chính nhà nước, ảnh hưởng đến trật tựquản lý kinh tế tại Tp Hồ Chí Minh

Những năm qua, các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp tích cực đấutranh phòng, chống tội phạm này, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và đưa ra xét xửnghiêm Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảochiếm đoạt tài sản còn bộc lộ nhiều thiếu sót, như: thiếu cơ chế kết phối hợp đồng

bộ giữa các cấp, các ngành trong và ngoài nước; cán bộ chưa nhận thức đầy đủ,thiếu thông tin, hạn chế về trình độ chuyên môn, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế hiệnnay Vì vậy, việc nghiên cứu, làm rõ thực trạng hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tàisản tại Tp Hồ Chí Minh, qua đó đề ra một số giải pháp phòng ngừa đấu tranh loạitội phạm này trong thời gian tới là một yêu cầu có tính cấp bách, có ý nghĩa cả vềmặt lý luận và thực tiễn

Với những lý do trên, tác giả mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài “Đấu tranh

phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tp Hồ Chí Minh”.

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu khoa học nhưluận văn tiến sĩ của tác giả Mai Thế Bảy, “Đấu tranh phòng, chống các tội xâmphạm trật tự quản lý kinh tế”; “Thực trạng tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạttài sản có sử dụng công nghệ cao và một số giải pháp đấu tranh phòng, chống tộiphạm này ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập WTO” của tác giả Lê Đăng Doanh,luận văn cao học của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung với đề tài “Đấu tranh phòng,chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăngtrên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” và một số bài, hoặc một số cuộc hội thảo được đăngtrên các tạp chí chuyên ngành: Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa án Có thể thấy ràng,cho đến nay chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về tình hình tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản tại Tp Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trungtâm kinh tế lớn ở Việt Nam Hiện tượng lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một hiệntượng tiêu cực trên cả nước, đặc biệt ở các khu vực kinh tế lớn trong đó có Tp HồChí Minh Tình hình đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an, quyền lợicủa những người bị hại và ảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng nguồn lực tài

chính vào phát triển kinh tế của địa phương Đề tài “Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh” là một nghiên cứu chuyên

sâu về công tác đấu tranh phòng chống tội lừa đảo phù hợp với tình hình, điều kiệnkinh tế, xã hội của Tp Hồ Chí Minh hiện nay

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng hoạt động đấu tranh phòng, chống tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tp Hồ Chí Minh, làm sáng tỏ những nguyên nhân vàđiều kiện của tình hình lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm đề ra các giải pháp đấutranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới tại Tp Hồ ChíMinh

+ Nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo BLHS 1999

+ Nghiên cứu tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tp Hồ Chí Minh từnăm 2003 đến 2007

+ Phân tích nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản

Trang 8

+ Dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới tại Tp HồChí Minh.

+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội lừađảo chiếm đoạt tài sản tại Tp Hồ Chí Minh

- Đối tượng nghiên cứu

+ Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tp Hồ Chí Minh

+ Hoạt động đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tp HồChí Minh

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về địa bàn: Tp Hồ Chí Minh

+ Về thời gian: Từ năm 2003 đến năm 2007

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được tổ chức nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủnghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chính sách của Đảng và Nhànước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản nói riêng trong giai đoạn hiện nay; đồng thời sử dụng những phương pháp cụthể như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, tổng kết thựctiễn, phương pháp so sánh

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

- Ý nghĩa khoa học

+ Kết quả nghiên cứu đề tài hy vọng sẽ góp phần bổ sung lý luận về đấu tranhphòng, chống tội phạm trên cơ sở kết quả nghiên cứu về một tội phạm cụ thể trênđịa bàn cụ thể

+ Đề tài là một công trình góp phần bổ sung cho các bộ môn Tội phạm học,

Xã hội học, Luật hình sự, Luật Tố tụng hình sự nhất là hiện nay Việt Nam làthành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

- Giá trị ứng dụng của đề tài

Là tài liệu phục vụ cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chức năng, tổchức xã hội, học sinh sinh viên làm tài liệu tham khảo vận dụng trong công táctuyên truyền, vận động giáo dục mọi thành phần, tầng lớp nhân dân trong xã hội về

Trang 9

hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản tại Tp Hồ Chí Minh nói riêng, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn tronglĩnh vực quản lý kinh tế.

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm 03 chương:

Chương 1: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật Hình sự năm 1999 vàtình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội lừa đảochiếm đoạt tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1 Tội lừa đảo chiếm đoat tài sản theo Bộ luật Hình sự 1999

.2.5.2 Khái niệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy địnhtrong chương các tội xâm phạm sở hữu Ở BLHS năm 1985, lừa đảo chiếm đoạt tàisản được quy định hai tội: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 134 BLHSnăm 1985) và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 157 BLHS năm 1985),tuy nhiên đến BLHS năm 1999 chỉ quy định một tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản(Điều 139) áp dụng đối với tất cả các hình thức sở hữu Điều này thể hiện Đảng vàNhà nước ta không còn phân biệt vị trí, vai trò của từng loại hình thức sở hữu màcoi việc kiên quyết đấu tranh với các tội xâm phạm sở hữu với các hình thức khácnhau là nhiệm vụ của toàn xã hội Nhóm tội xâm phạm sở hữu được chia thành hainhóm: Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và các tội xâm phạm sởhữu không có tính chất chiếm đoạt Với cách phân chia này, tội LĐCĐTS thuộcnhóm “Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt”

Khái niệm tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn được thể hiện trong Từđiển Bách khoa Công an nhân dân, trong Từ điển nghiệp vụ Công an nhân dân,trong Từ điển tiếng Việt thông dụng

Từ điển tiếng Việt thông dụng 1996 định nghĩa về khái niệm “lừa” và các hìnhthức của “lừa’5 như sau:

“Lừa là dùng thủ đoạn mưu mẹo, hoặc thủ đoạn dối trá làm cho người khác bịlầm mà tưởng thật Trong đó:

Lừa bịp: Lừa bằng thủ đoạn dối trá;

Lừa dối: Lừa bằng cách nói dối;

Lừa đảo: Lừa bằng thủ đoạn xảo trá để chiếm đoạt của cải, tài sản;

Lừa gạt: Lừa để kiếm chác mưu lợi;

Trang 11

Lừa lọc: Lừa bằng mánh khoé gian xảo nói chung”1

Từ điển nghiệp vụ Công an nhân dân xuất bản năm 1977 định nghĩa lừa đảo là

“Lừa người khác, lạm dụng tín nhiệm của họ đối với mình để lấy tài sản, đoạt quyềntài sản hoặc mọi lợi ích cá nhân Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa vàchiếm đoạt tài sản công dân xử theo Điều 10 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm

sở hữu xã hội chủ nghĩa và Điều 9 Pháp lệnh trừng trị các tội xấm phạm tài sảnriêng công dân của ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộnghoà”.2

Trong Thông tư liên bộ ngày 16/3/1973 của Tòa án Nhân dân tối cao, ViệnKiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an về hướng dẫn thi hành hai Pháp lệnhtrừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội

xâm phạm tài sản riêng công dân ngày 12/10/1970 đã xác định rõ: “Trước hết, lừa

đảo là hành vi của kẻ chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý bằng cách dùng mọi thủ đoạn mánh khóe, thủ đoạn gian dối (bằng lời nói, giả mạo giấy tờ, giả danh cán bộ, giả tạo tổ chức, thông qua hợp đồng ) làm cho người quản lý tài sản tin nhầm, tưởng giả là thật mà trao tài sản đó để chiếm đoạt tính chất nghiêm trọng của các thủ đoạn này là khả năng dễ lừa được nhiều người, dễ hư hỏng cán

bộ, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đến phong trào xây dựng hợp tác xã thủ công nghiệp và về nhiều mặt khác nữa ”.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS 1999:

“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm ”

Từ những vấn đề nhận thức trên đây, theo chúng tôi khái niệm tội phạm lừađảo chiếm đoạt tài sản nói chung được hiểu là: “Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tàisản là loại tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, do người có nănglực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, bằng các thủ đoạn gian dối làm

1 Từ điển Tiếng Việt thông dụng, 1996

2 Từ điển Nghiệp vụ Công an nhân dân, 1997, trang 64

Trang 12

cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản tin nhầm, tưởng giả là thật mà trao tàisản để chiếm đoạt”.

.2.5.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Sở hữu nhà nước;

- Sở hữu tập thể;

- Sở hữu tư nhân;

- Sở hữu chung;

- Sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

- Sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức

xã hội - nghề nghiệp

Các quyền sở hữu mà tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm hại bao gồm quyềnchiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với tài sản

Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Đối tượng tác động của tội LĐCĐTS là các loại tài sản được thể hiện dướihình thức vật chất hoặc các giấy tờ có giá vô danh Các loại giấy tờ có giá có danhkhông phải là đối tượng tác động của tội phạm này

* Mặt khách quan của tội phạm

Điều 139 BLHS qui định: người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài

sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

3 Xem Bộ luật Dân sự 1995 từ Điều 97 đến Điều 112.

Trang 13

Là tội phạm có cấu thành vật chất nên biểu hiện khách quan của tội lừa đảochiếm đoạt tài sản gồm:

- Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối

- Hậu quả: Thiệt hại về tài sản hoặc hậu quả nghiêm trọng khác

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi chiếm đoạt tài sản với hậu quả

Phân tích những biểu hiện khách quan của tội LĐCĐTS:

Thứ nhất, giống như đa phần các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm

đoạt, hành vi chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của tội LĐCDTS Đó là hành

vi cố ý dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản củamình hoặc cho người khác mà mình quan tâm4

Hành vi chiếm đoạt tài sản có các đặc điểm sau:

- Chiếm đoạt tài sản là hành vi làm cho chủ tài sản mất khả năng thực tếthực hiện quyền sở hữu;

- Tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt phải còn nằm trong

sự quản lý của chủ sở hữu;

- Hành vi chiếm đoạt được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp

Hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối.Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừachủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản Tuy nhiên, thủ đoạn chiếm đoạt tài sản củatội LĐCĐTS khác với các tội phạm có tính chất chiếm đoạt khác ở chỗ, người phạmtội đã dùng thủ đoạn “gian dối” để chiếm đoạt tài sản của người khác Gian dốichiếm đoạt tài sản là việc người phạm tội đưa ra những thông tin không đúng sựthật làm cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhầm tưởng, tự nguyện trao tàisản cho người phạm tội Như vậy, thủ đoạn gian dối trong tội LĐCĐTS được hợpthành bởi hai yếu tố: Một là, hành vi gian dối của người phạm tội, bằng lời nói,hành động hoặc những biểu hiện ngồn ngữ khác nhằm cung cấp những thông tin sailệch về sự việc, như nói không thành có, ít thành nhiều, xấu thành tốt, giả thànhthật Hai là, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tin vào các thông tinkhông đúng sự thật đã tự nguyện trao tài sản cho người phạm tội

4 Lê Cảm (2003), Giáo trình Luật Hình sự Phần Các tội phạm, NXB Đại học QG Hà Nội, Hà Nội, tr 230.

Trang 14

Thứ hai, hậu quả của tội chiếm đoạt tài sản là gây thiệt hại về tài sản hoặc thiệt

hại nghiêm trọng khác

- Thiệt hại về tài sản ở đây là tài sản bị chiếm đoạt có giá trị tối thiểu là500.000 đồng đối với trường hợp thông thường, dưới 500.000 đồng đối với cáctrường hợp gây hậu quả nghiêm trọng khác; đã bị xử phạt hành chính về hành vichiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản

- Thiệt hại nghiêm trọng khác được hiểu là gây hậu quả về tính mạng và sứckhỏe gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhànước; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội 5

Bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” nếu trước đó đã bị

xử lý bằng một trong các hình thức sau đây về hành vi chiếm đoạt, nhưng chưa hếtthời hạn để được coi là chưa bị xử lý mà lại thực hiện một trong các hành vi côngnhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tínnhiệm chiếm đoạt sản: Đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định củaPháp lệnh xử lý vi phạm hành chính; đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định củaĐiều lệnh, Điều lệ của lực lượng vũ trang nhân dân; Đã bị xử lý kỷ luật theo đúngquy định của cơ quan có thẩm quyền Để định tội hoặc định khung hình phạt đượcchính xác, một vấn đề nữa cũng cần được lưu ý là: Hết thời hạn để được coi là chưa

bị xử lý là hết thời hạn do pháp luật, Điều lệnh hoặc Điều lệ quy định (Theo quyđịnh tại Điều 10 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, trong trường hợp “cá nhân, tổchức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu quá một năm, kể từ ngày thi hành xongquyết định xử phạt hoặc từ ngày hết hiệu lực thi hành quyết định xử phạt mà khôngtái phạm, thì được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính") Đối với cáctrường hợp bị xử lý mà chưa có quy định về thời hạn để hết thời hạn đó, người bị xử

lý được coi là chưa bị xử lý, thì thời hạn đó là một năm, kể từ ngày bị xử lý Bị coi

là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt” nếu trước đó đã bị xử phạthành chính về một trong các hành vi sau đây: Hành vi cướp tài sản; hành vi bắt cócnhằm chiếm đoạt tài sản; hành vi cưỡng đoạt tài sản; hành vi cướp giật tài sản; hành

vi công nhiên chiếm đoạt tài sản; hành vi trộm cấp tài sản; hành vi lừa đảo chiếmđoạt tài sản; hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; hành vi tham ô tài sản;hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

5 Thông tư liên tịch số 02/2001 của TANDTC – VKSNDTC – BCA – BTP ngày 25/12/2001 Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999.

Trang 15

Bị coi là “đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản” nếu trước đó đã bị kết án về

niột ừong các tội sau đây: Tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS); Tội bắt cóc nhằmchiếm đoạt tài sản (Điều 134 BLHS); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135 BLHS); Tộicướp giật tài sản (Điều 136BLHS); Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137BLHS); Tội trộm cấp tài sản (Điều 138 BLHS); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản(Điều 139 BLHS); Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS);Tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS); Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạttài sản (Điều 280 BLHS)

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành vật chất, theo quy định của Điều

139 BLHS thì tội phạm hoàn thành vào thời điểm người phạm tội chiếm đoạt đượctài sản, tức là vào thời điểm chủ sở hữu hay người quản lý tài sản đã giao tài sản vàngười phạm tội đã nhận được tài sản và có khả năng chiếm giữ, sử dụng hoặc địnhđoạt tài sản đó

* Mặt chủ quan của tội phạm

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, ngườiphạm tội ý thức được hành vi của mình là bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sảncủa người khác

* Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm cũng tương tự như đối với tội xâm phạm sở hữu khác,tuy nhiên, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc trường hợp quy định tạikhoản 1 và khoản 2 Điều 139 BLHS, vì khoản 1 Điều 139 BLHS là tội phạm ítnghiêm trọng và khoản 2 Điều 139 là tội phạm nghiêm trọng, mà theo quy định tạikhoản 2 Điều 12 BLHS thì người đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phảichịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và tội phạm đặc biệtnghiêm trọng

.2.5.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các vi phạm dân sự, kinh tế

Cần có sự phân biệt rõ giữa tội LĐCĐTS và các vi phạm dân sự, kinh tế, tránhtình trạng “hình sự hóa các quan hệ kinh tế dân sự”, dẫn đến trong một số hoạt độngkinh tế, dân sự người thực hiện hành vi này bị truy tố về tội LĐCĐTS và ngược lại

Trang 16

Khi quyết định khởi tổ một vụ án, khởi tố một bị can đã có hành vi lừa đảo chiếmđoạt tài sản thì hành vi “chiếm đoạt” cần được làm rõ và cần có sự phân biệt với cáchành vi khác có dấu hiệu tương tự Chẳng hạn như hành vi “không trả nợ ’ hoặc

“không trả được nợ” là một ví dụ Bởi vì, không phải cứ hành vi không trả nợ hoặckhông trả được nợ nào cũng là “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Để việc áp dụng thốngnhất và việc định tội tại điều luật này được chính xác, tránh “hình sự hoá” làm oanngười vô tội, cần thiết phải làm rõ: Thế nào là hành vi chiếm đoạt (biểu hiện); cáchchứng minh ý thức chiếm đoạt; các trường hợp nhầm lẫn với vi phạm nghĩa vụthanh toán Nếu việc đánh giá của các cơ quan tiến hành tố tụng về tính chất pháp lýcủa hành vi vi phạm pháp luật trong các giao dịch kinh tế thiếu chính xác, nhận thứcsai bản chất của hành vi “chiếm đoạt”, thì có thể truy tố người đó về tội LĐCĐTS,làm oan người vô tội Trong thực tế có ý kiến cho rằng, nếu hết hạn nêu trong hợpđồng kinh tế mà bên có nghĩa vụ không thanh toán được nợ thì bị xem là “lừa đảochiếm đoạt tài sản” Quan điểm này hết sức sai lầm và không có căn cứ pháp lý, bởi

vì nếu theo cách hiểu này thì tất cả các bị đơn trong các quan hệ dân sự, kinh tế đều

có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự Đối với tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”,việc chứng minh “ý thức chiếm đoạt” của người phạm tội rất quan trọng, vì đây làdấu hiệu chủ quan bắt buộc của tội danh này Dấu hiệu chủ quan này phải đượcđánh giá thông qua những biểu hiện của hành vi khách quan Khi không có cái nhìntoàn diện về những biểu hiện của hành vi khách quan, các cơ quan tiến hành tố tụngrất dễ đánh giá sai bản chất pháp lý của hành vi vi phạm 6

Chỉ khi xem xét một cách toàn diện các tình tiết của vụ án và giải quyết đúngđắn những vấn đề trên thì chúng ta mới có đủ cơ sở kết luận người vi phạm có ýthức và mục đích “chiếm đoạt” và hành vi của họ mới có dấu hiệu phạm tội lừa đảochiếm đoạt tài sản hay không Nếu chúng ta chứng minh được họ đã cố ý dùng thủđoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì ta mới có thể đề nghị truy tố tội lừa đảochiếm đoạt tài sản Trong mọi trường hợp, dù người có hành vi vi phạm không trảđược nợ nhưng đó là do khách quan mà chính họ không thể khắc phục được thìkhông thể kết luận là họ có ý định “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Trong trường hợpkhông chứng minh được sự hiện diện của “chiếm đoạt” trong thái độ chủ quan củangười vi phạm thì việc khởi tố, điều tra, truy tố người này về tội LĐCĐTS có thểđược xem là hành vi “hình sự hoá” quan hệ kinh tế, dân sự

6 Nguyễn Am Hiểu, “Hình sự hóa các tranh chấp dân sự - kinh tế hiện nay Vấn đề của quá trình chuyển đổi”, Tạp chí Nhà nước pháp luật số 8/2004.

Trang 17

Trong tội LĐCĐTS dấu hiệu đặc trưng để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản với các tội chiếm đoạt tài sản khác là người phạm tội này có thủ đoạn gian dốilàm cho người khác tin là thật mà tự giác trao tài sản Nếu hành vi lừa đảo gắn vớiviệc mua bán tài sản mà đối tượng mua bán là hàng giả thì hành vi đó cấu thành tộibuôn bán hàng giả.

Hành vi gian dối trong tội lừa đảo bao giờ cùng xảy ra trước thời điểm nhậntài sản đây là dấu hiệu để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụngtín nhiệm chiếm đoạt tài sản Trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vẫn

có thể có sự gian dối của người phạm tội, nhưng sự gian dối đó chỉ là cách thức biệnminh việc không giao trả tài sản

Điều 139 BLHS quy định hình phạt nghiêm khắc áp dụng đối với người phạmtội Tuỳ theo mức độ phạm tội và hoàn cảnh cụ thể người phạm tội có thể bị truycứu TNHS theo các khung với các hình phạt tương ứng sau:

Khung 1: Quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc bị phạt

tù từ 6 tháng đến 3 năm

Khung 2: Quy định hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm áp dụng đối với người

phạm tội khi có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức

vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguyhiểm; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệuđồng; Gây hậu quả nghiêm trọng

Khung 3: Quy định hình phạt tù từ 7 đến 15 năm áp dụng cho trường hợp

phạm tội khi có một trong các tình tiết: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trămtriệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng

Khung 4: Quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử

hình áp dụng cho trường hợp phạm tội khi có một trong các tình tiết sau:

- Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

- Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Trang 18

Thông qua chế tài đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tạikhoản 1, 2, 3, 4 Điều 139 BLHS cho thấy Nhà nước đã thể hiện thái độ phân hoá rõnét theo sự phân loại các tội phạm ít nghiêm trọng (khung 1); tội nghiêm trọng(khung 2); tội rất nghiêm trọng (khung 3); tội đặc biệt nghiêm trọng (khung 4) Đặcbiệt, trong xu thế hạn chế quy định hình phạt tử hình thì khung hình phạt này vẫntiếp tục được quy định trong BLHS 1999, thể hiện sự đánh giá của Nhà nước về tínhchất nghiêm trọng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Hiện nay, trong Dự thảo sửađổi một số quy định của BLHS năm 1999 đang đặt ra vấn đề phi hình sự hóa đối vớitội LĐCĐTS theo hướng bỏ quy định về hình phạt tử hình đối với tội phạm này.

1.2 Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

Tình hình tội phạm được đánh giá trên các thông số phản ánh biểu hiện vềlượng và về chất của tình hình tội phạm Những thông số về thực trạng, diễn biếncủa tình hình tội phạm phản ánh biểu hiện về lượng, còn các thông số về cơ cấu,tính chất phản ánh biểu hiện về chất của tình hình tội phạm

.2.1 Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố

Hồ Chí Minh.

“Thực trạng của tình hình tội phạm là số lượng các tội phạm đã được thực hiện và những người thực hiện các tội phạm đó ở một địa bàn nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định” 7

Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là những thông số chỉ

về số lượng vụ án và số lượng người phạm tội đã thực hiện tội LĐCĐTS trong mộtthời gian nhất định trên một địa bàn nhất định Tổng số các tội phạm đã thực hiệnbao gồm: số lượng các tội phạm đã bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử về hình sự

và số lượng các vụ án và người phạm tội đã xảy ra mà chưa bị phát hiện, chưa bị xử

lý về hình sự, chưa có thống kê hình sự gọi là tình hình tội phạm ẩn

* Thực trạng tội phạm rõ

Qua các thống kê của Viện kiểm sát Tp Hồ Chí Minh và Tòa án Tp Hồ ChíMinh cho thấy thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tp Hồ ChíMinh trong 5 năm gần đây (từ 2003 -2007) diễn biến như sau:

7 Võ Khánh Vinh (2002), Giáo trình tội phạm học, Đại học Huế, tr 59.

Trang 19

Bảng số 01: Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

trong tình hình tội phạm chung

Tỷ lệ sô vụ án và sô người bị xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên tổng số các vụ án

(Báo cáo tổng kết ngành Kiểm sát TPHCM2003-2007)

Qua thống kê trên thấy, tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn biến kháphức tạp, có chiều hướng tăng, giảm thất thường Trong thời gian 5 năm từ năm

2003 đến năm 2007, Toà án Nhân dân Tp Hồ Chí Minh đã xử 30.480 vụ án hình

sự, trong đó có 2.102 vụ phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chiếm tỷ lệ 6.89%,với 49.288 bị cáo, chiếm 5.46% Như vậy, mỗi năm có khoảng trung bình trên dưới

400 vụ án và trên dưới 500 người bị xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tp Hồ Chí Minhcòn được thể hiện ở hệ số tình hình tội phạm là số vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên100.000 dân Qua các số liệu thể hiện bảng số 2 cho thấy hệ số tình hình tội phạmtrung bình là 6.73 vụ/100.000 dân, nghĩa là trong 100.000 dân sống tại Tp Hồ ChíMinh có gần 7 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Bảng số 2: Hệ số tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tp Hồ Chí Minh

LĐCĐTS

Dân số thành phố

Hệ số tình hình tộiLĐCĐTS/100.000 dân

Trang 20

do pháp luật còn kẻ hở, do thái độ không đúng của nhân chứng hoặc người phạm tộithực hiện tội phạm bằng các thủ đoạn gây án mới, tinh vi xảo quyệt Chính vì thế,

để đánh giá một cách khách quan, toàn diện tình hình tội LĐCĐTS tại Tp Hồ ChíMinh, ngoài thống kê về số vụ, đối tượng phạm tội ở trên cần xem xét số vụ đãkhám phá, số đối tượng bị phát hiện nhưng không cần thiết áp dụng thủ tục xét xửcủa tòa án và số tội phạm đã phát hiện, song chưa đủ yếu tố cấu thành để đưa ra xét

xử Số liệu này được ghi nhận trong thống kê của Viện Kiểm sát và của cơ quanCông an Thống kê hình sự của Công an và Viện Kiểm sát phản ánh đầy đủ hơn vềthực trạng tội phạm so với thống kê hình sự của Tòa án Vì nó tính đến các tội phạm

đã được ghi sổ, trong đó có cả những vụ án chưa phát hiện người phạm tội; chưachứng minh được bị can phạm tội và cả những vụ đã chứng minh được người phạmtội nhưng không cần thiết phải đưa ra xét xử

Theo số liệu thống kê của Viện Kiểm sát Tp Hồ Chí Minh thì trong 5 năm từ

2003 đến 2007 đã thụ lý 2.460 vụ với 2.924 bị can về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản,quyết định truy tố 2.110 vụ với 2.699 bị can, đình chỉ điều tra 29 vụ với 31 bị can,tam đình chỉ 321 vụ với 194 bị can Bảng thống kê số 3 phản ánh một phần thựctrạng của tội phạm ẩn - về số vụ và số người đã bị truy tố về tội LĐCĐTS đã bị tạmđình chỉ và đình chỉ

Bảng số 03: Tình hình truy tố và xét xử các vụ án về lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tp HCM từ năm 2003-2007

Trang 21

Tổng số thụ lý Đã giải quyết

NĂM

Quyết định truy tố

Đình chỉ điều tra Tạm đình chỉ điều tra

(Nguồn: Thống kê tội phạm hình sự - Viện Kiểm sát Nhân dân TPHCM - 24 quận huyện)

Số liệu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian 2003-2007 trong Bảngthống kê số 3 đã phản ánh: Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đãđình chỉ 29 vụ với 31 bị can, tạm đình chỉ 321/2460 vụ án lừa đảo chiếm đoạt tàisản với 194 bị can, chiếm tỷ lệ 13,048% Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này làmặc dù đã khởi tố vụ án và bị can, song chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để đưa

ra xét xử hoặc không cần thiết phải đưa ra xét xử Đây là con số khá lớn, chứng tỏhiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn

Tp Hồ Chí Minh thời gian qua cũng chưa thực sự hiệu quả

Thực trạng tội phạm ẩn còn thể hiện thông qua số vụ phạm tội LĐCĐTSkhông bị phát hiện do người bị hại không tố giác hoặc đã được giải quyết bằng thủtục dân sự Những năm gần đây, các cơ quan tiến hành tố tụng hết sức thận trọngthụ lý các vụ án về tranh chấp vay nợ theo trình tự tố tụng hình sự Sự thận trọng đó

có ý nghĩa tích cực nhằm hạn chế tình trạng hình sự hóa các tranh chấp dân sự vàkinh tế Tuy nhiên, chính từ thận trọng này đã đưa đến một thực tế không ít vụ tranhchấp vay nợ có dấu hiệu lừa đảo nhưng lại được giải quyết bằng thủ tục dân sự

1.2.2 Động thái của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Động thái của tình hình tội phạm hay còn gọi là diễn biến của tình hình tội phạm đó là những phản ánh về sự vận động và sự thay đổi của thực trạng tình hình tội phạm trong một khoảng thời gian nhất định 8

Khi nghiên cứu về động thái của tình hình tội LĐCĐTS tại thành phố Hồ ChíMinh, chúng tồi đã tiến hành nghiên cứu các số liệu thống kê hình sự của Viện

8 Võ Khánh Vinh (2002), Giáo trình tội phạm học, Đại học Huế, tr 61.

Trang 22

Kiểm sát Tp Hồ Chí Minh và 24 Quận, Huyện và có được biểu đồ về sự tăng, giảm

số lượng vụ án và số lượng người phạm tội nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tàisản nói riêng, như sau:

Theo thống kê số 1 và biểu đồ biểu thị động thái của tình hình tội LĐCĐTS tạithành phố HCM trong 5 năm từ 2003 đến 2007 cho thấy diễn biến của loại tội nàytăng giảm phức tạp, chưa có xu hướng giảm xuống Điều này cho thấy cần nỗ lựchơn nữa, cần có giải pháp có hiệu quả hơn nữa trong đấu tranh phòng chống tội lừađảo chiếm đoạt tài sản

1.2.3 Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh.

Số liệu về vụ án và đối tượng gây án lừa đảo chiếm đoạt tài sản mới chỉ phảnánh các đặc điểm về lượng, về quy mô, kích cỡ hay nói cách khác là những dấu hiệubên ngoài mà chưa cho chúng ta biết được những đặc điểm đặc trưng về chất ở bên

Trang 23

trong Vì vậy, để nhận biết các đặc điểm về chất, tính chất của tình hình tội phạmcần phải xác định các con số tương đối, các thông số phản ánh mối quan hệ giữa cácnhóm loại tội phạm, tức là những thông số về cơ cấu của tình hình tội phạm.

Cơ cấu của tình hình tội phạm là tỷ trọng và mối tương quan của các loại tộiphạm khác nhau trong số lượng chung của chúng trong một khoảng thời gian nhấtđịnh và ở một lãnh thổ nhất định 9 Cơ cấu tình hình của tội LĐCĐTS thể hiện quacác thông số phản ánh tỷ trọng giữa số vụ và người phạm tội LĐCĐTS với tổng số

vụ và người phạm tội nói chung; tỷ trọng giữa số vụ về tội LĐCĐTS với số vụ ánhình sự trong nhóm tội xâm phạm sở hữu; tỷ trọng về các mức độ xử lý đối với tộilừa đảo chiếm đoạt tài sản trong năm năm qua tại Tp Hồ Chí Minh

* Tỷ trọng giữa số vụ và người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tổng

sô vụ và người phạm tội nói chung

Tỷ trọng số vụ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản so với số vụ phạm tội hình

sự chung thể hiện ở biểu đồ sau đây:

6%

Tổng số vụ tội phạm hình sự Số vụ phạm tội LĐCĐTS

9 Võ Khánh Vinh (2002), Giáo trình tội phạm học, Đại học Huế, tr 61.

94%

Trang 24

Từ biểu đồ trên cho thấy: Tỷ lệ phạm tội LĐCĐTS so với tổng số vụ án hình

sự xảy ra trong năm năm (từ năm 2003-2007) tại Tp Hồ Chí Minh là 2110/30480,chiếm tỷ lệ 6%

Tỷ lệ người phạm tội LĐCĐTS so với tổng số người phạm tội hình sự tạiTp.Hồ Chí Minh từ năm 2003 - 2007 là 2689/49288 được thể hiện qua biểu đồ sau:

5%

Số người phạm tội hình sự chung Số người phạm tội LĐCĐTS

Biểu đồ trên đã phản ánh tỷ lệ số người phạm tội LĐCĐTS so với số ngườiphạm tội chung như sau: năm 2003: 5.5%, năm 2004: 5.6%, năm 2005: 5.7%, năm2006:5.3% năm 2007: 4.62% Tỷ lệ trung bình 5 năm từ năm 2003-2007 số ngườiphạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản so với số người phạm tội chung là 5%

* Về tỷ lệ giữa số vụ về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số vụ về các tội phạm chiếm đoạt khác trong nhóm tội xâm phạm sở hữu.

Tỷ lệ số vụ, số người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản so với các vụ phạmtội chiếm đoạt khác trong nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu được thể hiện trongbảng số 4 sau:

Bảng số 4: Thống kê tội phạm xâm phạm quyền sở hữu xảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003-2007

Trang 25

vụ bịcan vụ

bị can vụ

bị can Vụ

bị can vụ

bị can vụ bị can

(Nguồn: Thống kê tội phạm hình sự - Viện KSND TPHCM - 24 quận, huyện)

Qua bảng thống kê chúng ta thấy rằng, trong nhóm tội phạm xâm phạm quyền

sở hữu tại Tp Hồ Chí Minh từ 2003 đến 2007, thì tội LĐCĐTS có 2.460 vụ trongtổng số 28.424 vụ, chiếm tỉ lệ 8,65% Trong nhóm này, thì tội trộm cắp tài sản vàtội cướp giật tài sản chiếm tỉ lệ lớn nhất lần lượt là 48,18% và 27,77%

Trong tổng số bị can thuộc nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu trong khoảngthời gian từ năm 2003-2007, số bị can phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có2.924/35.201 bị can, chiếm 8.3% Như vậy tỷ trọng số lượng bị can phạm tộiLĐCĐTS so với tổng số bị can trong nhóm tội xâm phạm sở hữu thấp hơn tỉ trọng

vụ án Điều này cho thấy số bị can trong vụ án LĐCĐTS ít hơn trung bình các vụ ánthuộc nhóm tội phạm xâm phạm quyền sở hữu

Cơ cấu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong nhóm tội xâm phạm sở hữu tạiTp.Hồ Chí Minh từ năm 2003-2007

Trang 26

Cướp tài sản Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản Cưỡng đoạt tài sản

Cướp giật tài sản Công nhiên chiếm đoạt tài sản Trộm cắp tài sản

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Như vậy, xét về số vụ cũng như số người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnthì tội phạm này đứng ở vị trí thứ 3 trong 8 tội phạm xâm phạm sở hữu Với vị tríthứ ba trong bảng tổng sắp nhóm tội phạm có hành vi chiếm đoạt tài sản cho thấyđược mức độ phổ biến của loại tội phạm này trong tình hình các tội phạm chiếmđoạt tài sản hiện nay

So sánh số bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị đưa ra xét xử từ năm

2003-2007 tại Tp Hồ Chí Minh thấy:

Bảng số 5: Phân tích tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Toà án thụ lý, xét xử từ

năm 2003 đến năm 2007

Trang 27

(Nguồn: Thống kê tội phạm hình sự của Viện Kiểm sát TP và 24 quận, huyện)

Qua bảng phân tích trên thấy, trong tổng số 2110 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản

đã có 3 vụ bị đình chỉ và 5 vụ tạm đình chỉ, tổng số vụ đưa ra truy tố xét xử khá cao

Số bị cáo bị đưa ra xét xử là 2.689/2.699 (đình chỉ và tạm đình chỉ 10 bị cáo), chiếm

Tp Hồ Chí Minh không nhiều, thường hoạt động đơn lẻ, ít có đồng phạm

Tình hình phạm tội LĐCĐTS tại Tp Hồ Chí Minh thời gian qua khá phức tạp,

đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, giá trị tài sản bị chiếm đọat rất lớn, làm thấtthoát lớn tài sản của Nhà nước và nhân dân, gây phức tạp tình hình an ninh chính trị

và trật tự an toàn xã hội của thành phố

Hiện nay, không có những số liệu thống kê về mức độ thiệt hại do tội lừa đảochiếm đoạt tài sản trong trong năm tại Tp Hồ Chí Minh Do vậy, khi nghiên cứutính chất của tình hình tội phạm này thông qua sự thiệt hại đã gây ra cho người bịhại trong các vụ án lừa đảo chúng tôi nghiên cứu sự thiệt hại đã gây ra trong một số

vụ an Cách tiếp cận này ở mức độ nhất định cũng phản ánh được một phần của tínhchất tình hình tội LĐCĐTS tại Tp Hồ Chí Minh trong những năm gần đây

Trang 28

Qua nghiên cứu một số vụ án cụ thể cho thấy sự thiệt hại về tài sản trong các

vu án lừa đảo chiếm đoạt tài sản là khá lớn Điển hình là một số vụ sau:

Vụ Thạch Suối Anh can tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, được đưa ra xét xửvào ngày 21/01/2003 Bằng các thủ đoạn gian dối, Thạch Suối Anh đã làm hợpđồng bán căn nhà 115/90/5 Lò Siêu, Quận 11 cho ông Lâm Quang Hiến, giá 53lượng vàng SJC, khi đã nhận của ông Hiến 30 lượng vàng, trong khi đợi đến ngày

ra công chứng việc bán nhà, thì Anh lại làm hợp đồng bán căn nhà đó cho bà Lê ThịThiên Hương với giá 110 lượng vàng và đã chiếm đoạt của bà Hương 50 lượngvàng Tiếp đó, Anh lại làm hợp đồng bán cho bà Nguyễn Thị Tý cũng căn nhà trênvới giá 78,5 lượng vàng Như vậy, Thạch Suối Anh với thủ đoạn gian dối đã chiếmđoạt của ba người là 84 lượng vàng SJC, phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 10

Vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hoạt động huy động đầu tư tài chính quamạng Internet của Công ty Colony Invest Management Inc (CI) với thủ đoạn tuyêntruyền hình thức đầu tư tiền tệ với lãi suất cao (2-3%/ ngày), đánh vào lòng thamcủa người dân, lôi kéo nhiều người tham gia, hình thành hệ thống huy động vốn đacấp Sau khi chiếm được vốn, số này đã hủy trang web rồi bỏ trốn, gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự - trị an ở Tp Hồ Chí Minh và một số tỉnhthành khác Theo thống kê, hệ thống này có phạm vi hoạt động trên 30 địa phương

ở Việt Nam, số tiền bị lừa đảo chiếm đoạt lên đến hàng triệu USD Riêng tại Tp HồChí Minh, Cơ quan điều tra Công an Thành phố đã khởi tố 2 vụ lợi dụng danh nghĩaVăn phòng đại diện Golden Rock và Colony Invest Management Inc để lừa đảochiếm đoạt tài sản của trên 1000 bị hại, với số tiền chiếm đoạt là 1,138 tỷ đồng và

10 triệu USD 11

Vụ Đào Trí Dũng cùng đồng phạm dựng giả hồ sơ tuyển dụng lao động đi Mỹ

đê lừa đảo chiếm đoạt hàng chục ngàn USD/hồ sơ Qua điều tra phát hiện Dũng vàđồng bọn đã lừa 77 người, chiếm đoạt hơn 180.000 USD 12

Dương Quang Trí lợi dụng chính sách của nhà nước cho các doanh nghiệptrong nước khi xuất khẩu hải sản được hoàn thuế giá trị gia tăng Khoảng tháng11/2000 thông qua Nguyễn Ngọc Sơn (nhân viên Eximbank), Dương Quang Trí

10 Bản án sổ 487/HSST ngày 10/04/2003 của TANDTP

Trang 29

(phó giám đốc doanh nghiệp tư nhân Kiều Phương) đã gặp Nguyễn Kim Khánh Phó phòng kế hoạch kinh doanh XNK Nông Lâm Hải Sản Tp.HCM (Công tyAgrimexco) và bàn bạc đi đến thống nhất sau: Doanh nghiệp tư nhân Kiều Phương

-sẽ ký hợp đồng nội và xuất hoá đơn giá trị gia tăng bán mực khô cho công tyAgrimexco để hợp thức hoá đầu vào số hàng cá mực khô mà công ty Agrimexcoxuất bán cho khách hàng Trung Quốc Dương Quang Trí lo tiền, hàng và sau khi hồ

sơ có chứng thực Hải quan là hàng đã được xuất thì công ty Agrimexco chịu tráchnhiệm làm mọi thủ tục hồ sơ xin hoàn thuế giá trị gia tăng và đổi lại Công tyAgrimexco được hưởng 0,4% trên doanh số hàng được xuất Từ 11/2000 đến7/2001 Công ty Agrimexco đứng pháp nhân cho doanh nghiệp tư nhân KiềuPhương của Dương Quang Trí bán cho khách hàng Trung Quốc số lượng là 818,48tấn cá mực khô trị giá 121.193.000.000đ, tạo điều kiện hoàn thành thủ tục để doanhnghiệp tư nhân Kiều Phương chiếm đoạt của Nhà nước cụ thể là Cục thuế Tp HồChí Minh số tiền hoàn thuế giá trị gia tăng là 6.035.411.400đ 13.

Vụ án Thái Văn Tuấn cùng đồng phạm đã lợi dụng mối quan hệ từ trước, từtháng 5/1996 đến tháng 02/1997 Trần Văn Phước (Giám đốc Ngân hàng thương mại

cổ phần Nam Đô) đã cho Thái Văn Tuấn vay và bảo lãnh vay trái nguyên tắc 19 khếước với tổng số tiền 36.800.000.000đ Sau khi nhận được tiền vay Tuấn dùng sốtiền trên để trả các khoản nợ đã vay, mua nhà đất tiếp tục mang đi thế chấp, tiêu xài

cá nhân dẫn đến mất khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn 14

Hoặc vụ án Trần Văn Giao cùng đồng phạm tiến hành bán đất trên giấy vànhận tiền cọc từ 10% - 20% giá trị hợp đồng với lý do góp vốn xây dựng cơ sở hạtầng Mặc dù các lô đất đã được bán và thu tiền với hình thức góp vốn đầu tư, TrầnVăn Giao đã ký tiếp hợp đồng bán đất cho khách hàng, chiếm đoạt 15.751.808.000đ

và 1.513,89 lượng vàng 15

Những con số về số người bị hại và tài sản bị xâm hại, chiếm đoạt ở trên đãcho thấy tính chất của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở Tp Hồ Chí Minhthời gian qua rất nghiêm trọng, thủ đoạn phạm tội tinh vi, số người bị hại đông, thiệthại về tài sản rất lớn

13 Bản án số 182/HSST ngày 26/01/2005 của TAND Tp.HCM.

14 Bản án số 1820/HSST ngày 25/09/2003 của TAND Tp.HCM.

15 Bản án số 301/HSST ngày 11/03/2005 của Tòa phúc thẩm – TANDTC tại Tp.HCM.

Trang 30

Chúng ta thấy rằng, trong thời gian qua, tại Tp Hồ Chí Minh, tội LĐCĐTS đãgây thiệt hại hàng nghìn tỉ đồng Đây là một loại tội phạm hết sức nguy hiểm bởi vìphương thức thủ đoạn hoạt động của chúng hết sức tinh vi xảo quyệt, luôn luôn thayđổi địa bàn, thủ đoạn gây án, làm cho người bị hại rất khó đề phòng Hơn nữa đây làmột loại tội phạm khá phổ biến, gây hậu quả rất lớn, để lại tác hại nhiều mặt đối với

cá nhân, gia đình và xã hội, gây hoang mang trong đời sống nhân dân, đẩy nhiều cánhân, gia đình vào hoàn cảnh ngặt nghèo, nhiều doanh nghiệp trên bờ vực phá sảnảnh hưởng đến an ninh kinh tế, an ninh chính trị của đất nước Có những vụ án mà

số người bị hại lên đến hàng chục ngàn người, chẳng hạn như vụ lừa đảo thông quaviệc đầu tư tài chính qua mạng Internet trong thời gian vừa qua (vụ Invest Colony).Một đặc tính nguy hiểm của loại tội này nữa là chúng luôn thay đổi phương thức thủđoạn, trong đó những phương thức thủ đoạn mới mà các doanh nghiệp, các tổ chức

và cá nhân chưa từng biết, từng nghe thấy trước đó điều này rất nguy hiểm trongthời buổi đất nước ta mới bắt đầu mở cửa thị trường, mở rộng giao lưu quan hệ hợptác quốc tế, gia nhập WTO và các tổ chức quốc tế khác

* Tỷ trọng về các mức độ xử lý đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong năm năm qua tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tính chất của tình hình tội phạm còn được phản ánh trong các số liệu phản ánhmức hình phạt đã được áp dụng đối với các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì mứchình phạt Tòa án tuyên đối với người phạm tội là sự thể hiện tính chất nghiêm trọngcủa các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản Bảng phân tích số 6 phản ánh số liệu về cácmức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội lừa đảo cho thấy tính chất của tìnhhình tội phạm này khá nghiêm trọng Trong số 2.689 bị cáo phạm tội LĐCĐTS có 4người bị kết án tử hình, 12 người bị kết án tù chung thân, 22 người bị kết án dài hạntrên 15 năm, 2.624 người bị kết án tù đến 15 năm, 1 người bị phạt cảnh cáo, 1 ngườiđược miễn hình phạt Qua các số liệu về mức hình phạt Tòa án tuyên cho thấy tìnhhình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khá nghiêm trọng, có đến 16 người bị áp dụnghình phạt hết sức nghiêm khắc là tù chung thân và tử hình

Bảng số 6: Thống kê mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội lừa

đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 31

Hình phạt chính Hình phạt

bổ sung

Miễn HP

Cảnh cáo

Cải tạo không GG

< 3 năm

Trong đó phạt tù cho án treo

3 năm đến 7 năm

7 đến 15 năm

>15 nàm

Chung thân

Tử hình

Tịch thu

TS, Phạt tiền

1.2.5.1 Đặc điểm tội phạm học về biểu hiện khách quan tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại thành phố Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu đặc điểm tội phạm học về biểu hiện khách quan của tội LĐCĐTScần làm rõ về hoạt động chuẩn bị phạm tội, thủ đoạn phạm tội, các lĩnh vực kinh tế,địa điểm phạm tội

* Về hoạt động chuẩn bị cho việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Đặc trưng tội phạm học của loại tội này là trong khi chuẩn bị gây án, ngườiphạm tội thường tìm kiếm, phát hiện những người hoặc cơ quan, tập thể và cá nhân

có tài sản để LĐCĐTS Tiếp đó, tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh phạm tội, thủ đoạn sẽ

áp dụng, đặc điểm tài sản để chiếm đoạt để chuẩn bị các giấy tờ giả mạo, công cụphương tiện, nghĩ cách để tiếp cận với người bị hại

Để có cách tiếp xúc phù hợp, nhanh chóng gây được lòng tin đối với người bịhại, đối tượng thường dùng lời nói kết hợp với giấy tờ, đồ vật, hàng hoá giả để thựchiện hành vi LĐCĐTS cũng như che giấu tội phạm sau khi gây án, đối tượngthường làm những công việc chuẩn bị như tìm cách phát hiện và xác định mục tiêugây án: Những đối tượng không nghề nghiệp, sống lang thang ở những tụ điểmphức tạp như: Nhà ga, bến tàu, bến xe, công viên, chợ, các trung tâm thương mại,trung tâm triển lãm thường có điều kiện tiếp xúc, bắt quen với nhiều loại người ở

đó Chúng tạo lý do tiếp xúc với họ dưới các danh nghĩa và công việc như: Khuânvác hàng hóa hộ, đi tìm đồng hương, tìm người thân, dẫn lối, chỉ đường, tìm mua

Trang 32

hàng hóa để lựa chọn mục tiêu gây án Chúng thường chọn những hành khách,những người đi đường có nhiều tài sản, những người buôn bán hám lợi hoặc nhữngngười đang có nhu cầu cấp thiết về tinh thần, về vật chất như: cần mua bán, trao đổihàng hoá lại có sơ hở mất cảnh giác, nhẹ dạ, cả tin, tham lam, hiểu biết kém hoặcthiếu hiểu biết về lĩnh vực đang cần giải quyết làm mục tiêu gây án.

Hoạt động chuẩn bị phạm tội LĐCĐTS còn thể hiện ở việc đối tượng phạm tội

có sự bàn bạc, dự kiến phương thức gây án, chuẩn bị công cụ, phương tiện, hànghoá hoặc tiền mặt để gây án

Sau khi đã xác định được mục tiêu gây án, đối tượng tiếp tục tìm hiểu về tínhnết, thói quen nhu cầu, sở thích, hoàn cảnh sống của người có tài sản để tính toánphương thức gây án và che dấu tội phạm cho phù hợp Đối tượng phạm tộiLĐCĐTS chuyên nghiệp hoặc đã có nhiều tiền án, tiền sự thường có sự chuẩn bịnhanh chóng, nhưng lại rất kín đáo và kỹ lưỡng Chúng nghiên cứu tỉ mỉ về đặctính, thói quen, mức thu nhập, giá trị tài sản, quy luật đi lại sinh hoạt của chínhngười bị hại và người cùng sống với người bị hại Từ đó, mới dự định tạo ra điềukiện, hoàn cảnh, thời gian, địa điểm, thủ đoạn thực hiện tội phạm Vì vậy, mục tiêuchúng thường chọn là: Những gia đình giàu có, người có nhiều tài sản hoặc đangquản lý tài sản có giá trị, người có thu nhập cao hoặc đang mang theo tài sản, tiềnvàng với giá trị lớn, người đang cần tìm việc làm: cần đi xuất khẩu lao động; cần đihọc tập ở nước ngoài; cần đăng ký xe gắn máy, xe ô tô, cần xin cho người thânđược tại ngoại, cần chuyển đổi nơi công tác, cần đổi tiền Việt sang USD Nhữngvấn đề mà loại tội phạm này hay tính toán, bàn bạc là: Dùng lý do gì để tiếp xúc vớingười bị hại? Dùng giấy tờ gì để người bị hại tin tưởng? Dùng hàng hóa như thế nào

để đánh lừa được người bị hại? Tiến hành vào thời gian nào và địa điểm nào chothích hợp? Cần có những ai tham gia? Sẽ chiếm đoạt tài sản bằng cách nào? Hìnhthức ngụy trang và che dấu tội phạm sau khi gây án như thế nào?

Về thủ đoạn phạm tội

Đặc trưng về thủ đoạn của tội LĐCĐTS là bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạttài sản Qua nghiên cứu các vụ án LĐCĐTS xảy ra tại Tp Hồ Chí Minh thấy thủđoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản hết sức phong phú và đa dạng Có thể liệt kêmột số thủ đoạn chính như sau:

- Dùng giấy tờ giả mạo để lừa dối chiếm đoạt tài sản

Trang 33

Các giấy tờ giả để làm phương tiện gây án như: Vé gửi xe, giấy chứng nhậnquyền sở hữu, phiếu xuất kho, giấy phép kinh doanh, quyết định thành lập công ty,giấy chứng minh thư, giấy tờ tùy thân mang lai lịch khác

Tạo ra các giấy tờ giả mạo bằng cách sửa chữa, tẩy xóa, tự in ấn các bản hợpđồng, làm giả các giấy tờ chứng nhận sở hữu tài sản, giấy giới thiệu, giấy tùy thân,làm giả hoặc ký tên, đóng dấu giả vào các quyết định giao nhận tài sản để sử dụngvào mục đích chiếm đoạt tài sản

Điển hình như vụ Ludimer Manalo Masangkay cùng đồng phạm tổ chức làmséc du lịch giả với thủ đoạn sửa chữa mệnh giá từ 50 USD/séc thật thành 500USD/séc rồi đem vào Việt Nam tiêu thụ Từ đầu tháng 8 đến cuối tháng 8/2002nhóm của Masangkay đã đổi được 238 tờ séc giả và nhận được 119.000 USD tại 09ngân hàng ở thành phố Hồ Chí Minh, do séc giả sửa chữa tinh vi nên các ngân hàngkhông phát hiện nên đã thanh toán 119.000 USD 16; vụ Đào Trí Dũng cùng đồngphạm làm giả hồ sơ tuyển dụng lao động để lừa đảo chiếm đoạt 180.000 USD của

77 người

Tìm kiếm một số giấy tờ có liên quan để gây lòng tin hòng chiếm đoạt sốlượng tài sản lớn như: Mua lại bản hợp đồng, phô tô lại bản quyết định giao nhận tàisản để sử dụng vào mục đích chiếm đoạt tài sản

- Chuẩn bị hàng hóa đế làm “vật mồi” như: Các loại hàng hóa giả, hàng

hóa có hình thức giống như thật nhưng chất lượng giả Đôi khi, kẻ phạm tội cũngchuẩn bị cả hàng thật với số lượng không đáng kể để đem trao đổi, bán hoặc giớithiệu sẽ bán với giá rất rẻ để đánh vào nhu cầu hám lợi của người có nhu cầu mua,bán, trao đổi hàng hóa để chiếm đoạt tài sản với nhiều thủ đoạn

Dùng giấy ủy nhiệm, tiền, hộ chiếu, giấy phép xuất khẩu giả mạo, đứng ra kýrất hợp đồng kinh tế, mua bán hàng hoá, đổi ngoại tệ, thanh toán qua ngân hàng với người nước ngoài, sau đó tìm cách chiếm đoạt tài sản

- Tạo ra sự giàu cỏ giả tạo để lấy lòng tin của người bị hại như: Thành lập

công ty, thuê trụ sở làm văn phòng, thuê phương tiện đi lại bằng ô tô sang trọng, tổchức chiêu đãi trọng thể, trang phục lịch sự nhằm tạo lòng tin là có khả năng hoạtđộng kinh tế độc lập và sòng phẳng; đồng thời gây tín nhiệm với người có tài sảnhoặc có quyền phê duyệt vay vốn để LĐCĐTS; ký kết nhiều hợp đồng kinh tế,

16 Bản án số 932/HSST ngày 14/06/2004 của TAND Tp.HCM

Trang 34

những hợp đồng ban đầu, những hợp đồng kinh tế thấp thì thực hiện nghiêm túc,đồng thời chi tiêu cực phí rất cao, thưởng quà cho đối tác rất hậu để tạo uy tín Sau

đó, lừa đảo ở những lần sau, ở những hợp đồng kinh tế có giá trị cao

- Thành lập hoặc sử dụng công ty “ma” để ký hợp: Thành lập công ty “ma”

(không đủ tư cách pháp nhân, không đủ giấy phép hoặc khả năng hoạt động) nhưnglại dùng mọi cách để quảng cáo, phô trương quá thực tế nhằm thu hút những người

có tài sản lại hám lợi đầu tư vào đó lấy “lãi suất cao” Sau đó chiếm đoạt rồi bỏ trốn.Điển hình như vụ Đặng Thị Điệp đã dùng thủ đoạn mở tiệm vàng bằng cáchmua vàng và trưng bày vàng giả đồng thời với thủ đoạn mua bán nhà và thuê muớn

xe gắn máy để tạo lòng tin cho những người khác, nhằm dụ dỗ, gian dối chiếm đoạt

số tiền 1.201.605.000đ, 114 lượng vàng 24k, hai xe máy, 5.000USD của nhiềungười (32 người), ở nhiều địa bàn khác nhau 17

Thành lập ra những ‘Trung tâm giới thiệu và tìm kiếm việc làm” rồi nhận hồ

sơ xin việc kèm theo tiền lệ phí, tiền đặt trước của rất nhiều người đang cần có việclàm Sau đó, không tìm kiếm hoặc giới thiệu việc làm cho họ mà tìm cách chiếmđoạt số tiền đó

Giả danh là người ở trong những cơ quan được tuyển dụng người đi học tập,xuất khẩu lao động, tham quan du lịch ở nước ngoài hoặc tìm mọi cách cho người bịhại tin rằng chúng có đủ khả năng tổ chức cho người đi học tập, lao động, thamquan du lịch ở nước ngoài Sau khi nhận tiền lệ phí hoặc tiền đặt cọc của họ rồichiếm đoạt luôn số tiền đó Những vụ án có thủ đoạn LĐCĐTS như vậy, thủ phạmthường chiếm đoạt được tiền của nhiều người với số lượng tiền rất lớn

Sử dụng con dấu của doanh nghiệp đã giải thể để làm hồ sơ xin vay vốn củangân hàng

- Sử dụng khoa học công nghệ cao để LĐCĐTS: Một trong những phương

thức thủ đoạn mới mà bọn tội phạm sử dụng công nghệ cao để LĐCĐTS của ngườikhác, những trường hợp này người phạm tội sử dụng các thành tựu khoa học tiêntiến của công nghệ thông tin và mạng Internet hoặc các cồng nghệ hiện đại khác

để thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản LĐCĐTS sử dụng côngnghệ cao có một số đặc điểm chủ yếu sau đây:

17 Xem Bản án số 615/2005/HSST ngày 25/4/2005 của TAND TP.HCM

Trang 35

+ Thủ đoạn gian dối được thực hiện thông qua việc sử dụng phương tiện khoahọc công nghệ hiện đại, chủ yếu là công nghệ tin học và mạng Internet;

+ Người phạm tội có thể ở bất kỳ nơi nào, bất kỳ thời điểm nào cũng thực hiệnhành vi phạm tội;

+ Tội phạm có nhiều khả năng mang tính xuyên quốc gia;

+ Dấu vết của tội phạm có thể xóa bỏ một cách nhanh chóng, dễ dàng nên khókhăn cho công tác điều tra, phát hiện;

+ Chủ thể thực hiện tội phạm loại này phần lớn là những người có trình độ tinhọc nhất định;

+ Việc làm mất quyền sở hữu tài sản của chủ tài sản và tạo quyền đó chongười phạm tội hoặc cho người khác mà người phạm tội quan tâm chỉ thông qua các

“lệnh” của máy tính và việc chiếm đoạt chỉ diễn ra trong khoảng thời gian được tínhbằng giây mà không phải là sự chuyển dịch tài sản như các trường hợp LĐCĐTStheo quan niệm truyền thống về hành vi chiếm đoạt

Giai đoạn 2001-2005 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sử dụng công nghệ cao

đã được xét xử ở Toà án Việt Nam nhưng việc thống kê số liệu về hình thức phạmtội này không được các cấp Toà án thống kê riêng biệt hàng năm và tiêu chí thống

kê cũng chỉ nêu tội danh là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà không đề cập đến thủđoạn thực hiện tội phạm18

Tuy số lượng vụ phạm tội LĐCĐTS có sử dụng công nghệ cao có 7 vụ 17 bịcan đã được Toà án Nhân dân Tp Hà Nội và Toà án Nhân dân Tp Hồ Chí Minh đưa

ra xét xử không lớn, nhưng điều đáng lo ngại về thủ đoạn thực hiện tội phạm vàmức độ gây thiệt hại về tài sản là rất nghiêm trọng19

- Thủ đoạn gian dối khác

Xin mua hàng hóa, vật tư thiết bị tồn đọng, và xin thanh toán chậm Sau đóbán vật tư, thiết bị, hàng hóa lấy tiền rồi chiếm đoạt không trả

Ứng tiền vốn, tiền hàng, nhận ủy thác, trao đổi, mua bán hàng hóa, khi đã muabán, trao đổi xong thì không thanh toán cho bên đã ủy thác

18 Trích Tạp chí Tòa án Nhân dân số 24, tháng 12/2006, tr3

19 Trích Tạp chí Tòa án Nhân dân số 24, tháng 12/2006, tr4

Trang 36

Giả dạng là thư ký hoặc người giúp việc cho những người có chức vụ, quyềnhạn cao, có thể giải quyết được những công việc khó khăn cho người bị hại, rồinhận tiền, tài sản do người bị hại đưa cho nhờ giải quyết công việc, sau đó chiếmđoạt và lẩn trốn.

Trong giai đoạn gây án, đặc điểm nổi bật của loại tội phạm này là dùng rấtnhiều các thủ đoạn tinh vi, khéo léo để tiếp cận và gây lòng tin đối với người bị hại.Đối tượng dùng lời nói để trao đổi, giới thiệu những nội dung phù hợp với nhucầu, tâm lý, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, phong tục tập quán, lối sống, nguyệnvọng, sở thích, hoàn cảnh của người bị hại, hoặc sắm vai phù hợp với sự ngưỡng

mộ của người cần tác động, hoặc hào phóng giả tạo, dùng lợi ích vật chất đánh vàotính ham lợi của người có tài sản, hoặc lợi dụng các mối quan hệ xã hội, quan hệquen biết từ trước, hoặc dùng giấy tờ giả mạo, hàng hoá giả mạo, tiền giả, vé gởi xegiả, hoặc đóng giả là cán bộ Nhà nước đi mua hàng, đi ký kết hợp đồng, đi tuyểndụng người nhằm tạo lòng tin người bị hại

Sau khi đã gây được lòng tin, kẻ phạm tội thường dùng thủ đoạn để CĐTS nhưgiao hàng giả, bán hàng giả với giá rẻ, tráo hàng thật thành hàng giả đối với ngườimua, bán trao đổi hàng hóa; Đánh tráo tiền thật thành tiền giả trong lúc giao, nhận,mua bán tiền hàng; Làm giả giấy tờ quản lý tài sản để lấy tài sản như: Làm giá végửi xe để lấy ở các bãi xe, làm giả phiếu xuất kho để vào kho lấy tài sản, làm gỉangân phiêu để trao đổi hoặc thanh toán Đối tượng cũng có thể sắm vai là kháchmua hàng, người làm đại lý bán hàng, gây tín nhiệm rồi đề nghị chủ hàng cho nợtiền, tạm ứng hàng Đến khi đã chiếm được một số tiền hàng có giá trị lớn thì bỏtrốn Hay chủ động vay tiền, vàng, ngoại tệ với lãi suất cao rồi chiếm đoạt và bỏtrốn; Tạo hoàn cảnh thích hợp, giả vay mượn tài sản sau đó chiếm đoạt rồi bỏ trốn;Hoặc giả danh cán bộ trong các cơ quan, tổ chức xã hội hợp pháp đang thi hànhnhiệm vụ rồi hứa hẹn sẽ thực hiện các yêu cầu của người bị lừa đảo như bảo lãnhcho người thân, xin trả tự do, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xin việc làmcho người thân để nhận tiền hoặc tài sản Sau đó, không làm hoặc không có khảnăng làm được việc đã hứa và chiếm đoạt luôn số tiền và tài sản đó; giả mạo giấy tờ

về quyền sở hữu nhà, đưa thế chấp để vay tiền hoặc đổi hàng hoặc bán nhà đất rồichiếm đoạt luôn tài sản; hay dùng một căn nhà, một mảnh đất, một tài sản có giá trị

Trang 37

đem thế chấp ở nhiều nơi khác nhau để vay được số tiền rất lớn hoặc bán cùng mộtlúc cho rất nhiều người, sau khi nhận được tiền thì bỏ trốn.

- Thủ đoạn che giấu tài sản: Trong quá trình thực hiện tội phạm, bọn chúng

luôn tìm cách che giấu hành vi LĐCĐTS Việc che giấu được thực hiện trong suốtquá trình phạm tội, nhựng thể hiện rõ rệt, nổi bật nhất là trong và sau khi chiếm đoạttài sản, những thủ đoạn che giấu của chúng thường là:

Sau khi chiếm đoạt được tài sản, chúng có thể sử dụng phương tiện cá nhânhoặc có thể lợi dụng các phương tiện giao thông công cộng như xe buýt, xe lửa,máy bay hoặc xe ôm, xe xích lô để chuyên chở, phân tán, mang đi cất giấu tài sảnhoặc trốn chạy Cá biệt, trong một số vụ án, thủ phạm còn chuẩn bị đáng kể hànghóa, tài sản làm phương tiện nhử mồi để cho người bị hại mắc bẫy Song song với

sử dụng những loại phương tiện trên, thủ phạm còn biết sử dụng điêu luyện nhữnglời nói khéo léo, ngọt ngào, phù hợp để gây lòng tin rồi chiếm đoạt tài sản củangười bị hại Lời nói khi đó của thủ phạm đóng vai trò như một loại công cụphương tiện sắc bén giúp chúng đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản

Tài sản trong các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản rất đa dạng về chủng loại, kích

cỡ, hình dáng và giá trị Đối với các vụ án LĐCĐTS của công dân thì tài sản thường

là đồ vật, tài sản có giá trị như: Tiền, vàng, ngoại tệ, kim khí quý, xe máy, đồng hồ,

và một số hàng hóa có giá trị khác Đối với những vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản có

sở hữu chung thì tài sản bị chiếm đoạt thường là tiền hoặc vật có giá trị lớn hoặc có

số lượng nhiều

Che giấu căn cước, lai lịch, tạo giấy tờ tùy thân, giấy tờ giả, xuất hiện và giớithiệu với người bị hại với tên tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, chức vụ, nơi công tác giảnhằm trốn tránh sự phát hiện sau này Sau khi gây án thì bỏ trốn thật xa Khi trốn,chúng thường nương nhờ vào bạn bè, người thân và luôn che giấu nhân thân lai lịchcủa mình

Cất giấu, tiêu hủy giấy tờ, tài liệu, đồ vật, tài sản có liên quan để hành vi lừađảo, tiếp tục làm mới giấy tờ tùy thân giả để che giấu tung tích, lai lịch

Tiêu thụ hoặc phân tán những tài sản đã chiếm đoạt được bằng những cáchnhư: Bán cho những người không quen biết, mang gửi ở hiệu cầm đồ, đổi sang tàisản khác, thay đổi đặc điểm, hình dáng của đồ vật, sử dụng tiền chiếm đoạt đượcvào những mục đích các nhân như: mua sắm, đánh bạc, sử dụng ma túy, mua dâm

Trang 38

Điển hình là vụ một số đối tượng tự nhận là chi nhánh của các công ty tàichính của nước ngoài như: công ty Colony Invest Management Inc, CallvsinvestE.G.A Money 100, C-Invest, Lasvegas, Vip - Viet với thủ đoạn tuyên truyền,quảng bá hình thức đầu tư tiền tệ với lãi suất cao (2-3%/ ngày) để lôi kéo nhiềungười tham gia, hình thành hệ thống huy động vốn đa cấp; một số nơi sau khi chiếmhưởng được số tiền lớn hàng chục triệu USD đã phá bỏ trang web rồi bỏ trốn Khicác cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác minh thì được biết, các công ty nhưColony Invest Management Inc20 chưa có pháp nhân đầu tư tại Việt Nam, cònhãng thông tin quốc tế khi tiến hành điều tra tại Phòng thư ký bang New York, kếtquả điều tra cho thấy không có hồ sơ doanh nghiệp nào có tên công ty ColonyInvest Management Inc, từ đó đã phát hiện ra thực chất những công ty này là lừađảo chiếm đoạt tài sản, lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin và hám lãi suất cao của một sốngười; các đối tượng sau khi bị bắt cũng thừa nhận là tự lập website để quảng bá vàthu tiền rồi rút ra sử dụng cho mục đích cá nhân chứ không đầu tư và bất kỳ hoạtđộng kinh doanh nào Đây là thủ đoạn mới lần đầu tiên xuất hiện ở nước ta, chỉtrong một thời gian ngắn đã lan truyền trên rất nhiều địa phương trên toàn quốc, vàtập trung nhất tại Tp Hồ Chí Minh, với thủ đoạn lừa đảo tinh vi và lợi dụng côngnghệ tin học để phạm tội nên việc phòng chống, điều tra ngăn chặn gặp nhiều khókhăn như: người gửi tiền vào hoàn toàn gián tiếp với người nhận bằng cách quangân hàng hoặc đại lý đồng thời theo dõi tiền của mình qua điểm số trên trang webnên đa số không có chứng từ, khi đã thu được số tiền lớn hoặc trước nguy có bị pháthiện thì đối tượng chủ động phá bỏ trang web để bỏ trốn nên việc phục hồi các dữliệu trong các máy phải mất rất nhiều thời gian và việc phục hồi cũng không phảitrường hợp nào cũng đạt được tuyệt đối.

* Về lĩnh vực, thời gian, địa điểm tội phạm xảy ra

Những đối tượng phạm tội lừa đảo trong lĩnh vực quản lý kinh tế thườngthông qua môi giới để phát hiện những đơn vị, tập thể, cơ quan, tổ chức có sơ hởthiếu sót trong quản lý tiền vốn, tài sản, trong thực hiện nguyên tắc, chế độ cấp và

20

Thông báo số 132/VKS-P1: “Thông báo tình hình đầu tư qua mạng Internet để chiếm đoạt tài sản ngày 30/1/2008” của Viện Kiểm sát Nhân dân Tp Hồ Chí Minh.

Trang 39

vay vốn, trong ký hợp đồng kinh tế rồi thông qua việc tiến hành ký kết thoả thuận,làm hợp đồng, duyệt dự án, cấp vốn để lợi dụng sơ hở thực hiện hành vi lừa đảochiếm đoạt tài sản Thực tiễn xét xử tại Tp Hồ Chí Minh cho thấy, tội lừa đảochiếm đoạt tài sản xảy ra trong nhiều lãnh vực kinh tế và xã hội Trong một số lãnhvực kinh tế, các vụ án lừa đảo có thể gây thiệt hại cho hàng loạt người với mức độthiệt hại đặc biệt lớn như trong các lãnh vực ngân hàng, xuất khẩu lao động, giáodục và đào tạo, sử dụng những tiện ích của công nghệ cao để lừa đảo

Thời gian và địa điểm gây án trong các vụ án LĐCĐTS xảy ra rất đa dạng phụthuộc rất lớn vào sự lựa chọn của đối tượng gây án Ở những vụ án LĐCĐTS nhànước, đối tượng thường lợi dụng khoảng thời gian nhận bán ủy thác, bán đại lý,thực hiện hợp đồng trao đổi hàng hóa, nhận tiền vay để gây án

Ở những vụ LĐCĐTS lớn, việc thực hiện tội phạm thường diễn ra trong mộtkhoảng thời gian dài, trên nhiều địa bàn và trên nhiều lĩnh vực khác nhau Thời gianthực hiện hoàn chỉnh một vụ án LĐCĐTS thường khá dài, nhưng thời điểm để đốitượng chiếm đoạt tài sản lại diễn ra rất nhanh chóng

Về địa điểm, đối với những vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân, địađiểm gây án có thể tại nhà ở, trên đường đi, tại các bến tàu xe, nhà ga, các trung tâmthương mại, du lịch, dịch vụ, các tụ điểm sinh hoạt văn hóa, vui chơi công cộng, cácnhà hàng, khách sạn

Đối với các vụ án LĐCĐTS của nhà nước, của tập thể, của các tổ chức xã hội,của các đoàn thể khác, địa điểm gây án thường xảy ra tại trụ sở các cơ quan đoànthể đó như: Kho bạc, Ngân hàng, quỹ tín dụng, nhà kho, công xưởng

1.2.5.2 Đặc điểm tội phạm học về nhân thân người phạm tội

Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm, những dấu hiệu, những đặc tính quan trọng thể hiện bản chất xã hội của con người vi phạm pháp luật hình sự, các đặc điểm ấy kết hợp với các điều kiện và yếu tố khác đã ảnh hưởng đến cách xử sự chống đối xã hội của người đó 21

Nghiên cứu nhân thân người phạm tội từ gốc độ tội phạm học khác với nghiêncứu nhân thân người phạm tội từ gốc độ luật hình sự, trước hết ở mục đích nghiêncứu Trong tội phạm học, nghiên cứu nhân thân người phạm tội không phải là để

21

Trường ĐH Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Tội phạm học, NXB CAND, tr 184.

Trang 40

giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ mà nhằm mục đích làm sáng

tỏ nguyên nhân, điều kiện phạm tội thuộc về nhân thân Thứ hai, về nội dung nghiêncứu cũng có sự khác nhau Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội xácđịnh những đặc điểm, phẩm chất xấu của nhân thân đã ảnh hưởng đến việc thựchiện hành vi phạm tội của họ Còn trong luật hình sự, như trình bày phần trên,nghiên cứu nhân thân người phạm tội xác định những đặc điểm về nhân thân là dấuhiệu định tội, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự Mặc khác, trong tội phạm học còn nghiên cứu quá trình hình thành những đặcđiểm sai lệch trong nhân cách cá nhân để làm sáng tỏ nguyên nhân sâu xa nằm ởtrong môi trường xã hội (gia đình, trường học và môi trường xã hội khác) Trên cơ

sở đó để đề ra những biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm, giáo dục cải tạongười phạm tội và ngăn ngừa tái phạm22 Tại Tp Hồ Chí Minh, trong năm 2003trong số 568 đối tượng phạm tội, có 505 nam, 63 nữ, người Việt Nam là 563 đốitượng, người nước ngoài có 4 đối tượng, tập trung cải tạo tù hình sự có 20 đốitượng, cán bộ công nhân viên chức có 4 đối tượng Trong năm 2004, trong số 561đối tượng phạm tội, có 486 nam, 75 nữ, người Việt Nam là 554 đối tượng, ngườinước ngoài có 7 đối tượng, lưu manh chuyên nghiệp có 4 đối tượng, tập trung cảitạo tù hình sự có 1 đối tượng Năm 2005, trong số 576 đối tượng phạm tội, có 518nam, 58 nữ, người Việt Nam là 570 đối tượng, người nước ngoài có 6 đối tượng,lưu manh chuyên nghiệp có 8 đối tượng, tập trung cải tạo tù hình sự có 8 đối tượng,công chức có 6 đối tượng, thương binh 1 đối tượng Năm 2006, trong số 646 đốitượng phạm tội, có 565 nam, 81 nữ, người Việt Nam là 637 đối tượng, người nướcngoài có 9 đối tượng, lưu manh chuyên nghiệp có 3 đối tượng, tập trung cải tạo tùhình sự có 11 đối tượng, cán bộ, thương binh có 23 đối tượng Năm 2007, trong số

573 đối tượng phạm tội, có 548 nam, 25 nữ, người Việt Nam là 568 đối tượng,người nước ngoài có 5 đối tượng, lưu manh chuyên nghiệp có 3 đối tượng, tập trungcải tạo tù hình sự có 8 đối tượng Để thấy rõ điều này, chúng ta hãy quan sát bảngthống kê sau đây:

Bảng số 7: Thống kê giới tính, quốc tịch và thành phần xuất thân của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ năm 2003-2007

22

Trường ĐH Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Tội phạm học, NXB CAND tr l87-188.

Ngày đăng: 09/06/2016, 17:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Mai Thế Bảy (2007), Đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Luận án tiến sỹ trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Tác giả: Mai Thế Bảy
Năm: 2007
12. Lê Cảm (2003), Giáo trình Luật Hình sự - Phần các tội phạm, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự - Phần các tội phạm
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
14. Nguyễn Thị Kim Dung (2007), Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn , Luận văn thạc sỹ khóa 8, trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2007
16. Đinh Văn Quế (2003), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội xâm phạm sở hữu, NXB Tồng hợp Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội xâm phạm sở hữu
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: NXB Tồng hợp Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2003
17. Võ Khánh Vinh (2002), Giáo trình tội phạm học, trường ĐH Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tội phạm học
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Năm: 2002
18. Võ Khánh Vinh (2006), Bình luận Khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự
Tác giả: Võ Khánh Vinh
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2006
19. Báo Tuổi trẻ (thứ 3, ngày 23/9/2008), “Trùm lừa đảo làm giả visa đi Mỹ lãnh án” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trùm lừa đảo làm giả visa đi Mỹ lãnh án
20. Công an Tp. Hồ Chí Minh - Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Kết luận điều tra số 189-25/KLĐT-PC14 ngày 13/10/2006, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận điều tra số 189-25/KLĐT-PC14 ngày 13/10/2006
21. Công an Tp. Hồ Chí Minh - Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Chuyên đề đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự năm 2003-2007, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự năm 2003-2007
22. Công an Nhân dân (1977), Từ điển Nghiệp vụ CAND, NXB CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Nghiệp vụ CAND
Tác giả: Công an Nhân dân
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 1977
23. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1996), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt thông dụng
Tác giả: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1996)
Năm: 1996
24. Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (2007), Báo cáo công tác năm 2007, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác năm 2007
Tác giả: Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam
Năm: 2007
32. Tòa án Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh (2007), Báo cáo Tổng kết 5 năm ngành Tòa án Nhân dân Tp. Hồ Chỉ Mình (từ 2003-2007), Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết 5 năm ngành Tòa án Nhân dân Tp. Hồ Chỉ Mình (từ 2003-2007)
Tác giả: Tòa án Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
33. Trường ĐH Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, NXB CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường ĐH Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 2005
34. Trường ĐH Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Thành phố Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường ĐH Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Thành phố Hà Nội
Năm: 2006
35. Trường ĐH Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Tội phạm học, NXB CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tội phạm học
Tác giả: Trường ĐH Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 2008
36. Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh (2007), Tạp chí Khoa học pháp lý số 01/07 Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học pháp lý số 01/07
Tác giả: Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
37. Viện Chiến lược và Khoa học Công an (2006), Những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm có tổ chức ở Việt Nam trong tình hình mới, NXB CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm có tổ chức ở Việt Nam trong tình hình mới
Tác giả: Viện Chiến lược và Khoa học Công an
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 2006
39. Viện Kiểm sát Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh (2007), Thống kê tội phạm hình sự (từ năm 2003-2007) Viện Kiểm sát Thành phố và 24 quận huyện, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê tội phạm hình sự (từ năm 2003-2007) Viện Kiểm sát Thành phố và 24 quận huyện
Tác giả: Viện Kiểm sát Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
13. Lê Đăng Doanh (2006), “Thực trạng tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản có sử dụng công nghệ cao và một số giải pháp đấu tranh phòng, chống tội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số 01: Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Luận văn đấu tranh phòng chống tội phạm chiếm đoạt tài sản tại tp.hcm
Bảng s ố 01: Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Trang 19)
Bảng số 03: Tình hình truy tố và xét xử các vụ án về lừa đảo chiếm đoạt  tài sản tại Tp HCM từ năm 2003-2007 - Luận văn đấu tranh phòng chống tội phạm chiếm đoạt tài sản tại tp.hcm
Bảng s ố 03: Tình hình truy tố và xét xử các vụ án về lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Tp HCM từ năm 2003-2007 (Trang 21)
Bảng số 4: Thống kê tội phạm xâm phạm quyền sở hữu xảy ra tại thành  phố Hồ Chí Minh từ năm 2003-2007 - Luận văn đấu tranh phòng chống tội phạm chiếm đoạt tài sản tại tp.hcm
Bảng s ố 4: Thống kê tội phạm xâm phạm quyền sở hữu xảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003-2007 (Trang 24)
Bảng số 5: Phân tích tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Toà án thụ lý, xét xử từ - Luận văn đấu tranh phòng chống tội phạm chiếm đoạt tài sản tại tp.hcm
Bảng s ố 5: Phân tích tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Toà án thụ lý, xét xử từ (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w