1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA

251 408 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 251
Dung lượng 6,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nhận diện nét khác biệt về đời sống văn hoá của nhóm cư dân này so với các vùng khác trong tỉnh qua các yếu tố: tín ngưỡng, lễ hội; phong tục, tập quán,… Hiện nay, dưới tác động c

Trang 1

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

ĐẶNG THỊ THUÝ HẰNG

§êI Sèng V¡N HãA CñA C¦ D¢N VEN BIÓN Hµ TÜNH

THêI Kú C¤NG NGHIÖP HãA, HIÖN §¹I HãA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI

ĐẶNG THỊ THUÝ HẰNG

§êI Sèng V¡N HãA CñA C¦ D¢N VEN BIÓN Hµ TÜNH

THêI Kú C¤NG NGHIÖP HãA, HIÖN §¹I HãA

Chuyên ngành : Văn hoá học

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HOÁ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1, PGS.TS Trịnh Thị Minh Đức

2, PGS.TS Lê Quý Đức

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Đời sống văn hóa của cư dân

ven biển Hà Tĩnh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” là công trình

nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, hình ảnh và kết quả nghiên cứu của luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận án

Đặng Thị Thúy Hằng

Trang 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,

KHÁI QUÁT VỀ VÙNG VEN BIỂN HÀ TĨNH

Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA CƯ DÂN

Chương 3: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA

CƯ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH QUA TIÊU DÙNG VĂN HOÁ

91

Chương 4: XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ

CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HOÁ,

4.1 Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tiếp tục được đẩy mạnh ở vùng

Trang 5

TDVH : Tiêu dùng văn hoá

TP HCM : Thành phố Hồ Chí Minh TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1.Việt Nam có 3/4 diện tích là biển và đại dương, đường bờ biển dài

3260km kéo từ Móng Cái cho tới Hà Tiên, bao bọc lấy phía Đông, Nam và một phần phía Tây của Tổ quốc, được xếp là quốc gia có đường bờ biển dài thứ 27 trong tổng số 165 quốc gia có biển trên thế giới Nếu tính vùng biển bao gồm cả nội thuỷ, lãnh hải thì diện tích vùng biển của Việt Nam là 226.000 km2 và vùng đặc quyền kinh tế biển là 1.000.000 km2

(theo Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982 và 1994) Từ xa xưa, con người Việt Nam đã có sự gắn kết chặt chẽ với biển, nhóm cư dân cư trú ở khu vực ven biển trong quá trình sinh tồn, để thích nghi được với môi trường biển, khai thác, đánh bắt nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có của biển đảm bảo cho nhu cầu mưu sinh, họ đã tích luỹ được các tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết

về biển, về nguồn tài nguyên sinh vật biển, từ đó hình thành nên những nét văn hoá đặc trưng so với các vùng, miền khác

1.2 Bước vào giai đoạn CNH, HĐH đất nước, Đảng và Nhà nước đã ban

hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị về phát triển kinh tế vùng biển, ven biển và hải đảo Đặc biệt, có Nghị quyết số 09-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X (ngày 9-2-2007) đã ban hành “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, đánh một dấu mốc quan trọng, thể hiện tầm nhìn mới của Đảng và Nhà nước về vai trò kinh tế biển đối với sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay Trước sự tác động mạnh mẽ của sự nghiệp CNH, HĐH và Chiến lược biển, đời sống kinh tế của cư dân vùng ven biển nước ta tăng trưởng nhanh, kéo theo những biến đổi về đời sống văn hoá, dẫn đến đời sống văn hoá của cư dân vùng ven biển đứng trước những cơ hội và thách thức mới Vấn đề bảo tồn, phát huy văn hoá truyền thống, chọn lọc tiếp thu văn hoá thời đại, hình thành nên những giá trị văn hoá vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần đưa văn hoá Việt Nam thực sự trở thành nền tảng tinh thần, là mục tiêu, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, đang được đặt ra đối với vùng ven biển của cả nước nói chung và ven biển của tỉnh Hà Tĩnh nói riêng

1.3 Hà Tĩnh là tỉnh duyên hải Bắc Trung Bộ, có địa hình phong phú, bao gồm

miền núi - trung du, đồng bằng và ven biển Sự phong phú về địa lý, địa hình, tự nhiên,

Trang 7

đã tạo cho địa bàn cư trú của cư dân Hà Tĩnh rất đa dạng: có nhóm cư dân cư trú ở vùng núi như một số xã của huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Kỳ Anh; có nhóm cư dân cư trú ở vùng ven sông (như sông Lam, sông La của huyện Đức Thọ, sông Ngàn Phố của huyện Hương Sơn); có nhóm cư dân cư trú ở vùng đồng bằng màu

mỡ như cư dân ở các huyện: Can Lộc, Hồng Lĩnh, Đức Thọ,…Hà Tĩnh còn có đường

bờ biển dài (137km), với 4 cửa biển là cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhượng và cửa Khẩu Do đó, cư dân cư trú ở vùng ven biển Hà Tĩnh trải dài từ đầu đến cuối tỉnh (dọc theo đường bờ biển) qua năm huyện: Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh Nhóm cư dân ven biển Hà Tĩnh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản, có kết hợp với một số nghề phụ khác

Do tụ cư ở các vùng địa lý, địa hình khác nhau, tạo ra sự đa dạng về đời sống văn hoá của cư dân Hà Tĩnh Trong sự phong phú, đa dạng đó có dấu ấn văn hoá của nhóm cư dân định cư ở vùng ven biển, vì sống trong môi trường biển, nhóm cư dân này

đã tạo ra những bản sắc văn hoá riêng Có thể nhận diện nét khác biệt về đời sống văn hoá của nhóm cư dân này so với các vùng khác trong tỉnh qua các yếu tố: tín ngưỡng,

lễ hội; phong tục, tập quán,…

Hiện nay, dưới tác động của CNH, HĐH, đặc biệt là “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” của Đảng và Nhà nước, vùng ven biển Hà Tĩnh đang có nhiều thay đổi Từ những làng quê nghèo, sống nhờ vào nguồn cá tự nhiên kiếm được ở biển, đời sống kinh tế-xã hội rất khó khăn đã trở thành trung tâm kinh tế trọng điểm của khu vực Bắc Trung bộ, với những khu kinh tế đặc thù, chuyên biệt, mang đậm dấu ấn của thời kỳ CNH, HĐH Đời sống vật chất của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH được nâng lên một cách nhanh chóng, kéo theo đời sống văn hoá có những biến đổi sâu sắc Sự biến đổi về đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh được thể hiện với những xu hướng khác nhau, dẫn đến tính thuần nhất và nét đặc trưng độc đáo về văn hoá của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh trước thời kỳ CNH, HĐH có xu thế

bị phá vỡ, nguy cơ đánh mất bản sắc, đánh mất truyền thống, ảnh hưởng văn hoá ngoại lai, sự xâm nhập của văn hoá phẩm độc hại, hiện tượng chạy đua theo trào lưu văn hoá mới, bỏ quên, xa rời văn hoá truyền thống, chạy theo văn hoá thực dụng mà

xa rời các yếu tố văn hoá nhân bản, tiếp nhận các luồng văn hoá mới chưa được gạn lọc, khơi trong,… đang có chiều hướng gia tăng ở vùng ven biển Hà Tĩnh trong thời

Trang 8

kỳ CNH, HĐH

Với những lý do trên, việc nghiên cứu Đời sống văn hoá của cư dân ven biển

Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH, nhận diện xu hướng vận động biến đổi là vấn đề trở nên cấp thiết đối với giới nghiên cứu văn hoá ở nước ta hiện nay.Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình chuyên sâu nào đề cập một cách đầy đủ, sâu sắc và hệ thống

về vấn đề này, do đó NCS chọn đề tài “Đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà

Tĩnh thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” để làm luận án tiến sĩ, chuyên ngành

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp và phân tích các công trình nghiên của các nhà nghiên cứu đi trước

đã viết về Hà Tĩnh, cư dân, văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh

- Trình bày cơ sở lý thuyết nghiên cứu, khái niệm đời sống văn hoá, cơ cấu của đời sống văn hoá và giới thuyết nội dung nghiên cứu của đề tài

- Khảo sát, phân tích, nhận diện thực trạng Đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh trước những tác động của sự nghiệp CNH, HĐH và xu hướng vận động, biến đổi

- Nhận định những vấn đề đặt ra đối với đời sống văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH, qua đó có những khuyến nghị, đề xuất

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu về đời sống văn hoá tinh thần của cư dân ven biển Hà Tĩnh trong bối cảnh CNH, HĐH

3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi vấn đề nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu đời sống văn hoá tinh thần qua một số thành tố: tín ngưỡng, lễ hội, phong tục (có tính truyền thống); tiêu dùng văn hoá (có tính hiện

Trang 9

đại) của cư dân ven biển Hà Tĩnh trong thời kỳ CNH, HĐH

* Phạm vi không gian

Nghiên cứu các làng/xã ven biển của 5 huyện: Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch

Hà, Lộc Hà, Nghi Xuân (lựa chọn một số làng/xã điển hình để khảo sát sâu)

* Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đời sống văn hoá của cư dân ven biển hiện

nay (thời điểm khảo sát 2013- 2015), có đề cập đến đời sống văn hoá xưa (truyền thống, trước CNH, HĐH - mốc trước 1995-Hội nghị TW7 khoá VII) để đối chiếu,

so sánh, nhận diện xu hướng biến đổi

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án dựa vào cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hoá trong quá trình kiến tạo xã hội mới Từ cơ sở phương pháp luận này, tác giả vận dụng vào nghiên cứu thực trạng đời sống văn hoá tinh thần của cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay, nhận diện xu hướng vận động, biến đổi và những vấn đề đặt ra trong biến đổi đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hoá học: Luận án sử dụng các khái niệm, phạm trù, kết quả của các ngành khoa học có liên quan đến văn hoá học để nghiên cứu về đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh như: Dân tộc học/ nhân học văn hoá, Xã hội học văn hoá, Folklore học, Tâm lý học,…

- Phương pháp phân tích và tổng hợp hệ thống tư liệu của các học giả đi trước đã nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến vùng ven biển Hà Tĩnh, cư dân ven biển Hà Tĩnh và văn hoá ven biển Hà Tĩnh Qua sự phân tích này, tác giả luận

án kế thừa và đưa ra những nhận định liên quan đến các vấn đề của đề tài luận án

- Phương pháp khảo sát - điền dã của nhân học/dân tộc học văn hoá ở những điểm nằm trong không gian nghiên cứu, để tìm hiểu thực tế, sưu tầm thu thập tư liệu, thông tin qua cộng đồng cư dân tại thực địa

- Phương pháp điều tra xã hội học thông qua việc phỏng vấn sâu và bảng hỏi,

để có những tư liệu định lượng, minh chứng cho những nhận xét, đánh giá định tính

Trang 10

về biến đổi văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh

- Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa đời sống văn hoá truyền thống và hiện đại của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh để tìm ra xu hướng vận động biến đổi

- Phương pháp nghiên cứu đại diện: Chọn một số địa điểm ven biển tiêu biểu của Hà Tĩnh để minh chứng cho vấn đề mà đề tài đang đề cập, đánh giá,

- Nhận diện xu hướng vận động, biến đổi về đời sống văn hoá tinh thần của

cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH

- Phân tích, làm rõ những vấn đề đặt ra trong đời sống văn hoá tinh thần của

cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH - HĐH

6 Kết cấu của luận án

Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án chia làm 4 chương:

Chương 1:Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, khái quát về

vùng ven biển Hà Tĩnh

Chương 2: Thực trạng đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh qua tín

ngưỡng, lễ hội, phong tục

Chương 3: Thực trạng đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh qua tiêu

dùng văn hoá

Chương 4: Xu hướng biến đổi đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh

thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và những vấn đề đặt ra

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ

KHÁI QUÁT VỀ VÙNG VEN BIỂN HÀ TĨNH

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Hà Tĩnh, được mệnh danh là vùng “địa linh, nhân kiệt”, mang nhiều nét đặc trưng về địa lý, tự nhiên, đã sản sinh ra nhiều anh hùng dân tộc, nhiều nhà khoa học lớn của đất nước… Nơi đây cũng đã lắng đọng nhiều giá trị văn hoá dân tộc, kết hợp với đặc trưng vùng, tạo nên một Hà Tĩnh khác với các vùng, miền trong cả nước,… Trong thời kỳ CNH, HĐH, Hà Tĩnh là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của đất nước Thế nhưng, những nghiên cứu về Hà Tĩnh, về văn hoá

Hà Tĩnh thời hiện đại còn là một khoảng trống, đặc biệt còn thiếu những công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hoá vùng ven biển Hà Tĩnh Đây là vùng mà hiện nay đang có nhiều biến đổi trước những chủ trương lớn của Đảng, chiến lược phát triển mới của đất nước Tuy vậy, vẫn có thể tìm thấy những nội dung có liên quan đến đề tài luận án trong các công trình nghiên cứu đi trước để NCS có thể tiếp thu, kế thừa, tìm ra cái mới Vấn đề này, NCS xin được tổng hợp, phân tích, chia làm ba nhóm nội dung cụ thể như sau:

1.1.1 Các công trình viết về vùng ven biển Hà Tĩnh

Đại Nam nhất thống chí, tập 2 [59] (Quốc sử quán triều Nguyễn), viết về đạo

Hà Tĩnh, chỉ có ba huyện nhưng cả ba huyện đều có phía đông giáp biển, đó là: Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (đạo Hà Tĩnh lúc đó chỉ có ba huyện) Vì vậy, Hà Tĩnh khi đó chỉ có hai cửa biển là cửa Nhượng và cửa Khẩu, cả hai cửa biển đều

nắm giữ vị trí chiến lược quan trọng của đất nước Về địa hình của Hà Tĩnh, Đại Nam nhất thống chí nhận định: dài và hẹp “Xung quanh là núi giáp biển Chiều nam

bắc dài mà chiều đông tây ngắn, từ biển lên núi chỉ nửa ngày đường”[59, tr.87]

Bùi Dương Lịch trong công trình Nghệ An ký [49] gồm hai quyển viết về

Thiên chí, Địa chí và Nhân chí trên đất Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh ngày nay) Trong công trình này tác giả đã đề cập đến núi, sông và các cửa biển của Hà Tĩnh,

Trang 12

là cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhượng và cửa Khẩu (trong tổng số 12 cửa biển của Nghệ

An thời đó) Tuy nhiên, về các ngọn núi được đề cập trong công trình này, ngày nay tên gọi đã khác và địa giới hành chính giữa các xã, huyện của tỉnh Hà Tĩnh ngày nay đã có nhiều thay đổi

Đất nước Việt Nam qua các đời [1] của Đào Duy Anh (các trang 194-195;

208-209) ghi chép về sự thay đổi phạm vi hành chính của tỉnh Hà Tĩnh dưới thời Minh Mệnh và Tự Đức (những năm 1822-1852) Ở thời điểm đó, tỉnh Hà Tĩnh chỉ

có hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa (bao gồm Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh ngày nay), hai huyện Cam Môn, Cam Cớt (của nước Lào) thuộc trấn Đinh Lệ phủ Đức Thọ

Về sau hai huyện Cam Môn, Cam Cớt thuộc lãnh thổ nước Lào (như ngày nay) và tỉnh Hà Tĩnh về sau gồm có các huyện: Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Can Lộc, Nghi Xuân, Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ và phủ Hà Thanh (Hà Hoa)

Phong thổ ký các huyện tỉnh Hà Tĩnh [56] (nhiều tác giả), giới thiệu rất khái

quát các huyện thuộc tỉnh Hà Tĩnh (lúc đó chưa có huyện Vũ Quang và huyện Lộc

Hà như hiện nay) về các mặt: Lịch sử, địa dư, sơn lĩnh, sông hói (những lạch nước nhỏ, khe nước nhỏ, nhánh nhỏ của dòng sông), nhân dân (nhân vật lịch sử), đường sá,… Cho biết bốn huyện Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (4/5 huyện

ven biển của Hà Tĩnh hiện nay), có phía đông giáp biển Đặc biệt Phong thổ ký các huyện tỉnh Hà Tĩnh đã đề cập đến nghề biển và một số nghề có liên quan đến biển ở

bốn huyện này, như: nghề tết buồm cói ở Yên Hội, nghề nước mắm ở Cương Gián (huyện Nghi Xuân), làm cá, làm muối (huyện Cẩm Xuyên), đánh cá, đan lưới (huyện kỳ Anh), làm muối ở Hộ Độ, làm nước Mắm ở cửa Sót (thuộc hai xã Hộ Độ

và Thạch Kim của huyện Lộc Hà ngày nay)

Địa chí Cẩm Nhượng [48] (Phạm Lê chủ biên), khái quát lên bức tranh toàn

cảnh về xã cửa biển Cẩm Nhượng, từ cảnh quan thiên nhiên đến các phong tục tập quán, tín ngưỡng lễ hội, phương thức đánh bắt, các ngành nghề chủ yếu của cư dân xã Cẩm Nhượng từ những năm trước 1945 cho đến thời kỳ Đổi mới (1986),… Đây là nguồn tư liệu quý, NCS sử dụng để so sánh đối chiếu với những biến đổi đời sống văn hoá cư dân của xã Cẩm Nhượng ngày nay, và đối chiếu, so sánh với 34 xã ven

Trang 13

biển khác của Hà Tĩnh

Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý [65] của tác giả Lê Bá Thảo, đề cập đến

địa lý, địa hình của các khu vực trong cả nước, đưa ra nhận định về miền Trung và ven biển miền Trung (trong đó có Hà Tĩnh) rằng: đây là vùng có chiều dài gấp nhiều lần chiều rộng, điều kiện tự nhiên có nhiều khó khăn, về tài nguyên thiên nhiên “những tài nguyên với tới được thì không thật giàu hoặc đã bị phá hoại gần hết, có những tài nguyên có tiềm năng lớn, thí dụ như tài nguyên hải sản hoặc khoáng sản thì điều kiện khai thác khó khăn” [65, tr.386]

Như vậy, các công trình nghiên cứu đi trước trên đây đã cho biết địa danh một

số huyện giáp biển của Hà Tĩnh, cũng như các cửa biển thuộc về Hà Tĩnh xưa và nay Tuy nhiên số liệu không còn phù hợp, vì hiện nay các huyện của Hà Tĩnh đã khác

1.1.2 Các công trình viết về cư dân ven biển Hà Tĩnh

Cư dân ven biển Hà Tĩnh đã được đề cập khá sớm ở một số công trình của các học giả trong và ngoài nước

Trước hết phải kể đến An - Tĩnh cổ lục [37] của Hippolyte le Breton, gồm hai

thiên, trong đó một thiên viết về người tiền sử trên mảnh đất An - Tĩnh (Nghệ An và

Hà Tĩnh) Từ những di vật tìm thấy ở các di chỉ khảo cổ học, Hippolyte le Breton khẳng định: tất cả những “di vật đồ ăn thừa”ở vùng An - Tĩnh thuộc thời đại đồ đá mới và con người thời đại đồ đá mới chỉ xuất hiện ở các đồng bằng ven biển của An - Tĩnh và Quảng Bình, đó chính là cư dân Bàu Tró, nhóm cư dân này ngoài bắt các nhuyễn thể ở các đầm phá ven biển và sông hồ để ăn, đã tiến hành đánh bắt các loài

cá ở biển, với dấu tích để lại ở các di chỉ khảo cổ học có xương của các loại cá biển

rất lớn Thiên thứ hai trong An - Tĩnh cổ lục, Hippolyte le Breton ghi chép những

danh lam thắng cảnh và những di tích mang tính chất truyền thuyết và lịch sử của vùng An - Tĩnh xưa, có nhắc đến núi Nam Giới (biên giới phía nam nước ta với Chiêm Thành vào thế kỷ thứ VII-X, một ngọn núi giáp biển thuộc huyện Thạch Hà ngày nay), đền Lê Khôi (ở cửa Sót – huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh) và bốn cửa biển của Hà Tĩnh hiện nay (thuộc An - Tĩnh hồi đó) là cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhượng, cửa Khẩu,…

Trang 14

Biển với người Việt cổ [19] công trình của Viện nghiên cứu Đông Nam Á,

nghiên cứu về người Việt cổ với việc khai thác tài nguyên sinh vật biển Những kết quả nghiên cứu của công trình đã cung cấp cái nhìn lịch đại để nhận thấy người Việt thời tiền, sơ sử cho đến thời kỳ độc lập tự chủ và kể cả ngày nay luôn có mối quan

hệ khăng khít không tách rời biển Vì vậy, mối quan hệ giữa người Việt với biển được xem như là một tất yếu, khi mà đất nước Việt Nam có chiều dài bờ biển lên tới 3.260km, các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ trong đất liền, lại nằm trên trục đường giao thông của ngã ba Đông Nam Á, thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, một vị trí chiến lược quan trọng cho sự phát triển kinh tế - chính trị - quân sự - văn hoá - xã hội, vị trí chiến lược cho việc

“tiến ra biển”, Do đó, việc cư dân Việt sớm tiếp cận với biển theo các tác giả là một tất yếu Công trình nghiên cứu này còn cung cấp những thông tin cho thấy ở Hà Tĩnh vào thời tiền sử (Đồ đá mới) có hai nhóm cư dân cư trú đã biết khai thác tài nguyên sinh vật biển để sinh tồn, mặc dù chưa phải là chuyên hoá nghề biển, nhưng

đã biết khai thác biển bên cạnh sản xuất nông nghiệp và săn bắn, đó là cư dân của văn hoá Quỳnh Văn với dấu vết để lại là di chỉ Phái Nam (Thạch Lâm - Thạch Hà)

và cư dân của văn hoá Bàu Tró - Thạch Lạc (Thạch Hà) với dấu vết để lại là 13 địa điểm khảo cổ học trên đất Hà Tĩnh Từ những nghiên cứu này cho thấy cư dân tiền trú ở Hà Tĩnh đã tiếp xúc với biển

Văn hoá Bàu Tró [55] của tác giả Phạm Thị Ninh, đã xác lập rõ những nét

đặc trưng của nền văn hoá Bàu Tró nói chung và văn hoá Bàu Tró trên đất Hà Tĩnh nói riêng Theo Phạm Thị Ninh về tính chất biển ở các địa điểm di tích của Hà Tĩnh đậm nét hơn cả, thể hiện qua các di tích cồn sò điệp, các hiện vật và các dấu ấn hoạt động kinh tế khai thác biển và sản xuất nông nghiệp của cư dân văn hoá Thạch Lạc

để lại Như vậy, có thể nói vào thời tiền sử, Hà Tĩnh là địa điểm cư trú thích hợp cho cư dân Bàu Tró sinh sống, trung bình các di tích cồn vỏ sò điệp của văn hoá Bàu Tró có độ dày từ 4-5m, trong khi đó ở di tích Thạch Lạc (Thạch Hà - Hà Tĩnh) dày tới 12m và có tới 4-5 tầng văn hoá; địa bàn phân bố của các di tích văn hoá Bàu Tró ở Hà Tĩnh nơi gần biển nhất (hiện nay) là 4km, nơi xa nhất là 12km [55, tr.44]

Trang 15

Trong loại hình Thạch Lạc không chỉ dừng lại ở thu lượm những động vật thân mềm sẵn có ở ven bờ, mà còn tiến hành đi khơi, đi lộng để đánh bắt cá, có di tồn xương của những loài cá rất to thu được từ các cồn sò điệp Thạch Lạc, Thạch Lâm

đã chứng minh cho nhận định này Tất cả những nghiên cứu về văn hoá Bàu Tró trên đất Nghệ An - Hà Tĩnh, theo Phạm Thị Ninh đã nói lên cư dân văn hoá Bàu Tró không chỉ có cuộc sống ổn định, lâu dài trên mảnh đất này, mà cuộc sống của họ còn rất phong phú, sôi động Dù cư trú ở cồn sò điệp ven biển, hay những cồn đất, cồn cát ven cửa sông, lạch đều có xu hướng hướng ra biển, khai thác biển và gần gũi với các nguồn nước, họ đã có sự phân công lao động và quan hệ trao đổi với các nhóm cư dân văn hoá Bàu Tró ở các vùng Kết luận cho cuốn sách, Phạm Thị Ninh đưa ra nhận định: Văn hoá Bàu Tró có một vị trí quan trọng trong hệ thống văn hoá vùng ven biển miền trung, là chiếc cầu nối giữa văn hoá Quỳnh Văn với văn hoá Sa Huỳnh

Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam [70] của tác giả Nguyễn Duy Thiệu, là công

trình nghiên cứu tương đối toàn diện và sâu các mặt đời sống của cộng đồng ngư dân, về cơ cấu tổ chức xã hội và các phương thức, ngư cụ đánh bắt truyền thống, tác giả cũng đã giới thiệu ba tín ngưỡng có tính đại diện của ngư dân trong đời sống sinh hoạt tinh thần, đó là: thờ cá Ông, thờ Mẫu và thờ Thánh Đặc biệt, công trình

đã đề cập đến cộng đồng ngư dân Cửa Sót (một trong bốn cửa biển của Hà Tĩnh) và đưa ra nhận định: đây là vùng có đặc điểm cư dân bác tạp và đông đúc, đất đai chật hẹp và cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, cửa biển bé nhỏ,… tác giả cũng đã giới thiệu phương thức đánh bắt của ba nhóm cư dân chính ở cửa Sót, mà theo tác giả đã lấy đánh cá làm nghề sống chính, đó là: nhóm thuỷ cư trên sông, nhóm thuỷ cư ở cửa biển, và nhóm ngư dân sống trên đất liền Tuy nhiên, hiện nay cả ba nhóm cư dân đều sống trên đất liền và đã có những biến đổi

Nghiên cứu về cư dân ven biển Việt Nam, tác giả Nguyễn Duy Thiệu còn

có một số công trình công bố trên các tạp chí, như: Các cộng đồng ngư dân thuỷ

cư tại vùng biển Việt Nam [75]; Người Bồ Lô và Vạn Kỳ Xuyên [69]; Nhật trình đi biển của người Bồ Lô tại vùng biển Bắc Trung Bộ [71]; Người Việt (Kinh) vùng

Trang 16

ven biển miền Trung hội nhập cùng biển cả [76];… Trong các công trình này, hầu

hết Nguyễn Duy Thiệu quan tâm đề cập đến nhóm cư dân thuỷ cư chính (nhóm cư dân chuyên nghề đánh bắt, có thuyền và các ngư cụ), trong đó có nhóm cư dân Bồ

Lô (nhóm cư dân này rất giỏi đánh bắt ở vùng biển, có cư trú ở một số địa điểm ven biển Hà Tĩnh),

Các công trình nghiên cứu về cư dân Hà Tĩnh trên đây, chủ yếu nhắc đến cư dân tiền trú và có chung nhận định cư dân tiền trú trên đất Hà Tĩnh là cư dân văn hoá Quỳnh Văn và cư dân văn hoá Bàu Tró Nhóm cư dân tiền trú ở Hà Tĩnh chủ yếu sống ở đồng bằng ven biển, đánh bắt cá và các loài nhuyễn thể ở biển, sông, hồ Về

cư dân hiện đại được các công trình đi trước đề cập có nguồn gốc bác tạp

1.1.3 Các công trình viết về văn hoá ven biển Hà Tĩnh

Làng cổ Hà Tĩnh, 2 tập [29, 31] do Thái Kim Đỉnh chủ biên, đã giới thiệu 78 làng, xã của Hà Tĩnh, trong đó có 11 làng, xã ven biển Về cơ bản, Làng cổ Hà Tĩnh

là cuốn biên niên sử về các làng, xã của Hà Tĩnh, nên tác giả chủ yếu tập trung viết

về lịch sử làng gắn với các truyền thuyết, các huyền thoại, các sự tích hình thành làng, các dòng họ chính đã sinh cơ lập nghiệp ở làng Tuy nhiên, trong đó tác giả đã

đề cập đến những nghề nghiệp chính của cư dân trong làng, mà đối với các làng ven biển đó là nghề đánh cá và nấu muối

Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh [30], Thái Kim Đỉnh chủ biên, giới thiệu một số

lễ hội tiêu biểu ở Hà Tĩnh, trong đó có ba lễ hội thuộc vùng ven biển, là: Tục thờ Ngư Thần và lễ Cầu Ngư ở Hội Thống, lễ Cầu Ngư và hội Đua Thuyền ở Nhượng Bạn, lễ hội du xuân - Cầu Ngư ở làng Động Gián Khi giới thiệu các lễ hội này, tác giả chỉ dừng ở cung cấp tên lễ hội, ngày diễn ra lễ hội, chưa mô tả tiến trình, cũng như các yếu tố tín ngưỡng văn hoá diễn ra trong lễ hội

Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh [12], Nguyễn Đổng Chi chủ biên, gồm

bảy phần, trong đó giới thiệu về đặc trưng tính cách của người xứ Nghệ, những tri thức, hiểu biết về địa lý, kỹ thuật, y dược, lịch sử, triết lý sống, thơ, ca, âm nhạc, nghệ thuật, món ăn dân gian, phong tục tập quán dân gian,… của người dân xứ Nghệ từ những năm trước cách mạng Tháng Tám (1945) Đây là công trình công phu của tập thể tác giả, việc giới thiệu văn hoá dân gian (folklore) của một không

Trang 17

gian rộng lớn mang nhiều nét đặc trưng vùng (huyện, làng, xã), thậm chí là từng nhóm cư dân như xứ Nghệ không phải là điều dễ làm Lời đầu cuốn sách Nguyễn Đổng Chi đã tự nhận xét: “công trình nghiên cứu này mang tính giới thiệu hết sức khái lược, vẫn chỉ có tính chất cưỡi ngựa xem hoa Có lẽ cần chờ sự bổ sung của những bộ địa chí về văn hoá dân gian của những đơn vị nhỏ (như huyện, xã) hay của từng tộc người Nghệ Tĩnh,…” [12, tr.13] Mặc dù là khái lược (như tác giả tự

nhận xét), nhưng Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, luôn là nguồn tư liệu quý, gợi

mở nhiều hướng nghiên cứu mới, chỉ ra các con đường mà những nhà nghiên cứu đi sau có thể dựa vào đó để sưu tầm, thu thập tư liệu, khảo sát thực địa,…

Trong Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh, đã đề cập đến ba huyện ven biển

phía nam Hà Tĩnh là Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (Thạch, Cẩm, Kỳ) Tác giả cũng đã nhắc đến một số phong tục, kiêng kỵ, và sinh hoạt văn hoá dân gian của cư dân vùng ven biển xứ Nghệ trước những năm 1945, trong đó có đề cập đến các phường, hội nghề nghiệp của người dân Nghệ Tĩnh Hội Vạn Chài được tác giả nhắc đến với tư cách là một tổ chức hội nghề truyền thống, mở rộng ra toàn tỉnh, lấy các cửa lạch làm đơn vị, luân phiên các địa điểm khác nhau hàng năm vào tháng giêng họp lại để cúng Tứ vị mà đứng đầu là Thánh Mẫu (Bà Cờn), lễ cúng

có tam sinh và đặc biệt là có uống máu ăn thề, lời thề là cứu giúp nhau khi hoạn nạn, tương thân tương ái, ai làm trái thì bị thần thánh làm hại,…

Văn hoá làng biển ở xứ Nghệ [35] của tác giả Ninh Viết Giao, đi vào phân

tích đặc điểm của các làng biển ở Nghệ Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh) cũng như khắp cõi Việt Nam, trước đây có hai dạng cơ bản là Bãi dọc và Bãi ngang, gần đây có thêm một dạng mới là biển - đô thị, tác giả đi vào giải thích thế nào là làng bãi dọc

và làng bãi ngang Tác giả Ninh Viết Giao khẳng định: Cư dân sớm nhất ở các làng biển Nghệ Tĩnh phải kể đến là cư dân văn hoá Quỳnh Văn và cư dân văn hoá Bàu Tró, hai nhóm cư dân tiền sử này có mặt ở cả Nghệ An và Hà Tĩnh Đồng thời tác giả có nhiều minh chứng từ các công trình nghiên cứu trong lịch sử cho rằng Nghệ Tĩnh là một trong những vùng đất cổ, tác giả đưa ra những chứng minh, rồi nhận định rằng trong số cư dân ven biển xứ Nghệ nói chung, Hà Tĩnh nói riêng hiện nay

có người bản địa từ xa xưa, có người ở đồng bằng Bắc Bộ, có người ở Thanh Hoá,

Trang 18

có người ở phương Bắc, có người ở phương Nam (tức là có người Việt Nam, có người Trung Quốc, có người Chiêm Thành, có người Bồ Lô) Về nghề nghiệp của

cư dân ven biển Nghệ Tĩnh, theo tác giả vẫn tồn tại song song hai nghề: nông nghiệp và đánh cá Ninh Viết Giao quan tâm trình bày các phương thức đánh bắt và các ngư cụ đánh bắt, quan tâm đến cuộc sống vất vả tất bật và không chắc chắn về sinh mạng của cư dân nơi đây (khi không được nhà nước phong kiến quan tâm dự báo thời tiết, khí hậu, thuỷ văn, ) được thể hiện qua những bài vè - một nét đặc trưng văn hoá dân gian xứ Nghệ, nặng về phản ánh cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Từ cuộc sống bấp bênh và bấp bênh đến cả tính mạng của cư dân vùng ven biển Nghệ Tĩnh, ông nêu một số tín ngưỡng mà ngư dân tin tưởng thờ cúng bằng những liệt kê: “Từ Quỳnh Lưu cho đến Kỳ Anh, dọc bờ biển ta thấy ngư dân thờ các vị thần: Tứ vị thánh nương, Sát Hải đại vương Hoàng Tá Thốn, Chiêu Trưng vương Lê Khôi, Loan Nương Nguyễn Thị Bích Châu, Cao Sơn Cao Các, Tam toà Thánh Mẫu mà đứng đầu là Liễu Hạnh công chúa, Ông Cá (tức cá Voi), Tam toà đại vương Lý Nhật Quang,v.v…” [35, tr 20]

Văn hoá dân gian làng ven biển [84], Ngô Đức Thịnh chủ biên, giới thiệu

văn hoá dân gian của cư dân một số vùng ven biển Việt Nam, trong số chín vùng ven biển được giới thiệu trong công trình, tỉnh Hà Tĩnh có hai vùng là: Vùng biển Cửa Sót (của tác giả Nguyễn Duy Thiệu) và làng biển Nhượng Bạn (của tác giả Võ Quang Trọng) Trong đó, vùng biển Cửa Sót được tác giả Nguyễn Duy Thiệu đề cập nhiều đến phương thức đánh bắt, các tri thức kinh nghiệm đánh bắt, cơ cấu tổ chức

xã hội truyền thống Còn ở làng Cẩm Nhượng, Võ Quang Trọng đề cập đến các sinh hoạt văn hoá dân gian của cư dân xã Cẩm Nhượng trước thời kỳ đổi mới Cả hai tác giả đã cung cấp nguồn tư liệu có giá trị làm cơ sở kế thừa và so sánh, đối chiếu với các làng ven biển này trong thực tế xã hội hiện nay

Văn hoá biển miền Trung và văn hoá biển Tây Nam Bộ [41], ở công trình

nghiên cứu này, có bài viết của Nguyễn Trí Sơn đề cập đến hò Chèo Cạn và Hội Đám Chay - nét sinh hoạt văn hoá tinh thần của ngư dân làng biển Nhượng Bạn (xã Cẩm Nhượng, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh) Bài viết tập trung giới thiệu hai trong

số rất nhiều những lễ hội, trò diễn truyền thống tiêu biểu của ngư dân vùng biển

Trang 19

Cẩm Nhượng Tuy vậy, hiện nay hội Đám Chay không còn tồn tại, còn hò Chèo Cạn đã được phục dựng và có nhiều yếu tố mới mang màu sắc thời đại

Đề cập đến văn hoá ven biển thời kỳ đổi mới có bài viết của Lê Hồng Lý, Đôi nét về văn hoá dân gian ven biển trong nền kinh tế thị trường [52] Trong bài

viết của mình, tác giả đã khẳng định: Biển luôn ở cạnh người Việt, nhưng hình như

nó không được người Việt chú ý đến và việc khai thác biển của người Việt chủ yếu

là khai thác ven bờ và vùng nước lợ Tác giả đã giới thiệu một số sinh hoạt văn hóa tiêu biểu của các cộng đồng cư dân ven biển nước ta như: lễ hội cá Ông, lễ hội thờ Thành Hoàng làng, tín ngưỡng thờ tổ tiên với vấn đề nhà thờ họ hiện nay, các phong tục thuyền mới, lưới mới Tác giả cho rằng với cư dân ven biển, thường cùng thờ nhiều vị thần có công trong dịp lễ hội,…Vấn đề mới trong bài viết của Lê Hồng

Lý là tác giả đã đề cập đến những tác động của thời kinh tế mở cửa, của nền kinh tế thị trường, làm cho bộ mặt đời sống của cư dân ven biển có nhiều thay đổi, trở thành nơi giao lưu buôn bán sầm uất và cũng từ nền kinh tế thị trường đã làm cho nhiều yếu tố văn hoá biến đổi, tác giả đã chấm phá một số nét thay đổi cơ bản nhất trong đời sống của cư dân ven biển

Văn hoá dân gian người Bồ Lô ven biển Hà Tĩnh [87], luận án Tiến sĩ của

Phạm Thanh Tịnh, đã khái quát lên bức tranh toàn cảnh về người Bồ Lô ven biển

Hà Tĩnh trong xã hội truyền thống cho đến hiện nay Tuy nhiên, cư dân Bồ Lô chỉ là một bộ phận rất nhỏ của cư dân ven biển Hà Tĩnh, sống tập trung chủ yếu ở hai trong số bốn cửa biển của Hà Tĩnh là Cửa Nhượng và Cửa Sót

Tóm lại, từ những tập hợp, tổng thuật, phân tích các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài luận án, nhận thấy:

- Về phương diện địa lý, tự nhiên, các công trình nghiên cứu đi trước nhận định Hà Tĩnh là tỉnh có bờ biển dài, biển Hà Tĩnh có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú, có nhiều hải sản quý, các cửa biển Hà Tĩnh đóng vai trò quan trọng về kinh tế, quân sự, văn hoá, giao lưu, Dọc bờ biển Hà Tĩnh về phía nam từ núi Nam Giới (huyện Thạch Hà) trở vào (hết huyện Kỳ Anh) có đan xen những ngọn núi mọc ra tận biển… Đây là các điều kiện tài nguyên, khoáng sản, địa lý tự nhiên để Hà Tĩnh có một bộ phận cư dân sinh sống ở dọc ven biển, tạo dựng nên

Trang 20

một nền văn hoá biển và ngày nay trở thành trung tâm CNH, HĐH của tỉnh

- Từ các di chỉ khảo cổ học trên đất Hà Tĩnh, các công trình nghiên cứu đi trước đã khẳng định cư dân tiền sử đã từng cư trú trên đất Hà Tĩnh, chủ yếu là sinh sống ở các vùng ven sông biển, ăn các loài nhuyễn thể và đã để lại dấu vết đánh bắt

ở vùng khơi, vùng lộng bên cạnh sản xuất nông nghiệp, đó là cư dân văn hoá Quỳnh Văn và cư dân văn hoá Bàu Tró Ngoài cư dân tiền trú, một số công trình nghiên cứu còn nhận định vào khoảng từ thế kỷ thứ II - VIII (SCN) - vào đời Nam Tống đến các triều đại phong kiến sau này, ở Hà Tĩnh còn có người Trung Quốc, người Chiêm Thành, người Bồ Lô, người miền Bắc, người Thanh Hoá, người Quảng Bình

do chạy loạn hoặc đến làm quan hoặc do di cư đã đến lánh nạn, cư trú ở Hà Tĩnh và

họ sống chủ yếu ở các làng ven biển Những công trình nghiên cứu này góp phần khẳng định cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh có nguồn gốc bác tạp

- Một số công trình nghiên cứu văn hoá đã đề cập đến các phương thức đánh bắt, phương thức tổ chức đời sống xã hội, các nghề thủ công nổi tiếng ở một số vùng thuộc ven biển Hà Tĩnh và một số nét sinh hoạt phong tục, tập quán, lễ hội của

cư dân ven biển Hà Tĩnh, nhưng chủ yếu đề cập ở góc độ xã hội truyền thống Cũng

có công trình đề cập đến văn hoá ven biển trong nền kinh tế thị trường, nhưng chỉ dừng ở một vài nét chấm phá về xu hướng biến đổi của văn hoá ven biển Việt Nam nói chung trong phạm vi một bài báo Hoặc như ở Luận án tiến sĩ của Phạm Thanh Tịnh lại chỉ đề cập đến những biến đổi về văn hoá của một bộ phận cư dân Bồ Lô ven biển Hà Tĩnh, cũng chỉ đến thời kỳ đổi mới, chưa có công trình chuyên sâu nào đề cập đến đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH

Vì vậy, việc nghiên cứu có hệ thống đời sống văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH, nhận diện xu hướng biến đổi, là những vấn đề có giá trị,

ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn, đây chính là nội dung cơ bản mà đề tài luận

án tập trung giải quyết

1.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.1 Khái niệm đời sống văn hoá và cơ cấu của nó

1.2.1.1 Khái niệm đời sống văn hoá

Ở nước ta thuật ngữ “Đời sống văn hóa” được đề xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng cộng sản Việt Nam (năm 1981) Văn kiện của Đại

Trang 21

hội đưa ra chủ trương xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở: “Một nhiện vụ của cách mạng tư tưởng và văn hóa là đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân Đăc biệt chú ý xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, bảo đảm cho mỗi nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường, ấp, đều có đời sống văn hóa‟‟ [21]

Từ năm 1981 đến nay, thuật ngữ ĐSVH đã được sử dụng khá phổ biến trong các sách báo, trong đời sống thực tiễn, song chưa có một quan niệm thống nhất Tuy

có nhiều quan niệm khác nhau về ĐSVH, nhưng tựu trung có hai loại quan niệm rộng và hẹp sau đây:

- Quan niệm rộng: Quan điểm của Viện Văn hóa-Bộ văn hóa trong sách Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở (năm 1984) „„Đời sống văn hóa là gì? Đó là một bộ

phận của đời sống con người nói chung, nhưng là một bộ phận đặc biệt bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống con người, đời sống con người là một tổng thể, một tập hợp những yếu tố vật chất và tinh thần là toàn bộ những hoạt động của con người để thỏa mãn những yêu cầu vật chất và tinh thần của nó nhằm duy trì sự sống từ thế hệ này sang thế hệ khác”‟[101, tr.21]

Cũng trong tài liệu trên, tác giả Mai Luân tán thành quan niệm Đời sống văn hóa theo nghĩa rộng của Viện văn hóa và giải thích thêm: “ĐSVH bao trùm lên toàn

bộ đời sống con người (cũng là toàn bộ đời sống xã hội), hai khái niệm “đời sống con người” và “đời sống văn hóa” cùng có một phạm vi giống nhau Bởi vì con người chỉ có thể trở thành con người khi con người trở thành con người văn hóa (còn vấn đề con người trở thành con người- văn hóa đến mức nào đó là một vấn đề khác)”[101, tr.121-122] Ông đưa ra sơ đồ về mối quan hệ giữa đời sống con người

và đời sống văn hóa như sau:

Đời sống con người = đời sống văn hóa

Đời sống tinh thần = đời sống văn hóa tinh thần Đời sống vật chất = đời

sống văn hóa vât chất

Trang 22

Tác giả Hoàng Vinh trong tài liệu Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta (năm 1999) cho rằng: “Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời

sống xã hội, mà đời sống xã hội là một phức thể những hoạt động của con người, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nó Nhu cầu vật chất được đáp ứng làm cho con người tồn tại như một sinh thể Còn nhu cầu tinh thần thì giúp con người tồn tại như một sinh thể xã hội, tức là một nhân cách văn hóa Hai nhu cầu này xuất hiện khi con người hình thành về mặt giống loài, tức là từ buổi bình minh của xã hội loài người Tuy vậy, khi xã hội phát triển lên cao, đạt tới trình độ phát triển tương ứng Từ hai nhu cầu cơ bản nêu trên hình thành nhu cầu văn hóa, thể hiện khía cạnh, chất lượng của trình độ đáp ứng nhu cầu” [105, tr.262]

Cùng với quan điểm của các tác giả trên, tác giả Nguyễn Thị Phương Lan lại diễn giải về ĐSVH như sau: “Đời sống văn hóa là tổng thể những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần nằm trong những cảnh quan văn hóa, những yếu tố hoạt động văn hóa, những sự tác động lẫn nhau trong đời sống xã hội tạo ra những quan hệ có văn hóa trong cộng đồng người, trực tiếp làm hình thành lối sống của con người trong xã hội” [47, tr.15]

Như vậy, các tác giả dù có diễn giải khác nhau (đôi chỗ mâu thuẫn với nhau) song đều thống nhất với nhau rằng: “phải hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa rộng không bó hẹp tính văn hóa vào một lĩnh vực nào đó mà coi đời sống văn hóa là khái niệm rộng rãi bao quát mọi mặt của đời sống xã hội: sản xuất, trao đổi, tiêu dùng, nhận thức, sáng tạo”… “cả trong lĩnh vực sản xuất, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất” [101, tr.24]

NCS cho rằng các quan niệm trên về ĐSVH tuy ít nhiều có sự hợp lý, nhưng qúa rộng Đúng là đời sống con người khác về bản chất so với đời sống động vật Bởi đời sống con người có sự thẩm thấu và bị quy định bởi thuộc tính văn hóa- một thuộc tính đặc hữu, mang tính tộc loại của con người Song dẫu vậy, đời sống con người cũng không thể qui vào ĐSVH chỉ vì nó mang thuộc tính văn hóa Đời sống con người cũng còn mang và bị chi phối bởi thuộc tính sinh học Song cũng không

ai qui đời sống con người là đời sống sinh học

Nếu ĐSVH được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động liên quan đến các sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần của xã hội, thì nội hàm của

Trang 23

khái niệm này quá rộng lớn, khó có thể nghien cứu thấu đáo Hơn thế, nếu nói ĐSVH Là toàn bộ hoạt đông sống của con người, bao gồm cả hoạt động vật chất lẫn hoạt động tinh thần, thì điều đó có nghĩa là chúng ta đồng nhất “ĐSVH” với “hoạt động sống” Khi đó không cần phải có khái niệm đời sống văn hóa nữa, mà chỉ cần nghiên cứu “hoạt động sống” là đủ [102, tr.68]

Chính vì vậy, cũng ngay trong sách Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở của

Viện Văn hóa-Bộ văn hóa, các tác giả đã đề xuất cách hiểu đời sống văn hóa theo nghĩa hẹp: “Tuy nhiên, trong khi giữ quan niệm tổng thể về đời sống văn hóa, chúng ta có thể nói tới “đời sống văn hóa” theo nghĩa hẹp hơn: đó là lĩnh vực đời sống con người có liên quan tới hưởng thụ và sáng tạo những sản phẩm văn hóa được gọi là “tác phẩm văn hóa” Đó là những sản phẩm mang tính biểu tượng được thể hiện dưới hình thức:ngôn ngữ nói, văn tự, dấu hiệu đồ thị, dấu hiệu âm thanh, dấu hiệu hình ảnh, dấu hiệu ứng xử, dấu hiệu pha trộn (…) Việc sản xuất và tiêu thụ các tác phẩm văn hóa được tiến hành theo phương thức thẩm mỹ và chủ yếu trong thời gian rỗi, nhất là về mặt tiếp thu” [101, tr.26] Quan niệm về đời sống văn hóa theo nghĩa “hẹp” này có mấy nội dung cơ bản:

-Đời sống văn hóa là một lĩnh vực của đời sống con người có liên quan đến việc sáng tạo, hưởng thụ (tiêu dùng) sản phẩm văn hóa tinh thần hay “tác phẩm văn hóa”

-Tác phẩm văn hóa dưới hình thức biểu tượng được tiến hành theo phương pháp thẩm mỹ (đáp ứng nhu cầu sáng tạo, hưởng thụ mang tính thẩm mỹ) Nhu cầu thẩm mỹ chính là nhu cầu tinh thần chứ không phải là nhu cầu vật chất

-Đời sống văn hóa diễn ra trong thời gian rỗi là chủ yếu (nhất là viêc tiếp thu/hưởng thụ và đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của con người)

Từ sự phân tích trên, NCS cho rằng: quan niệm về đời sống văn hóa theo nghĩa “hẹp” gắn với đời sống tinh thàn của con người hơn và đặc biệt gắn với các hoạt động tinh thần trong thời gian rỗi là chủ yếu Nó đã khu biệt được nội hàm và ngoại diên của khái niệm ĐSVH không có sự lẫn lộn giữa ĐSVH với đời sống con người hay đời sống xã hội Nó được diễn đạt một cách rõ ràng không còn trìu tượng như cách hiểu theo nghĩa rộng: “Đó là một bộ phận của đời sống con người nói chung, nhưng nó là một bộ phận đặc biệt, bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống con người”[101, tr.21] Nó cũng không giống như cách giải thích của tác giả Mai Luân,

Trang 24

Hoàng Vinh mà luận án đã dẫn ở trên Đồng thời nó cũng khác với quan niệm của tác giả Nguyễn Thị Phương Lan về đời sống văn hóa lẫn lộn với môi trường văn hóa “đời sống văn hóa là những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần nằm trong cảnh quan văn hóa…”

NCS dựa vào quan niệm về ĐSVH theo nghĩa “hẹp” của Viện Văn hóa- Bộ

Văn hóa (đã trình bày ở trên) để đưa ra quan niệm về đời sống văn hóa sau đây: Đời sống văn hóa là tổng thể sống động những hoạt động tinh thần của con người (cá nhân và cộng đồng) trong thời gian rỗi là chủ yếu, bao gồm: sáng tạo, biểu hiện, truyền bá, thưởng thức, tiêu dùng … các sản phẩm văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người

Quan niệm mà NCS đưa ra có những nội dung đáng chú ý sau:

- Đời sống văn hóa là tổng thể sống động những hoạt động tinh thần trong thời gian rỗi là chủ yếu Như vậy, ĐSVH gắn với hoạt động tinh thần hay nói cách khác ĐSVH được dệt nên bởi hoạt động tinh thần

Song có những hoạt động tinh thần không thuộc về ĐSVH khi nó được tiến hành trong thời gian tất yếu (thời gian lao động tất yếu, bắt buộc của cá nhân hoặc cộng đồng) như các hoạt động học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, thậm chí sáng tạo nghệ thuật do nghĩa vụ mà chủ thể của nó phải làm Ngược lại có những hoạt động tinh thần tuy diễn ra trong thời gian tất yếu như hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, ma chay, cưới xin,… lại thuộc về ĐSVH vì nó thể hiện nhu cầu tinh thần, tâm linh của con người một cách tự do, tự nguyện Về phương diện xã hội, thời gian dành cho các hoạt động trên cũng là thời gian “rỗi” mà xã hội tạo được, khi người ta có thể rút bớt được thời gian lao động tất yếu

- Đời sống văn hóa là những hoạt động văn hóa tinh thần, nên chủ thể hoạt động (con người văn hóa), thiết chế, thể chế văn hóa (cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, quản lý văn hóa) tuy rất cần thiết cho hoạt động văn hóa nhưng không được coi

là yếu tố của đời sống văn hóa Vì chúng là các yếu tố tĩnh, yếu tố có sẵn thuộc về môi trường văn hóa - bảo đảm cho hoạt động văn hóa diễn ra Do vậy, khi nghiên cứu, khảo sát ĐSVH nếu cần thiết có thể đề cập đến các yếu tố đó như những tiền đề quan trọng Ngược lại các hoạt động xây dựng các cơ sở vật chất, bộ máy quản lý,

Trang 25

thậm chí cả việc kiến tạo môi trường văn hóa lại được xem là hoạt động văn hóa thuộc ĐSVH Bởi đó là một bộ phận hoạt động tinh thần của con người, biểu hiện

sự sáng tạo của con người Tóm lại, NCS sử dụng quan niệm “hẹp” về ĐSVH như trình bày ở trên làm cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu đề luận án là phù hợp

1.2.1.2 Cơ cấu của đời sống văn hoá

Từ nhận thức trên đi đến việc xác lập cơ cấu (cấu trúc) của ĐSVH Theo NCS, các tác giả khi bàn về ĐSVH với nội dung quá rộng đã đưa ra một cơ cấu đời sống văn hóa cũng rất phức tạp và chồng lấn sang nội dung và cơ cấu của môi trường văn hóa, không gian văn hóa Chẳng hạn, tác giả Hoàng Vinh cho rằng đời sống văn hoá “phải có ba yếu tố: sản phẩm văn hoá, thể chế văn hoá, các dạng hoạt động văn hoá và con người văn hoá Ba yếu tố ấy tạo thành cấu trúc của đời sống văn hoá” [104, tr 266] Tác giả Nguyễn Thị Phương Lan lại đưa ra một mô hình cấu trúc đời sống văn hoá gồm: con người văn hoá, nhu cầu văn hoá, hoạt động văn hoá và sản phẩm văn hoá tác động lẫn nhau trong môi trường văn hoá Mô hình đó được sơ đồ hoá như sau:

Điều đáng nói là các tác giả đã khẳng định “đời sống văn hoá là một tổng

Nhu cầu

Môi trường văn hóa

Con người

Sản phẩm văn hóa Hoạt động

văn hóa

Trang 26

thể/ phức hợp hoạt động của con người”, nhưng khi trình bày cấu trúc của ĐSVH

thì lại đưa cả những bộ phận không phải là hoạt động văn hoá vào (chủ thể văn hoá

và thiết chế văn hoá) Điều đó là không logic

Do vậy, tác giả Đinh Thị Vân Chi cho rằng cơ cấu của ĐSVH chỉ có thể là các hoạt động văn hóa trong thời gian rỗi, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người Đó là:

“- Những hoạt động sáng tạo không vụ lợi các sản phẩm văn hoá: Làm thơ, viết truyện, sáng tác nhạc, vẽ tranh, chụp ảnh nghệ thuật…

- Những hoạt động truyền bá không vụ lợi đối với các sản phẩm văn hoá: biểu diễn văn nghệ, ngâm thơ, sinh hoạt câu lạc bộ nghệ thuật hoặc thể thao, chơi trò chơi, chơi thể thao…

- Những hoạt động thưởng thức sản phẩm văn hoá: nghe nhạc, xem ti vi, xem kịch, xem phim, đọc sách báo, dã ngoại…

Trong cơ cấu ĐSVH không thể có thiết chế văn hoá và chủ thể văn hoá vì đó không phải là các dạng hoạt động Nhưng để thực hiện hoá được ĐSVH thì rất cần

2 yếu tố đó Để xây dựng ĐSVH cũng vậy

Nghĩa là, khi nghiên cứu ĐSVH chúng ta hoàn toàn có thể xét đến chủ thể văn hoá và thiết chế văn hoá, nhưng chỉ là khi bàn đến việc thực hiện và xây dựng ĐSVH, chứ hoàn toàn không có nghĩa là chúng nằm trong cơ cấu của ĐSVH” [95]

Quan điểm của tác giả Đinh Thị Vân Chi phù hợp với quan niệm của tác giả Hoàng Vinh về các “dạng hoạt động văn hoá phổ biến” Tác giả Hoàng Vinh viết:

“có thể là một số dạng hoạt động văn hoá phổ biến như sau:

- Hoạt động sáng tác và biểu diễn văn nghệ, ứng dụng khoa học vào đời sống;

- Hoạt động khai trí - giáo dục nhằm nâng cao kiến thức cho mọi người: dạy học, diễn giảng, toạ đàm, thư viện, thông tin;

- Hoạt động lưu giữ sản phẩm văn hoá: bảo tàng, lưu trữ, triển lãm, sưu tập;

- Hoạt động tiêu dùng sản phẩm văn hoá: đọc sách, báo, nghe âm nhạc, xem nghệ thuật, phim ảnh, triển lãm, bảo tàng, tham quan, du lịch;

- Hoạt động lễ hội, tín ngưỡng, xây dựng phong tục nếp sống gia đình văn hoá;

- Hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí trong thời gian rỗi” [104, tr.267]

Trang 27

Như vậy, ĐSVH theo nghĩa “hẹp” thực chất là một bộ phận của ĐSVH theo nghĩa rộng, bộ phận “hoạt động văn hóa phổ biến” của nó (như tác giả Hoàng Vinh quan niệm)

Trong mục 1.2.1.1, NCS đã sử dụng quan điểm của Viện Văn hóa - Bộ Văn hóa và Đinh Thị Vân Chi về ĐSVH để nghiên cứu đề tài luận án nên cũng tán thành cách chia cơ cấu ĐSVH của tác giả dựa vào các dạng hoạt động văn hóa chung Song, NCS cho rằng tác giả Hoàng Vinh đưa ra cơ cấu các dạng hoạt động văn hoá

cụ thể hơn, phong phú hơn (và cũng không mâu thuẫn với tác giả Đinh Thị Vân Chi)

Do vậy, trong luận án nghiên cứu sinh dựa trên cơ cấu các dạng hoạt động văn hoá của tác giả Hoàng Vinh là cơ bản Tất nhiên như phần phạm vi nghiên cứu (ở phần

mở đầu), nghiên cứu sinh chỉ đi sâu vào hai dạng hoạt động trong ĐSVH của cư dân ven biển Hà Tĩnh là: hoạt động tín ngưỡng, lễ hội, phong tục (có tính truyền thống)

và hoạt động tiêu dùng văn hoá (có tính đương đại) mà thôi

1.2.2 Quan niệm về biến đổi văn hoá

Để nhận diện xu hướng vận động, biến đổi đời sống văn hoá cần chỉ rõ nội hàm khái niệm biến đổi văn hoá và tính tất yếu khách quan của sự biến đổi đời sống văn hoá của mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia dân tộc nói riêng và nhân loại nói chung

Biến đổi văn hoá (cultural change) là chủ đề nghiên cứu rộng của nhiều ngành khoa học: văn hoá học, xã hội học, nhân học Theo Từ điển Nhân học, biến đổi văn hoá là quá trình vận động của tất cả các xã hội Có rất nhiều nhà khoa học

đã nghiên cứu về biến đổi văn hoá và đều có điểm chung giống nhau khi cho rằng không có nền văn hoá nào đứng yên một chỗ, cũng như không có một nền văn hoá nào không có sự thay đổi gì so với thời kỳ khai nguyên của nó Có thể điểm qua quan điểm về sự biến đổi văn hoá: Ngay từ thế kỷ XIX, các nhà khoa học khởi xướng thuyết tiến hoá lụận là E.B.Tylor và L Morgan cho rằng: “Sự phát triển tiến

bộ tiến hoá của các nền văn hoá là xu hướng chính trong lịch sử loài người Xu hướng phát triển này là rất hiển nhiên, vì rằng có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của

nó có thể sắp xếp vào một trật tự xác định, mà không thể làm ngược lại” [109, tr.53]

Cuối thế kỷ XIX, thuyết truyền bá luận ra đời và phát triển phổ biến ở các

nước Âu - Mỹ Tác giả Ph.Ratxen, người Đức trong cuốn Địa lý học nhân loại

Trang 28

Nhập môn dân tộc học đã có những kết luận về sự truyền bá các nền văn hoá trong

không gian, về sự hình thành và nguồn gốc của chúng Ph.Ratxen nhìn nhận nguồn gốc cơ bản của những biến đổi trong các nền văn hoá là ở những tiếp xúc qua lại giữa chúng Các đại biểu của xu hướng truyền bá luận cho rằng: truyền bá, tiếp xúc, đụng chạm, hấp thụ, thiên di văn hoá là nội dung chủ yếu của quá trình lịch sử Như vậy, quan điểm nghiên cứu về biến đổi văn hoá của các nhà truyền bá luận đối lập với quan điểm của các nhà tiến hoá luận

Từ năm 1920 đến năm 1950, một phương pháp tiếp cận biến đổi văn hoá có ảnh hưởng lớn ở nước Anh là thuyết chức năng, trong đó phải kể đến hai nhà nghiên cứu Radcliffe Brown và Malinowski Theo quan điểm của các nhà chức năng luận, một nền văn hoá thay đổi khi nó chịu những tác động bên ngoài Đưa ra quan điểm này, các nhà chức năng luận không có ý định nghiên cứu sự thay đổi các mối quan hệ xã hội, mà ý định của họ chính là nghiên cứu mối quan hệ qua lại về chức năng của các hệ thống văn hoá, xã hội, chứ không phải nghiên cứu cách thức

hệ thống này được thay đổi

Đến năm 1955, phương pháp tiếp cận biến đổi văn hoá khác trong nhân học Bắc Mỹ về sinh thái văn hoá đã được Julian Steward khởi xướng, năm 1960 phương pháp này đã có ảnh hưởng lớn ở cả khu vực và trên thế giới Julian Steward cho rằng, biến đổi có thể là một sản phẩm ngẫu nhiên của lịch sử hay sự kiện tình

cờ do tiếp xúc giữa các nền văn hoá với nhau Ông đưa ra nhiều nghiên cứu để chứng minh rằng, biến đổi văn hoá có thể được giải thích chủ yếu xét về sự thích nghi tiến bộ của một nền văn hoá nào đó với môi trường của chúng

Biến đổi văn hoá diễn ra theo nhiều chiều và nhiều cấp độ khác nhau Tuy nhiên, đã có sự tương đối thống nhất về định nghĩa trong các cuốn Từ điển các khái niệm nhân học văn hoá, Robert H.Winthdrop đã nêu rõ: “Biến đổi văn hoá bao hàm những sự chia sẻ, những sự biến đồi tương đối lâu dài của những mô hình ứng xử

và niềm tin văn hoá Nhìn ở khía cạnh lịch sử, xã hội nào cũng biểu lộ những sự biến đổi, cũng trộn lẫn những sự tiếp nối và biến đổi” [110, tr.65-66]

Trong công trình Biến đổi văn hoá ở các làng quê hiện nay (trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) (2009),

Trang 29

Nguyễn Thị Phương Châm đã chia cuốn sách thành 3 chương, trong đó, tác giả dành hẳn chương 1 viết về Biến đồi văn hoá: Những tiền đề lý thuyết và thực tiễn, theo Nguyễn Thị Phương Châm: “Dù còn rất nhiều quan điểm, những sự phân tích khác nhau về toàn cầu hoá và văn hoá, nhưng các nhà nghiên cứu có chung thống nhất cho rằng sự biến đổi văn hoá là xu hướng tất yếu trong quá trình toàn cầu hoá,

sự biến đổi ấy đã và đang diễn ra rất đa dạng, ở nhiều cấp độ và diễn ra theo nhiều chiều hướng khác nhau” [11, tr.17]

Theo Nguyễn Thị Phương Châm: “Biến đổi văn hoá được hiểu là quá trình vận động của các xã hội ( ) Để nghiên cứu các chiều cạnh của biến đổi văn hoá, các nhà nhân học, xã hội học, văn hoá học thường gắn nó với phát triển, với toàn cầu hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, công nghiệp hoá ( ) Ở mức độ cụ thể hơn, sự biến đổi văn hoá được tìm hiểu trong quá trình hiện đại hoá gắn với sự phát triển kinh tế toàn cầu, đặc biệt ở những xã hội đang chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại” [11, tr 9, 11, 18] Nghiên cứu biến đổi văn hoá ở nước ta hiện nay, tác giả viết: Công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986 mang theo làn gió mới đến cho sự thay da đổi thịt ở các làng quê ( ) Tìm hiểu về những sự biến đổi văn hoá ở các làng quê, đặt làng trong các dòng chảy kinh tế, xã hội và văn hoá là vấn đề trọng tâm trong các nghiên cứu

về làng Việt châu thổ sông Hồng trong hai thập kỷ qua” [11, tr.47 - 48]

Những nghiên cứu của các tác giả trên đều dễ dàng nhận thấy một điểm chung về biến đổi văn hoá, rằng biến đổi văn hoá là một hiện tượng phổ biến, là một bước tiến bộ trong sự phát triển của dân tộc và nhân loại; biến đổi văn hoá là do quá trình thay đổi phương thức sản xuất, kỹ thuật sản xuất, dẫn đến thay đổi nếp nghĩ, nếp sống, đời sống tinh thần phù hợp với những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định của mỗi dân tộc

Nghiên cứu biến đổi văn hoá của cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh là nghiên cứu về biến đổi văn hoá truyền thống (chủ yếu là tín ngưỡng, lễ hội, phong tục) và tiêu dùng văn hoá (sản phẩm, phương thức tiêu dùng) trong đời sống của họ như phần phạm vi nghiên cứu đã đề cập

Trang 30

1.2.3 Quan niệm về tiêu dùng văn hoá

Khi bàn về văn hoá tiêu dùng, tác giả Lê Như Hoa cho rằng: “Tiêu dùng văn hoá tức là dùng những sản phẩm văn hoá (được sản xuất ra trong lĩnh vực tinh thần) vào sinh hoạt hàng ngày, phục vụ cho sinh hoạt cá nhân, gia đình, cộng đồng; vào mục đích văn hoá nhằm hoàn thiện nhân cách người, gia đình, cộng đồng”

[38] Từ quan niệm trên có thể hiểu, tiêu dùng văn hoá là cách thức sử dụng các sản phẩm văn hoá dưới dạng tinh thần trong đời sống thường nhật, việc tiêu dùng này góp phần không nhỏ vào việc nâng cao ý thức và giá trị về mặt nhân cách của người tiêu dùng

Tác giả Nguyễn Tiến Mạnh cho rằng: “Tiêu dùng văn hoá là một khái niệm chỉ một loại tiêu dùng mà ở đó, thông qua việc dùng các sản phẩm văn hoá hoặc dịch vụ văn hoá mà nhu cầu tinh thần của con người được thoả mãn, đáp ứng” [53] Theo đó, tiêu dùng văn hoá thể hiện trong một số lĩnh vực chủ yếu như: Du lịch, thể dục thể thao, văn hoá, nghệ thuật giải trí, giáo dục… Trong bối cảnh hiện nay, tiêu dùng văn hoá còn được hiểu chính là tính trào lưu, phổ biến, tính khoa học kỹ thuật, tính đại chúng và tính toàn cầu hoá Từ khái niệm nêu trên cho thấy, tiêu dùng văn hoá là đề cập đến sản phẩm văn hoá tinh thần và dịch vụ văn hoá tinh thần được người tiêu dùng văn hoá đánh giá cao, họ được sở hữu, tiêu dùng và thưởng thức thông qua phương tiện tiêu dùng và cách thức tiêu dùng

Từ những quan điểm của các tác giả đi trước viết về tiêu dùng văn hoá, NCS thấy rằng, ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, tiêu dùng văn hoá đều có tính đặc trưng của thời đại và đa phần là theo chiều hướng phát triển hướng tới tương lai Tuy nhiên, tiêu dùng văn hoá dù ở thời đại nào đi chăng nữa thì cũng cần phải có điều kiện để tồn tại và phát triển, đó là điều kiện kinh tế và sự phát triển của khoa học công nghệ Điều kiện kinh tế sẽ quyết định đến mức độ, số lượng, chất lượng trong tiêu dùng văn hoá của chủ thể văn hoá Song các yếu tố về kinh tế chịu sự chi phối của yếu tố khoa học công nghệ, bởi trên thực tế khi khoa học công nghệ chưa phát triển, chưa sản xuất ra các sản phẩm hiện đại thì tiêu dùng văn hoá chỉ ở một mức

độ nhất định

Từ những quan niệm về tiêu dùng văn hoá của các tác giả đi trước đã trình

Trang 31

bày ở trên, trong phạm vi nội dung của luận án, tiêu dùng văn hoá được NCS đề cập

là việc sử dụng những sản phẩm văn hoá để đáp ứng, thoả mãn nhu cầu tinh

thần của cư dân hiện nay, và việc tiêu dùng sản phẩm văn hoá này cũng chỉ đề cập đến tiêu dùng sản phẩm tinh thần, gắn liền với sản phẩm tinh thần là công

cụ phương tiện tiêu dùng văn hoá và phương thức tiêu dùng văn hoá Chẳng hạn,

trong tiêu dùng trực tiếp sản phẩm văn hoá như: tiêu dùng các chương trình truyền hình, phim ảnh, phần mềm trò chơi điện tử, sách báo, tạp chí và cũng bao gồm các loại sản phẩm phương tiện phục vụ tiêu dùng sản phẩm văn hoá liên quan cần có như: Ti vi, đầu đĩa, máy tính… và hàng loạt hệ thống cơ sở thiết chế văn hoá như: thư viện, nhà triển lãm trưng bày, nhà hát, rạp chiếu phim …

Việc nhận diện sự tiêu dùng (hành vi tiêu dùng) văn hoá của cư dân, có thể được xem xét trên nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau dựa vào các tiêu chí khác nhau Căn cứ vào đối tượng (chủ thể) tiêu dùng, chúng ta có: tiêu dùng cá nhân, tiêu dùng cộng đồng, tiêu dùng nhóm Trong tiêu dùng nhóm, có thể được phân thành các nhóm dựa vào lứa tuổi (trẻ em, thanh niên, người già…), dựa vào nghề nghiệp (sinh viên, công nhân, ngư dân,…), dựa vào mức sống (giàu, nghèo,…) Căn cứ vào phương thức tiêu dùng, ta có: đọc, nghe - nhìn, tổng hợp,… Căn cứ vào nội dung, giá trị của sản phẩm văn hoá, có: văn hoá truyền thống, văn hoá hiện đại,… Căn cứ vào phương tiện chuyển tải, có: đài, ti vi, truyền hình cáp, mạng Internet,… Căn cứ vào không gian tiêu dùng, có: tiêu dùng tại gia đình, tiêu dùng tại địa điểm công cộng Căn cứ vào thời gian rỗi, có: tiêu dùng hàng ngày, tiêu dùng hàng tuần, tháng, năm Căn cứ vào loại hình sản phẩm văn hoá, có: văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí,… Căn cứ vào loại hình nghệ thuật, có: phim (điện ảnh), ca nhạc,… Trong luận

án, tiêu dùng văn hoá của cư dân ven biển Hà Tĩnh hiện nay được nhận diện dựa trên tiêu chí không gian tiêu dùng, gồm có: tiêu dùng văn hoá tại gia đình và tiêu dùng văn hoá tại các địa điểm công cộng Tuy nhiên, dù cách phân loại dựa vào tiêu chí nào cũng chỉ mang tính tương đối, vì trong hình thức phân loại này lại mang đặc điểm của cách phân loại kia Do đó, mặc dù luận án dựa vào tiêu chí không gian, nhưng trong từng địa điểm không gian đó, lại được đề cập dựa trên phương tiện chuyển tải Vì vậy, sự phân loại ở đây chỉ có ý nghĩa giúp người nghiên cứu dễ dàng

Trang 32

hơn trong quá trình tiếp cận vấn đề nghiên cứu Từ đó có thể thấy được mức độ, chất lượng, thị hiếu cũng như tác động của tiêu dùng sản phẩm văn hoá đến các chủ thể văn hoá đang tụ cư tại vùng ven biển Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay

1.2.4 Quan niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Theo cách hiểu cổ điển, công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất và sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động dựa trên phát triển của ngành công nghiệp cơ khí Trong thời đại ngày nay, CNH được hiểu không chỉ là quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế trong đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo sang nền kinh tế công nghiệp

là chủ đạo, mà CNH còn được hiểu là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp

Hiện đại hóa được hiểu là quá trình ứng dụng và trang bị các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quá trình kinh tế-xã hội nói chung Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, HĐH là quá trình chuyển biến từ tính chất truyền thống cũ sang trình độ tiên tiến, hiện đại Về ý nghĩa kinh tế-xã hội, HĐH được giải thích là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại Trong thời đại ngày nay, cũng có thể nói rằng HĐH tương ứng với thời kỳ tri thức hóa

Ở nước ta, thường sử dụng cả cụm từ CNH, HĐH với cách hiểu công nghiệp hóa và hiện đại hóa luôn luôn gắn kết với nhau trong cùng một quá trình Sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta bắt đầu được khởi xướng từ những năm cuối của thế kỷ XX Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) diễn ra vào ngày 25/7/1994, thảo luận và thông qua Nghị quyết về “Phát triển công nghiệp, công nghệ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới” Hội nghị lần thứ bảy cũng đã đưa ra định nghĩa về CNH, HĐH là: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ

sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự

Trang 33

phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”[23] Từ điển Bách khoa Việt Nam đã trích định nghĩa này làm khái niệm CNH, HĐH có bổ sung: “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay lấy CNH gắn với HĐH đất nước” là “Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ

sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng nền công nghiệp đại cơ khí có khả năng cải tạo (trước hết là nền nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân) nhằm biến một nước kinh tế chậm phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến sang nền sản xuất lớn sang chuyên môn hóa, hiện đại hóa”[40, tr.732]

Theo quan niệm trên, nội dung CNH, HĐH chủ yếu ở nước ta gồm:

- Thực hiện cuộc cách mạng khoa học-công nghệ để xây dựng cơ sở vật

chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất

- Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội

Để thực hiện hai nội dung trên, nội dung cụ thể được xác định ở những năm trước mắt là: Đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân; phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; phát triển kinh tế vùng; phát triển kinh tế biển

Như vậy, phát triển kinh tế biển được xác định là một trong những nội dung trước mắt của CNH, HĐH đất nước “Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm; sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế” [25]

Có thể nói, sự tác động của CNH, HĐH một mặt làm cho đời sống văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh được nâng cao, tạo ra nhiều cơ hội mới trong giao lưu, tiếp biến, sáng tạo,…Nhưng, mặt khác cũng đưa đến những thách thức mới trong đời sống văn hóa của cư dân ven biển Hà Tĩnh thời kỳ CNH, HĐH

Trang 34

1.2.5 Quan niệm vùng và vùng ven biển Hà Tĩnh

1.2.5.1 Quan niệm vùng

Vùng là một thuật ngữ được luận bàn khá nhiều ở nước ta cũng như ở một số nước trên thế giới, nhiều nhất là vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, việc luận bàn này vẫn chưa đưa đến một khái niệm đồng nhất, do đó cách hiểu và áp dụng thuật ngữ “vùng” vào thực tiễn ở nước ta vẫn còn rất khác nhau

Trong các văn bản của nhà nước “vùng” được dùng để chỉ một không gian địa lý nhất định có tính xa xôi hẻo lánh, cách trở về khoảng cách giữa vùng đó đến với nơi trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá, như “vùng sâu”, “vùng xa”,…“Vùng”

có khi được dùng để chỉ một không gian lãnh thổ, bao gồm nhiều tỉnh mà các tỉnh đó

có chung đặc điểm hoặc một số đặc điểm nhất định nào đó, như: vùng Bắc Bộ, vùng Tây Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, Cách sử dụng này được thực hiện trong lịch sử phân vùng của nước ta nhằm chủ yếu phục vụ cho mục đích quản lý

Trong dân gian thuật ngữ “vùng” được sử dụng để chỉ một khu vực có mức

độ rộng, hẹp khác nhau, như “vùng Hưng Yên”, “vùng Nghệ Tĩnh”, “vùng Hải Phòng”, “vùng Hà Tĩnh”, “vùng Nghi Xuân”, “vùng Đức Thọ”, “vùng Cầu Giấy”,… Cũng trong dân gian, từ xa xưa đã từng gọi các miền, các vùng trong cả nước bằng từ xứ: xứ Đông, xứ Đoài, xứ Nam, xứ Bắc, xứ Thanh, xứ Nghệ, xứ Quảng, … Với quan niệm vùng theo nghĩa này không chỉ đơn thuần dựa trên cái nhìn địa lý, mà còn phần nào có sự chiêm nghiệm về văn hoá dân gian [106, tr.9]

Như vậy, sự khác nhau về khái niệm “vùng” được thể hiện trong cách nói, cách sử dụng của người dân, cho đến sự phân chia, hoạch định vùng trong công tác quản lý của các cấp quản lý Sau đó giới khoa học đã quan tâm đến vấn đề này Xu hướng chung của các nhà khoa học đều bắt đầu từ việc đề cập khái niệm, tiêu chí phân vùng và việc phân nước ta ra các vùng khác nhau dựa trên những tiêu chí nhất định

Trong công trình “Chấn hưng các vùng và tiểu vùng văn hoá”, các tác giả

cho rằng: Vùng (Region) là một khu vực địa lý (vùng đất, vùng trời, vùng biển), không gắn với sự trực thuộc về mặt hành chính, lãnh thổ (Territoire) thì được hiểu

là một vùng địa lý trực thuộc vào một cơ quan hành chính Do đó trong một lãnh thổ

Trang 35

có thể có nhiều vùng và trong một vùng có thể gồm nhiều lãnh thổ [106, tr 88-89]

Từ cách gọi vùng trong dân gian, cách phân vùng trong lịch sử quản lý, đến quan niệm vùng của các nhà khoa học, cho thấy “vùng” thực chất là việc phân chia không gian lãnh thổ ra những đơn vị có mức độ rộng, hẹp khác nhau (tuỳ vào mục đích của việc phân vùng), mà ở đó có chung đặc điểm hoặc một số đặc điểm nhất định, thường là để phục vụ cho một mục đích nào đó Do đó, phân vùng là sản phẩm của tư duy khoa học, dựa trên một số tiêu chí và phương pháp mà người làm công tác nghiên cứu đã lựa chọn Vì vậy trên cùng một lãnh thổ, có thể có nhiều sơ

đồ phân vùng khác nhau và khó có thể có một sự phân vùng “khách quan” tuyệt đối Tuy nhiên, cũng có thể coi vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó cũng như những mối quan hệ có chọn lọc với các không gian các cấp bên ngoài

1.2.5.2 Vùng ven biển Hà Tĩnh

Về vùng ven biển, được hiểu không chỉ là vùng nước chạy cặp bờ biển, chịu ảnh hưởng của biển rõ rệt mà còn bao gồm cả dải đất liền ven biển bị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của biển Thí dụ như vùng các cửa sông bị tác động bởi mực thủy triều lên, xuống, theo đó mang theo nguồn lợi từ biển vào sông, từ sông ra biển Về mặt đời sống vùng ven biển không chỉ có nghề cá mà ở đấy còn

có sản xuất nông nghiệp, làm muối, và các nghề thủ công liên quan như: làm câu, đan lưới, đóng thuyền Về mặt đời sống văn hóa vùng ven biển là vùng mà các

cư dân có tập tục chỉ dùng các sản phẩm từ biển, bị chi phối bởi “lịch con nước”

và bởi các tín niệm từ biển như tập tục thờ cá Ông (Voi) Với các yếu tố như vừa

đề cập mà tùy theo đặc điểm địa lý cụ thể ở từng nơi, vùng ven biển có thể ăn sâu vào trong đất liền ở các mức độ rộng, hẹp khác nhau, có nơi ăn sâu vào trong đất liền hàng chục ki lo mét…

Theo như những gì đã đề cập trên đây, vùng ven biển được đề cập trong

luận án là một khu vực (không gian) địa lý (vùng đất) nằm dọc bờ biển Hà Tĩnh, không gắn với sự trực thuộc về mặt hành chính lãnh thổ, được kéo dài từ

Trang 36

đầu tỉnh đến cuối tỉnh Hà Tĩnh, đi qua lãnh thổ của 5 huyện Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh Đây cũng là một trong “bốn dạng địa hình cơ bản ở Hà Tĩnh” là: vùng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng (nội đồng) và vùng ven biển [15, tr.48]

Căn cứ vào các yếu tố trên, vùng ven biển Hà Tĩnh hiện nay có 35 xã: Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Hải, Xuân Yên, Xuân Thành, Cổ Đạm, Xuân Liên, Cương Gián (thuộc huyện Nghi Xuân), Thịnh Lộc, Thạch Kim, Thạch Bằng, Thạch Châu, Mai Phụ, Hộ Độ (thuộc huyện Lộc Hà), Thạch Bàn, Thạch Hải, Thạch Lạc, Thạch Trị, Thạch Văn, Thạch Hội (thuộc huyện Thạch Hà), Cẩm Hoà, Cẩm Dương, thị trấn Thiên Cầm, Cẩm Nhượng, Cẩm Lĩnh (thuộc huyện Cẩm Xuyên), Kỳ Xuân, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Ninh, Kỳ Hà, Kỳ Lợi, Kỳ Phương,

Kỳ Nam (thuộc huyện Kỳ Anh) Các xã ven biển Hà Tĩnh đều chịu sự tác động và ảnh hưởng trực tiếp của môi trường biển

1.3 Khái quát về vùng ven biển Hà Tĩnh

1.3.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế và văn hoá

1.3.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên

Tỉnh Hà Tĩnh thuộc vùng duyên hải Bắc Trung bộ có toạ độ địa lý từ

17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 1050

05'50'' đến 106o30'20'' kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 340 km về phía Nam, phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây là dãy Trường Sơn tiếp giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào Diện tích đất tự nhiên 6.025,6 km2, chiếm khoảng 1,7% diện tích toàn quốc Địa hình Hà Tĩnh hẹp và dốc nghiêng dần

từ Tây sang Đông, ở phía Tây có nhiều dãy núi cao; phía dưới là vùng đồi thấp giống bát úp; tiếp nữa là dải đồng bằng nhỏ hẹp chạy ra biển; sau cùng là những bãi cát ven biển với nhiều vũng, vịnh Nhìn tổng thể địa hình Hà Tĩnh có 4 dạng: vùng núi, vùng đồi trung du, vùng đồng bằng (nội đồng) và vùng ven biển

Vùng ven biển Hà Tĩnh chiếm chưa đến 10% diện tích của tỉnh, bờ biển dài 137km, địa hình trung bình cao trên dưới 3m so với mực nước biển, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây, càng về phía Nam càng hẹp

Trang 37

Phía Bắc giáp vùng biển của tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp vùng biển của tỉnh Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây là vùng nội đồng nhỏ hẹp bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối Dọc bờ biển Hà Tĩnh có bốn cửa sông (cửa biển) là Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng và Cửa Khẩu Ven biển Hà Tĩnh có nhiều dãy núi nhô ra tận biển, nhiều nhất là ở bờ biển phía nam (từ huyện Thạch Hà trở vào) như: núi Nam Giới (Thạch Bàn, Thạch Hà), núi Thiên Cầm (thị trấn Thiên Cầm, Cẩm Xuyên), núi Bàn Độ, núi Cao Vọng, núi Chóp Cờ (núi Kỳ Đầu), Đèo Ngang (huyện

Kỳ Anh) Ngược lại với bờ biển phía nam, bờ biển phía bắc (thuộc địa phận huyện Nghi Xuân) địa hình tương đối bằng phẳng, không có núi, với chiều dài 32km, được ngăn cách với bờ biển của huyện Lộc Hà bởi ngọn Hồng Lĩnh Các ngọn núi dọc bờ biển Hà Tĩnh không cao lắm

Về khí hậu, vùng ven biển Hà Tĩnh có chung một đặc điểm khí hậu của tỉnh, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc, Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao, nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệch thấp hơn mùa hè, bình quân mùa đông thường từ 18 - 22oC, mùa hè từ 25,5 -

33oC Vùng ven biển Hà Tĩnh, cũng như Hà Tĩnh nói chung có lượng mưa nhiều, trừ một phần nhỏ ở phía bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000mm, cá biệt có nơi trên 3000mm

Biển Hà Tĩnh có diện tích thềm lục địa 18.400 km2, có hai dòng hải lưu nóng

ấm, mát lạnh chảy ngược, hoà trộn vào nhau Một dòng cách ven bờ khoảng 30 - 40km, một dòng ở ngoài và sâu hơn Vùng biển có hai khối nước hỗn hợp pha trộn thường nằm ở độ sâu 20 - 30m, vùng này cá thường tập trung sinh sống Nhiệt độ nước bề mặt cũng thay đổi theo mùa, nhiệt độ cực đại vào tháng 7, tháng 8 có giá trị tuyệt đối khoảng 30 - 31oC và cực tiểu vào tháng 12 đến tháng 3 khoảng 18 - 22o

C, nhiệt độ nước cũng tăng dần lên theo hướng Nam và Đông Nam Biển Hà Tĩnh có nhiều đảo nhỏ nằm ở gần bờ: Cách bờ biển huyện Nghi Xuân 4km có hòn Nồm, hòn Lạp; ngoài khơi Cửa Nhượng huyện Cẩm Xuyên cách bờ 5km có hòn Én, cách

bờ 2km có hòn Bơớc; ở phía nam huyện Kỳ Anh cách bờ biển xã Kỳ Lợi 4km có đảo Sơn Dương độ cao 123m, xa hơn phía Đông có hòn Chim,…

Trang 38

Vùng biển Hà Tĩnh có chế độ thuỷ triều, độ sâu, địa mạo, địa hình, đường đẳng sâu đáy biển, gió mùa Đông Bắc nên có đầy đủ thực vật phù du của Vịnh Bắc Bộ, với 193 loài tảo, lượng phù sa của vùng sông Hồng, sông Mã, sông Cả (sông Lam) tạo ra nhiều nguồn thức ăn cho các loại hải sản sinh sống, cư trú Do đó biển Hà Tĩnh có tiềm năng lớn về hải sản, trữ lượng cá ước tính 86.000 tấn (trữ lượng cá đáy 45.000 tấn, cá nổi 41.000 tấn), trong đó có khả năng cho phép đánh bắt 54.000 tấn/năm, có 267 loài cá thuộc 97 họ, trong đó có 60 loài có giá trị kinh tế cao Trữ lượng tôm khoảng 500 - 600 tấn, có 27 loài tôm, trữ lượng mực vùng lộng 3.000 - 3.500 tấn,…

Ngoài ra, do đặc điểm tự nhiên, địa hình, cấu tạo, vùng ven biển Hà Tĩnh còn có tiềm năng lớn về các mặt, như: có nhiều bãi biển đẹp có thể đầu tư xây dựng các khu du lịch- đô thị ven biển như: bãi biển Thiên Cầm (huyện Cẩm Xuyên), bãi biển Xuân Thành (huyện Nghi Xuân), bãi biển Đèo Con, bãi biển Kỳ Ninh (huyện

Kỳ Anh), bãi biển Thạch Bằng (huyện Lộc Hà), bãi biển Thạch Hải (huyện Thạch Hà), có nhiều bãi triều, cồn cát, các vùng đất ngập nước, dải cát ven biển,… rất thuận lợi cho việc sản xuất muối và nuôi trồng thuỷ hải sản mặn, lợ,…Vùng biển

Hà Tĩnh còn nằm ở vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế hàng hải và giao thương quốc tế, đó là: nằm trên hành lang của các tuyến hàng hải quốc tế, là cửa ngõ ra biển của Lào và Thái Lan thông qua QL12A, có đường QL1A, xa lộ Bắc Nam đi qua (và tương lai sẽ đấu nối với đường sắt Quốc gia) Ven biển Hà Tĩnh có tiềm năng về hệ thống các cảng biển, gồm: Cảng thương mại Xuân Hải (hiện có 2 bến được thiết kế cho tàu trọng tải 1.000DWT), Cảng cá cửa Sót, cảng cá Cẩm Nhượng, cảng cá Xuân Hội, cảng cá cửa Khẩu, … đặc biệt có cụm cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương, là cảng biển quốc tế có khả năng tiếp nhận tàu từ 5 đến 20 vạn tấn, … Ven biển Hà Tĩnh có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản lớn, như: Mỏ sắt Thạch Khê có trữ lượng khoảng 544 triệu tấn, có hàm lượng Fe 61,39 đến 62,38

%; quặng Titan ở ven biển Kỳ Anh có trữ lượng trên 5,3 triệu tấn, thuộc loại quặng giàu, hàm lượng Ilmenite từ 63,3 đến 147,4kg/m3, Zircon từ 3-5,2kg/m3 Từ năm

1999 đến nay đã tiến hành khai thác khoáng sản ven biển gồm sản phẩm từ Titan và

Trang 39

hiện tại đang tiến hành khai thác mỏ sắt Thạch Khê

Với sự phong phú về tiềm năng, lợi thế, vùng ven biển Hà Tĩnh trong thời kỳ CNH, HĐH đang trở thành khu kinh tế trọng điểm của Bắc Trung bộ, thu hút mạnh

mẽ nguồn đầu tư trong nước và nguồn đầu tư từ nước ngoài Thực trạng đó làm cho vùng ven biển Hà Tĩnh từ chỗ thuần nhất về nền kinh tế, văn hoá, đang từng bước được phân hoá thành các khu kinh tế mới với những nét đặc thù của thời kỳ CNH, HĐH Hiện nay, ở vùng ven biển Hà Tĩnh hình thành các khu kinh tế mới đó là: khu kinh tế đánh bắt, tập trung ở các xã cửa biển (Xuân Hội, Thạch Kim, Cẩm Nhượng,

Kỳ Ninh); khu kinh tế du lịch, tập trung ở các xã có bãi biển đẹp (Xuân Thành, Thạch Bằng, Thiên Cầm, Đèo Con,…); khu kinh tế công nghiệp, tập trung ở địa bàn giàu tài nguyên khoáng sản với đặc điểm cửa biển sâu, giao thông thuận lợi, các tàu thuyền lớn ra vào dễ dàng, đó là các xã ven biển của huyện Kỳ Anh, nối liền với cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương, gồm có xã ven biển Kỳ Nam, Kỳ Phương,

Kỳ Lợi, Kỳ Ninh,…

Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng, lợi thế, biển Hà Tĩnh cũng bị ảnh hưởng bởi điều kiện khí hậu khắc nghiệt, thời tiết không thuận lợi, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai; tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, dẫn đến tình trạng xâm thực biển diễn ra mạnh, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cộng đồng cư dân ven biển

1.3.1.2 Đặc điểm dân cư

* Qúa trình hình thành cư dân vùng ven biển Hà Tĩnh

Các nguồn tư liệu cho biết Hà Tĩnh là vùng đất cổ Vào thời tiền sử đã có cư dân văn hoá Quỳnh Văn và cư dân văn hoá Bàu Tró cư trú, dấu vết để lại là các di chỉ khảo cổ mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Thạch Hà, Cẩm Xuyên, thành phố Hà Tĩnh, Can Lộc, Đức Thọ, Nghi Xuân và một số địa điểm ở Hương Sơn, Hương Khê,… Tất cả các di chỉ khảo cổ học đã cung cấp tư liệu để chứng minh cư dân văn hoá Sơn Vi, cư dân văn hoá Quỳnh Văn, cư dân văn hoá Bàu Tró từng sinh tồn và phát triển trên mảnh đất này Trong đó đặc biệt đáng chú ý là cư dân văn hoá Quỳnh Văn và cư dân văn hoá Bàu Tró, cư dân của hai nền văn hoá này được các nhà

Trang 40

nghiên cứu khẳng định là cư dân văn hoá biển Trong các đống di tồn mà cư dân của hai nền văn hoá Quỳnh Văn và Bàu Tró để lại có xương của các loài cá biển rất lớn,

từ dấu vết đó, các nhà khoa học cho rằng cư dân của hai nền văn hoá này đã tiến hành

đi khơi, đi lộng và họ đã đánh bắt các loài cá lớn ở biển để ăn và để lại xương của các loài cá đó trong đống di tồn Hầu hết các địa điểm di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Quỳnh Văn và văn hoá Bàu Tró tìm thấy trên đất Hà Tĩnh chỉ cách bờ biển ngày nay

từ 4 - 12km, đó là: các di chỉ khảo cổ học ở Thạch Lạc, Thạch Lâm, Thạch Đài, Thạch Vĩnh thuộc huyện Thạch Hà; di tích Cẩm Thành ở huyện Cẩm Xuyên; di tích bãi Phôi Phối huyện Nghi Xuân; di tích núi Nài - thành phố Hà Tĩnh, Căn cứ vào những di vật thu lượm được cũng như độ dày tầng văn hoá và mật độ phân bố dày đặc của 12 di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hoá Bàu Tró trên đất Hà Tĩnh, các nhà Khảo cổ học nhận định “cư dân văn hoá Bàu Tró đã có cuộc sống định cư lâu dài trên đất Hà Tĩnh và có xu hướng hướng ra biển, khai thác biển” [55, tr.152]

Tư liệu lịch sử còn cho biết, vào thời Hùng Vương vùng đất Hà Tĩnh thuộc bộ Cửu Đức, một trong 15 bộ của nước Văn Lang, núi Hoành Sơn (Đèo Ngang) là biên giới phía Nam của nhà nước Văn Lang với nhà nước Hồ Tôn (sau này là nước Lâm Ấp, rồi Chăm-pa năm 808), “Hoành Sơn là biên giới phía Nam của nước Văn Lang” [35]

Đến thời Bắc thuộc, một số tài liệu cho biết cư dân vùng ven biển Nghệ Tĩnh (bao gồm Hà Tĩnh và Nghệ An ngày nay), từ Quỳnh Lưu đến Kỳ Anh ngoài nghề trồng lúa, đã dùng thuyền ra khơi đánh cá và biết phơi nước biển lấy muối Trải qua các triều đại phong kiến tự chủ “tại miền đất Hà Tĩnh đã có người Chiêm Thành (Chăm), người Trung Quốc (Hoa) và cả một số ít người Nhật đến cư trú, sinh sống, làm ăn, buôn bán Nhưng ngày nay con cháu họ đã Việt hoá và một bộ phận đã hồi

cư vào những năm sau Đại chiến Thế giới lần thứ hai Sự đan xen ấy còn để lại dấu

ấn văn hoá, tập tục của các dân tộc đó trong đời sống cư dân Hà Tĩnh” [87]

Các giai đoạn phát triển về sau, đặc biệt là dưới thời Lê, Nguyễn với nhiều lý

do như: “Tìm miền đất lạ”, lánh nạn giặc ngoại xâm, nội chiến giữa các triều đại phong kiến, đi lính, đến làm quan,… cư dân một số nơi đến cư trú trên vùng đất Hà Tĩnh (thường là các cửa biển và vùng ven biển - vị trí thuận lợi trong giao thông

Ngày đăng: 09/06/2016, 15:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình huyện Cẩm xuyên, Hà Tĩnh   16/04/2014 - ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
Hình huy ện Cẩm xuyên, Hà Tĩnh 16/04/2014 (Trang 195)
3  Hình sự Việt Nam  66,9  52,4  98,7 - ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
3 Hình sự Việt Nam 66,9 52,4 98,7 (Trang 213)
7.3.8. Hình ảnh thuyền rước cập bến trong lễ hội đền Lê Khôi, núi Long Ngâm, - ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN VEN BIỂN HÀ TĨNH THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA
7.3.8. Hình ảnh thuyền rước cập bến trong lễ hội đền Lê Khôi, núi Long Ngâm, (Trang 240)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w