1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm chí phèo của nam cao (ngữ văn 11, tập 1)

126 519 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo tác giả Nguyễn Thái Hòa, so sánh là hình thức diễn đạt tu từ đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai đối tượng có nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ THANH HẰNG

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM “CHÍ PHÈO” CỦA NAM CAO (NGỮ VĂN 11, TẬP 1)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUÔC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ THANH HẰNG

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM “CHÍ PHÈO” CỦA NAM CAO (NGỮ VĂN 11, TẬP 1)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô tham gia giảng dạy lớp Cao học Lý luận và phương pháp dạy hoc bộ môn Ngữ văn khoá 9 tại trường Đại học Giáo dục đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập

và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Xin được tỏ bày lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo: TS Nguyễn Thị Ban đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các em học sinh trường THPT Nguyễn Trãi, THPT Phan Đình Phùng, Thành phố Hà Nội đã cộng tác, tạo điều kiện cho tôi tham khảo, thu thập các thông số thực tế, tiến hành thực nghiệm cho

đề tài

Kính mến gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, hỗ trợ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 11, năm 2015

Tác giả

Vũ Thị Thanh Hằng

Trang 4

: Giáo viên : Học sinh : Nhà xuất bản : Sách giáo khoa : Thực nghiệm : Trung học phổ thông

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Cơ sở lí luận 12

1.1.1.Tư duy logic và liên tưởng - định hướng, tạo cơ chế cho sự so sánh 12

1.1.2 So sánh, biện pháp so sánh và so sánh trong dạy học văn 24

1.2 Cơ sở thực tiễn 38

1.2.1 Tình hình sử dụng so sánh trong dạy HS học ở trường PT 38

1.2.2 Thực trạng về việc học tập môn Ngữ văn và kỹ năng so sánh ở HS THPT 42

1.2.3 Nguyên nhân của thực trạng 45

Chương 2: TỔ CHỨC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SO SÁNH CHO HỌC SINH QUA TÁC PHẨM CHÍ PHÈO – NGỮ VĂN 11, TẬP 1 47

2.1 Phân tích thể loại, kết cấu, nội dung tác phẩm Chí Phèo để xác định khả năng và các biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh 47

2.1.1 Về thể loại 47

2.1.2 Về kết cấu 47

2.1.3 Về nội dung 51

2.2 Định hướng cho học sinh so sánh trong dạy học tác phẩm Chí Phèo 56

2.3 Rèn luyện kỹ năng so sánh 57

2.3.1 Các yêu cầu logic và cấu trúc của so sánh 57

2.3.2 Quy trình rèn luyện kỹ năng so sánh cho HS 59

2.3.3 Các mức độ phát triển của kỹ năng so sánh 59

Trang 6

iv

2.3.4 Các bài tập rèn luyện kỹ năng so sánh cho HS qua tác phẩm Chí Phèo 62

2.3.5 Cách sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học tác phẩm Chí Phèo để rèn luyện kỹ năng so sánh cho HS 84

2.3.6 Khái quát việc sử dụng so sánh trong dạy học các tác phẩm văn chương 86 Chương 3 : THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88

3.1 Mục đích, yêu cầu của thực nghiệm 88

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 88

3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 88

3.2 Đối tượng, cách thức và quy trình thực nghiệm 89

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 89

3.2.2 Thời gian thực nghiệm 89

3.2.3 Cách thức tiến hành 89

3.2.4 Quy trình thực nghiệm 90

3.3 Nội dung thực nghiệm 91

3.3.1 Lựa chọn nội dung bài dạy thực nghiệm 91

3.3.2 Tổ chức dạy thực nghiệm 91

3.3.3 Tổ chức kiểm tra, đánh giá 91

3.4 Kết quả thực nghiệm 95

3.4.1 Đánh giá kết quả của học sinh 95

3.4.2 Phân tích và nhận xét kết quả thực nghiệm 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 103

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1: Kết quả điều tra nhận thức của GV về so sánh và biện pháp so sánh 39 Bảng 1.2: Kết quả điều tra đánh giá của GV về tầm quan trọng của biện

pháp so sánh 40

Bảng 1.3: Kết quả điều tra về chuẩn bị bài soạn của GV 41

Bảng 1.4: Kết quả điều tra thái độ học tập môn Ngữ văn 42

Bảng 3.1 Đối tượng thực nghiệm và tổng thể thống kê 89

Bảng 3.2: Kết quả dạy học thực nghiệm và đối chứng 95

Bảng 3.3: Kết quả tổng hợp dạy học thực nghiệm và đối chứng 95

Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả thực nghiệm và đối chứng lớp 11 96

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngày nay, khoa học phát triển như vũ bão, kho tàng kiến thức của nhân

loại ngày càng mở rộng khiến cho phương pháp dạy học theo lối truyền thụ một chiều trở nên lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới Để học sinh có thể tích lũy được lượng kiến thức vô hạn trong thời gian hữu hạn học tập ở nhà trường đòi hỏi giáo viên phải có một phương pháp dạy học - giáo dục mới phù hợp với thời đại Chính vì vậy, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương chỉ đạo, cải cách giáo dục Trong Nghị quyết Trung ương II, khóa VIII (tháng 12/1996) của Đảng, vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh đã trở thành

nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo

dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiến tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh… Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào

tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên.”

Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành

Trung ương khóa XI (tháng 11/2013) đã nêu rõ: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo

dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế hiện nay”

Như vậy, dạy học hiện nay không chỉ giới hạn ở việc dạy kiến thức mà phải chuyển mạnh sang dạy phương pháp học, cần rèn luyện cho các em năng lực nhận thức, hình thành và phát triển cho các em phương pháp, biện pháp tư duy logic để các em có thể tự học suốt đời

1.2 Ngữ văn là bộ môn khoa học xã hội, là môn học công cụ, mang tính nhân

văn, có vai trò quan trọng hàng đầu trong chương trình đào tạo ở trường phổ thông Nhiệm vụ của bộ môn là dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp Cụ thể là

Trang 9

2

môn Ngữ văn trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học, trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam, phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại Việc lĩnh hội nội dung đó đòi hỏi học sinh phải có một sự nỗ lực cao về hoạt động trí tuệ, tư duy logic như phân tích, tổng hợp, so sánh Đồng thời, người giáo viên có nhiệm vụ to lớn là hình thành cho các em kỹ

năng tư duy và vận dụng các kỹ năng này vào quá trình nhận thức

Trong thời gian qua, nội dung chương trình Ngữ văn trong sách giáo khoa trung học phổ thông đã có nhiều đổi mới Phong trào đổi mới phương pháp dạy học cũng đang diễn ra sôi nổi trong các nhà trường Thực tế dạy học Ngữ văn cho thấy: giáo viên đã chú ý đến đổi mới song hiệu quả chưa thực sự như mong muốn Vẫn còn có giáo viên chỉ dạy học nội dung kiến thức trong sách giáo khoa và chỉ yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức một cách máy móc

mà chưa có phương pháp dạy học kích thích tư duy logic và sáng tạo Điều đó cho thấy việc nghiên cứu, tìm tòi những hướng nghiên cứu mới mang tính thời

sự và cấp thiết

1.3 So sánh là một biện pháp logic trong hoạt động nhận thức của con người

So sánh giúp người học có thể nhìn nhận ra điểm chung, bản chất của mỗi vấn

đề nhưng đồng thời cũng cho thấy được các biểu hiện khác nhau của cùng một vấn đề Phân tích, tổng hợp, so sánh là công cụ giúp con người nhận thức thế giới khách quan Luyện cho HS kỹ năng so sánh cũng chính là phát triển cho

Trang 10

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Rèn luyện kỹ

năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm “Chí Phèo” của Nam

Cao (Ngữ văn 11, tập 1)

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Những nghiên cứu về biện pháp so sánh

So sánh là một trong các cách tu từ phổ biến, đem lại hiệu quả nghệ thuật cao trong khi nói và viết, nhất là trong văn chương So sánh xuất hiện nhiều trong các tác phẩm thơ văn, trong thành ngữ và trong giao tiếp Biện pháp tu từ này được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, cắt nghĩa dưới hai góc độ ngôn ngữ và văn học

Đầu tiên phải kể đến công trình của giáo sư Đinh Trọng Lạc: “Giáo trình Việt ngữ”, tập III (phần Tu từ học) Có thể xem đây là cuốn sách đặt cơ sở cho nhiều vấn đề lí luận về tu từ học nói chung, về phép so sánh tu từ nói riêng cho một loạt các công trình có giá trị sau này của chính tác giả và cho một số nhà ngôn ngữ học khác khi tiếp tục đi sâu tìm hiểu về phép tu từ này

Năm 1982, các tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa cho ra mắt bạn đọc cuốn “Phong cách học tiếng Việt” Các tác giả viết:

“So sánh mang đặc trưng của phong cách thời đại, phong cách dân tộc, phong cách tác giả Tìm hiểu sự khác nhau giữa cách so sánh trong văn học cổ điển với văn học hiện đại, giữa cách so sánh trong ca dao với thơ ca bác học, giữa cách so sánh của nhà thơ này với nhà văn khác là một điều thú vị [14] Cho nên, trong việc nghiên cứu tiếng Việt văn học, so sánh cũng như nhiều phương thức tạo hình gợi cảm khác còn đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề cần giải quyết”

Trang 11

đó, tác giả đẫ cố gắng tách biệt so sánh tu từ với so sánh luân lí Theo tác giả, cần phân biệt so sánh tu từ với so sánh luân lí ở một số phương diện: đối tượng

so sánh, mục đích so sánh và chức năng so sánh Vì cấu trúc của so sánh tu từ

và so sánh luân lí là giống nhau nên tác giả cho rằng có dựa vào một số phương diện ấy, chúng ta mới có thể nhận ra được đâu là so sánh tu từ, đâu là so sánh luân lí một cách rõ ràng Còn khi bàn về phân loại so sánh tu từ, tác giả đề nghị cân dựa vào hai tiêu chí: hình thức và nội dung Về hình thức, tác giả dựa hẳn

vào sự xuất hiện của “từ so sánh” để phân loại: như, tưởng như, giống như, tựa

như…; hơn, kém, hơn cả, kém nhất…; là; bao nhiêu… bấy nhiêu… Còn về nội

dung, tác giả dựa vào sự xuất hiện hay không xuất hiện, trực tiếp hay gián tiếp

của nét giống nhau giữa A và B để phân loại thành: so sánh nổi và so sánh

chìm Đây là công trình đã góp thêm một tiếng nói mới vào quá trình nghiên

cứu pháp tu từ so sánh trong tiếng Việt

Theo tác giả Nguyễn Thái Hòa, so sánh là hình thức diễn đạt tu từ đem

sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai đối tượng có nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những xúc cảm thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe So sánh gồm bốn yếu tố: cái so sánh, cơ sở so sánh,

từ so sánh và cái được so sánh [35]

GS Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” [32] cho rằng: So sánh là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại cuat thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả một lối tri giác mới mẻ về đối tượng Mô hình cấu tạo so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố:

Trang 12

5

yếu tố 1: yếu tố bị hoặc được so sánh tùy theo việc so sánh là tích cực hay tiêu cực; yếu tố 2: yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động, có vai trò nêu rõ phương diện so sánh; yếu tố 3: yếu tố thể hiện quan hệ so sánh; yếu tố 4: yếu tố được đưa ra làm chuẩn để so sánh

Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt” (1995) [35], tác giả Đinh Trọng Lạc đã phân chia các biện pháp tu từ không giống với cách chia đã được trình bày trước đây trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt” Nếu

trước đây, tác giả chia các biện pháp tu từ thành 5 nhóm: biện pháp tu từ từ

vựng, biện pháp tu từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản và biện pháp tu từ ngữ âm – văn tự thì nay tác giả chỉ chia thành 3 nhóm

Đó là: các biện pháp tu từ dùng các hình ảnh tương đồng, các biện pháp tu từ

dung các hình ảnh đối lập và các biện pháp tu từ dung các hình ảnh không ngang bằng Cách phân chia các biện pháp tu từ như vậy trong công trình này

không đối lập, mâu thuẫn với cách phân chia trước mà là cách phân chia nhìn

từ góc độ khác, góc độ của sự tương đồng trong liên tưởng Nếu trong các tác phẩm trước đây, tác giả Đinh Trọng Lạc xếp “so sánh” vào nhóm cùng với ẩn

dụ, hoán dụ vì các biện pháp này được nhìn chủ yếu dưới hóc độ nghữ ngĩa tì

nay so sánh được xếp cùng nhóm với hai biện pháp đồng nghia kép và thế đồng

nghĩa vì chúng được nhìn dưới góc độ “hình ảnh tương đồng” Đây là cách

phân loại giúp chúng tôi có sự nhìn nhận về so sánh từ nhiều góc độ khác nhau

để việc xem xét phép tu từ này sao cho đa dạng và nhiều chiều hơn

Đến cuốn “300 bài tập phong cách học tiếng Việt” [33], tác giả Đinh Trọng Lạc tập trung vào việc rèn kĩ năng sử dụng các phương tiện tu từ, biện pháp tu từ trong đó có biện pháp so sánh tu từ thông qua một hệ thống các bài tập chặt chẽ, khoa học dành cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng sư phạm Về cơ bản, tính chất và cách thức biện soạn có phần nào đó tương tự với cuốn “Thực hành phong cách học tiếng Việt” mà chúng tôi vừa nói ở trên

Ngoài ra, chúng tôi có thể điểm thêm một số công trình khác là những luận văn, khóa luận có nghiên cứu đến phương thức so sánh như: “Phương thức

Trang 13

6

so sánh nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên” của Lê Thị Xuân Thủy, luận văn thạc sỹ, ĐHSPHN 1999; “Tìm hiểu cấu trúc hàm ngôn của so sánh tu từ trong

ca dao Việt Nam”, khóa luận tốt nghiệp ĐHSPHN 2001; “Luyện cho học sinh

kỹ năng sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa trong bài làm văn biểu cảm ở lớp 7” của Lê Thị Hạnh, luận văn thạc sỹ, ĐHSPHN 2012…

2.2 Những nghiên cứu về tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

Trước hết, phải kể đến những công trình nghiên cứu về tác giả Nam Cao

có nói đến tác phẩm Chí Phèo Trong cuốn “Nam Cao – Nhà văn hiện thực

xuất sắc” (1961), tác giả Hà Minh Đức đã chỉ ra nét độc đáo trong tác phẩm của Nam Cao và cho rằng: Nam Cao thiên về phân tích những biểu hiện nội tâm của nhân vật Do đó, hầu hết các tác phẩm của Nam Cao thường kết cấu theo lối tâm lí Tác giả Phong Lê trong bài “Đặc trưng bút pháp hiên thực Nam Cao” cũng đã có nhận định sâu sắc Bút pháp Nam Cao là một bút pháp hiện thực nghiêm ngặt, một bút pháp chủ trương lách vào tận đáy sâu sự thật Lách vào từng ý nghĩ, từng suy tính cùng cực, chi lí Tác giả Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn “Nhà văn – Tư tưởng và phong cách” [40] đã chỉ ra vẻ đẹp tư tưởng nhân đạo trong tác phẩm của Nam Cao Trong bài “Nhớ Nam Cao và những bài học của ông”, Nguyễn Đăng Mạnh đã có những nhận định sắc sảo về Nam Cao, là người hay băn khoăn về vấn đề nhân phẩm, về thái độ khinh, trọng đối với con người Tác giả Bích Thu với bài “Sức sống của một sự nghiệp văn chương” in trong cuốn “Nam Cao tác giả và tác phẩm” nhận xét về ngôn ngữ trong sáng tác của Nam Cao là ngôn ngữ đa âm, phức điệu hiện đại Dù được viết vào thời đại ông nhưng bây giờ đọc vẫn thấy mới Lại Nguyên Ân trong “Nam Cao và cuộc cách tân văn học đầu thế kỉ XX” cho rằng đóng góp vào việc xây dựng và phát triển văn xuôi mới của Nam Cao bộc lộ đặc biệt rõ trong ngôn ngữ văn xuôi Tác giả Phong Lê nhận xét về giọng điệu trong văn của Nam Cao trong cuốn

“Nam Cao – Văn và đời”, lời giới thiệu tuyển tập Nam Cao, NXB Văn học, Hà Nội, 1987 Đặc biệt, trong thời gian gần đây các nhà nghiên cứu, phê bình, người thưởng thức tác phẩm mở ra hướng tìm hiểu, nghiên cứu Nam Cao ở

Trang 14

7

chiều sâu thế giới nghệ thuật, khám phá ở nhiều bình diện, nhiều góc độ Tác giả Phạm Quang Long có bài nghiên cứu “Một đặc điểm của thi pháp truyện Nam Cao (Tạp chí Văn học số 2 – 1994), in lại trong “Nam Cao về tác giả và tác phẩm” [50] Tác giả Trần Đăng Suyền có bài nghiên cứu “Thời gian và không gian trong thế giới nghệ thuật của Nam Cao” (Tạp chí Văn học số 5, 1991) Tấc giả Hà Minh Đức có bài “Tầm quan trọng của hoàn cảnh trong tác phẩm của Nam Cao đời văn và tác phẩm” , NXB Văn học, Hà Nội, 1997

Có thể nói, Chí Phèo là truyện ngắn có sức thu hút lớn đối với giới

nghiên cứu phê bình văn học và đông đảo bạn đọc Lịch sử nghiên cứu tác

phẩm Chí Phèo được xem xét theo các thời kỳ

- Trước Cách mạng tháng Tám: Mặc dù là một kiệt tác nhưng Chí Phèo

chỉ được một bài viết phê bình giới thiệu của tác giả Lê Văn Trương trong lời

“Tựa Đôi lứa xứng đôi” (NXB Đời mới, 1941 được in trong Nam Cao tác gia

ngắn Chí Phèo của Nam Cao đã khẳng định ngay từ đầu sự hình thành của một

phong cách mới, vững vàng và sáng tạo

Bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh “Lưỡi dao Chí Phèo là ánh chớp trước cơn giông tố” viết năm 1980, in lại trong “Nhà văn tư tưởng và phong cách” [40] nêu lên dự cảm hiện thực của Nam Cao Tác giả Nguyễn Quang Trung viết về tính chất lưỡng hóa trong nhân vật Chí Phèo đăng trên tập

san THPT số 1/1988 (in lại trong Nam Cao về tác gia và tác phẩm, NXB,

1998), nhà nghiên cứu đã nêu lên sự khác nhau cơ bản của tính cách chị Dậu,

anh Pha, Chí Phèo Phân tích truyện ngắn Chí Phèo, nhà nghiên cứu Trần Đăng

Trang 15

8

Suyền đã khẳng định Chí Phèo chứng tỏ biệt tài miêu tả, phân tích tâm lý của

Nam Cao

Bên cạnh đó, còn có một số luận văn, khóa luận nghiên cứu về phương

pháp dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao trong nhà trường phổ thông như: Đỗ Bích Liên với đề tài: “Đặc sắc nghệ thuật tác phẩm Chí Phèo và biện

pháp giáo dục thẩm mỹ cho học sinh lớp 11”; Nguyễn Văn Thắng với đề tài:

“Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tiếp nhận ngôn ngữ người kể chuyện trong truyện ngắn Nam Cao ở trường THPT”; Trần Thị Thu Hà với đề tài khóa

luận: “Vận dụng tri thức đọc hiểu để hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm Chí

Phèo của Nam Cao trong nhà trường THPT”; Phạm Thị Thu với đề tài: “Dạy

học tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa của Nam Cao theo đặc trưng thể loại”

Như vậy, qua việc trình bày về những thành tựu về biện pháp so sánh,

những nghiên cứu về tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo, chúng tôi nhận

thấy rằng: đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về biện pháp so sánh như việc tìm hiểu, cắt nghĩa so sánh ở góc độ ngôn ngữ học và việc sử dụng biện pháp tu

từ so sánh trong các sáng tác thơ văn; tìm hiểu về tư tưởng và phong cách nghệ thuật của tác giả Nam Cao; về cách xây dựng hình tượng nhân vật, phân tích

tác phẩm theo đặc trưng thể loại trong truyện Chí Phèo Song ít có những bài

nghiên cứu, chuyên luận nghiên cứu sâu về việc rèn luyện các kỹ năng tư duy trong đó có kỹ năng so sánh thông qua việc dạy học các tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông Những năm gần đây, có nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ về các tác phẩm của Nam Cao song chưa có công trình nào trực tiếp bàn về vấn đề rèn luyện kỹ năng so sánh thông qua dạy học tác phẩm này Chính vì vậy, việc đưa ra hướng dạy học để rèn luyện kỹ năng so sánh cho học

sinh thông qua các tác phẩm văn chương nói chung và tác phẩm Chí Phèo nói

riêng cần được quan tâm nghiên cứu để tìm ra hướng dạy học phù hợp đạt hiệu quả Luận văn của chúng tôi nghiên cứu về đề tài này trên cơ sở gợi mở của những người đi trước

Trang 16

luyện kĩ năng so sánh trong dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao nhằm

giúp học sinh nâng cao năng lực tư duy, năng lực khái quát tri thức cũng như năng lực sử dụng ngôn ngữ một cách chủ động sáng tạo, góp thêm một tiếng nói đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đề ra, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận về biện pháp so sánh, vị trí và vai trò của biện pháp so sánh trong hoạt động nhận thức của con người, cách thức và biện pháp hình thành kỹ năng so sánh

- Khảo sát kỹ năng so sánh của học sinh THPT; khảo sát thực tiễn hoạt động rèn luyện kỹ năng so sánh của GV THPT thông qua dạy các tác phẩm văn học

- Phân tích tác phẩm Chí Phèo để xác định các nội dung cần so sánh

trong dạy học

- Xây dựng các biện pháp rèn luyện kỹ năng so sánh cho HS khi dạy tác

phẩm Chí Phèo của Nam Cao

- Xây dựng hệ thống các bài tập rèn luyện kỹ năng so sánh cho HS qua

dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

- Tổ chức dạy học thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính khả thi của đề tài trong thực tiễn đưa ra những đánh giá bước đầu kết quả nghiên cứu và rút ra kết luận, kiến nghị

Trang 17

10

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tổ chức dạy học nhằm hình thành và phát triển kỹ năng so sánh cho HS

trong dạy học tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao và việc tổ

chức dạy học tác phẩm này trong chương trình Ngữ văn 11 - THPT

Do điều kiện và thời gian nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên đối tượng học sinh lớp 11 các trường THPT Nguyễn Trãi, THPT Phan Đình Phùng thuộc Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình xây dựng đề tài, chúng tôi đã vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu Giữa các phương pháp có sự phối hợp với mức độ đậm nhạt

và phân bố khác nhau ở từng phần Dưới đây là một số phương pháp nghiên cứu cơ đã được chúng tôi sử dụng

5.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết dùng để nghiên cứu những công trình liên quan đến đề tài Với đề tài này, chúng tôi thu thập thông tin trên cơ sở nghiên cứu văn bản, tài liệu để có để rút ra những kết luận khoa học cần thiết

Các văn bản, tài liệu xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài là các tài liệu ngôn ngữ học, đặc biệt là các tài liệu về tiếng Việt, văn học, logic học và tâm lí dạy học

5.2 Phương pháp khảo sát

Từ trước đến nay, chúng ta luôn đề cao mối quan hệ thiết thân giữa lí luận và thực tiễn, trong đó, thực tiễn nắm vai trò cốt yếu trong quá trình nhận thức và hành động

Trên cơ sở những lí thuyết đã nghiên cứu, chúng tôi tiến hành điều tra thực tế Cụ thể, chúng tôi phát phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh thuộc phạm vi nghiên cứu, tập trung tìm hiểu kỹ năng so sánh trong tác phẩm Chí Phèo của các em ở mức độ như thế nào Qua việc làm này giúp chúng tôi

Trang 18

Phương pháp thực nghiệm có vị trí đặc biệt quan trọng của khoa học giáo dục nói chung và phương pháp dạy Tiếng Việt nói riêng Có nhiều loại thực nghiệm khác nhau: Thực nghiệm điều tra, thực nghiệm định hướng, thực nghiệm giảng dạy, thực nghiệm kiểm tra… Chúng tôi áp dụng phương pháp thực nghiệm ngay khi đưa ra các dạng bài tập Trước hết, chúng tôi tìm hiểu trình độ học sinh về kiến thức, kỹ năng so sánh, sau đó đề ra phương pháp thực nghiệm cho từng đối tượng theo trình tự: Dạy lí thuyết, ra đề, đánh giá và thống

kê kết quả Cuối cùng, chúng tôi có thể rút ra kết luận mang tính khách quan nhất về quá trình nghiên cứu của mình

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành ba chương

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Tổ chức rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy

học tác phẩm Chí Phèo – Ngữ văn 11, Tập 1

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 19

12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Tư duy logic và liên tưởng - định hướng, tạo cơ chế cho sự so sánh

1.1.1.1 Tư duy logic

Trong thực tế cuộc sống, có rất nhiều cái mà ta chưa biết, chưa hiểu Song để làm chủ được thực tiễn, con người cần phải hiểu thấu đáo những cái chưa biết đó, phải vạch ra cái bản chất, mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật của chúng Quá trình đó gọi là tư duy

“Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan mà trước đó ta chưa biết”

Như vậy, trong quá trình nhận thức, tư duy là hình thức phản ánh cao nhất, phức tạp nhất của con người về thế giới khách quan Trong đó, con người

sử dụng cảm giác, tri giác để nhận thức từng đối tượng riêng lẻ, cụ thể Nhờ tư duy, con người nhận thức được những đặc điểm, thuộc tính và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng mà con người không thể tri giác một cách trực tiếp được [27] Và như vậy, quá trình nhận thức sẽ sâu sắc hơn

Một hành động tư duy là quá trình giải quyết một nhiệm vụ nào đấy nảy sinh trong nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn Từ khi chủ thể gặp “Tình huống có vấn đề”, nhận thức được vấn đề đến khi giải quyết được vấn đề là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn Nhà tâm lí học K K Platônôp đã tóm tắt các giai đoạn của một quá trình tư duy bằng sơ đồ dưới đây:

Trang 20

13

Nhận thức vấn đề

Xuất hiện các liên tưởng

Sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thuyết

Kiểm tra giả thuyết

Chính xác hóa Khẳng định Phủ định

Giải quyết vấn đề Hành động tư duy mới

Đây chính là logic của tư duy, số lượng các giai đoạn có thể không đầy

đủ trong những trường hợp nhất định nhưng thứ tự các giai đoạn phải tuân thủ theo sơ đồ trên

Nói đến tư duy logic thì trong đầu mỗi người cũng đều so sánh, phán đoán, suy lí trên các ý niệm, khái niệm về hiện tượng, sự vật xung quanh Nghĩa là tự nhiên ban cho con người bộ não hoạt động tư duy với các quy luật logic vốn có, khách quan ở tất cả mọi người và ở mọi dân tộc

Bằng quá trình tư duy lâu dài của nhiều thế hệ, với sự đóng góp của nhiều người đã đưa đến những thành tựu vĩ đại của khoa học, kĩ thuật, công nghiệp và nông nghiệp Trong quá trình nghiên cứu của mình, con người tìm hiểu từng yếu tố của tự nhiên, xã hội và chỉ ra mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thuộc tính của hiện tượng Từ đó, con người tìm cách sử dụng những mối liên hệ và quy luật đã biết để giải quyết các yêu cầu về vấn đề chưa biết, để phát minh ra cái mới Và cũng nhờ sự liên hệ, so sánh mà con người kiểm chứng lại những phát minh của mình thông qua thực tiễn

Trang 21

mò mẫm, mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác trước khi tìm ra con đường đúng đắn để đi đến phát minh Chẳng hạn, để tìm ra biện pháp giáo dục mới cho trẻ tự kỉ, trước hết các nhà giáo dục sẽ dựa trên đặc điểm thần kinh, tâm – sinh lí của trẻ tự kỉ, định hướng phương pháp sau đó mới tiến hành thử nghiệm các phương pháp đã định ra Đối với giáo dục học, vì đối tượng nghiên cứu là con người nên không thể tùy tiện thực hiện hàng loạt phép thử khi chưa xác định được khả năng thành công của các phép thử đó Con người sử dụng những quy luật đã biết, những kiến thức đã biết và vận dụng những mối liên hệ đã biết, sau đó kiểm nghiệm qua thực tiễn và khẳng định tính đúng đắn của nó Cách làm này giúp giảm bớt thời gian và công sức mà đi đến thành công dễ dàng hơn

Quá trình tư duy luôn phải đặt ra các nhiệm vụ cụ thể và hoạt động tư duy luôn hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ đó, do đó tạo nên tính có vấn

đề của tư duy, thôi thúc con người cần vạch rõ chúng, nhận thức chúng và tìm hiểu chúng Nhu cầu này thường thấy khi con người gặp những cái mới, cái chưa biết hoặc chưa hiểu rõ Đặc tính này cũng khiến con người hướng vào việc tìm cách giải quyết nhiệm vụ và thúc đẩy tư duy Đó chính là dấu hiệu bản chất của quá trình tư duy Những vấn đề mà con người đã biết, đã tìm hiểu thì không cần tư duy cũng trả lời được Và vì vậy, nếu bài toán đặt ra không có vấn

đề mới cần giải quyết thì không thể gây hứng thú, không cần tư duy Tư duy

Trang 22

là việc tìm ra các vấn đề Vấn đề được nêu lên càng chính xác thì nhiệm vụ đặ ra càng rõ ràng, và hướng đi tìm lời giải càng cụ thể và chính xác hơn

Với những bài toán đơn giản, quá trình vạch ra mối liên hệ và quan hệ qua lại giữa các hiện tượng thường ngắn gọn Nhưng với những bài toán phức tạp lại đòi hỏi phải giải lâu dài qua nhiều giai đoạn Khi Paplốp tìm hiểu quy luật hoạt động của vỏ bán cầu não, sau khi tìm ra đáp số của vấn đề, ông lại thấy nảy sinh vấn đề khác Vậy là lời giải của một nhiệm vụ làm nảy sinh một nhiệm khác Vì thế Paplốp đã viết: “kinh nghiệm 20 năm nghiên cứu khách quan về hoạt động thần kinh – thần kinh cấp cao của động vật là kết quả của quá trình tư duy liên tục trong 20 năm” Tức là, việc tìm ra lời giải cho một quá trình rất căng thẳng, có mục đích, có tổ chức Tư duy là một quá trình lao động say sưa, kiên trì, liên tục và có mục tiêu, nhiệm vụ được đặt ra trước

Quá trình lao động càng vất vả, tư duy càng sâu sắc thì thành quả càng hoàn thiện Kết quả của quá trình tư duy căng thẳng này là hiểu Khi đã hiểu, chủ thể nhận thức có được tri thức mới về sự vật hiện tượng mà con người đã

tư duy Theo Paplốp, bởi vì một mối liên tưởng ban đầu nào dù nhỏ đều là nhân

tố làm nảy sinh tư duy Nhưng mối liên tưởng này ngày càng được phát triển và tăng lên Khi đó người ta nói rằng, tư duy sẽ sâu hơn và rộng hơn

Tư duy cũng có tính chất khái quát của nó Đó là đặc tính rõ rệt nhất của tín hiệu ngôn ngữ Theo Paplốp, tín hiệu ngôn ngữ là sự trừu tượng hóa hiện thực, khái quát hóa, là tư duy cao cấp và rất đặc biệt của chúng ta Tính khái quát của tư duy có vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động thực tiễn của con người Nhờ vào đặc tính này, con người không chỉ giải quyết được nhiệm vụ trước mắt mà còn nhìn sâu về sau, có nghĩa là tiếp tục giải quyết các nhiệm vụ

Trang 23

16

nảy sinh do kết quả của quá trình suy nghĩ Trong văn học, để nghiên cứu và giảng dạy thì việc tư duy để tìm ra ý nghĩa, giá trị tác phẩm văn học, giúp cho học sinh có sự nhìn nhận sâu sắc bên cạnh sự cảm nhận để phát hiện ra những

“lí lẽ trái tim” là vô cùng quan trọng Học tác phẩm “Chí Phèo”, học sinh sẽ thấy được giá trị của tác phẩm là sự tố cáo mạnh mẽ xã hội thuộc địa phong kiến tàn bạo đã cướp đi cả nhân hình và nhân tính của người nông dân lương thiện đồng thời nhà văn đã phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của con người ngay cả khi tưởng như họ đã biến thành quỷ dữ Từ đó, học sinh có thái

độ trân trọng, cảm thương, chia sẻ đối với những con người có số phận bất hạnh trong cuộc sống Học tùy bút “Người lái đò sông Đà”, HS cảm nhận được

vẻ đẹp đa dạng của con sông Đà vừa “hung bạo” vừa “trữ tình” cùng hình ảnh giản dị mà kì vĩ của người lái đò trên dòng sông ấy Từ đó thấy được tình yêu,

sự say đắm của Nguyễn Tuân trước thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc Điều đó cũng gieo vào tâm hồn HS tình yêu, lòng tự hào

về quê hương, đất nước và quý trọng lao động

Có nhiều mức độ khái quát hóa khác nhau, tùy thuộc vào từng trường hợp người ta có thể tập hợp các sự vật hiện tượng khác nhau, trừu tượng hóa

và khái quát hóa các thuộc tính chung, bản chất của chúng Tuy nhiên, cần loại bớt các thuộc tính không cơ bản, riêng lẻ của từng sự vật hiện tượng Nhờ đó, khi giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó, không chỉ dừng lại ở vị trí như cũ

mà phải biến đổi nó đi Con người tìm ra những phạm trù, những nhóm hiện tượng làm nảy sinh nhiều nhiệm vụ mới

Tính khái quát của tư duy cho phép con người phản ánh đa dạng nhiều sự vật, hiện tượng xung quanh mình, phân tích chúng thành nhiều khía cạnh khác nhau, tập hợp chúng thành các nhóm riêng, phản ánh cả phạm trù riêng Do đó, ta

có thể sử dụng đặc điểm khái quát này cho các mục đích, nhiệm vụ khác nhau

Quá trình tư duy trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Đối với các quá trình cảm giác, tri giác, trí nhớ rất dễ để xác định các khâu: mở đầu, giữa, cuối cùng Nhưng đối với quá trình tư duy rất khó để làm việc này

Trang 24

17

Bắt đầu của quá trình tư duy là nhiệm vụ hoặc nhu cầu cần phải tìm hiểu, nhận biết, giải thích một vấn đề nào đó Và đây cũng được coi là giai đoạn đầu tiên của quá trình tư duy – xuất phát từ một nhu cầu nào đó về vật chất hoặc tinh thần của con người Chẳng hạn như, xuất phát từ nhu cầu ăn uống, con người cần phải tư duy xem mua thức ăn ở đâu, chuẩn bị gì cho bữa ăn, nấu nướng như thế nào cho ngon và hợp vệ sinh… Hay khi có nhu cầu về giải trí, con người sẽ lướt trên các web, tìm hiểu qua các kênh thông tin để xem có phim nào đang chiếu, có chương trình ca nhạc, biểu diễn nào đang bán vé, hay đơn giản là có kênh truyền hình nào đang thu hút… Như vậy, con người phải tư duy về chính những nhu cầu của mình

Để làm nảy sinh nhu cầu trí tuệ cần có hai điều kiện:

- Tách ra được cái mới, cái khác thường từ cái đã biết

- Mong muốn tìm hiểu, vạch ra những cái mới chưa quen biết đó

Muốn tìm ra được cái mới từ những cái đã biết, trước hết cần phân biệt các hiện tượng đang tìm hiểu Có những hiện tượng chúng ta đã từng gặp trong cuộc sống nhiều lần trước đó, nhưng cũng có những hiện tượng lần đầu xuất hiện và rất mới mẻ Nhìn qua, chúng ta có thể nhầm tưởng là tất cả các hiện tượng có vẻ như đã từng gặp qua Tuy nhiên, những đặc điểm bản chất mới là quan trọng và trong mỗi sự vật hiện tượng đều ẩn chứa những cái mới mà phải nghiêm túc phân tích, đánh giá chúng ta mới thấy được

Con người thường luôn cảm thấy hứng thú với những cái mới, cái chưa biết của sự vật hiện tượng Điều này có ý nghĩa quan trọng, kích thích làm nảy sinh quá trình tư duy Tuy nhiên, phải phân biệt nó với tính hiếu kì Tính hiếu

kì là sự rung cảm khi gặp cái mới, cái khác thường Đó là sự ngạc nhiên và chỉ dừng lại ở đó Còn để đi đến tư duy, con người cần phải nảy sinh ham muốn học hỏi, tìm hiểu để biết rõ về sự vật, hiện tượng để thôi không ngạc nhiên nữa Ham muốn đó không tự nhiên xuất hiện Nó chỉ xuất hiện do hoạt động thực tiễn của con người, trong hoạt động lao động và khi con người tích cực tham gia vào cuộc sống xã hội Nhìn chung, nhận thức đẩy con người đi đến tìm hiểu

Trang 25

18

cái mới, nhằm mục đích sử dụng nó để tìm hiểu tốt nhất thế giới xung quanh,

để hành động đầy đủ hơn và có hiệu quả hơn

Mỗi khi gặp các vấn đề mới, chưa quen biết, con người nêu ra các nhiệm

vụ tư duy Nhiệm vụ này đặt ra cho con người một vấn đề nào đó Với mức độ

tư duy phát triển cao, kinh nghiệm phong phú đầy đủ, con người có thể tự nhìn

ra các nhiệm vụ tư duy và nêu lên các vấn đề Vì vậy, để hiểu rõ, nhận thức rõ một vấn đề nào đó, con người cần tìm hiểu, xác định rõ đối tượng của tư duy và chiều hướng cụ thể cho quá trình tư duy Giai đoạn đầu tiên của quá trình tư duy có thể kết thúc khi hoàn thành nhiệm vụ này

1.1.1.2 Liên tưởng

Trong vỏ não, mỗi lần có sự nhớ lại thì xảy ra một quá trình tâm lý mới không phải là sự sao chép đúng hoàn toàn cái đã xảy ra khi tri giác Vì vậy, biểu tượng được nhớ lại trong trí nhớ cũng không phải sự sao chép hoàn toàn những tri giác đã có trước đây mà có sự biến dạng ít nhiều Về hiện tượng này, P.A.Ruđích lý giải: “Bất kỳ sự ghi nhớ hay học thuộc nào cũng đòi hỏi phải thiết lập các mối liên hệ thần kinh tương ứng hay còn gọi là liên tưởng” [47]

Liên tưởng chỉ mối liên hệ giữa các yếu tố tâm lý, nhờ đó sự xuất hiện của một

yếu tố này trong những điều kiện nhất định gây nên một yếu tố khác liên quan với nó Phecđinăng Đơ Xootxuya nhận xét: “Trong cuộc sống tồn tại bao nhiêu thứ quan hệ thì trong đầu óc con người có bấy nhiêu chuỗi quan hệ liên tưởng”

Nói cách khác: liên tưởng là hiện tượng mang tính phổ biến, góp phần biểu thị

các mối quan hệ đa dạng và phức tạp của cuộc sống Nhờ có liên tưởng, cuộc sống của con người mới thực sự phong phú và mang tính xã hội Liên tưởng có chức năng như là cầu nối tinh thần giữa con người với thế giới xung quanh; giữa các chiều không gian và thời gian, giữa thế giới vi mô và thế giới vĩ mô, v.v…Tâm lý học phân chia ba loại liên tưởng:

- Liên tưởng gần nhau: Đây là liên tưởng diễn ra theo cơ chế tác động hệ

quả, có mối liên hệ logic thứ tự hô ứng Chẳng hạn, khi đọc thuộc lòng một bài thơ, xong câu này dường như cũng là câu tiếp theo xuất hiện Có trường hợp do khả năng liên tưởng kém, việc đọc bị chậm lại hoặc bị gián đoạn

Trang 26

19

- Liên tưởng giống nhau (hay còn gọi là liên tưởng tương đồng): là hiện

tượng liên tưởng dựa vào các mối liên hệ thần kinh do hai đối tượng giống nhau gây nên Chúng xảy ra trong trường hợp sự tri giác về một vật thể nào đó

sẽ gây nên trong trí nhớ sự nhớ lại một vật thể tương tự ngay cả lúc nó không được tri giác đồng thời hay bên cạnh vật thứ nhất Hiện tượng liên tưởng này có

ý nghĩa tích cực vì nó tạo cho chủ thể có cơ sở so sánh, đồng thời làm cho việc ghi nhớ có chủ đích và đạt hiệu quả tốt hơn

- Liên tưởng tương phản: là loại liên tưởng có hình thức gần với liên

tưởng giống nhau nhưng ở đây sự tri giác một vật thể nào đó lại gây nên trong trí nhớ hồi ức về một vật thể khác có những dấu hiệu (đặc điểm, tính chất) hoàn toàn ngược lại So với liên tưởng giống nhau đã kể trên, loại liên tưởng này giúp cho con người có khả năng tư duy so sánh rõ hơn

Trong tâm lý học, liên tưởng có được nhờ cảm xúc và trí nhớ Vì vậy, liên tưởng có mối quan hệ với tưởng tượng: “Tưởng tượng là sự hoạt động của nhận thức mà trong quá trình nhận thức ấy con người tạo ra những biểu tượng, tình huống trong ý nghĩ, tư tưởng, đồng thời dựa vào những hình tượng còn giữ lại trong ký ức từ kinh nghiệm cảm giác trước kia và có đổi mới, biến đổi các thứ ấy [47] Như thế, liên tưởng vừa là một hiện tượng tâm lý độc lập đồng thời cũng có thể xem nó là một “giai đoạn”, một “thao tác” trong quá trình tưởng tượng Vì lẽ đó, liên tưởng trở thành một điều kiện của tưởng tượng: nhờ có lien tưởng, những hình ảnh mà tưởng tượng tạo ra được hoàn thiện và phong phú, sinh động; và ngược lại, nếu khả năng liên tưởng kém – những hình ảnh

mà tưởng tượng tạo ra sẽ hạn chế và phiến diện Mặt khác, khi đã xác định vấn

đề và có nhu cầu biểu đạt vấn đề, trong tư duy sẽ huy động các tri thức, kinh nghiệm “có liên quan đến vấn đề đã xác định được, nghĩa là làm xuất hiện ở trong đầu những tri thức nào đó, làm sống lại những liên tưởng nào, khai thác chúng theo hướng nào – điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào nhiệm vụ đã được xác định” [24] cho nên không phải tất cả các liên tưởng đều được huy động, mà nó

Trang 27

Nghệ thuật, về một phương diện nhất định, đó là hiện tượng đồng nghĩa với sự sáng tạo tinh thần, tức được tồn tại bằng các biểu tượng trong tư duy trước khi nhà nghệ sĩ thể hiện (hay định hình) bằng một “phương thức tổ chức ngôn ngữ” cụ thể mang tính đặc trưng Một bức tranh trước khi tồn tại qua màu sắc, đường nét, bố cục là kết quả hình dung trước đó trong đầu họa sỹ; một bản nhạc trước khi hiện hữu bởi tiết tấu, giai điệu…là kết quả của dự định và tâm huyết của nhạc sỹ; một bài thơ trước khi có hệ thống từ ngữ trên văn bản là kết quả của thi hứng, sự dồn nén và bức xúc tâm hồn… Sở dĩ có thể nói như vậy

bởi sáng tác nghệ thuật nói chung và sáng tạo văn học nói riêng đều là những

phương thức phản ánh đời sống bằng hình tượng thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sỹ Được gợi từ đời sống, các tác giả thường phải trải qua quá trình cảm thụ, trau dồi vốn sống và lựa chọn dữ liệu, phương thức xây dựng tác phẩm – trong đó có liên tưởng, tưởng tượng được xem như những quá trình tâm lý sáng tạo đặc thù

Tâm lý học sáng tạo nghệ thuật cho rằng: ý niệm con người gợi lên từ một cảnh vật, một hành động, một tình cảm, một ý nghĩ không phải đơn độc mà thường gợi lên cả một hệ thống tiềm tàng Từ đấy, người ta có thể đối lập trong từng hệ thống Đối với liên tưởng trong sáng tác văn học cũng vậy, có thể phân loại theo hình thức biểu hiện:

- Liên tưởng kí ức

- Liên tưởng gần giống

Trang 28

21

- Liên tưởng giống nhau

- Liên tưởng tương phản

- Liên tưởng nhân quả

- Liên tưởng bên trong tất yếu

- Liên tưởng bên ngoài không bắt buộc

- Liên tưởng trực tiếp

- Liên tưởng gián tiếp

Tuy nhiên, việc sử dụng loại liên tưởng nào, mức độ sử dụng các liên tưởng… còn tùy thuộc ở năng lực và sở trường của từng nhà văn, thậm chí còn phải phù hợp với đặc trưng riêng của từng thể loại văn học Hơn nữa, các loại liên tưởng nói chung không phải bao giờ cũng được nhà văn sử dụng một cách biệt lập Đôi khi nó được sử dụng trong mối quan hệ đan xen nhằm tạo ra sức biểu hiện cao nhất, hiệu quả ấn tượng nhất Nhà thơ Phan Cung Việt hòa quyện

giữa liên tưởng không gian với liên tưởng thời gian trong bài Liên tưởng:

Thấy lá dâu non bỗng nhớ con tằm

nhớ tuổi ấu thơ ở bên cha – mẹ

thấy nắng vàng lên, bỗng thấy lụa vàng

bà chăng dọc sông La dâu bể…

Tất nhiên, không phải nhà văn chỉ viết bằng sự liên tưởng những gì trải nghiệm Bởi vì như Pauxtốpxki nói: “trí tưởng tượng cho con người những gì

mà thực tại chưa kịp cho hoặc không thể cho con người Trí tưởng tượng lấp đầy chỗ trống trong đời sống con người” [44] Nhà văn khi xây dựng tác phẩm không thể không huy động vốn sống, vốn hiểu biết, kinh nghiệm thông qua những liên tưởng, tái hiện như chúng tôi đã trình bày ở trên; song tác phẩm ắt không phải chỉ do các liên tưởng ấy tái hiện mà có một yếu tố quan trọng và cần thiết khi xây dựng hình tượng nghệ thuật, đó là việc tưởng tượng, sáng tạo những hình tượng mới Đại văn hào Gorki xác nhận: trong văn học, trí tưởng tượng, sự hư cấu, trực giác đóng vai trò quyết định Quan sát, nghiên cứu, hiểu biết - chưa đủ - nhà văn còn phải “bày đặt ra” nữa, tức phải sáng tạo ra Những

Trang 29

22

tác phẩm, những “điển hình” lớn nhất của nền văn học thế giới đều được ra đời như vậy Tưởng tượng ở đây được hiểu như sáng tạo kỳ diệu của nhà văn; cũng đồng nghĩa với việc làm nên sức sống mãnh liệt của tác phẩm trong người

đọc qua nhiều thời đại Đó cũng là trường hợp nhân vật chị Dậu trong Tắt đèn

của Ngô Tất Tố, Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao…

Liên tưởng, tưởng tượng là những quá trình tâm lý đặc trưng trong sáng

tạo nghệ thuật nói chung và sáng tác văn học nói riêng Liên tưởng và tưởng

tượng - đối với nhà văn, đó là phương tiện, là cách thức, là thủ pháp quan trọng để xây dựng tác phẩm Và đối với người đọc, trong công việc thưởng

thức tác phẩm nghệ thuật ngôn từ - cùng với tầm quan trọng của những phương diện khác, có liên quan đến nhiều yếu tố: loại hình tác phẩm, phương thức diễn đạt, quá trình thai nghén và hình thành tác phẩm, hoàn cảnh ra đời tác phẩm, sở trường và cá tính của nhà văn, khả năng tiếp nhận và đặc điểm tâm lý của bạn đọc… thì vấn đề bản chất như L.X.Vưgốtxki khẳng định: “Bất kỳ một lý thuyết nào về nghệ thuật cũng đều phụ thuộc vào cái quan điểm được xác lập trong học thuyết về cảm thụ, trong học thuyết về cảm xúc và trong học thuyết về hình dung hay tưởng tượng” Không chỉ thế, tác giả còn đặc biệt nhấn mạnh: “Thậm chí có thể nói thẳng ra rằng: một quan niệm đúng đắn về tâm lý học nghệ thuật chỉ có thể được xây dựng trên điểm xuyên cắt của hai vấn đề ấy, rằng mọi hệ thống, tâm lý học lý giải nghệ thuật, xét về thực chất, đều là một thứ học thuyết

tổ hợp trong dạng này hay dạng khác về tưởng tượng và cảm xúc” Theo lý thuyết tiếp nhận: cảm xúc sáng tạo hay cảm xúc thẩm mỹ vừa là chất xúc tác, vừa là động lực thúc đẩy quá trình liên tưởng, tưởng tượng Cảm xúc thẩm mỹ tạo ra hưng phấn và động cơ tích cực trong tiếp nhận văn học

Giáo sư Đỗ Hữu Châu phân tích tính chất của một trường liên tưởng từ vựng - ngữ nghĩa bao gồm:

- Trường liên tưởng có tính dân tộc (do hoàn cảnh sống, lịch sử, tâm lý… của các dân tộc quyết định)

Trang 30

23

- Trường liên tưởng có tính thời đại (một mặt do những khác biệt và những sự kiện lớn lao ở từng giai đoạn hình thành những trung tâm liên tưởng không giống nhau; một mặt do màu sắc, tình cảm, nội dung cảm xúc mà các từ ngữ có thể gợi ra, từ ngữ của mỗi thời đại thường được viền quanh một vùng cảm xúc riêng)

- Trường liên tưởng có tính cá nhân (do hoàn cảnh, lứa tuổi, trình độ văn hóa, sự giáo dục, kinh nghiệm sống) [15,25]

Về cơ chế của trường liên tưởng: khi đứng trước hoặc nghĩ tới một thực

tế nào đó (được gọi tên bằng một từ ngữ) thì nhờ kinh nghiệm sống, nó sẽ gợi lại những sự vật, những sự kiện có liên quan tới nó “như một nút bấm làm lóe sáng các ngọn đèn mắc trên cùng một mạch”; “các từ ngữ trong một trường liên tưởng được phát động có thể theo hai tuyến: tuyến trường ý niệm và tuyến trường ngữ nghĩa” [15]

Cùng với trường liên tưởng ngữ nghĩa, các yếu tố khác như: ký ức, kinh nghiệm tư duy nghệ thuật, linh cảm… cũng có vai trò tích cực giúp người đọc

cảm, hiểu được sức hấp dẫn của hình tượng văn học, đồng thời là một cơ sử để người dọc tự biểu hiện và thanh lọc cảm xúc thẩm mỹ Nhà phê bình văn học

Hoài Thanh viết: “khi tôi đọc hai câu: Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con cò

trên ruộng cánh phân vân - tôi thấy có cái gì đó rất phù hợp với mình, với

những băn khoăn khó hiểu trong lòng mình Nhưng khi tôi sực nhớ lại câu thơ

nổi tiếng của Vương Bột thì có thể nói tôi lại càng đi sâu thêm vào thực chất của thơ Xuân Diệu, càng thấy rõ từ con cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng

chiều đến con cò ở đây (trong bài Thơ duyên của Xuân Diệu) không bay mà

cánh phân vân, có sự cách biệt của trên một ngàn năm và của hai thế giới Do

đó mà càng tăng thêm mối đồng cảm với mấy câu thơ Xuân Diệu” Đây là

trường hợp đồng thanh tương ứng, nhà phê bình đã “lấy hồn tôi để hiểu hồn người” thông qua sự huy động trường liên tưởng và nhờ sức mạnh của hồi ức,

để từ đó nhận thức sâu sắc đến đồng cảm, tri âm với tâm sự của nhà thơ

Trang 31

trưa) Nhưng Tố Hữu thích nhất ánh nắng ấm áp trẻ trung những buổi sớm mùa

xuân và cái nắng vàng rực rỡ trong gió thu lồng lộng Cái nắng trong thơ Tố

Hữu bao giờ cũng đẹp, cũng vui và trìu mến biết bao: “Nắng chói sông Lô, hò

ô tiếng hát” “Cành táo đầu hè rung rinh quả ngọt - Nắng soi gương giọt long lanh” “Ngoài này nắng đỏ cành cam - Chắc trong ấy nắng xanh lam ngọn dừa” Rõ ràng sự nhạy cảm và tinh tế qua vận dụng trường liên tưởng trên đây

đã tạo ra tiền đề, cầu nối cho một khái quát giá trị đặc sắc của thơ Tố Hữu

Như vậy, liên tưởng ở mỗi người đều liên quan chặt chẽ với cuộc đời, tiểu sử, kí ức của họ Vì thế, những liên tưởng ở người này có thể hoàn toàn xa

lạ với người khác Cùng một chữ gợi những liên tưởng khác nhau trong những con người khác nhau Đây cũng là một mâu thuẫn - biện chứng đối với quá trình tiếp nhận văn học cho HS trong nhà trường Đặc biệt, liên tưởng là nền tảng của tư duy so sánh trong việc phân tích, cảm nhận văn học Nó tạo mối liên hệ giữa các nhà văn, tác phẩm, hình tượng, chi tiết với nhau nhằm tạo ra một ý nghĩa

1.1.2 So sánh, biện pháp so sánh và so sánh trong dạy học văn

1.1.2.1 So sánh

a, Khái niệm so sánh

Đã có rất nhiều nhà khoa học, tâm lí học nghiên cứu về biện pháp so sánh và đưa ra các khái niệm khác nhau về biện pháp so sánh

Theo quan niệm của các nhà tâm lí học Xô Viết thì: “So sánh là một

hoạt động trí tuệ, bằng quá trình đó thực hiện việc tách ra các dấu hiệu bản chất riêng biệt, tìm những nét chung và khác nhau đặc trưng cho các dạng và hiện tượng khác nhau và trên cơ sở đó, khái quát chúng và rút ra khái niệm”

Trang 32

25

Hiểu rằng, mọi sự trừu tượng hóa, khái quát hóa đều cần một điều kiện bắt buộc là so sánh [43] (Boogivalenxki D.N.Menchinxcaia N.A.T)

Theo quan điểm của logic tư duy thì so sánh được định nghĩa như sau:

“So sánh là thao tác trí tuệ đối chiếu trong óc các đối tượng để xác định sự giống nhau và khác nhau hoặc bắng nhau giữa các sự vật, hiện tượng”

Như vậy, so sánh là một biện pháp tư duy thể hiện trong việc nêu sự giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng Biện pháp này là một thao tác cơ bản trong lý luận dạy học nói chung Trong suy lý quy nạp và diễn dịch cũng như trong các thao tác phân tích, tổng hợp đều có sự so sánh Tùy từng trường hợp mà có thể so sánh nặng về tìm điểm khác nhau hoặc giống nhau So sánh điểm giống nhau chủ yếu được dùng trong tổng hợp Cũng tùy mục đích và quan điểm so sánh, cơ sở để so sánh có thể khác nhau

Ví dụ:

- Bác Tư có thân hình vạm vỡ như một bác nông dân khiến ai cũng yêu

quý bác

- Lan không cao bằng Bích

b, Ý nghĩa của biện pháp so sánh

Trong hoạt động tư duy, so sánh giữ vai trò tích cực quan trọng Việc nhận thức bản chất sự vật, hiện tượng không thể thực hiện được nếu không có

sự tìm ra các đặc điểm khác biệt sâu sắc và cả những đặc điểm giống nhau của các sự vật hiện tượng

Việc tìm ra những dấu hiệu giống nhau cũng như khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng là nội dung chủ yếu của tư duy so sánh

Giống như tư duy phân tích, tổng hợp, tư duy so sánh có thể ở mức độ đơn giản như tìm tòi, thống kê, nhận xét đến mức phức tạp hơn được thực hiện trong quá trình biến đổi và phát triển So sánh có thể tiến hành với những yếu

tố dấu hiệu bên ngoài có thể trực tiếp quan sát được, cũng có thể tiến hành so sánh những dấu hiệu bên trong không thể nhận biết trực tiếp được mà phải bằng hoạt động tư duy

Trang 33

26

Nhờ có quá trình so sánh mà người ta có thể tìm thấy những dấu hiệu giống nhau và khác nhau của các sự vật mà còn tìm thấy những dấu hiệu không bản chất thứ yếu của chúng

c, Yêu cầu của việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học

Những yêu cầu logic và yêu cầu sư phạm của thao tác so sánh là đối tượng đem so sánh phải cùng loại, nghĩa là đối tượng thuộc cùng một lớp, đặc điểm giống nhau giữa các đối tượng so sánh chỉ được xác định khi giữa chúng

có một sự khác nhau nào đó Và ngược lại, sự khác biệt giữa chúng chỉ được định hướng, thực hiện trên những điểm giống nhau xuất phát nhất định Cùng một đối tượng, chúng có thể giống nhau nếu xét ở góc độ này, nhưng có thể khác nhau nếu xét ở góc độ khác Tùy theo sự đầy đủ của các mặt so sánh mà chúng ta phân ra so sánh toàn phần hay so sánh bộ phận Vì thế, căn cứ vào mục đích dạy học mà người GV cần lựa chọn biện pháp so sánh sao cho phù hợp Nhưng dù là biện pháp so sánh nào đi chăng nữa, chúng ta cũng cần thực hiện các bước chính sau đây:

- Xác định mục đích so sánh

- Hiểu biết về đối tượng so sánh (trả lời câu hỏi: lớp đối tượng đó là gì?)

- Phân tích các dấu hiệu chính mà qua đó sẽ so sánh

- Rút ra kết luận từ sự so sánh (kết luận đó cho ta biết điều gì?)

- Giải thích nguyên nhân của sự giống nhau và khác nhau ấy

d, Quy trình so sánh

Khi so sánh các đối tượng, chúng ta có thể tiến hành theo trình tự:

Bước 1: Nêu dấu hiệu đặc trưng để xếp các đối tượng so sánh vào cùng một phạm trù/lớp và từ đó xác định mục đích so sánh (trả lời câu hỏi: các đối tượng đó thuộc phạm trù/lớp nào? So sánh để đạt được mục đích gì?)

Bước 2: Phân tích đối tượng, tìm ra dấu hiệu thuộc phạm trù so sánh cuả mỗi đối tượng so sánh, tức là xác định tiêu chí so sánh

Bước 3: Xác định những điểm giống nhau

Bước 4: Xác định những điểm khác nhau

Trang 34

27

Bước 5: Xác định nguyên nhân của sự giống nhau và khác nhau đó (nếu

có thể), tổng hợp lại kết quả so sánh để rút ra kết luận khái quát

Bước 6: Diễn đạt kết quả so sánh bằng hình thức phù hợp: ngôn ngữ, hình vẽ, bảng, đồ thị…

e, Các hình thức diễn đạt so sánh

Bằng lời:

Thực chất đây là những câu hỏi so sánh nhằm mục đích hướng học sinh vào việc nghiên cứu chi tiết những vấn đề khá phức tạp, những sự vật, hiện tượng gần giống nhau, những khái niệm có nội hàm đan xen nhau Thông qua

đó, học sinh được tập dượt phương pháp phân tích, phương pháp so sánh Các thao tác tư duy so sánh, phân tích được hình thành và phát triển cùng với quá trình nắm vững kiến thức Yêu cầu so sánh không chỉ dừng lại ở việc phân biệt

sự giống nhau và khác nhau mà còn phải phân tích nguyên nhân của sự giống nhau và khác nhau Tùy từng mục đích nghiên cứu mà sự so sánh có thể nặng

về tìm sự giống nhau hay khác nhau So sánh sự khác nhau chủ yếu dùng trong phân tích So sánh sự giống nhau chủ yếu dùng trong tổng hợp

Câu hỏi so sánh, phân tích phải được sắp xếp theo một hệ thống logic nhằm hướng dẫn học sinh phân tích, so sánh tài liệu được làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu, rút ra những kết luận khái quát về sự giống nhau và khác nhau

Tiếp cận quan điểm logic biện chứng thì quá trình nhận thức của loài người từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Trong các biện pháp hoạt động trí tuệ cũng vậy, thao tác tư duy so sánh cũng được chia làm các mức

độ yêu cầu khác nhau tăng dần từ dễ đến khó Cụ thể như sau:

- Chỉ yêu cầu liệt kê đặc điểm của các đối tượng so sánh

- Yêu cầu chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau giữa các đối tượng so sánh

- Chỉ ra nguyên nhân của sự giống nhau và khác nhau

Trang 35

28

Căn cứ vào những đặc trưng của biện pháp so sánh và căn cứ vào khả năng nhận thức của người học, khi ra câu hỏi so sánh cần phải tuân thủ theo các mức độ chất lượng trên

Bằng bảng:

Bảng trong dạy học là dạng bảng kê nêu rõ, gọn theo thứ tự nhất định một nội dung nào đó Có nhiều dạng bảng song đề tài chỉ tập trung nghiên cứu dạng phổ biến là bảng so sánh Bảng là dạng ngôn ngữ có khả năng khắc phục những khó khăn mà ngôn ngữ khác không làm được Những ưu thế vượt trội của bảng như:

- Cho phép trình bày rõ, gọn một nội dung có mối quan hệ phức tạp như đối chiếu so sánh các đối tượng, thống kê các tư liệu , các đặc điểm về một số đối tượng

- Tránh được tình trạng manh mún khi trình bày nội dung bài học, cho phép liên kết kiến thức, hệ thống hóa nội dung

- Thiết lập được bảng, học sinh được rèn luyện nhiêuì kỹ năng tư duy: phân tích , tổng hợp , so sánh, hệ thống hoá, khái quát hoá, trừu tượng hoá

Hình ảnh có những thế mạnh vượt trội mà các ngôn ngữ khác chưa đạt tới như:

- Tính biểu đạt cao: Các thí nghiệm của giáo sư tâm lí học Simon Garrod

đã chứng minh được câu ngạn ngữ cổ: “Một hình ảnh bằng ngàn lời nói” Khi hai người giao tiếp bằng hình ảnh thì cuộc đối thoại trở nên đa dạng và chất lượng hơn lời nói nhiều lần Tính biểu đạt rất cao nhờ vào khả năng trực quan hóa cái trừu tượng của hình ảnh

- Tính bao quát: Nhu cầu truyền đạt thông tin đã thúc đẩy sự phát triển

Trang 36

29

ngôn ngữ hình ảnh đi trước ngôn ngữ Mỗi dân tộc có mỗi ngôn ngữ, nhưng ngôn ngữ hình ảnh gần như không có đường biên giới Một hình ảnh khoa học không lệ thuộc vào ngôn ngữ của mỗi quốc gia, nó phát triển mang tính toàn cầu

- Tính xúc cảm: Một hình ảnh ra đời thay cho một đoạn chữ viết làm

cho sức khái quát của hình tượng rộng hơn, khả năng tạo liên tưởng và ấn tượng thị giác mạnh hơn, chất lãng mạn và xúc cảm dồi dào hơn

- Tính bền bỉ: Trong học tập khi diễn đạt một nội dung thành một hình

ảnh cần huy động tối đa tư duy để khái quát hóa, trừu tượng hóa Độ bền của kiến thức tiếp nhận được từ hình ảnh cao

- Tính thẩm mỹ: Thiết kế được hình ảnh còn có tác dụng phát triển

khiếu thẩm mỹ, nghệ thuật

Bằng đồ thị:

Đồ thị là một tập các đối tượng được gọi là các đỉnh (hoặc nút) nối với nhau bởi các cạnh (hoặc cung) Đồ thị thường được vẽ dưới dạng một tập các điểm (các đỉnh nối với nhau bằng các đoạn thẳng (các cạnh) Nhưng khác với

sơ đồ, đồ thị là một hình vẽ biểu diễn sự biến thiên của một hàm số phụ thuộc vào sự biến thiên của biến số

Đồ thị là một trong những cách thức nhằm đưa khoa học sinh học tiến đến một khoa học chính xác Khi hiểu được một đồ thị hay cao hơn là thiết lập được nó, học sinh sẽ phát triển được các kỹ năng sau:

- Kỹ năng tính toán chính xác

- Kỹ năng biểu đạt các mối quan hệ đã được lượng hóa

1.1.2.2 Biện pháp so sánh trong văn học (so sánh tu từ)

a, Khái niệm

So sánh tu từ là hình thức đối chiếu hai hay nhiều đối tượng (sự vật, tính chất, hành động…) khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng giúp

cho người đọc, người nghe rõ hơn về đối tượng cần miêu tả

Trang 37

30

Như vậy, so sánh tu từ không phải lúc nào người ta cũng thấy ngay sự giống nhau hay khác nhau giữa hai đối tượng mà phải qua sự liên tưởng, sự rung động của cảm xúc, của trái tim người đọc, người nghe mới có thể phát hiện ra vẻ đẹp, vẻ mới lạ của phép so sánh ấy

Ví dụ về tu từ so sánh có đối tượng cùng loại:

- Cùng là âm thanh:

Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

(Nguyễn Trãi)

- Cùng là sự vật:

Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre

Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè

Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng

(Tế Hanh)

b, Cấu tạo của so sánh tu từ

Mô hình so sánh đầy đủ gồm 4 yếu tố:

Yếu tố bị hoặc được

so sánh tùy theo so

sánh tích cực hay

tiêu cực

Yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái, hành động có vai trò nêu rõ phương diện

so sánh

Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh

Yếu tố đưa ra làm chuẩn để so sánh

Ví dụ:

Thực tế, có nhiều so sánh không đầy đủ 4 yếu tố Nó có thể vắng một hoặc hai yếu tố So sánh vắng yếu tố 2 gọi là so sánh chìm Ví dụ:

Trẻ em như búp trên cành

(Hồ Chí Minh)

Trang 38

31

So sánh chìm tạo điều kiện cho sự liên tưởng rộng rãi hơn so sánh nổi

Nó kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn để có thể xác định được nét giống nhau giữa hai đối tượng ở hai vế và từ đó nhận ra đặc điểm của đối tượng miêu tả

So sánh vắng yếu tố 2 và yếu tố 3 là so sánh sử dụng chỗ ngắt giọng và hình thức đối chọi Ví dụ:

Người giai nhân: bến đợi dưới cây già

Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt

(Xuân Diệu)

c, Phân loại so sánh

Có nhiều tiêu chí để chia ra thành các loại biện pháp so sánh tu từ: phân chia theo từ chỉ quan hệ so sánh, phân chia căn cứ vào nét nghĩa các đối tượng được so sánh với nhau

* Căn cứ vào từ ngữ chỉ quan hệ so sánh, có thể chia ra thành các loại

so sánh:

- So sánh ngang bằng:

+ So sánh ngang bằng không có từ so sánh

+ So sánh ngang bằng có từ so sánh (như, dường như, tựa như, tựa, là,

giống như, bao nhiêu… bấy nhiêu…)

- So sánh không ngang bằng:

+ So sánh hơn: các từ chỉ quan hệ so sánh là những từ ở mức độ cao hơn

cái đem ra so sánh: hơn

+ So sánh kém: các từ chỉ quan hệ so sánh là những từ ở mức độ thấp

hơn cái so sánh: kém, thua, chẳng bằng

* Căn cứ vào nghĩa các đối tượng được so sánh với nhau có các dạng

Trang 39

- Yếu tố được/bị so sánh và yếu tố chuẩn thuộc phạm trù ngữ nghĩa

+ Yếu tố được/bị so sánh và yếu tố chuẩn cùng phạm trù người

+ Yếu tố được/bị so sánh và yếu tố chuẩn cùng phạm trù hành động

+ Yếu tố được/bị so sánh và yếu tố chuẩn cùng thuộc phạm trù tình cảm + Yếu tố được/bị so sánh và yếu tố chuẩn cùng thuộc phạm trù sự vật

d, Chức năng của biện pháp so sánh

So sánh tu từ là công cụ giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn những phương diện nào đó của sự vật Nhờ có so sánh mà chúng ta dễ dàng tri giác về đối tượng được miêu tả được rõ nét hơn, hình ảnh hơn và cụ thể hơn bằng việc công khai đối chiếu hai đối tượng vói nhau đã khơi gợi cho người đọc, người nghe tới một vùng liên tưởng mới tạo nên sự tri giác, sự nhận thức mới mẻ và bất ngờ Chính vì vậy, so sánh tu từ tạo nên tính chất hình tượng đậm nét của đối tượng được miêu tả hay đối tượng cần được tri nhận, đồng thời bộc lộ thái

độ, cách đánh giá của tác giả đối với đối tượng đó Do vậy, so sánh tu từ có hai chức năng: chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm

- Chức năng nhận thức của biện pháp so sánh tu từ được thể hiện ở chỗ: biện pháp so sánh tu từ đem lại cho con người những hiểu biết hay tri giác mới

mẻ, hoàn chỉnh về sự vật, hiện tượng, tính chất, trạng thái… trong thế giới thông qua hình ảnh

- Chức năng biểu cảm của biện pháp so sánh tu từ được thể hiện: qua bất

kỳ một phép so sánh tu từ nào ta cũng nhận ra sự yêu, ghét, khen, chê, thái độ khẳng định hay phủ định của người nói, người viết đối với đối tượng biểu cảm

Trang 40

33

Chức năng này tạo nên những hình ảnh sống động, gợi cảm, tạo những cách nói mới mẻ làm cho cách diễn đạt trở nên phong phú, uyển chuyển, tăng sức mạnh biểu cảm cho lời nói Đồng thời bằng hình ảnh so sánh đã bộc lộ thái độ, tình cảm, cách nhận xét, đánh giá của tác giả

e, Cơ chế tạo ra biện pháp so sánh tu từ

So sánh được tạo ra nhờ sự quan sát, tưởng tượng là liên tưởng ra những nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh chúng ta Hay nói một cách khác, so sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với

sự vật khác miễn là hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc và người nghe

Như vậy, biện pháp so sánh giữ vai trò thể hiện đặc điểm sự vật này (A) qua một sự vật khác (B) dựa vào những nét tương đồng giống nhau giữa chúng Nội hàm “so sánh” được sử dụng trong luận văn không phải là so sánh tu từ nhưng ở đây chúng tôi trình bày nội dung này để phân tích

1.1.2.3 So sánh trong dạy học Văn

a, Quan niệm về so sánh trong dạy học Văn

Như đã biết, so sánh là phương pháp nhận thức trong đó đặt sự vật này bên cạnh một hay nhiều sự vật khác để đối chiếu, xem xét nhằm hiểu sự vật một cách toàn diện, kỹ lưỡng, rõ nét và sâu sắc hơn So sánh là một thao tác tư duy rất cơ bản, phổ biến, thông dụng, nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức, đánh giá của con người trong nhiều lĩnh vực và hoàn cảnh Trong dạy học văn cũng vậy, việc sử dụng thao tác so sánh là điều hết sức cần thiết

Trong dạy học văn, khái niệm so sánh cần được hiểu theo ba khía cạnh khác nhau:

Thứ nhất, đó là một biện pháp nghệ thuật tu từ để tạo hình ảnh cho câu

văn (như đã trình bày ở trên)

Thứ hai, so sánh được xem như là một thao tác lập luận bên cạnh các

thao tác lập luận khác trong bài văn nghị luận như: phân tích, giải thích, bình luận, bác bỏ,…

Ngày đăng: 09/06/2016, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (2001), Phương pháp dạt học môn Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạt học môn Tiếng Việt
Tác giả: Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
3. Nguyễn Nhƣ An (2000), Phương pháp dạy học giáo dục học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học giáo dục học
Tác giả: Nguyễn Nhƣ An
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
4. M.Aluxep, V.Onhicsuc, M.Crugliac (1976), Phát triển tư duy học sinh, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy học sinh
Tác giả: M.Aluxep, V.Onhicsuc, M.Crugliac
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1976
5. M.Arnauđôp (1978), Tâm lý học sáng tạo văn học, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học sáng tạo văn học
Tác giả: M.Arnauđôp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1978
6. Đinh Quang Báo (1988), Lý luận dạy học sinh học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học sinh học
Tác giả: Đinh Quang Báo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 1988
7. Đinh Quang Báo, Nguyễn Thị Hà (2005), Hình thành kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học Sinh học ở trường THPT, Tạp chí Giáo dục, Số 111 tháng 4/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Tác giả: Đinh Quang Báo, Nguyễn Thị Hà
Năm: 2005
8. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Bộ giáo dục và đào tạo, Vụ GV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
9. Bộ GD & ĐT (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 môn Ngữ văn, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11 môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
17. Nguyễn Đình Chỉnh, Hình thành kỹ năng và năng lực cho học sinh trong quá trình dạy học, Tạp chí giáo viên và nhà trường, Số 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kỹ năng và năng lực cho học sinh trong quá trình dạy học
18. Nguyễn Viết Chữ (2009), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
19. Trương Dĩnh (2008), Thiết kế dạy học Ngữ văn 11 theo hướng tích hợp, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế dạy học Ngữ văn 11 theo hướng tích hợp, tập 2
Tác giả: Trương Dĩnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
20. Nguyễn văn Duệ (2000), Phương pháp dạy học tích cực, Dạy học giải quyết vấn đề, Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1996 – 2000, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tích cực, Dạy học giải quyết vấn đề
Tác giả: Nguyễn văn Duệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
21. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiên đại, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiên đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
29. Nguyễn Kỳ (1995), Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm
Tác giả: Nguyễn Kỳ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
31. X.I.Kixengogh (1977), Hình thành kỹ năng kỹ xảo cho sinh viên trong điều kiện nền giáo dục Đại học (Vũ Năng Tĩnh dịch), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành kỹ năng kỹ xảo cho sinh viên trong điều kiện nền giáo dục Đại học
Tác giả: X.I.Kixengogh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1977
32. Đinh Trọng Lạc (1999), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
33. Đinh Trọng Lạc (1999), 300 bài tập phong cách học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 300 bài tập phong cách học
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
37. Phan Trọng Luận (1983), Cảm thụ văn học giang dạy văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm thụ văn học giang dạy văn học
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1983
40. Nguyễn Đăng Mạnh (2001), Nhà văn tư tưởng và phong cách, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn tư tưởng và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
41. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) (2002), Phân tích, Bình giảng tác phẩm văn học 11, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích, Bình giảng tác phẩm văn học 11
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Kết quả điều tra nhận thức của GV về so sánh và biện pháp so sánh - Rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm chí phèo của nam cao (ngữ văn 11, tập 1)
Bảng 1.1 Kết quả điều tra nhận thức của GV về so sánh và biện pháp so sánh (Trang 46)
Bảng 1.2: Kết quả điều tra đánh giá của GV về tầm quan trọng của biện - Rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm chí phèo của nam cao (ngữ văn 11, tập 1)
Bảng 1.2 Kết quả điều tra đánh giá của GV về tầm quan trọng của biện (Trang 47)
Bảng 1.3: Kết quả điều tra về chuẩn bị bài soạn của GV - Rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm chí phèo của nam cao (ngữ văn 11, tập 1)
Bảng 1.3 Kết quả điều tra về chuẩn bị bài soạn của GV (Trang 48)
Bảng 1.4: Kết quả điều tra thái độ học tập môn Ngữ văn - Rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm chí phèo của nam cao (ngữ văn 11, tập 1)
Bảng 1.4 Kết quả điều tra thái độ học tập môn Ngữ văn (Trang 49)
Bảng 3.1. Đối tượng thực nghiệm và tổng thể thống kê - Rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm chí phèo của nam cao (ngữ văn 11, tập 1)
Bảng 3.1. Đối tượng thực nghiệm và tổng thể thống kê (Trang 96)
Bảng 3.2: Kết quả dạy học thực nghiệm và đối chứng. - Rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm chí phèo của nam cao (ngữ văn 11, tập 1)
Bảng 3.2 Kết quả dạy học thực nghiệm và đối chứng (Trang 102)
2. Hình tượng nhân vật Chí Phèo - Rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm chí phèo của nam cao (ngữ văn 11, tập 1)
2. Hình tượng nhân vật Chí Phèo (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w