1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí cho học sinh trung học phổ thông

100 989 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi bài làm văn, học sinh phản ánh khá rõ nhận thức, kĩ năng, tình cảm của học sinh; là cơ hội để học sinh bộc lộ rõ nét nhất, tập trung nhất vốn hiểu biết nhiều mặt cũng như các phẩm ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ HÀ

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG,

ĐẠO LÍ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ HÀ

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG,

ĐẠO LÍ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN KHÁNH THÀNH

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường THPT An Lão, các thầy cô giáo

và các em học sinh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn này Đặc biệt tôi xin cảm ơn PGS.TS Trần Khánh Thành đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song chắc chắn luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự quan tâm và đóng góp ý kiến, bổ sung của tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này

Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Học viên

Phạm Thị Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 7

1.1.1 Khái lược về văn nghị luận xã hội 7

1.1.2 Việc phân chia các dạng bài nghị luận xã hội ở trường phổ thông 10

1.1.3 Về dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 16

1.1.4 Ý nghĩa của việc làm văn nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo lí 18

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 20

1.2.1 Thực trạng của việc dạy học kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ở trường THPT 20

1.2.2 Những khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy - học dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ở trường THPT 25

CHƯƠNG 2 NHỮNG KĨ NĂNG CẦN THIẾT TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ 30

2.1 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học làm văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 30

2.1.1 Một số phương pháp dạy học tích cực rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 30

2.1.2 Một số kĩ thuật dạy học hiện đại vận dụng rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 37

2.2 Các kĩ năng làm văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí 39

Trang 6

2.2.1 Kĩ năng tìm hiểu đề 39

2.2.2 Kĩ năng xác định luận điểm và lập dàn ý 40

2.2.3 Các kĩ năng diễn đạt khi làm dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 46

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 56

3.1 Các vấn đề chung 56

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 56

3.1.2 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 56

3.1.3 Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 57

3.1.4 Chuẩn bị và tổ chức thể nghiệm 57

3.2 Thiết kế thực nghiệm 61

3.2.1 Giáo án đối chứng 61

3.2.2 Giáo án thực nghiệm 68

3.3 Kết quả thực nghiệm và đánh giá 76

3.3.1 Kết quả thực nghiệm 76

3.3.2 Phân tích, đánh giá 78

Tiểu kết chương 3 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 86

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thống kê kết quả bài làm của học sinh 21

Bảng 1.2 Thống kê kết quả lỗi học sinh thường gặp khi lập dàn ý 21

Bảng 1 3 Thống kê kết quả bài làm của học sinh 22

Bảng 1 4 Thống kê kết quả lỗi học sinh thường gặp khi viết bài 22

Bảng 1 5 Thống kê phiếu khảo sát của học sinh 22

Bảng 1 6 Thống kê phiếu khảo sát của GV 24

Bảng 3.1 Khảo sát lực học của các lớp ………57

Bảng 3 2 Phân công giáo viên dạy thực nghiệm và đối chứng 58

Bảng 3 3 Kết quả khảo sát bài làm của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 76

Bảng 3 4 Tổng hợp so sánh bảng kết quả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 77

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 78

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Môn Ngữ văn đang ngày càng chứng tỏ vai trò và chức năng nhận thức của mình trong đời sống Học Văn là học cách làm người, hoàn thiện nhân cách Qua việc đọc văn, viết văn, học sinh bày tỏ suy nghĩ, bộc lộ quan điểm, thái độ sống, cách nhìn cuộc sống và xác định mục tiêu sống đúng đắn Trong

ba phân môn của bộ môn, Làm văn là phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp cao Mỗi bài làm văn, học sinh phản ánh khá rõ nhận thức, kĩ năng, tình cảm của học sinh; là cơ hội để học sinh bộc lộ rõ nét nhất, tập trung nhất vốn hiểu biết nhiều mặt cũng như các phẩm chất và năng lực của mình: năng lực nhận thức, năng lực thẩm mĩ, năng lực trình bày vấn đề, năng lực phản biện, bác bỏ…Tất cả những năng lực đó được thể hiện rất rõ trong bài văn nghị luận của học sinh

Chương trình cải cách sách giáo khoa từ năm 2000 của Bộ Giáo dục đến nay đã rất chú ý đến văn nghị luận: nghị luận văn học và nghị luận xã hội Đặc biệt kiểu bài văn nghị luận xã hội là kiểu bài còn khá mới mẻ đối với học sinh, nhiều học sinh còn lúng túng không biết cách làm bài, giáo viên lúng túng trong cách dạy Về lý thuyết lý luận về kiểu bài này, trong chương trình sách giáo khoa THPT hiện hành rất ít dạy Ở chương trình Chuẩn, nghị luận

xã hội chỉ được có hai tiết học chính: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống (chương trình lớp 12) Hơn nữa trong

đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn hiện nay, đề thi luôn có câu kiểm tra kiến thức, kĩ năng của học sinh ở bài văn nghị luận xã hội (nghị luận về một

tư tưởng, đạo lí, nghị luận về hiện tượng xã hội, vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học), từ những bài kiểm tra định kì trong nhà trường đến những kì thi Quốc gia (Kì thi THPT Quốc Gia, thi học sinh giỏi…) Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy rằng nhiều học sinh không biết triển khai các bước làm bài văn nghị luận xã hội, không biết cách lập ý, thậm chí có học sinh không phân biệt

Trang 9

được kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hay một hiện tượng đời sống

Vì vậy, việc chú trọng rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận xã hội nói chung

và nghị luận về tư tưởng, đạo lí nói riêng là vô cùng cần thiết

Quan trọng hơn, văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí giúp cho học sinh nhận thức đúng đắn những giá trị sống của bản thân, ý nghĩa của cuộc sống, bồi dưỡng những tư tưởng, đạo lí tốt đẹp của dân tộc, nhân loại… Từ đó học sinh biết sống có lý tưởng, hoài bão, có lối sống lành mạnh, ứng xử nhân ái và

có văn hóa Nói một cách khái quát thì dạy nghị luận xã hội chính là dạy học sinh kỹ năng sống, nhờ đó mà ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường các

em học sinh đã được tiếp xúc với mọi vấn đề, phương diện của cuộc sống xã hội Điều đó làm tiền đề, cơ sở, hành trang giúp các em bước vào cuộc sống không bị bỡ ngỡ, học sinh có thể phân biệt đúng sai, hạn chế đến mức tối đa việc mắc sai lầm Và quan trọng hơn, giúp học sinh nắm được những giá trị to lớn về mặt tinh thần trong cuộc sống, tránh xa các tệ nạn xã hội, trở thành những công dân tốt góp phần xây dựng xã hội ngày một giàu đẹp văn minh

Tuy nhiên để giúp người học có thể làm một bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí đạt hiệu quả cao, thì người dạy phải đưa ra được những phương pháp tổ chức dạy học phù hợp gợi được khả năng liên tưởng, chiều sâu tư duy, từ đó khích lệ người học bày tỏ suy nghĩ của mình Xuất phát từ những lí

do cơ bản trên, tôi chọn đề tài: Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về

tư tưởng, đạo lí cho học sinh trung học phổ thông với mong muốn giúp các

thầy cô giáo dạy bộ môn Ngữ Văn sẽ đem đến cho học sinh những bài giảng thú vị và bổ ích, từng bước rèn luyện học sinh làm văn nghị luận xã hội Đồng thời giúp cho người học nắm bắt được những kĩ năng cơ bản, đặc trưng để áp dụng vào việc làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí đạt hiệu quả cao,

nâng cao chất lượng dạy và học

2 Lịch sử vấn đề

Trong khoảng vài năm trở lại đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về mảng văn nghị luận xã hội có giá trị như:

Trang 10

Bàn về phương pháp làm bài văn nghị luận của ông Nguyễn Hữu Xuân

Quang (giáo viên Trường THCS, Quận Thủ Đức) Ở bài viết này tác giả tập trung phân biệt sự giống và khác nhau giữa nghị luận về tư tưởng, đạo lí và nghị luận về hiện tượng đời sống, giúp các em tránh nhầm lẫn trong khi làm bài

Ông Trương Văn Quang - Chuyên viên Sở giáo dục tỉnh Quảng Nam cũng có bài viết đăng trên diễn đàn dạy học của Bộ giáo dục Ở bài viết này,

tác giả đã chỉ Phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội, giúp người dạy và

học nắm vững được những bước cơ bản khi dạy và học văn nghị luận

Trong cuốn Dạy và học Nghị luận xã hội do tác giả Đỗ Ngọc Thống

chủ biên ngoài việc giới thiệu kiến thức cơ bản về nghị luận xã hội, các tác giả đã đưa ra các yêu cầu và cách làm một bài văn nghị luận xã hội giúp học sinh có định hướng, tránh sự lúng túng khi làm bài

Hai tác giả là Nguyễn Xuân Lạc và Đặng Hiển đã xuất bản cuốn Dạy học nghị luận xã hội Cuốn này đã trình bày chi tiết những kỹ năng cần có

khi làm dạng bài nghị luận xã hội Theo các tác giả thì điều quan trọng là cần nắm được các bước làm một bài văn nghị luận và các thao tác lập luận trong một bài văn nghị luận

Cuốn Các dạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội của NXB

Giáo dục, do tác giả Lê A - Nguyễn Thị Ngân Hoa và một số tác giả khác biên soạn đã hướng dẫn kĩ năng làm văn nghị luận xã hội khá cụ thể trong từng đề bài và có hệ thống bài làm tham khảo cho từng đề bài

Ngoài ra, còn một số cuốn sách khác hướng dẫn về các dạng bài văn

nghị luận và phương pháp làm bài như Chuyên đề Văn nghị luận xã hội do hai tác giả Nguyễn Văn Quốc, Nguyễn Thị Quỳnh Nga, cuốn Hướng dẫn ôn tập

và làm bài thi môn Văn nghị luận xã hội do tác giả Nguyễn Tấn Huy và các

tác giả khác biên soạn Tác giả Nguyễn Văn Tùng, Thân Phương Thu đã tuyển chọn các đề văn và bài văn nghị luận xã hội của các giáo viên đăng trên

báo Văn học và tuổi trẻ khá bổ ích cho học sinh tham khảo trong cuốn Tuyển tập đề văn và bài văn nghị luận xã hội Tuy nhiên các cuốn sách này chủ yếu

Trang 11

đưa các bài văn mẫu mà không hướng dẫn cụ thể kĩ năng dạy và học kiểu bài này

Trong cuốn sách “125 bài văn hay 10,11,12” do tác giả Trần Khánh

Thành chủ biên, đã cung cấp cho giáo viên và học sinh những kiến thức bổ ích về xã hội Qua những bài văn cụ thể, cuốn sách giúp người học nắm được những bước cơ bản trong cách hành văn, cấu trúc một bài nghị luận và phạm

vi dẫn chứng mà mỗi bài nghị luận xã hội hướng tới

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nghị luận xã hội công phu, có giá trị định hướng tốt cho giáo viên, học sinh trong quá trình dạy và học Tuy nhiên so với tài liệu nghiên cứu của các dạng bài nghị luận văn học thì các công trình nghiên cứu của dạng bài nghị luận xã hội vẫn còn rất khiêm tốn Thực trạng này đã dẫn đến một số khó khăn cho giáo viên và học sinh khi dạy học dạng bài này

Tài liệu nghiên cứu là một trong những phương tiện quan trọng của quá trình dạy học giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi Có được các phương tiện thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho học sinh dễ dàng nghiên cứu, học tập và hứng thú với môn học Nói đến các tài liệu dạy học là nói đến các công cụ cần thiết cho quá trình dạy và học Thiếu công cụ lao động sẽ dẫn đến hiệu quả lao động không được như mong đợi Công việc dạy học cũng là một lao động đặc thù với sự hỗ trợ của các công cụ là sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo Đây là hạn chế cần phải điều chỉnh ngay trong thời gian tới để hiệu quả dạy - học được nâng cao hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 12

Xác định được các hình thức, biện pháp tổ chức, phương pháp dạy và học nghị luận về một tư tưởng đạo lí ở trường phổ thông theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh

Nâng cao kỹ năng sống, năng lực nhận thức xã hội và bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp cho học sinh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài có nhiệm vụ khảo sát thực trạng việc dạy học dạng bài nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí trong thực tế dạy học làm văn hiện nay ở trường phổ thông, xây dựng một cơ sở lí thuyết và cơ sở thực tiễn cho việc dạy học kiểu bài này, từ đó đề xuất những kĩ năng cần thiết trong dạy học làm văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí

Ngoài ra, đề tài còn có nhiệm vụ khảo nghiệm tính khả thi bằng thực nghiệm sư phạm để tổng hợp xem những vấn đề mà đề tài đề xuất có khả năng thực thi đến đâu và có hiệu quả như thế nào trong thực tế dạy học làm văn ở trường THPT hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là văn nghị luận: Kĩ năng làm văn

nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là đề tài nghiên cứu lý thuyết về dạng

bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và cách làm dạng bài trên, chủ yếu trong chương trình Ngữ văn lớp 12 ở chương trình chuẩn

- Phạm vi khảo sát: Các lớp 12A1, 12A7, 12A8, 12A9 của trường THPT

An Lão, Hải Phòng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích loại hình

Để rèn luyện cho học sinh THPT, người viết tiến hành phân tích các đặc điểm của người dạy người học, phân tích đặc trưng của văn nghị luận xã

Trang 13

hội, đặc biệt phân tích kĩ kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí, để từ đó giúp học sinh có cách thức tiếp cận đối với các đề văn nghị luận

- Phương pháp điều tra, khảo sát

Phương pháp điều tra, khảo sát, phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh về việc tổ chức dạy học nghị luận xã hội trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT

Tìm hiểu việc dạy học dạng bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí của trường THPT hiện nay, để từ đó có thể đưa ra những giải pháp phù hợp

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp thực nghiệm sư phạm từng phần và toàn phần

+ Xử lí số liệu kết quả khảo sát và kết quả sau thực nghiệm sư phạm

+ Phân tích số liệu khảo sát và số liệu thực nghiệm

+ Sử dụng phương pháp thống kê toán học và các thành tựu của công nghệ thông tin để xử lí kết quả thực nghiệm

Với phương pháp thực nghiệm giúp người viết bước đầu đưa những vấn đề mà đề tài đề xuất vào thực tế dạy học ở trường THPT, từ do có thể rút

ra những kết luận cần thiết cho đề tài

Ngoài những phương pháp trên, người viết còn sử dụng kết hợp một số thao tác khác như: Thao tác thống kê - phân loại, thao tác phân tích, thao tác đối chiếu so sánh …và các phương pháp này không tiến hành đơn lẻ mà được vận dụng một cách tổng hợp có tác dụng hỗ trợ cho nhau một cách linh hoạt trong suốt quá trình nghiên cứu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phần phụ lục, bố

cục luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Những kĩ năng cần thiết trong dạy học làm văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Văn nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội như chính trị, giáo dục, đạo đức, môi trường, dân số , nhằm làm sáng rõ cái đúng đắn, cái sai trái, cái tốt, cái xấu của vấn đề được nêu ra, từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống bản thân Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội

Nội dung nghị luận trong bài văn nghị luận xã hội thường cô đúc trong các câu tục ngữ, danh ngôn hay một lời nhận xét, đánh giá khái quát nào đó thể hiện những quan niệm đánh giá về các vấn đề xã hội

Như trên có thể đưa ra một khái niệm chung cho bài văn NLXH như sau: Văn NLXH là bài văn mà người viết sử dụng lý lẽ, dẫn chứng để đưa ra

ý kiến mang tính cá nhân của mình về một vấn đề xã hội đời sống nhằm thuyết phục người đọc, người nghe

Giữa văn bản NLVH và NLXH có những điểm khác nhau rõ nét Trước hết về đối tượng của bài văn NLXH là loại văn bàn luận về các vấn đề tư tưởng, đạo lí, các vấn đề đời sống xã hội trong thưc tiễn cuộc sống hoặc có thể là vấn đề được đặt ra trong tác phẩm văn học Các vấn đề đó có thể là vấn

đề tích cực cũng có thể là mặt trái của xã hội Còn nghị luận văn học là loại

Trang 15

nghị luận trước hết là cái hay cái đẹp về phương diện nội dung tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm văn học Do đặc trưng đối tượng lựa chọn nghị luận khác nhau nên văn nghị luận xã hội chủ yếu huy động các kiến thức từ thực tế cuộc sống trong khi đó NLVH chủ yếu là các kiến thức về văn học

Như vậy về cơ bản làm văn NLXH có sự khu biệt so với làm văn NLVH Đây là thể văn đưa ra các lý lẽ dẫn chứng bằng việc sử dụng ngôn từ

cô đọng, súc tích nhằm thuyết phục người đọc người nghe về một vấn đề thuộc đời sống xã hội con người

1.1.1.2 Cấu trúc

Cũng giống như bài văn NLVH, bài văn NLXH phải đảm bảo đầy đủ

bố cục 3 phần là Mở bài (Đặt vấn đề), Thân bài (Giải quyết vấn đề) và Kết luận (Kết thúc vấn đề)

Phần Mở bài: Cần giới thiệu được vấn đề nghị luận một cách chính

xác, hướng người đọc vào nội dung bàn luận một cách tự nhiên và gợi hứng thú với vấn đề được trình bày trong bài văn Mở bài cần ngắn gọn, tránh tình trạng mở bài dài nhưng không đúng chủ đề hay làm lạc đề Cần có phần dẫn dắt nhất định để đi vào bài một cách tự nhiên, tránh gò bó, gượng ép gây cảm giác khó chịu cho người đọc

Có thể mở bài theo hai cách trực tiếp hoặc gián tiếp giới thiệu vấn đề nghị luận Mở bài trực tiếp là giới thiệu thẳng vào vấn đề cần bàn luận Mở bài gián tiếp là dẫn dắt từ những vấn đề có liên quan vào vấn đề bàn luận

Phần Thân bài: Được xem như phần chính, phần xương sống của cả bài

viết bởi nó làm nhiệm vụ giải quyết những vấn đề chính của đề bài đặt ra Phần này thường trả lời cho các câu hỏi: Vấn đề đó nghĩa là gì? Những quan điểm của người viết về vấn đề đó: Vấn đề đó là đúng hay sai, tại sao? Trong thực tế cuộc sống, nó diễn ra phổ biến như thế nào? Cần làm gì để phát huy những mặt tốt và hạn chế những tiêu cực (nếu là mặt xấu) đó trong xã hội hiện nay? Cần làm gì và làm như thế nào để góp phần hiện thực hóa nó vào trong thực tế? Đây là những yêu cầu cơ bản trong việc viết một thân bài của dạng bài NLXH

Trang 16

Các vấn đề trên được người viết triển khai thành các luận điểm, luận cứ

để giải quyết vấn đề lập luận

Phần kết bài: Là phần thông báo về sự kết thúc của việc trình bày vấn

đề, nêu đánh giá khái quát của người viết về những khía cạnh nổi bật nhất của vấn đề, từ đó gợi liên tưởng vấn đề rộng hơn, sâu sắc hơn

Phần kết bài đóng vai trò vô cùng quan trọng vì nó khép lại vấn đề mà

cả bài viết bài đang đề cập tới và mở rộng ra những ý kiến cá nhân nhằm làm người đọc có những liên tưởng rõ hơn về cả bài viết Nếu mở bài cần tạo hứng thú cho người đọc tìm hiểu vấn đề thì kết bài tạo dư ba cho người đọc

về vấn đề đặt ra trong bài viết

1.1.1.3 Đặc trưng

Đặc trưng đầu tiên khi đề cập đến văn bản NLXH là tính nghị luận của văn bản Bằng việc sử dụng lí lẽ và dẫn chứng, người viết làm sáng tỏ vấn đề nghị luận Dẫn chứng càng xác thực bao nhiêu, lý lẽ càng chặt chẽ thì càng làm tăng sức thuyết phục bấy nhiêu Các luận điểm, luận cứ đưa ra là một chỉnh thể logic nhất quán về nội dung, để tạo thành một lập luận soi sáng vấn

đề cần bàn luận Văn phong sử dụng mang tính mẫu mực cao

Thứ hai là phương diện ngôn ngữ, ngôn ngữ trong văn bản nghị luận xã hội phải là ngôn ngữ được chọn lọc mang tính chuẩn mực Ngôn ngữ phải mang phong cách ngôn ngữ chính luận Nó luôn đòi hỏi phải đảm bảo tính chính xác chặt chẽ, điều này phù hợp với mục đích diễn đạt trong văn nghị luận làm rõ vấn đề thuộc về chân lý để thuyết phục người đọc, người nghe

Vì vậy mà nó đòi hỏi người viết cần biết lựa chọn từ ngữ chính xác, phù hợp với vấn đề nghị luận, tránh sử dụng những từ ngữ lạc phong cách hoặc cầu kì, sáo rỗng Người viết có thể kết hợp sử dụng các biện phát tu từ từ vựng và những tù ngữ mang tính biểu cảm để bộc lộ cảm xúc phù hợp Ngoài ra, cần

sử dụng kết hợp các kiểu câu tạo nên giọng điệu linh hoạt cho bài viết, sử dụng các biện pháp tư tù cú pháp để tạo nhịp điệu, nhấn mạnh rõ hơn thái độ, quan điểm và cảm xúc của người viết

Trang 17

Phương diện thứ ba là đề tài và nội dung đề cập đến phải mang tính thời sự Đề tài đó phải liên quan đến thực tế đời sống hàng ngày, là vấn đề mọi người đang quan tâm, muốn tìm hiểu và tìm cách giải quyết để mang lại

sự hữu ích cho xã hội Các vấn đề mang tính thời sự thì có nhiều nhưng quan trọng là phải tìm được vấn đề phù hợp với nhận thức, tâm lý lứa tuổi của học sinh Từ đó, học sinh được cung cấp, mở rộng vốn sống và có thêm kinh nghiệm sống cho mình

Một phương diện nữa là dẫn chứng sử dụng trong bài văn NLXH phải gắn liền với thực tiễn đời sống Điều đó đòi hỏi người viết không chỉ học trong sách vở mà phải biết tự tìm hiểu những tri thức trong cuộc sống hàng ngày Đó là tất cả những điều các em được trải nghiệm trong cuộc sống Đó

có thể là một câu nói một cử chỉ hành vi, một việc làm tuy rất nhỏ nhưng lại mang đến những bài học nhân sinh lớn lao cho các em Học sinh cũng cần mài sắc cho mình các giác quan để nhận thấy cuộc sống đang biến đổi từng ngày, để thu lượm cho mình những dẫn chứng xác đáng cho bài viết Dẫn

chứng phải mang tính chính xác tiêu biểu và chon lọc

Để làm tốt một bài văn nghị luận đòi hỏi người viết cần hội tụ trong mình nhiều yếu tố như cần có hiểu biết về các tin tức, thời sự nóng hổi đang diễn ra hàng ngày, có những kiến thức về truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc từ ngàn xưa để lại Người viết cũng cần trang bị cho mình thêm nhiều vốn sống ở nhiều lĩnh vực trong xã hội, nhất là rèn luyện kĩ năng sống, nhận biết được các giá trị sống để bài viết vừa phong phú lại vừa sâu sắc Ngoài ra người viết cũng cần sử dụng các thao tác nghị luận, có phương pháp luận để làm bài để bài viết sao cho ngắn gọn, chặt chẽ, giàu sức thuyết phục với người đọc, người nghe

1.1.2 Việc phân chia các dạng bài nghị luận xã hội ở trường phổ thông

Văn nghị luận xã hội chia làm ba dạng chính: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

Trang 18

1.1.2.1 Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

* Khái luận chung về kiểu bài nghị luân về tư tưởng, đạo lí

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là quá trình kết hợp những thao tác lập luận để làm rõ những vấn đề tư tưởng, đạo lí trong cuộc đời

Đề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng phong phú, bao gồm: Các vấn đề về nhận thức như lí tưởng, mục đích sống, lối sống; Các vấn

đề về tâm hồn, tính cách như: Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, bao dung, tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã, khiêm tốn; Về các quan hệ gia đình như tình mẫu tử, anh em ; Về quan hệ xã hội như tình đồng bào, tình thầy trò, bạn bè,… ; Về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống

Kiểu bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí hướng cho HS trong việc rèn luyện nhân cách, giúp các em có cái nhìn tinh tế hơn trước các vấn đề của cuộc sống Giáo viên đưa ra những quan điểm đúng đắn tiến bộ để từ đó giúp các em có suy nghĩ đúng hành động đúng phù hợp với chuẩn mực của xã

hội Thông qua kiểu bài này các em sẽ thấy thấm thía hơn câu nói "văn học chính là nhân học" (Gorki), dạy văn cũng chính là dạy người

Cũng từ kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, giáo viên sẽ rèn cho học sinh các kĩ năng và thao tác tổng hợp thông tin, lập luận và vận dụng các

kĩ năng lập luận vào vào viết bài văn, nhằm đáp ứng yêu cầu học tập phần làm văn nói riêng và yêu cầu xã hội nói chung, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống

Thông qua đề văn, HS cần xác định được được vấn đề nghị luận ở đây

là gì? nó được thể hiện ra sao? nguồn gốc, nguyên nhân của các tư tưởng đó? Tuy nhiên cũng cần nhìn vấn đề quan điểm đạo đức đó sao cho phù hợp với từng thời đại, chỉ ra các điểm còn sai lệch chậm tiến và phát huy những mặt

ưu điểm đúng đắn tiến bộ của nó Từ đó rút ra bài học về tư tưởng, đạo lí, để

áp dụng vào thực tiễn cuộc sống

*Một số đề bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Trang 19

- Có ý kiến cho rằng: "Cuộc sống như một cuốn sách: Kẻ điên rồ giở qua nhanh chóng, người khôn ngoan vừa đọc vừa suy ngẫm, vì biết rằng mình chỉ được đọc một lần" (Jean Paul Pougala)

Ý kiến của anh (chị) như thế nào?

- "Nên tha thứ cho kẻ khác nhưng đừng bao giờ tha thứ cho chính mình"

(Syrus)

Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên?

- "Xấu hổ trước người khác là một tình cảm tốt nhưng xấu hổ trước bản thân lại càng tốt hơn" (Lep Tolstoi)

Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên?

- Nhà văn Ban-dăc cho rằng: "Khi công nhận cái yếu của mình, con người trở nên mạnh mẽ"

Ý kiến của anh (chị) như thế nào?

- Suy nghĩ của anh (chị) về khát vọng và tham vọng của con người trong cuộc

sống?

1.1.2.2 Nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội

* Khái luận chung về kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống

Nghị luận về hiện tượng đời sống là kiểu bài văn nghị luận bàn bạc về một hiện tượng, sự kiện xảy ra trong đời sống Hiện tượng đó có thể có ý nghĩa tích cực, cũng có thể tác động tiêu cực đến xã hội Vì vậy, đây có thể nói là kiểu bài có ý nghĩa thiết thực trong văn nghị luận xã hội Với kiểu bài này, học sinh cần có những kiến thức am hiểu về xã hội và làm nổi bật được chính kiến của riêng mình về hiện tượng cần bàn luận như ủng hộ những hiện tượng tốt đẹp và lên án phê phán vạch trần cái xấu, cái ác Từ đó, học sinh rút

ra được giải pháp khắc phục đối với vấn đề tiêu cực, phát huy đối với vấn đề tích cực và rút ra bài học nhận thức, hành động cho bản thân

Không mang tính khái quát cao như kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí, đề tài của kiểu bài về một hiện tượng trong đời sống xã hội thường cụ thể hơn, đó có thể là vấn đề đang gây nhức nhối bức xúc cho người dân như

Trang 20

hiện tượng ô nhiễm môi trường, hay bệnh thành tích, tình trạng an toàn thực phẩm, vấn đề tham nhũng do tính chất linh biến của cuộc sống hàng ngày nên đề tài cũng khá phong phú phức tạp

* Dàn bài chung về dạng bài nghị luận một hiện tượng xã hội

Mở bài: Giới thiệu hiện tượng cần bàn luận

Thân bài: Học sinh cần trình bày được các bước sau:

Bước 1 Giải thích hiện tượng:

Học sinh cần giải nghĩa hiện tượng đó, nhất là những hiện tượng có liên quan đến vấn đề đạo lí, lối sống Chẳng hạn bàn về hiện tượng lối sống vô cảm đang diễn ra hiện nay ở một số người, học sinh cần phải giải thích: Thế nào là lối sống vô cảm?

Bước 2 Nêu hiện trạng của hiện tượng: Hiện tượng đó diễn ra như thế nào trong đời sống? (Có là vấn đề bức xúc trong xã hội? Nêu dẫn chứng vài hiện tượng xảy ra)

Bước 3 Bàn luận về hiện tượng:

Khi bàn luận về hiện tượng, học sinh cần nêu được: Ảnh hưởng của hiện tượng đó đối với đời sống (Tốt, xấu, lợi, hại…) Chứng minh: Đưa ra các dẫn chứng; Chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó xảy ra (khách quan, chủ quan)

Bước 4 Mở rộng: Người viết đưa ra các biện pháp khắc phục nếu đó là một vấn đề tiêu cực, các biện pháp để phát huy nếu đó là một vấn đề tích cực

Cuối cùng liên hệ bản thân: Rút ra bài học cho bản thân và cộng đồng

xã hội

Kết bài: Đánh giá lại hiện tượng, gửi thông điệp đến mọi người

* Một số đề bài về nghị luận về một hiện tượng xã hội

- Anh (chị) nghĩ gì về tình hình tai nạn giao thông hiện nay?

- Suy nghĩ của anh (chị) về tình trạng "nghiện" facebook của một số thanh niên hiện nay?

- Tình trạng sử dụng ngôn ngữ trên mạng xã hội hiện nay của giới trẻ?

Trang 21

- Suy nghĩ của anh (chị) về hiện tượng một số bạn trẻ tự tạo cho mình những

vụ scandal để được nổi tiếng?

- Đọc thông tin:

"Em bé xấu số đó là Aylan Kurdi, 3 tuổi, đến

từ thị trấn Kobahi phía bắc Syria, gần biên

giới Thổ Nhĩ Kì, nơi đang là điểm nóng

chiến tranh giữa IS và lực lượng Kurd ( )

Aylan, bố mẹ, anh trai lên 2 chiếc thuyền

cùng 19 con người khác rời bỏ quê hương

Syria đi tìm miền đất mới, nơi không có

chiến tranh, không phải đối diện với bom

đạn mỗi ngày ( ) Chiếc thuyền quá tải đã

chìm khi đang trên đường thoát khỏi Syria,

kéo theo 12 người trên ấy, trong đó có

Aylan, anh trai Galip, mẹ Rihan 35 tuổi "

(Theo Lương Hồng Phúc/ Tri Thức Trẻ)

Hình ảnh em bé trên bờ biển Bodrum, Thổ Nhĩ Kỳ

Suy nghĩ của anh (chị) khi đọc thông tin và nhìn bức ảnh trên?

1.1.2.3 Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

Đề bài thường tập trung về một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: Tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được học

Vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm có thể là một tư tưởng nhân sinh, đạo lí hay hiện tượng xã hội Từ vấn đề, người viết luận bàn, bày tỏ ý kiến của mình Để làm được kiểu bài này, học sinh trước hết phải đọc hiểu về tác phẩm văn học, rút ra được vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm đó, rồi mới bàn luận vấn đề

* Dàn bài chung cho kiểu bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học:

Trang 22

Mở bài: Học sinh cần phải giới thiệu tác phẩm có vấn đề nghị luận và giới thiệu vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm đó

rút ra từ nhân vật viên quản Từ đó, mới có vấn đề bàn luận

Bước 2 Bàn luận vấn đề:

Khi xác định được vấn đề xã hội cần bàn luận, người viết tiến hành bày tỏ quan điểm Nếu vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm là một tư tưởng, đạo lí, thì các bước làm giống kiểu bài nghị luận về một tu tưởng, đạo lí (bàn đến các mặt đúng, sai, lợi hại, vì sao ) Nếu vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm là hiện tượng đời sống thì người viết cũng làm giống kiểu bài về hiện tượng đời sống (hiện tượng đó diễn ra như thế nào trong đời sống, nguyên nhân, hậu quả của hiện tượng, đề xuất những giải pháp, rút ra bài học)

Kết bài: Khẳng định ý nghĩa của vấn đề trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm Từ vấn đề được bàn luận rút ra bài học cho bản thân

* Một số đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học:

- Từ tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, anh (chị) hãy bàn về vai trò của

ước mơ?

- Từ tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, anh (chị) suy

nghĩ gì về nạn bạo hành gia đình hiện nay?

- Từ vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, anh (chị) hãy viết bài văn về chủ

đề sống thật?

- Đọc câu chuyện

Trang 23

XÉN LÁ

Mẫu đơn là vua các loài hoa Có anh nhà giàu mua được một gốc, trồng ở giữa sân Khi hoa nở, màu đỏ rực rỡ, lá xanh rợp mát Người nào đi qua trông thấy cũng thốt lên: "Hoa đẹp biết bao" Anh nhà giàu thấy người ta chỉ khen hoa mà không thấy nói gì đến cành lá, bèn xén trụi cành lá Rốt cuộc ai thấy cũng lắc đầu, nhíu mày bỏ đi Anh nhà giàu hoang mang không hiểu, làu bàu: "Sao hôm qua thì khen ngợi hoa thế, mà hôm nay thấy hoa lại lắc đầu như vậy"

(Trích Trần tứ Ích - Ngụ ngôn thi thoại, NXB Tổng hợp tp HCM, 2003)

Viết bài văn bày tỏ suy nghĩ cuar anh (chị) sau khi độc câu chuyện trên?

Đọc câu chuyện sau và thực hiện yêu cầu:

QUẢ BÓNG ĐEN

Một cậu bé da đen đang chơi đùa trên bãi cỏ, phía bên kia đường, một người đàn ông đang thả nhẹ những quả bóng lên bầu trời, những quả bóng đủ mùa sắc xanh, đỏ, tím, vàng và có cả màu đen nữa

Cậu bé nhìn khoái chí, chạy tới chỗ người đàn ông hỏi nhỏ:

- Chú ơi những quả bóng đen có bay được như những quả bóng khác không ạ?

Người đàn ông quay lại, bất giác giấu đi những giọt nước mắt sắp lăn nhẹ trên đôi gò má, ông chỉ lên đám bóng bay lúc này chỉ còn chấm nhỏ và trả lời cậu bé:

1.1.3 Về dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

1.1.3.1 Khái niệm về tư tưởng, đạo lí

Trang 24

Tư tưởng là ý nghĩ "Tư tưởng là phản ánh hiện thực trong ý thức, biểu hiện quan hệ của con người đối với thế giới chung quanh".[23, tr.742]

"Đạo lí là những lí lẽ hợp đạo đức mà mọi người phải theo"[23, tr.194] Như vậy, tư tưởng, đạo lí là những nhận thức về thế giới, cuộc sống, con người, là những lẽ phải hợp đạo đức, chuẩn mực của xã hội

1.1.3.2 Dạng bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Như đã nói ở trên, đề tài của kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí rất phong phú Nó đề cập đến tất cả vấn đề liên quan đến nhận thức, tâm hồn, tính cách, các mối quan hệ gia đình, xã hội của con người

Đề bài của dạng bài này thường được hỏi dưới dạng một câu danh ngôn, tục ngữ, câu nhận định hay một chủ đề khái quát về tư tưởng, đạo lí

* Dàn bài chung của bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí:

Mở bài: Giới thiệu tư tưởng, đạo lí cần bàn luận

Bước 2 Bàn luận vấn đề:

Nếu vấn đề là một chân lí đúng, người viết cần phân tích các mặt đúng, lí giải

vì sao? Nhưng nếu vấn đề cần bác bỏ, người viết cần chỉ rõ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận, lí giải vì sao? Đưa ra các dẫn chứng xác thực, tiêu biểu để soi sáng cho lí lẽ Từ đó, người viết khẳng định lại tính đúng đắn của vấn đề

Bước 3 Mở rộng:

Trang 25

Người viết đưa đề xuất một số phương hướng, phương pháp, cách thức rèn luyện và học tập; liên hệ thực tế cuộc sống về những hiện tượng xã hội liên quan đến tư tưởng, đạo lí bàn luận, từ đó, người viết bày tỏ thái độ Cuối cùng, người viết rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân và cộng đồng xã hội

Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí đã bàn luận, gửi thông

điệp đến mọi người

1.1.4 Ý nghĩa của việc làm văn nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo lí

Môn Ngữ Văn luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục học trò Nó giúp các em nhận thức được xã hội, cuộc sống và con người qua từng thời đại thông qua các văn bản văn học và các kĩ năng làm văn Hơn nữa,

nó giúp học sinh hình thành và phát triển những nhân cách, phẩm chất tốt đẹp, biết hướng tới cái chân, thiện, mĩ Trong những vai trò chung ấy, phân môn Làm văn có đóng góp không nhỏ trong nhận thức, giáo dục học sinh

Phần NLXH cung cấp cho HS các kiến thức, hiểu biết về đời sống xã hội, giúp cho em thấy được mối liên hệ chặt chẽ giữa văn học và cuộc sống,

để qua đó, các em sẽ có thêm nhiều kinh nghiệm sống, rèn luyện, phát triển

kỹ năng sống Để viết được bài văn nghị luận xã hội hoàn chỉnh các em cần

sử dụng rất nhiều các kỹ năng từ thu thập, chắt lọc xử lý thông tin, sau đó sử dụng các dẫn chứng lý lẽ qua hệ thống luận điểm để thuyết phục người đọc, người nghe về một vấn đề được đưa ra bàn luận Vì vậy, bài văn nghị luận xã hội vừa giúp các em rèn luyện được tư duy ngôn ngữ, khả năng lập luận và tổ chức ý trong văn bản, vừa hiểu biết về các vấn đề xã hội

Dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng nhận thức, tư tưởng và phát triển nhân cách, kĩ năng sống cho học sinh Tư tưởng, đạo lí đúng đắn sẽ là nền tảng, tiền đề vững chắc cho mọi việc làm, hành động đúng đắn của mỗi người Và ngược lại tư tưởng lệch lạc, không theo những chuẩn mực đạo đức thì sẽ dẫn đến mọi việc làm sai trái Văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí sẽ giúp học sinh

Trang 26

trước hết là nhận thức đúng về thế giới, cuộc sống con người, biết đánh giá được những sự việc đúng, sai, lợi, hại xảy ra xung quanh mình Chẳng hạn khi

bàn luận đến lòng yêu nước, có ý kiến cho rằng: "Lòng yêu nước không chỉ cần trái tim nóng mà còn cái đầu lạnh" Khi bàn luận ý kiến này, HS sẽ nhận

thức được đầy đủ về lòng yêu nước Yêu nước không chỉ cần trái tim nhiệt huyết, nóng bỏng mà còn rất cần một cái đầu tỉnh táo, lý trí và sáng suốt Từ

đó, HS có thể liên hệ thực tế nhìn nhận nhiều sự việc người dân mình biểu tình, đập phá những công ty Trung Quốc tại Việt Nam khi Trung Quốc đặt giàn khoan 981 ở vùng đặc quyền kinh tế của nước ta là những hành động của

những con người chỉ có "trái tim nóng" mà thiếu "cái đầu lạnh" Không chỉ

vậy, rèn luyện bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí còn hướng HS biết sống đẹp, biết sống hòa bình, đoàn kết, nhân ái với mọi người, biết nhận thức được mọi giá trị của cuộc sống và bản thân Ví như HS muốn bàn luận được

câu nói của Nguyễn Khải "Nói cho cùng, để sống được hàng ngày tất nhiên phải nhờ vào những "giá trị tức thời" Nhưng để sống có phẩm hạnh, có cốt cách nhất định phải dựa vào những "giá trị bền vững" , bản thân HS phải biết nhận thức được đâu những là giá trị tức thời và đâu là những giá trị bền vững? Vì sao để sống được hàng ngày tất nhiên phải nhờ vào những "giá trị tức thời" Nhưng để sống có phẩm hạnh, có cốt cách nhất định phải dựa vào những "giá trị bền vững? Điều này sẽ giúp HS nhận thức được những giá trị

lâu bền của cuộc sống Đặc biệt hơn, rèn luyện dạng đề này còn giúp HS nhìn nhận được những mặt còn hạn chế, điểm yếu của bản thân, biết đấu tranh với chính mình và hoàn cảnh để vươn lên sống tốt, sống có ý nghĩa

Ngày nay, một bộ phận không nhỏ thanh niên sống thiếu kĩ năng, sống

vô trách nhiệm với gia đình, xã hội, bản thân vì vậy việc giáo dục nhân cách, đạo đức, kĩ năng sống đang luôn được đặt lên hàng đầu Môn Ngữ Văn nói chung và phân môn Làm văn nói riêng, với đặc thù của mình, đã góp phần làm được những nhiệm vụ giáo dục đó

Trang 27

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Thực trạng của việc dạy học kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo

lí ở trường THPT

1.2.1.1 Đối tượng điều tra

Để nắm được thực trạng năng lực viết bài và những khó khăn trong việc dạy học về kiểu bài này, chúng tôi đã điều tra, khảo sát giáo viên dạy môn Ngữ Văn và học sinh khối 12 của trường THPT An Lão - Hải Phòng qua phiếu khảo sát và bài tập thực hành của học sinh

1.2.1.2 Nội dung điều tra

Điều tra năng lực, kỹ năng lập ý, viết bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí của học sinh thông qua hệ thống bài tập và tiết trả bài kiểm tra

Điều tra thực tế giảng dạy kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí của giáo viên

1.2.1.3 Cách thức điều tra

* Đối với học sinh

Chúng tôi đã tiến hành 3 phép đo như sau:

Cách thứ nhất: Cho HS một đề bài NLXH yêu cầu học sinh lập ý trong

khoảng thời gian từ 10-15 phút Sau đó chấm bài và thống kê kết quả cách này gọi là phép đo 1

Cách thứ hai: Cho HS viết một đề văn sau đó yêu cầu HS lập ý và viết

thành bài hoàn chỉnh trong 2 tiết tại lớp, sau đó GV sẽ thu chấm về hệ thống ý

và bài văn Ở phép đo nay người chấm phải tiến hành các bước chấm hệ thống

ý và bài làm kết hợp với việc so sánh kết quả của dàn ý và bài văn xem chúng

có phù hợp hay không, từ đó mà đánh giá các khía cạnh của bài viết Cách này gọi là phép đo 2

Cách thứ ba: Ngoài hai cách trên chúng tôi tiến hành điều tra HS và

GV để xác định thực trạng dạy và học dạng bài nghị luận về một tư tưởng, dạo lí của HS THPT hiện nay

* Đối với giáo viên

Trang 28

Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu thăm dò và trực tiếp, dự giờ giảng của các GV

1.2.1.4 Đánh giá kết quả

Ở phép đo 1, thời gian làm thực nghiệm là tháng 5 năm 2014, tổng số

HS tham gia là 120 em

Ở phép đo 2, thời gian làm thực nghiệm là tháng 5 năm 2014, tổng số

HS tham gia là 120 em

Ở phép đo 3 (phép đo bổ sung) tổng số HS tham gia là 200, số phiếu hợp lệ là 200, tổng số GV là 12 thầy cô

* Phép đo 1: Căn cứ vào phiếu điều tra phát cho HS để kiểm tra năng lực của

HS, chúng tôi tiến hành kiểm tra HS:

Đề bài: Hãy lập dàn ý cho đề bài sau

Có ý kiến cho rằng: "Hãy làm chủ ý chí và làm đầy tớ cho lương tâm" (Aristote)

Suy nghĩ của anh (chị) về ý kiến trên?

Thời gian làm bài: 15 phút

Sau khi chấm bài (đáp án ở Phụ lục 1), chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 1.1 Thống kê kết quả bài làm của học sinh

Bảng 1.2 Thống kê kết quả lỗi học sinh thường gặp khi lập dàn ý

Tổng

số bài Thiếu ý Thừa ý

Triển khai ý không

rõ trọng tâm

Ý lộn xộn trùng lặp

Không biết lập ý

120 100(83,3%) 30(25%) 65(54,2%) 35(28,2%) 55(45,8%)

* Phép đo 2:

GV đo năng lực của học sinh về khả năng viết thành một bài văn hoàn chỉnh

Trang 29

với đề bài sau:

Đề bài: Có ý kiến cho rằng: "Nên tha thứ cho kẻ khác nhưng đừng bao giờ tha thứ cho chính mình" (Syrus) Viết bài văn trình bày suy nghĩ anh (chị) về câu

nói trên?

Qua kết quả làm bài của học sinh (đáp án ở Phụ lục 2), ta thu được kết quả như sau:

Bảng 1 3 Thống kê kết quả bài làm của học sinh

Cách diễn đạt lủng củng

Chưa biết cách liên kết đoạn văn

120 75(62,5%) 30(25%) 65(54,2%) 45(37,5%) 55(45,8%)

* Phép đo 3:

Bảng 1 5 Thống kê phiếu khảo sát của học sinh

Câu hỏi 1: Trong 3 phân môn của môn Ngữ Văn, em thích học phân môn nào nhất?

Câu hỏi 2: Khi làm bài NLXH nói chung và Nghị luận về một tư tưởng, đạo

lí nói riêng, em thấy khó ở khâu nào nhất?

Tổng số HS: 200

Câu trả lời

Trang 30

Câu hỏi 4: Yếu tố nào khiến em hứng thú nhất khi làm văn nghị luận về một

tư tưởng, đạo lí?

Tổng số HS: 200

Câu trả lời

Được trình bày suy nghĩ riêng 88 (44%)

Được rèn luyện về kĩ năng sống 31 (15.5%)

Được bồi dưỡng thêm về phẩm chất

Cung cấp thật nhiều kiến thức xã hội 65 (32.5%)

Cung cấp bài văn mẫu để được tham 43 (21.5%)

Trang 31

- Dạy làm văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí khó hơn

so với dạy tiếng Việt và Đọc văn

7 (58.3%)

- Dạy làm văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí gặp khó

khăn vì HS không chăm, thiếu kĩ năng tự học

10 (83.3%)

- Dạy làm văn nghị luận về về một tư tưởng, đạo lí gặp

khó khăn vì thời lượng phân phối cho phân môn làm

văn và cho từng tiết dạy còn quá ít

12 (100%)

- Các thầy cô còn lúng túng khi áp dụng các phương

pháp dạy học trong tiết Làm văn nghị luận về một tư

tưởng, đạo lí

12 (100%)

Đánh giá về khả năng phân tích đề và lập dàn ý bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí của HS là:

- Khả năng phân tích đề, lập dàn ý của HS là Tốt 0 (0%)

- Khả năng phân tích đề, lập dàn ý của HS là Khá 3 (25%)

- Khả năng phân tích đề, lập dàn ý của HS là Trung Bình 5 (41.7%)

- Khả năng phân tích đề, lập dàn ý của HS là Yếu 4 (33.3%)

Đánh giá về khả năng lập luận của HS trong bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là:

- HS lập luận mạch lạc, lô gic, chặt chẽ 0 (0%)

- HS lập luận chưa lô gic, khoa học 4 (33.3%)

Đánh giá về khả năng diễn đạt trong bài văn bài văn nghị luận về một tư

Trang 32

Tiêu chí đánh giá Đồng ý

tưởng, đạo lí của HS là:

- HS biết cách diễn đạt chuẩn mực, đúng phong cách

- HS còn sai mắc lỗi dùng từ, đặt câu 12 (100%)

- HS còn diễn đạt cầu kì, sáo rỗng 5 (41.7%)

Từ kết quả của các phép đo ta thấy kĩ năng HS làm bài văn NLXH nói chung và nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt trong khâu phân tích đề , lập dàn ý và cách diễn đạt Hầu hết làm bài của các em còn thiếu ý, hoặc sắp xếp các ý lộn xộn, diễn đạt còn mắc lỗi Việc nâng cao chất lượng dạy và học cần phải có sự đổi mới đồng bộ từ nội dung chương trình, phương pháp dạy học, thay đổi cách đánh giá kiểm tra thi

cử để các em không còn cảm giác sợ viết văn và khơi gợi được tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh

1.2.2 Những khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy - học dạng bài

nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ở trường THPT

1.2.2.1 Thực tiễn dạy học của giáo viên

Có một thực tế là rất học sinh ngày nay không thích học môn Ngữ Văn, ngại viết văn Có nhiều lí do nhưng có một lí do không thể phủ nhận là do chính cách dạy của giáo viên Nhiều giáo viên dạy Văn chưa truyền được cái lửa của tình yêu bộ môn cho các em, chưa cho các em thấy được sự cần thiết phải học bộ môn Ngữ Văn, chưa gắn liền bộ môn với thực tiễn cuộc sống Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang đổi mới giáo dục toàn diện, căn bản, đổi mới nội dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy học Trước đây, giáo viên là người truyền thụ tri thức còn học sinh chỉ biết ghi chép một cách máy móc, thụ động Chính cách học đó đã làm giảm đi khả năng sáng

Trang 33

tạo cho các em và làm cho các em lười tư duy, dẫn đến thờ ơ vối môn học Theo phương pháp mới, học sinh đóng vai trò trung tâm, là chủ thể của hoạt động học, là người tích cực chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức còn giáo viên chỉ là người tổ chức, khơi gợi định hướng kiến thức cho các em Đối với môn Ngữ Văn, cách học này đã tạo cho giờ văn không còn không khí nhàm chán, buồn tẻ như trước nữa mà các em sôi nổi hào hứng trong giờ học Quan trọng hơn là qua mỗi bài viết, học sinh biết vận dụng lý thuyết về phương pháp làm văn cộng với những hiểu biết kinh nghiệm sống vốn sống của mình kết hợp những thao tác lập luận, để bộc lộ cá tính sáng tạo, ý kiến chủ quan của mình về vấn đề đề cập tới Tuy nhiên, không ít giáo viên đổi mới phương pháp chưa triệt để, không hiệu quả; tách rời giữa dạy lý thuyết và thực hành làm cho giờ văn trở nên rời rạc, khô khan Thậm chí, có giáo viên còn kém trong năng lực tư duy, lười trau dồi, chưa sáng tạo, sử dụng cùng một giáo án cho các lớp, đối tượng học sinh khác nhau Tất cả những điều đó đã làm cho

HS chán nản khi học văn

Nhiều giáo viên chỉ tập trung đầu tư cho phần Đọc văn, coi giờ dạy Làm văn chỉ là phần phụ Do đó khi dạy làm văn nói chung, văn NLXH nói riêng, những giáo viên này chỉ dạy với tâm lý đối phó dẫn đến giờ văn chưa thực sự hiệu quả

Đối với kiểu bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, giáo viên càng ít quan tâm, học sinh ít được rèn luyện Một trong những lí do chính là giáo viên thiếu nguồn tư liệu, tài liệu tham khảo, số lượng giờ dạy trên lớp quá ít Sách giáo khoa và sách giáo viên là những tài liệu mang tính định hướng cho việc dạy học đi đúng quy trình để đạt được mục tiêu nhưng trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông hiện nay ở cả hai chương trình Chuẩn và Nâng cao dạng bài này chỉ có một tiết ở lớp 12 Cho nên, hầu như giáo viên rèn luyện cho HS vào giờ học phụ đạo trước khi kiểm tra định kì

Hơn nữa, nhiều nhà trường chưa có những phương tiện dạy học hiện đại, giúp cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, giờ học còn tẻ nhạt Việc đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp

Trang 34

học sinh nắm vững được nhiều kiến thức nhất trong thời gian ngắn, học sinh

sẽ tập trung, hứng thú và sôi nổi, yêu thích bộ môn hơn

Trên đây là những khó khăn của giáo viên trong khi dạy phần Làm văn nói chung và bài văn Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng Muốn một giờ dạy thành công thì đòi hỏi giáo viên phải thực sự say mê với nghề, truyền được cái lửa tình yêu ấy cho học sinh; phải thường xuyên học hỏi, bồi dưỡng chuyên môn; phải đầu tư từ khâu soạn giáo án cho tới việc giảng dạy trên lớp

1.2.2.2 Thực tiễn học tập của học sinh

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đổi mới cách thi, cách ra đề Phần Nghị luận xã hội không thể thiếu trong đề thi Trong đề thi THPT Quốc gia, câu NLXH chiếm 3/10 điểm Để đạt được điểm cao phần này, học sinh phải nắm vững kĩ năng làm văn tốt, cộng với sự ham hiểu xã hội, sự nhận thức đúng đắn về mọi giá trị trong cuộc sống…Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy, tôi thấy bài làm của học sinh thường rơi vào những nhược điểm sau đây:

Học sinh nắm chưa thật vững đặc trưng, yêu cầu của từng kiểu bài văn NLXH nên rơi vào tình trạng viết bài một cách tùy hứng, bài viết thiếu ý, lập luận thiếu lôgíc, chặt chẽ; chưa có ý thức sử dụng các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm…

Nhiều học sinh còn thiếu quan tâm đến các vấn đề xã hội, thờ ơ với mọi việc xảy ra xung quanh mình Điều này dẫn đến nội dung bài văn nghị luận của các em thiếu chiều sâu, thiếu dẫn chứng từ đời sống nên bài viết thường rơi vào chung chung, giáo điều, khô khan, chưa có sức thuyết phục Cách đưa dẫn chứng cũng không chính xác, thiếu nguồn tin cậy

Với kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí thì nhiều em chưa thực sự hiểu vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn luận Nhiều học sinh chưa nắm được các bước làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí như thiếu thao tác giải thích hay chứng minh, bình luận mở rộng vấn đề, liên hệ thực tế… Khi bàn luận, đa phần học sinh chưa lập luận triệt để vấn đề, thiếu lí lẽ và dẫn chứng, thậm chí không biết cách dẫn dẫn chứng Đây là những lỗi thường xuyên, vì các em chưa biết cách lập dàn ý, có rất ít em lập ý trước khi làm bài

Trang 35

Những hạn chế của bài viết học sinh một phần là do thời gian trong chương trình sách giáo khoa hiện hành dành cho kiểu bài văn nghị luận

xã hội quá ít, học sinh ít được rèn luyện kĩ năng Nhiều giáo viên dạy còn chưa đổi mới phương pháp, chưa đầu tư chuyên môn Hơn nữa, học sinh thiếu tài liệu tham khảo để định hướng cho các em làm tốt từng kiểu bài nghị luận, phát huy tính tự học, tự nghiên cứu của học sinh Quan trọng hơn là không ít học sinh còn lười tư duy, học hỏi và thiếu hiểu biết xã hội

Với tất cả những khó khăn và hạn chế của học sinh nêu trên, nhiệm vụ của GV là cần nắm bắt được những mặt yếu kém đó để tìm ra được biện pháp khắc phục để từ đó nâng cao hiệu quả học tập và viết bài văn NLXH cho học sinh

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Văn NLXH là loại văn mà người viết sử dụng lập luận (lý lẽ, dẫn chứng) để đưa ra quan điểm của mình về một vấn đề xã hội đời sống, nhằm thuyết phục người đọc, người nghe

Văn NLXH được chia thành ba dạng là nghị luận về một tư tưởng đạo

lí , nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội và nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học Trong ba kiểu bài trên, dạng bài nghị luận về

tư tưởng, đạo lí là kiểu bài rất quan trọng Nó giúp cho học sinh rèn luyện đạo đức, nhân cách và nâng cao nhận thức đúng đắn, biết ứng phó với mọi tình huống trong cuộc sống Đây cũng là một trong những mục tiêu lớn của việc dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hiện nay

Từ trong thực tế giảng dạy ở nhà trường cũng cho thấy còn rất nhiều hạn chế của quá trình tổ chức dạy học làm văn NLXH nói chung và kiểu bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng Chất lượng học tập môn Ngữ Văn ngày càng có nhiều điều lo ngại Nhiều giáo viên vẫn chưa thật sự tâm huyết với nghề, phương pháp giảng dạy chưa đổi mới, còn học sinh thì một bộ phận không nhỏ học chỉ để đối phó với chương trình thi cử nên dẫn đến hậu quả là

ít học sinh yêu thích môn Ngữ Văn, chất lượng bài làm của học sinh không cao

Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài đã tạo những cơ sở và tiền đề cho việc đánh giá bước đầu về thực trạng dạy và học kiểu bài Nghị luận xã hội ở THPT, từ đó nghiên cứu xây dựng và đề ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học làm văn NLXH nói chung và kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo

lí nói riêng

Trang 37

CHƯƠNG 2 NHỮNG KĨ NĂNG CẦN THIẾT TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN NGHỊ

LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ 2.1 Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học làm văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Phương pháp dạy học (PPDH) là những hình thức, cách thức hoạt động của

GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và những điều kiện dạy học cụ thể Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo

của học sinh Có rất nhiều phương pháp dạy học tích cực như: Dạy học theo

tình huống, dạy học theo nhóm, phương pháp đóng vai, phương pháp dạy học theo dự án…Trong các phương pháp dạy học, có nhiều kĩ thuật dạy học như:

kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép Để rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo

lí cho HS, trong giờ học, giáo viên có thể vận dụng kết hợp các phương pháp truyền thống và một số phương pháp tích cực như phương pháp dạy học theo nhóm, phương pháp nêu vấn đề, cùng với đó là kết hợp sử dụng các kĩ thuật dạy học hiện đại để HS học tập có hiệu quả hơn

2.1.1 Một số phương pháp dạy học tích cực rèn luyện kĩ năng làm văn nghị

luận về một tư tưởng, đạo lí

2.1.1.1 Phương pháp thảo luận nhóm

* Khái luận về phương pháp thảo luận nhóm

Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học tích cực được sử dụng thường xuyên trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Để khắc phục lối truyền thụ tri thức một chiều, lối học thụ động, máy móc, cần phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học hiện đại, trong đó có phương pháp thảo luận nhóm

Trang 38

Thảo luận nhóm còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy học theo nhóm, dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ

Theo Ts Nguyễn Văn Cường "dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công, hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau

đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp." [ 10, tr 67]

* Tổ chức thực hiện phương pháp thảo luận nhóm

Bước 1: Bước chuẩn bị (giao nhiệm vụ)

Bước này giáo viên chuẩn bị nội dung thảo luận, hình thức trình bày, vật dụng, thời gian cho thảo luận Nội dung thảo luận thường là những câu hỏi, bài tập gắn với những tình huống dạy học, mang tính vấn đề, cần huy động suy nghĩ, chia sẻ của nhiều học sinh để tìm giải pháp, phương án giải quyết Phương tiện hỗ trợ thường là phiếu học tập, giấy Ao, bút dạ…tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ thực hiện

Bước 2: Chia nhóm, giao nhiệm vụ cho nhóm và thực hiện nhiệm vụ

GV có thể áp dụng linh hoạt kĩ thuật chia nhóm như sau:

Chia nhóm ngẫu nhiên: Học sinh đếm 1, 2, 3, 4, 5 rồi vòng trở lại Học sinh đếm số nào thì vào nhóm ấy GV có thể chia nhóm học sinh theo bàn, theo tổ Hình thức chia nhóm này được áp dụng khi nhiệm vụ thảo luận của các nhóm giống nhau hoặc nếu nhiệm vụ khác nhau thì cũng ít có sự chênh lệch về độ khó

Chia nhóm cùng trình độ: GV dựa vào trình độ học sinh từng lớp một

mà chia thành nhóm giỏi, khá, trung bình, yếu GV yêu cầu thảo luận khác nhau tùy thuộc vào trình độ của nhóm

Chia nhóm gồm đủ các trình độ: Cách chia này GV thường được sử dụng khi nội dung thảo luận cần có sự hỗ trợ lẫn nhau

Chia nhóm theo sở trường: Cách chia này thường được tiến hành trong các buổi học tập tăng tiết, mỗi nhóm sẽ gồm các học sinh có cùng chung sở thích, hứng thú

Trang 39

Ngoài ra, có thể chia nhóm theo kiểu nhóm nhỏ thông thường, nhóm rì rầm, nhóm kim tự tháp, nhóm đồng tâm để phát triển sự sáng tạo tư duy của học sinh

Sau khi chia nhóm, GV giao nhiệm vụ cho nhóm, các nhóm có thể tự phân công vị trí của các thành viên (nhóm trưởng điều hành thảo luận của nhóm và thư kí ghi biên bản thảo luận, người báo cáo…)

Trong quá trình thực hiện thảo luận nhóm, GV quan sát, điều chỉnh chỗ ngồi, nhắc nhở hay hỗ trợ khi nhóm nào cần

Yêu cầu khi thực hiện: Mỗi thành viên trong nhóm đều được tham gia thảo luận, được lắng nghe và tôn trọng; Thời gian làm bài tập phải phù hợp với thực tế khả năng làm việc của HS; Tạo thêm công việc, cơ hội cho các nhóm, cá nhân trong trường hợp họ hoàn thành bài tập trước và phải chờ các nhóm

Bước 3: Trình bày kết quả

Đại diện các nhóm trình bày kết quả thảo luận, các thành viên của nhóm có thể bổ sung thêm Các nhóm khác nhận xét, bổ sung hoặc tranh luận những nội dung chưa thống nhất…Cuối cùng, GV đúc kết, bổ sung ý kiến, nhấn mạnh nội dung quan trọng

Chú ý: Khi các nhóm thảo luận, GV không dừng lại lâu ở một nhóm nào Nếu các nhóm trình bày chủ đề khác nhau, không nhất thiết các nhóm đều trình bày, chỉ trình bày những quan điểm khác với nhóm trước

Với vai trò trọng tài chốt lại những nội dung cơ bản, GV luôn luôn khen thưởng những nhóm thảo luận tốt, động viên, khuyến khích ngay trong các tiết học để tạo hứng thú cho các em

* Ưu điểm và hạn chế

Dạy học theo nhóm có rất nhiều ưu điểm Học sinh có cơ hội trao đổi kinh nghiệm, hiểu biết các vấn đề học tập, cọ xát thông tin Từ đó, học sinh học tập, bổ sung kiến thức cho nhau, phát triển kĩ năng hợp tác Ngoài ra, học sinh còn phát triển nhiều năng lực khác như giao tiếp, lằng nghe… Như vậy,

Trang 40

dạy học theo nhóm sẽ phát huy được sở trường của từng học sinh, trên cơ sở

đó, giáo viên định hướng, giáo dục

Tuy nhiên hoạt động nhóm sẽ mất nhiều thời gian, nếu giáo viên không biết cách tổ chức thì sẽ ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch bài học

* Minh chứng qua các đề cụ thể

Đề 1 : "Nên tha thứ cho kẻ khác nhưng đừng bao giờ tha thứ cho chính mình"

(Syrus) Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

Khi thảo luận vấn đề này, GV có thể cho HS thảo luận hai chủ đề: Tại sao

phải "nên tha thứ cho kẻ khác"? Tại sao "đừng bao giờ tha thứ cho chính mình"?

Học sinh sẽ thảo luận và đi đến thống nhất, các nhóm bổ sung, rút kinh

nghiệm cho nhau, từ đó sẽ bàn luận triệt để vấn đề:

- Nên tha thứ cho kẻ khác vì:

+ Sẽ mang lại niềm vui, sự thanh thản cho người khác, giúp họ nhận thức được sai trái và sửa chữa lỗi lầm;

+ Tạo nên sự đoàn kết, chan hòa giữa mọi người trong xã hội;

+ Bản thân mình cũng vui, hạnh phúc

- Nhưng đừng bao giờ tha thứ cho chính mình:

+ Nếu dễ dàng bỏ qua lỗi lầm bản thân, thì sẽ dẫn đến sự yếu mềm, thỏa hiệp

với chính lỗi lầm của mình Từ đó, ta tiếp tục vấp phải lỗi lầm khác

+ Khi trung thực, dũng cảm thừa nhận sai lầm của mình thì mới đấu tranh loại

bỏ cái sai, khuyết điểm, để sửa chữa

+ Luôn đấu tranh một cách tự giác, bền bỉ trước những phút giây mềm yếu của bản thân Đó là cách rèn luyện nghị lực sống mạnh mẽ, tránh được những

sai lầm mắc phải, hoàn thiện nhân cách "Tôi không sợ khó, tôi không sợ khổ Tôi chỉ sự phút giây yếu mềm của lòng tôi Đối với tôi, chiến thắng bản thân

là chiến thắng vẻ vang nhất" (Lê-nin)

Đề 2 Viết một bài văn với chủ đề "giới hạn trong cuộc sống"

Ngày đăng: 09/06/2016, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (chủ biên), Phạm Thị Huệ, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Văn Vụ (2009), Thực hành làm văn lớp 12. Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành làm văn lớp 12
Tác giả: Lê A (chủ biên), Phạm Thị Huệ, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Văn Vụ
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
2. Lê A, Nguyễn Ngân Hoa (đồng chủ biên) và các tác giả,(2010) Các dạng đề và hướng dẫn bài nghị luận xã hội, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dạng đề và hướng dẫn bài nghị luận xã hội
Nhà XB: Nxb Giáo dục
3. Ban khoa giáo Trung ƣơng (2002), Giáo dục và đào tạo trong thời kì đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và đào tạo trong thời kì đổi mới
Tác giả: Ban khoa giáo Trung ƣơng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
6. Lê Khánh Bằng (1993), Tổ chức quá trình dạy học ở trường phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức quá trình dạy học ở trường phổ thông
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 1993
7. Nguyễn Thanh Bình (2008), Giáo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
8. Nguyễn Thanh Bình (2013), Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2013
9. Nguyễn Thị Côi (chủ biên) (1995), Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm môn Văn học Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm môn Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Côi (chủ biên)
Năm: 1995
10. Nguyễn Văn Cường, Bernd Meirer, (2009), Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT, ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Potsdam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meirer
Năm: 2009
11. Nguyễn Văn Cường, Bernd Meirer, (2005), Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới,(Tài liệu hội thảo - Tập huấn). Bộ giáo dục và đạo tạo - Dự án phát triển giáo dục THPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meirer
Năm: 2005
12. Nguyễn Văn Cường, Bernd Meirer (2009), Lí luận dạy học hiện đại, Potsdam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meirer
Năm: 2009
13. Nguyễn Hữu Châu và các tác giả (2007), Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo giáo viên trung học cơ sở theo chương trình CĐSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo giáo viên trung học cơ sở theo chương trình CĐSP
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu và các tác giả
Năm: 2007
14. Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Quang Ninh, Cao Đức Tiến, Hà Bình Trị (1994), Làm Văn lớp 10 (Ban khoa học xã hội), Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm Văn lớp 10 (Ban khoa học xã hội)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Xuân Nam, Nguyễn Quang Ninh, Cao Đức Tiến, Hà Bình Trị
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1994
15. Nguyễn Nghĩa Dân, Mô hình phương pháp dạy học, Tạp chí Giáo dục và thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình phương pháp dạy học
16. Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và kĩ thuật, tháng 11/1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và kĩ thuật
Năm: 1998
17. Phạm Văn Đồng, Phương pháp dạy học và phát huy tính tích cực. Một phương pháp vô cùng quý báu, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 12-1994 (trang 1, 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học và phát huy tính tích cực. Một phương pháp vô cùng quý báu
18. Nguyễn Thanh Hùng (1995), Một số vấn đề văn nghị luận cấp II (tài liệu bồi dưỡng thường xuyên 1992-1996), Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn nghị luận cấp II
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1995
19. Nguyễn Tấn Huy và các tác giả (2012), Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Văn, nghị luận xã hội, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Văn, nghị luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Tấn Huy và các tác giả
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2012
20. Trần Bá Hoành (2005), Dạy học lấy học sinh làm trung tâm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2005
21. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
22. Hà Thúc Hoan, Làm văn nghị luận lý thuyết và thực hành, Nxb Thuận Hoá 23. Nguyễn Lân (2003), Từ điển từ và ngữ Hán Việt, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn nghị luận lý thuyết và thực hành", Nxb Thuận Hoá 23. Nguyễn Lân (2003), "Từ điển từ và ngữ Hán Việt
Tác giả: Hà Thúc Hoan, Làm văn nghị luận lý thuyết và thực hành, Nxb Thuận Hoá 23. Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá 23. Nguyễn Lân (2003)
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  em  bé  trên  bờ  biển  Bodrum, Thổ Nhĩ Kỳ - Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí cho học sinh trung học phổ thông
nh ảnh em bé trên bờ biển Bodrum, Thổ Nhĩ Kỳ (Trang 21)
Bảng 3.1. Khảo sát lực học của các lớp - Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí cho học sinh trung học phổ thông
Bảng 3.1. Khảo sát lực học của các lớp (Trang 64)
Bảng 3. 2. Phân công giáo viên dạy thực nghiệm và đối chứng - Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí cho học sinh trung học phổ thông
Bảng 3. 2. Phân công giáo viên dạy thực nghiệm và đối chứng (Trang 65)
Hoạt động 1: Hình thành kiến thức - Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí cho học sinh trung học phổ thông
o ạt động 1: Hình thành kiến thức (Trang 69)
Bảng 3. 3. Kết quả khảo sát bài làm của học sinh lớp thực nghiệm - Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí cho học sinh trung học phổ thông
Bảng 3. 3. Kết quả khảo sát bài làm của học sinh lớp thực nghiệm (Trang 83)
Bảng 3. 4. Tổng hợp so sánh bảng kết quả lớp thực nghiệm - Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí cho học sinh trung học phổ thông
Bảng 3. 4. Tổng hợp so sánh bảng kết quả lớp thực nghiệm (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w