Đối với văn xuôi lãng mạn Việt Nam, dạy học theo phương pháp loại hình giúp học sinh hiểu được những giá trị đích thực của từng tác phẩm trong sự vận động và phát triển của nền vă
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN BÍCH THỦY
TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN (NGỮ VĂN 11) THEO PHƯƠNG PHÁP LOẠI HÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN BÍCH THỦY
TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN (NGỮ VĂN 11) THEO PHƯƠNG PHÁP LOẠI HÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DA ̣Y HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐOÀN ĐỨC PHƯƠNG
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luâ ̣n văn , tôi đã nhâ ̣n được rất nhiều sự quan tâm , giúp đỡ Nhân di ̣p này , tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầ y giáo, Cô giáo của Trường Đại học Giáo dục , Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i đã nhiê ̣t tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới PGS TS Đoàn Đức Phương - ngườ i thầy đã tâ ̣n tình hướng dẫn , giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm và hoàn thiện luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, những đồng nghiệp đang giảng dạy tại trường THPT Sơn Tây - Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai đề tài Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã dành cho tôi sự quan tâm khích lệ và chia sẻ trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng luận văn khó tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 10 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Bích Thủy
Trang 4DANH MỤC TƢ̀ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Viết tắt
TS
XHPK
VN
Trung học phổ thông Tiến sĩ
Xã hội phong kiến
Việt Nam
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 11
1.1.1 Khái lược về các phương pháp dạy học văn 11
1.1.2 Lý thuyết về loại hình và phương pháp loại hình 13
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 16
1.2.1 Thực trạng dạy học kiểu bài tác phẩm văn xuôi lãng mạn ở THPT 16
1.2.2 Những khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy học bài tác phẩm văn xuôi lãng mạn 20
Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN THEO PHƯƠNG PHÁP LOẠI HÌNH 23
2.1 Yêu cầu vận dụng dạy học theo phương pháp loại hình 23
2.1.1 Loại hình đề tài và kiểu phản ánh hiện thực 23
2.1.2 Loại hình cốt truyện và diễn trình cốt truyện 37
2.1.3 Loại hình nhân vật và tính cách nhân vật 43
2.1.4 Khái quát loại hình tác phẩm văn xuôi lãng mạn 55
2.2 Thiết kế giáo án tác phẩm văn xuôi lãng mạn Chữ người tử tù theo phương pháp loại hình 56
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77
3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 77
3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 77
3.3 Nội dung và tiến trình thực nghiệm 78
Trang 63.3.1 Nội dung thực nghiệm 78
3.3.2.Tiến trình thực nghiệm 78
3.3.3 Kết quả thực nghiệm, nhận xét đánh giá 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Khuyến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 91
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Tổng hợp từ 15 giáo viên trường THPT Sơn Tây - Hà Nội
và 10 giáo viên trường THPT Xuân Khanh - Sơn Tây - Thành phố
Hà Nội 17 Bảng 1.2 Tổng hợp 150 phiếu của HS Trường THPT Sơn Tây và
THPT Xuân Khanh- Thành phố Hà Nội 19 Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả (tính ra %) của lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng 79 Bảng 3.1: Bảng khảo sát lực học ban đầu của học sinh 80 Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả (tính ra %) của lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng 81
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Những năm qua nền giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu
quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển, song thực tế còn chưa theo kịp được sự phát triển của thời đại, chưa đáp ứng với yêu cầu các ngành nghề trong xã hội Học sinh, sinh viên tốt nghiệp còn hạn chế về năng lực tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng thích ứng với nghề nghiệp, khả năng tự lập nghiệp Những yếu kém này được bắt nguồn từ hoạt động dạy và học ở trong nhà trường Vì thế, để nâng cao chất lượng giáo dục ở nước ta cần thiết phải thay đổi cách dạy và cách học
Môn văn là môn học chính trong chương trình phổ thông có vai trò trọng yếu trong chiến lược đào tạo con người Dạy học nói chung và học văn nói riêng, không thể không chú ý đến chủ thể của hoạt động ấy, đặc biệt là người học Điều này liên quan mật thiết đến phương pháp dạy học Tuy nhiên, thực trạng dạy học văn ở nhà trường phổ thông hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu mới Không ít giáo viên, dù đã có ý thức về đổi mới phương pháp dạy học nhưng cũng chỉ dừng lại bên lề của sự thử nghiệm, tìm kiếm mô hình trên
lí thuyết sách vở, tình trạng học nhồi nhét, kiến thức nặng nề và kém sáng tạo Chương trình giáo dục còn theo lối truyền thống xa xưa mang nặng kiểu “hàn lâm, kinh viện” chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng nghiệp cho học sinh Sự chuyển biến chậm chạp trong việc đổi mới phương pháp dạy học văn đã làm hạn chế rất nhiều chất lượng giáo dục Để nhanh chóng nâng cao chất lượng bộ môn văn ở trường phổ thông đáp ứng yêu cầu của thời đại mới đòi hỏi quan niệm dạy và học phải có sự chuyển biến thực thụ, đổi mới một cách đồng bộ trong mọi khâu của quá trình giáo dục
1.2 Đầu thế kỷ XX, khi “luồng gió Phương Tây thổi tới”, nó đã tạo nên một
cuộc “biến thiên” lớn nhất trong tiến trình lịch sử Văn học Việt Nam Văn học thời kỳ này đã kế thừa tinh hoa của truyền thống văn học dân tộc, khép lại sau lưng mình cả mười thế kỉ văn học để mở ra phía trước một thời kỳ mới với
Trang 9nhiều hiện tượng, nhiều xu hướng văn học ra đời và số lượng tác giả và tác phẩm phát triển với tốc độ vũ bão Mỗi xu hướng văn học đều có sự khác biệt
về đề tài, khuynh hướng tư tưởng, quan điểm nghệ thuật… tạo nên tính đa dạng, phong phú, phức tạp của văn học Đóng góp cho văn học hiện đại Việt Nam thời kỳ này không thể không kể đến những tác phẩm Văn xuôi lãng
mạn Từ trước tới nay đã có nhiều tác giả nghiên cứu và áp dụng dạy tác
phẩm văn xuôi lãng mạn bằng những phương pháp khác nhau, nhưng chưa có tác giả nào đề cập đến phương pháp loại hình
1.3 Nói đến phương pháp loại hình là nói đến phương pháp nghiên cứu
những hiện tượng văn học “có chung những đặc trưng cơ bản nào đó” nhằm xác định vị trí, ý nghĩa đồng thời nhận dạng cấu trúc của chúng trong một hệ thống Đây là chìa khoá để phân loại các hiện tượng văn học trên cơ sở của việc chứng minh các nhóm hiện tượng giống nhau theo một tiêu chuẩn nhất định Đối với văn xuôi lãng mạn Việt Nam, dạy học theo phương pháp loại hình giúp học sinh hiểu được những giá trị đích thực của từng tác phẩm trong
sự vận động và phát triển của nền văn học Ưu điểm cơ bản của phương pháp này là nó giúp chúng ta nắm bắt các hiện tượng trong mối quan hệ tổng thể, bao quát, xác định chủng loại của cái cá thể, hiểu được quy luật phát triển của các hiện tượng văn học
1.4 Thực tế giảng dạy và học tập cho thấy phương pháp dạy học tác phẩm
văn xuôi lãng mạn ở THPT, giáo viên còn lúng túng, chưa tìm ra hướng đi thật sự hiệu quả Trong tiết học giáo viên chưa truyền được “lửa” cho học sinh Vì thế, việc tìm ra cách thức tổ chức dạy học phù hợp cho từng tác phẩm văn học là điều rất cần thiết Dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn trong
chương trình Ngữ văn 11 cụ thể là tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) và Hai đứa trẻ (Thạch Lam) đã có nhiều nhà nghiên cứu và thực nghiệm về
cách tiếp cận tác phẩm theo các phương pháp khác nhau, nhưng chủ yếu mới chỉ khai thác những giá trị nội dung, nghệ thuật cũng như phong cách của nhà văn ở từng tác phẩm riêng biệt mà chưa chú ý đến đặc trưng loại hình của tác
Trang 10phẩm, chưa đặt nó trong hệ thống để so sánh với những hiện tượng văn học khác để hiểu đặc trưng của văn xuôi lãng mạn Vì thế, tôi nghiên cứu đề tài:
Tổ chức dạy học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn (Ngữ văn 11) theo phương
học tác phẩm văn chương
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu phương pháp dạy học văn
Về các phương pháp dạy học văn đã có các nhà nghiên cứu về nhiều phương pháp như: phương pháp diễn giảng, phương pháp đàm thoại, phương pháp đọc hiểu nghệ thuật, phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp đọc sáng tạo, phương pháp gợi tìm, phương pháp nghiên cứu, phương pháp tái tạo, phương pháp trực quan, phương pháp dạy học ngoại khóa…
Dạy học tác phẩm văn chương theo phương pháp diễn giảng, phương
pháp gợi tìm có công trình của tác giả Phan Trọng Luận như: Phương pháp
dạy học văn (Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội 1998); Phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường (1977); Cảm thụ văn học - giảng dạy văn học (1983); Mấy vấn đề lí luận về đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông ( 2003); Văn chương bạn đọc sáng tạo (2011); Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 11 (Nxb Giáo dục Việt Nam, 2003); Xã hội – Văn học – Nhà trường (1996); Văn học trong nhà trường nhận diện, tiếp cận đổi mới (Nxb Đại học Sư phạm, 2007); Phương pháp dạy học văn (Nxb
Đại học Sư phạm, 2008); Dạy học giảng văn ở trường phổ thông trung học
của Nguyễn Đức Ân ( Nxb tổng hợp Đồng Tháp); Hoàng Ngọc Hiến, Tập bài giảng nghiên cứu văn học (1996); Nhóm tác giả trường ĐHSP Hà Nội I: Nhà văn và tác phẩm trong trường phổ thông (Nxb Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m , 2001);
Nguyễn Viết Chữ: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
(Nxb Đại học Sư phạm, 2006)
Phương pháp đọc hiểu nghệ thuật, GS.TS Trần Đình Sử có bài viết:
“Đọc - hiểu văn bản, một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy
Trang 11Văn hiện nay” Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn có công trình “Một số vấn đề đọc hiểu thơ trữ tình và tác phẩm văn chương nghị luận”(Nxb Giáo dục 2005);
“Đọc hiểu văn bản Ngữ văn 9” (Nxb Giáo dục 2007) Ngoài ra, có công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Thanh Hùng“Kĩ năng đọc hiểu văn” (Nxb
Đại học Sư phạm, 2011)
Phương pháp đọc sáng tạo có công trình nghiên cứu của Vũ Nho “Nghệ
thuật đọc diễn cảm” (Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1999); Trần Đình Sử “Đọc văn, học văn” (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2011); Nguyễn Viết Chữ “Phương
pháp dạy học văn chương trong nhà trường” (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009)
Phương pháp dạy học nêu vấn đề có bài nghiên cứu của Nguyễn Văn
Cường: Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung
học; Phan Trọng Luận: Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở trường trung học phổ thông (Nxb Giáo dục, 2002); Phương pháp dạy học Văn (Nxb Giáo
dục, 2000)
Phương pháp dạy học ngoại khóa có các giáo trình về lí luận và
phương pháp dạy học văn của GS Phan Trọng Luận đều có bàn về ngoại
khóa và các hoạt động ngoại khóa văn học như: “Hoạt động văn học ngoài
nhà trường, vị trí của công tác ngoại khóa văn học”; “Công tác ngoại khóa văn học với nhiệm vụ đào tạo con người toàn diện của nhà trường xã hội chủ nghĩa”; “Nguyên tắc hoạt động ngoại khóa văn học”; “Tổ chức và hướng dẫn học sinh đọc ngoại khóa văn học” của TS.Trần Thanh Bình Gần
đây nhất, một số Hội thảo đáng chú ý đề cập đến vấn đề hoạt động ngoại
khóa như: Hội thảo “Hiệu quả của hoạt động ngoại khóa đối với việc nâng
cao chất lượng dạy-học trong nhà trường phổ thông” của Viện nghiên cứu
giáo dục - Trung tâm Đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; Hội thảo
“Công tác quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông” của Trường Cán bộ quản lí giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh cũng
đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề xung quanh hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoại khóa văn học
Trang 12Phương pháp loại hình là một phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu văn học, cũng là phương pháp áp dụng trong dạy học văn
2.2 Những nghiên cứu về phương pháp loại hình
Trong nghiên cứu khoa học, phương thức phổ biến nhất và lâu đời nhất trong việc nghiên cứu về loại hình là việc phân loại các sự vật để xác định vị trí và ý nghĩa của chúng trong một hệ thống, đồng thời nhận dạng cấu trúc của
hệ thống đó Một tromg những người đầu tiên dùng phương pháp loại hình để phân loại các hiện tượng văn học là nhà nghiên cứu văn học dân gian người
Nga Vladimir Propp có“Công trình hình thái học truyện cổ tích,1928” Trong bài viết ông cho rằng: “Những truyện cổ tích có những chức năng như nhau
có thể gọi là cùng loại hình”
Cùng thời và sau Vladimir Propp còn có một loạt các nhà nghiên cứu trên thế giới đã áp dụng phương pháp loại hình cấu trúc tự sự như: Veselovski, Paul Ginestier, A.Dundes,V.Ivanov, V.Toporov, Stith Thompson,
Tz Todorov, M.Pop, L.Dolezel…các nhà nghiên cứu này đã quy những yếu
tố khả biến thành những yếu tố bất biến nhằm rút ra những thông số cho phép phát hiện đồng hình giữa các tác phẩm tự sự có cấu trúc tưởng như khác biệt nhau; các thông số này cho phép thiết lập những mối liên hệ thao tác nhất định giữa các cấp độ tổ chức khác nhau của một tác phẩm tự sự chúng được coi là những yếu tố quy chiếu Và ở mỗi nhà nghiên cứu thì loại hình cấu trúc lại mang một ý nghĩa cụ thể khác nhau Ví dụ ở Vladimir Propp ta có loại hình chức năng; Veselovski A.Dundes, L.Dolezel có các loại hình mô tip; Ginestier có các loại hình tình huống kịch tính; Tz Todorov có các loại hình
tự sự tạo sinh
Phương pháp loại hình được phát triển mạnh nhất từ những năm 1960 khi các nhà so sánh luận bắt đầu áp dụng nó để nghiên cứu các hiện tượng tương đồng giữa các nền văn học trên thế giới M.B Kharapchenko nghiên
cứu văn học theo phương pháp loại hình trong sách “Cá tính sáng tạo của
nhà văn và sự phát triển văn học” (Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1978) M.B
Trang 13Kharapchenko đã dùng phương pháp loại hình để khảo sát và phân loại nền văn học Nga thế kỷ XIX, ông đã phân ra hai loại hình: Loại hình Puskin và loại hình Gogol
Ở Việt Nam, thuật ngữ loại hình có lẽ mới xuất hiện những năm 1970 Nhưng trên thực tế thì từ những năm 1960, ở Việt Nam cũng đã có việc thực hành phương pháp loại hình Bằng chứng là GS Đinh Gia Khánh nghiên cứu
“Truyện kiểu Tấm Cám” trong cuốn “Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện
cổ tích qua truyện Tấm Cám”(Nxb Văn học, Hà Nội,1968) Trong cuốn sách
này, mặc dù ông nghiên cứu về loại hình “Truyện Tấm Cám” tức là những truyện Cổ tích giống truyện Tấm Cám, nhưng ông vẫn chưa gọi là loại hình mà gọi là “Truyện kiểu Tấm Cám”, về mặt ngữ nghĩa “kiểu” hay “loại hình” đều là một Có thể nói việc nghiên cứu loại hình hay phương pháp loại hình,
đã được áp dụng ở nước ta từ những năm 1960 GS Đinh Gia Khánh có thể được coi là một trong những người đầu tiên ở nước ta áp dụng phương pháp này một cách đúng nguyên tắc Trong cuốn sách nói trên, sau khi khảo sát vấn
đề GS Đinh Gia Khánh đã đưa ra kết luận và trong đó có một ý như sau:
“Trong kho tàng truyện cổ tích của mỗi nước, có rất nhiều truyện có tính chất quốc tế, bên cạnh tính chất dân tộc Đó trước hết là những truyện nước ngoài
di chuyển vào Đó cũng có thể là những truyện vốn sản sinh trong nước, nhưng lại tiếp thu một số tình tiết hoặc chi tiết nhất định của những truyện nước ngoài Lại không thể quên rằng nếu cùng ở một trình độ phát triển xã hội như nhau, cùng phải lý giải những vấn đề giống nhau thì các dân tộc khác nhau
có thể sáng tác nên những truyện mà nội dung và kết cấu cơ bản giống nhau”
2.3 Những nghiên cứu về phương pháp dạy học tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1932-1945
Trong mấy chục năm qua, nhất là khoảng mười năm trở lại đây đã có nhiều nhà phương pháp với nhiều kinh nghiệm, nhiều thầy cô giáo đầy tâm huyết đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh cùng với những tìm tòi phát hiện đầy mới mẻ nhằm tìm ra hướng dạy, phương pháp,
Trang 14biện pháp dạy học những tác phẩm văn xuôi lãng mạn 1932-1945, đặc biệt là
dạy tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) ở
nhà trường phổ thông sao cho đạt hiệu quả tốt nhất, nhằm nâng cao chất lượng dạy học văn ở trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay Trong đó
phải kể đến Phân tích,bình giảng tác phẩm văn học 11 của Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên), Nxb Giáo dục Việt Nam, 2003; Tác phẩm văn chương trong
nhà trường phổ thông – Những con đường khám phá của Vũ Dương Quỹ - Lê
Bảo; Thiết kế bài học Ngữ văn 11(Tập 1) - Phan Trọng Luận (chủ biên); Thiết
kế bài giảng Ngữ văn 11(Tập 1) - Nguyễn Văn Đường (chủ biên); Sách giáo viên Ngữ văn 11, tập 1 do Trần Đình Sử (Chủ biên), Nxb Giáo dục, 2007; Thạch Lam - về Tác gia tác phẩm do Vũ Tuấn Anh, Lê Dục Tú (tuyển chọn
và giới thiệu) Nxb Giáo dục, 2007; Nguyễn Tuân - Về tác gia và tác phẩm do Tôn Thảo Miên (tuyển chọn và giới thiệu) Nxb Giáo dục, 2007; Đặc trưng
nghệ thuật truyện ngắn Thạch Lam, Nguyễn Thành Thi, Nxb Trẻ,Thành phố
Hồ Chí Minh,1998
Hay trong luận văn thạc sĩ của Trần Quốc Khả với đề tài: Tổ chức đối
thoại trong dạy học Chữ người tử tù, tác giả nêu khái quát về nội dung và
bản chất của phương pháp dạy học đối thoại Từ đó vận dụng phương pháp
này vào đọc - hiểu tác phẩm Chữ người tử tù nhằm phát huy vai trò chủ động
sáng tạo cho người học
Trong công trình nghiên cứu: “Trường nghĩa miêu tả ánh sáng trong
một số tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Thạch Lam” của tác giả Trần
Hữu Sáng đã đưa ra cách tiếp cận tác phẩm dưới góc độ trường nghĩa ánh sáng trong sự so sánh với tác phẩm khác Với công trình này, tác giả chỉ tập trung khai thác một phần của yếu tố nghệ thuật như là một con đường giải mã thông tin trong tác phẩm Vì vậy, độ sâu của tác phẩm chưa được khám phá cụ thể và đầy đủ Gần đây nhất là công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị
Hồng Bắc - Đại học Giáo dục đề cập đến việc: “Rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu
tác phẩm Chữ người tử tù cho học sinh lớp 11” nhằm giúp học sinh hiểu được
Trang 15cái hay của tác phẩm Chữ người tử tù từ tầng cấu trúc ngôn từ đến tầng cấu
trúc hình tượng nghệ thuật, cũng như tầng cấu trúc vị nhân sinh thông qua các kĩ năng đọc chính xác, đọc phân tích, đọc sáng tạo và kĩ năng đọc tích lũy
Từ trước đến nay có nhiều bài nghiên cứu về Thạch Lam và các tác phẩm của Thạch Lam Các tác giả đã tìm hiểu về tiểu sử, cuộc đời, con người, những yếu tố quê hương, trào lưu văn học…đã ảnh hưởng như thế nào đến sáng tác của Thạch Lam Những bài viết đi sâu đánh giá trên cả hai phương
diện nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác của Thạch Lam.Về Hai đứa trẻ của Thạch Lam, các tác giả đã đi vào tìm hiểu những sáng tạo nghệ thuật
cũng như những thành công về nội dung tác phẩm, các bài nghiên cứu ở những chi tiết nghệ thuật cụ thể như đề tài nghiên cứu của Nguyễn Thị Lơ -
Đại học Giáo dục:“Hướng dẫn học sinh THPT xác định chủ đề tư tưởng
thông qua việc phát hiện phân tích, bình giá biểu tượng bóng tối và ánh sáng
trong dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam”, trong đề tài tác giả mới
chỉ đi sâu tìm hiểu về biểu tượng “bóng tối” và “ánh sáng” thể hiện trong tác phẩm Nhìn chung, bài viết của các tác giả trên đều chưa có cái nhìn toàn diện, mà chủ yếu chỉ dừng lại ở một vấn đề của tác phẩm
Có thể khẳng định rằng số lượng bài viết, bài nghiên cứu về những tác phẩm thuộc văn xuôi lãng mạn rất phong phú và đa dạng, nhiều công trình có giá trị, song chưa có tác giả nào tiếp cận những tác phẩm văn xuôi lãng mạn lớp 11 theo phương pháp loại hình văn học
Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những người đi trước, tôi xin đề xuất vấn
đề: Tổ chức dạy học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn (Ngữ văn 11) theo
Trang 16của việc chứng minh các nhóm hiện tượng giống nhau theo một tiêu chuẩn Trang bị cho học sinh những kiến thức lí luận về đặc trưng loại hình văn xuôi
lãng mạn Từ đó hướng dẫn học sinh khai thác hai tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) học trong chương trình Ngữ
văn lớp 11 theo phương pháp loại hình Học sinh phân biệt được loại hình văn xuôi lãng mạn Việt Nam với các loại hình văn học khác về đề tài, kiểu phản ánh hiện thực, cốt truyện, nhân vật, tính cách nhân vật
Ngoài việc tiếp cận nội dung kiến thức một cách có hệ thống hơn, biết so sánh phân biệt các loại hình tác phẩm khác nhau thì quan trọng hơn là nhờ hiểu được đặc trưng loại hình, học sinh tự khám phá cái hay, cái đẹp của các tác phẩm khác cùng loại Giúp học sinh nắm vững phương pháp học tập bộ môn Ngữ văn - môn học có tính logic cao; giáo dục học sinh tính suy luận logic, sáng tạo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đề tài thực hiện nhiệm vụ tìm hiểu về tác phẩm văn xuôi lãng mạn, đặc trưng loại hình văn xuôi lãng mạn 1932-1945
- Tìm hiểu về thực trạng dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) ở một số trường trung học phổ thông trên
địa bàn thành phố Hà Nội
- Tiến hành nghiên cứu, khảo sát thực tiễn để từ đó xác định hướng dạy
học hợp lý và hiệu quả cho việc dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) theo phương pháp loại hình ở trường
Trung học phổ thông Sơn Tây-Hà Nội
- Khảo sát bằng thực nghiệm, đánh giá kết quả nghiên cứu để có cái
nhìn tổng thể về dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử
tù (Nguyễn Tuân)
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng được lựa chọn nghiên cứu là dạy học tác phẩm văn xuôi
lãng mạn Việt Nam, sách Ngữ văn lớp 11, cụ thể là các tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) theo phương pháp loại hình
Trang 175 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng đề tài chúng tôi vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tham khảo các tài liệu, giáo trình có nội dung liên quan
Phương pháp loại hình
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp khảo sát thực tế, thống kê, thực nghiệm
Phương pháp nghiên cứu liên ngành
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tổ chức dạy học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn (Ngữ văn 11) theo phương pháp loại hình
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Khái lược về các phương pháp dạy học văn
Trước tiên chúng ta cần hiểu phương pháp và phương pháp dạy học là gì? Trong triết học, phương pháp được coi là đối tượng và nội dung của logic học, không có phương pháp thì không thể có sự vận động Tác phẩm nổi tiếng
Bút ký triết học Lenin cũng đã tán thành các ý kiến sau đây của Hê ghen:
“Phương pháp là ý thức về hình thức vận động nội tại của bản thân nội dung” (Trích theo Lênin, Bút ký triết học.Nxb.Sự thật,H.1977,tr.103) Một
nhà khoa học khác, A.Poawngcare, đã cho rằng về bản chất “phương pháp là
một khoa học lựa chọn” (Khoa học và phương pháp, Xanh Petecbua,1910,
tr13-14) Từ các ý kiến trên có thể hiểu phương pháp là cơ chất tạo nên diện mạo và sắc thái của một nội dung, nó được coi là linh hồn của nội dung đang vận động Phương pháp là khoa học lựa chọn bước đi của nội dung, chọn các giải pháp để nội dung vận động có hiệu quả nhất Chức năng của phương pháp là nghiên cứu các cách thức phân loại, hệ thống hoá, rồi định bước đi cho hoạt động của một người, một ngành, thậm chí một khoa học Mục đích của phương pháp là nhằm dẫn dắt con người tới chân lý bằng con đường ngắn nhất, mà chỉ phải bỏ ra ít công sức nhất, nhưng lại đạt hiệu quả cao nhất Còn
về phương pháp dạy học thì theo PGS.TS Phạm Viết Vượng: “Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp tương tác giữa giáo viên và học sinh, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng kĩ xảo, thực hành sáng tạo và thái độ chuẩn mực theo mục tiêu của quá trình dạy học.”
Theo I.D Dvene thì “Dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc
sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập của học sinh và cách thức điều khiển qúa trình nhận thức của giáo viên”
Trang 19Vậy có thể hiểu, phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học Đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn học là thay đổi cách dạy trước đây về hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong một giờ học để chiếm lĩnh tri thức một cách hiệu quả nhất, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc tìm hiểu một tác phẩm văn học, hình thành cho học sinh năng lực cảm thụ và phân tích một tác phẩm văn chương Đổi mới phương pháp dạy và học tác phẩm văn học là việc làm cần thiết để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn ở trường THPT Khoa học hiện đại cho rằng: “Đáp số của bài toán là quan trọng nhưng quan trọng hơn cả đáp số là con đường đi đến đáp số” Môn Ngữ văn trong nhà trường là môn khoa học nhân văn mà văn chương vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, là lĩnh vực để con người hóa thân và thăng hoa Vì thế, nó vô cùng tinh vi và phức tạp Tuy vẫn mang tính phức tạp của đối tượng nghiên cứu xong là một môn học thì nó phải đòi hỏi những chuẩn mực khoa học để đánh giá các hoạt động giảng dạy, học tập của giáo viên và học sinh Vì thế
“con đường đi đến đáp số” chính là phương pháp dạy học văn phù hợp.
Trong ngành lý luận dạy học khi vận dụng vào dạy học văn người ta tìm ra một số phương pháp lớn như:
Phương pháp diễn giảng tích cực (phương pháp thuyết trình): là phương
pháp mà giáo viên dùng lời nói để trình bày, phân tích, chứng minh làm sáng tỏ một vấn đề Ưu điểm của phương pháp này là trong một thời gian ngắn HS có thể tiếp thu một lượng kiến thức lớn, nhanh chóng hiểu được các vấn đề phức tạp nhưng nếu chỉ sử dụng phương pháp này HS sẽ dễ rơi vào thói quen thụ động, chờ đợi thầy giảng thích nghe hơn thích đọc ngại tìm tòi, nghiên cứu
Phương pháp dạy học nêu vấn đề: Là phương pháp dạy học trong đó
giáo viên tạo ra tình huống mâu thuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lý phải tìm tòi khám phá, từ đó giáo viên hướng dẫn khích lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức Điều quan trọng trong phương pháp này là giáo viên
Trang 20phải tìm được các tình huống xung đột mâu thuẫn thực tế, phù hợp với nhận thức của HS, làm cho HS cố gắng tìm cách giải quyết
Phương pháp đọc sáng tạo: Đây là phương pháp đặc biệt được sinh ra
do chính đặc trưng bộ môn Nó là hệ thống các biện pháp khác nhau hỗ trợ nhưng lấy hoạt động trung tâm vẫn là hoạt động đọc nhằm “phát triển được sự cảm thụ sâu sắc và tạo được sự cảm thụ trực tiếp của trò với tác phẩm văn học nghệ thuật”[4,tr.24]
Phương pháp gợi tìm: Là phương pháp dựa trên phương pháp nêu vấn
đề, chủ yếu người học đi tìm tự chiếm lĩnh tri thức của mình Phương pháp này giúp cho HS nỗ lực hơn trong việc tự chiếm lĩnh tác phẩm văn học từ các kĩ năng phân tích, phê bình làm cho sự cảm thụ văn học của các em được khơi sâu thêm, những nỗ lực trí tuệ của các em được thúc đẩy
Phương pháp tái tạo: Là phương pháp nhớ những cái cũ và tiếp thu tri
thức mới một cách sáng tạo, tăng cường hoạt động tư duy để tăng cường hoạt động tư duy để thuộc nhớ bài một cách tối đa
Ngoài ra còn có một số phương pháp khác như phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan, phương pháp loại hình… Phương pháp loại hình là một phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu văn học, cũng là phương pháp áp dụng trong dạy học văn
Tóm lại, có nhiều phương pháp dạy học nói chung và dạy văn nói riêng Trong thực tế dạy học văn sẽ không có một phương pháp nào toàn vẹn, thỏa mãn được tất cả các học sinh, các yêu cầu dạy và học văn Để có thể dạy
- học văn một cách hiệu quả cần phải phối hợp các phương pháp khác nhau, tùy vào từng tác phẩm cụ thể mà lựa chọn các phương pháp dạy học cho phù hợp nhằm định hướng, gợi mở và tạo ra cho các em hứng thú, niềm say mê với thế giới văn chương phong phú, nhiều màu sắc
1.1.2 Lý thuyết về loại hình và phương pháp loại hình
Theo từ điển Tiếng Việt (Trung tâm từ điển ngôn ngữ,H, 1992): Loại hình
là “Tập hợp sự vật, hiện tượng cùng có chung những đặc trưng cơ bản nào đó.”
Trang 21Nghiên cứu loại hình đã được tiến hành từ lâu nhưng để trở thành phương pháp có tính chặt chẽ và có đối tượng áp dụng cụ thể thì phải đến thế
kỷ thứ XX phương pháp loại hình mới thực sự hình thành và được phổ biến rộng rãi Một trong những người đầu tiên dùng phương pháp loại hình là nhà
nghiên cứu văn học dân gian người Nga Vladimir Propp với công trình Hình
thái học truyện cổ tích (1928) Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh
đã nghiên cứu về loại hình truyện Tấm Cám, trong cuốn Sơ bộ tìm hiểu những
vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám (Nxb Văn học, Hà Nội 1968)
Sách Phương pháp luận nghiên cứu văn học của PGS.TS Đoàn Đức
- Từ những đặc điểm chung của một loạt hiện tượng văn học, có thể chứng minh cho sự tồn tại của một loại hình văn học nào đó, liên hệ cho quyền tồn tại và hiệu quả thẩm mỹ của nó
Cũng có những công trình kết hợp cả hai phương thức trên, tức là trong khi biện hộ cho một loại hình, nhà nghiên cứu lại chia nhỏ các hình thái của một loại hình, hay chia nhỏ các loại hình thành tiểu loại hình Trong công
trình Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học (Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1978), MB.Khrapchenko đã dùng phương pháp loại hình để
khảo sát và phân loại nền văn học Nga thế kỷ XIX Ông đã để xuất một nguyên tắc phân định loại hình là nguyên tắc cấu trúc - xã hội mà cơ sở của
nó là “xung đột trong sự biểu hiện của nó” Sau đó áp dụng cho chủ nghĩa hiện thực Nga thế kỷ XIX, ông đã phân loại ra hai loại hình: loại hình Puskin và loại hình Gogol
Trang 22Hiện nay, phương pháp loại hình là một trong những phương pháp tổng quát, có thể áp dụng cho nhiều bộ môn khoa học của ngành nghiên cứu văn học và có thể áp dụng làm phương pháp dạy học Trong thực tiễn nghiên cứu khoa học, có những hiện tượng nếu chỉ được nghiên cứu một cách riêng biệt, thì ta khó có thể xác định được danh tính và giá trị của nó, bởi lẽ ta không có được các tiêu chuẩn và hệ quy chiếu của nó để dựa vào đó mà đánh giá nó Đặc biệt với những hiện tượng mới, nếu ta xác định được loại hình của nó, thì
ta chỉ việc lấy các tiêu chuẩn và ý nghĩa loại hình của nó để gán cho nó là có thể rất dễ dàng đánh giá được giá trị của nó Nếu không xác định được loại hình của nó, ta sẽ suốt đời loay hoay với nó như đứng trước một con vật lạ mà không biết gọi tên nó là gì, và như thế thì dĩ nhiên ta cũng không thể biết được nó có ý nghĩa giá trị gì đối với chúng ta Giống như một người ta gặp một con chạch chấu mà không biết nó thuộc loài cá (tức là không biết loại hình của nó), lại tưởng nó thuộc loài rắn, thì sẽ không biết được giá trị con chạch chấu ấy “Sự cố” tương tự như thế này trong thực tiễn nghiên cứu văn học chúng ta đã từng gặp phải
Ưu điểm cơ bản của phương pháp loại hình là nó giúp chúng ta nắm bắt các hiện tượng trong mối quan hệ tổng thể, bao quát; xác định được chủng loại của cái cá thể; hiểu rõ được các quy luật phát triển của các hiện tượng và sự vật Tuy nhiên cũng cần lưu ý mọi sự phân loại chỉ là tương đối, không thể vì phân loại mà mất mối quan hệ tương tác phổ biến giữa các sự vật Bởi vậy không nên tuyệt đối hóa phương pháp loại hình, mà phải luôn nắm vững các nguyên tắc chỉ đạo phương pháp luận, đồng thời kết hợp phương pháp loại hình với các phương pháp khác để có thể rút ra được kết luận khoa học thỏa đáng
Nói tóm lại, những tác phẩm văn chương được đưa vào trong chương trình SGK ở trường phổ thông đều là những tác phẩm đã qua sự chọn lọc của thời gian và bao thế hệ người đọc cho nên đều có giá trị nhân văn sâu sắc Đó hầu hết là những tác phẩm tiêu biểu của những tác giả lớn có nhiều đóng góp cho nền văn học dân tộc Dạy học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn theo
Trang 23phương pháp loại hình giúp học sinh tích hợp với những kiến thức đã học, mở rộng so sánh giữa loại hình văn học này với loại hình văn học khác, so sánh nét độc đáo trong cùng loại hình văn học, rèn cho học sinh năng lực tư duy, phân tích, đối chiếu…từ đó phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho học sinh, giúp học sinh khắc sâu kiến thức
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Thực trạng dạy học kiểu bài tác phẩm văn xuôi lãng mạn ở THPT
Trong chương trình Ngữ văn 11, học sinh chỉ được học hai tác phẩm văn xuôi lãng mạn tiêu biểu của hai nhà văn lãng mạn Việt Nam xuất sắc là
Thạch Lam và Nguyễn Tuân qua tác phẩm Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù
Đây là hai tác phẩm quan trọng có trong chương trình kiểm tra học kì và thi THPT Quốc Gia nhưng phân phối chương trình dạy trong hai tiết một tác phẩm nên giáo viên dạy thường bị “cháy giáo án” Thực trạng dạy học kiểu bài văn xuôi lãng mạn là giáo viên chủ yếu dạy theo đặc trưng thể loại Cứ văn xuôi là dạy theo loại tự sự, thơ là xếp vào loại trữ tình nên văn học hiện thực hay
lãng mạn đều có chung cách tìm hiểu Khi dạy Chữ người tử tù giáo viên
mới chỉ tập trung tìm hiểu những hình tượng nghệ thuật: Như hình tượng Huấn Cao, hình tượng quản ngục, cảnh tượng cho chữ, từ đó khái quát nên
giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Hay tìm hiểu tác phẩm Hai đứa trẻ giáo viên và học sinh chỉ đi sâu khai thác theo diễn trình cốt truyện là bức
tranh phố huyện lúc chiều tối, lúc đêm về và tâm trạng đợi tàu của chị em Liên, từ đó khái quát lên giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm, tức là tiếp cận tác phẩm ở những vấn đề riêng lẻ mà chưa đặt trong hệ thống loại hình
Học sinh không được trang bị những kiến thức lý luận về loại hình văn xuôi lãng mạn, khi gặp những tác phẩm lãng mạn khác cùng thời, học sinh rất lúng túng không chủ động tự tìm hiểu được những đặc điểm cơ bản của loại hình này, không biết so sánh về cốt truyện, kiểu phản ánh hiện thực, loại hình nhân vật và tính cách nhân vật với văn học cổ, văn học hiện thực phê phán
Trang 24Để tìm hiểu thực trạng dạy và học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn chương trình Ngữ Văn 11- tập 1, THPT, chúng tôi đã sử dụng cách thức chủ yếu là phát phiếu điều tra đến giáo viên và học sinh tại hai trường:
- Trường THPT Sơn Tây - Hà Nội
- Trường THPT Xuân Khanh - Sơn Tây - Hà Nội
Sau đây là một số khái quát về thực trạng dạy tác phẩm văn xuôi lãng mạn trong SGK Ngữ văn 11 theo phương pháp loại hình (theo thống kê từ phiếu điều tra)
1.2.1.1 Kết quả khảo sát từ giáo viên
Bảng 1.1 Tổng hợp từ 15 giáo viên trường THPT Sơn Tây - Hà Nội
và 10 giáo viên trường THPT Xuân Khanh - Sơn Tây - Thành phố Hà Nội
Kết quả Trường THPT Sơn Tây
Trường THPT Xuân Khanh
15%
65%
20%
10% 70% 20%
15%
30%
55%
20% 30% 50%
35%
55%
10%
45% 45% 10%
Trang 25100%
0%
100% 0%
30%
60%
10%
45% 45% 10%
Qua quá trình khảo sát kết hợp với việc giảng dạy trên lớp của giáo viên, có thể thấy từ khâu chuẩn bị bài đến dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, các thầy cô đã thực hiện khá nghiêm túc quy trình giảng dạy nên khám phá được phần nào giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm Giáo viên thường tổ chức, hướng dẫn học sinh tiếp cận tác phẩm theo
đúng các bước của một giờ lên lớp Tuy nhiên, việc khai thác tác phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) theo phương pháp loại
hình mới chỉ được thực hiện ở một số giờ học như là đối tượng HS học sách nâng cao Có nhiều giờ học, giáo viên quá coi trọng hoạt động phân tích văn bản hoặc có giáo viên lại thiên về giảng - bình, truyền thụ kiến thức một chiều mà chưa chú ý tới đặc trưng loại hình Các giờ học chủ yếu diễn ra theo phương pháp thuyết trình và một vài câu hỏi đơn điệu: thầy hỏi - trò trả lời;
Trang 26chưa sử dụng phương pháp diễn giảng: thầy hỏi trò - trò hỏi thầy - trò hỏi trò Các hoạt động trao đổi, thảo luận giữa các nhóm học sinh với nhau nếu có cũng chỉ là hình thức, dập khuôn, máy móc
Nhìn chung qua một số ý kiến của các thầy cô trực tiếp đứng lớp, có thể nhận thấy một thực trạng còn tồn tại như sau: GV mới chỉ chú trọng khai thác nội dung từng tác phẩm mà không xuất phát từ đặc trưng loại hình khiến học sinh hiểu tác phẩm chưa có chiều sâu, giáo viên cũng chưa có thói quen cho học sinh sưu tầm các tác phẩm cùng loại hình để mở rộng sự hiểu biết và nắm vững bài học nhờ sự so sánh, liên tưởng Một số thầy cô còn cho rằng sau khi học xong, học sinh chỉ cần nhớ tác phẩm hoặc đoạn trích là tốt, vì thế khi giảng chỉ cần giảng ý chính, học sinh hiểu nghĩa là thành công Cũng có thầy
cô lại khẳng định: Cái đích của việc học văn là rèn kĩ năng viết văn cho học sinh để đi thi học sinh đạt điểm cao là được Chính vì thế mà HS học tác phẩm nào biết tác phẩm ấy, khi tiếp xúc với những tác phẩm cùng loại hình không nhận ra và không biết hướng khai thác
Bảng 1.2 Tổng hợp 150 phiếu của HS Trường THPT Sơn Tây và THPT Xuân Khanh- Thành phố Hà Nội
1
Em có hiểu văn xuôi lãng mạn
không?
Hiểu Hiểu mơ hồ Không hiểu
35% 50% 15%
2
Em đã được học tác phẩm văn
xuôi lãng mạn nào chưa?
Được học Chưa được học
100%
3
Cảm nhận của em khi học những
tác phẩm văn xuôi lãng mạn?
Thích Bình thường Không thích
35% 45% 20% Cảm nhận của em khi học tác Thích 40%
Trang 274 phẩm Hai đứa trẻ (Thạch Lam),
Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
Bình thường Không thích
10%
20%
70%
6
Khi dạy học các thầy cô dạy cho
chúng em rất kỹ về đề tài và kiểu
phản ánh hiện thực, cốt truyện,
nhân vật…?
Dạy kỹ Bình thường Dạy không kỹ
1.2.2 Những khó khăn của giáo viên và học sinh khi dạy học bài tác phẩm văn xuôi lãng mạn
1.2.2.1 Những khó khăn của giáo viên
Trong quá trình tiếp cận và giảng dạy văn xuôi lãng mạn chúng tôi nhận thấy một vài khó khăn sau:
Trang 28Tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam,Chữ người tử tù của Nguyễn
Tuân được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 11 là hai tác phẩm xuất sắc góp phần làm nên diện mạo, gương mặt của nền văn học dân tộc Là những tác phẩm thuộc loại hình văn xuôi lãng mạn - một loại hình tương đối phức tạp, những tác phẩm văn xuôi lãng mạn thuộc truyện ngắn trữ tình nên có sự đan cài giữa hiện thực và lãng mạn, trong hiện thực có lãng mạn trong lãng mạn lại ẩn chứa hiện thực.Với nhiều tác giả và các phong cách khác nhau, thêm nữa các tác phẩm văn xuôi lãng mạn không chú ý đến tình tiết mà chủ yếu miêu tả một cách tinh tế những cảm giác, cảm xúc hết sức mong manh,
mơ hồ của con người Vì thế, để giáo viên sống cùng nhân vật rung cảm trước tác phẩm là điều khó khăn nữa là tìm cách giảng dạy để HS cảm được tác phẩm lại là điều khó khăn hơn Đã vậy, thời lượng tìm hiểu tác phẩm quá ít (hai tiết một tác phẩm), học sinh và giáo viên không có thời gian tìm hiểu sâu khiến học sinh khó có thể có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về tác phẩm
Hầu hết sách giáo khoa, sách giáo viên chỉ hướng dẫn khai thác tác phẩm văn học theo tiến trình lịch sử, theo thể loại văn học mà không trang bị những kiến thức lý luận về loại hình Giáo viên rất khó khăn để tìm ra những đặc trưng
cơ bản giữa loại hình tác phẩm lãng mạn và loại hình tác phẩm hiện thực thành
hệ thống, khoa học để so sánh, giáo viên chủ yếu dạy các tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại Vì thế, không tránh khỏi những hạn chế về nhận thức đối với HS
Hiện nay, phụ huynh HS và HS chạy theo xu thế thời đại định hướng nghề nghiệp nên ở trường phổ thông các em học sinh chỉ chú trọng các môn
tự nhiên, không mặn mà với môn văn Hai nữa, sáp nhập kì thi tốt nghiệp và thi đại học thành kỳ thi trung học Quốc gia như hiện nay để tránh bị điểm liệt với môn văn là dễ dàng nên các em có thái độ thờ ơ, lãnh đạm với tác phẩm truyện nói riêng và bộ môn Ngữ văn nói chung dẫn đến các em không có thói quen chủ động, khám phá, tìm hiểu bài học Đó cũng là một khó khăn cho giáo viên khi dạy học văn
Trang 291.2.2.2 Những khó khăn của học sinh
Khó khăn thứ nhất với HS là yếu tố thời đại Văn xuôi lãng mạn ra đời trong thời điểm mà lịch sử văn hóa văn học dân tộc có nhiều biến động, đổi mới Văn học lãng mạn lại là một trào lưu rất phức tạp Mặt khác so với thời đại ngày nay có nhiều khác biệt về văn hóa như lối sống, phong tục, tập quán, cách đánh giá các giá trị trong xã hội, đánh giá con người, cách phản ứng với các hiện tượng xã hội cũng là một trong những trở ngại trong quá trình tiếp nhận tác phẩm Những hạn chế trong kinh nghiệm sống của HS cũng như hạn chế trong kinh nghiệm thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là khi đọc những tác phẩm văn xuôi lãng mạn
Thứ hai, đây là hai tác phẩm tương đối khó nắm bắt, Hai đứa trẻ là
truyện phi cốt truyện, là truyện tâm tình, chủ yếu tác giả miêu tả thế giới nội tâm nhân vật những diễn biến mơ hồ mong manh của tâm hồn con người
Bởi thế, HS khó nhận biết thái độ rõ ràng của tác giả Còn Chữ người tử tù
được viết với phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân rất tài hoa, độc đáo, uyên bác, Nguyễn Tuân là bậc thầy ngôn ngữ lịch lãm, uyên bác về lịch sử,
xã hội, nói như nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan “…văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn người nông nổi thưởng thức” Hình tượng nhân vật đều là sự kết tinh từ phẩm chất tài hoa của chính con người nhà văn, thể hiện ý nghĩa vị nhâ n sinh sâu sắc Chính vấn đề này đã khiến cho giáo viên , học sinh rất khó khăn và lúng túng khi tiếp nhận tác phẩm Nhiều thế hệ bạn đọc
đã cảm nhận cái hay của ngôn từ trong Chữ người tử tù, nhưng đa phần
hiểu một cách nông cạn, chưa nắm bắt được tư tưởng cũng như nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm
Trang 30CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI LÃNG MẠN
THEO PHƯƠNG PHÁP LOẠI HÌNH 2.1 Yêu cầu vận dụng dạy học theo phương pháp loại hình
2.1.1 Loại hình đề tài và kiểu phản ánh hiện thực
2.1.1.1 Loại hình đề tài
Theo Dẫn luận nghiên cứu văn học (Nxb Giáo dục,1998, tr98) thì “Đề
tài (tiếng Hi Lạp cổ thema, nghĩa đen là một cái gì đó được đặt làm cơ sở) là
cơ sở của sự nhận thức, nói các khác, là đối tượng của nhận thức” Còn sách
Lý luận văn học của GS Hà Minh Đức viết: Đề tài là một phương diện của nội
dung tác phẩm, nó chỉ phạm vi hiện thực cụ thể đã được nhà văn nhận thức, lựa chọn và phản ánh trong tác phẩm Nếu tác phẩm văn học là chỉnh thể thẩm mĩ thì đề tài là phạm vi thẩm mỹ, là khu vực tích tụ những năng lực thẩm mỹ, bước đầu tạo ra sức hấp dẫn của tác phẩm Ở đó người viết tạo ra những cảnh sắc thiên nhiên, những cảnh đời những số phận, những con người làm cho tất cả những điều đã miêu tả trở nên có ý nghĩa xã hội sâu sắc Bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng có một đề tài nhất định, nó được xem như một nhân tố tương ứng với đối tượng phản ánh riêng của tác phẩm Cũng
vì thế xác định đề tài tác phẩm chính là trả lời câu hỏi: tác phẩm viết về cái gì,
về phạm vi hiện thực nào của cuộc sống?
Giới hạn của phạm vi đề tài có thể được xác định rộng hẹp khác nhau
Đó có thể là một giới hạn bề ngoài như đề tài loài vật, đề tài sản xuất, đề tài kháng chiến chống Mỹ Ở giới hạn bề ngoài của đề tài này, các phạm trù xã hội lịch sử đóng vai trò rất quan trọng Người ta nói đến đề tài nông dân, tiểu
tư sản trong sáng tác của Nam Cao, Lỗ Tấn Tuy nhiên đối tượng nhận thức của văn học là cuộc sống, con người xã hội với tính cách và số phận với quan
hệ nhân sinh phức tạp của nó Do vậy, cần đi sâu vào phương diện bên trong của đề tài Đó là cuộc sống nào, con người nào được miêu tả trong tác phẩm
Trang 31Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của hiện thực được miêu tả
Có bao nhiêu hiện tượng đời sống thì có bấy nhiêu đề tài Tuy nhiên đề tài mang dấu ấn rõ rệt của đời sống khách quan nhưng cũng là sự ghi nhận dấu
ấn chủ quan của của nhà văn Bản thân đề tài không mang tính tư tưởng (một nhà văn tư sản hay một nhà văn vô sản đều có thể chọn một đề tài tình yêu), nhưng cách thức lựa chọn đề tài trong tính hệ thống của quá trình sáng tác mang tính tư tưởng Bởi vì việc lựa chọn đề tài này chứ không phải đề tài khác để thể hiện đã cho thấy, nhà văn coi chính đề tài ấy là quan trọng hơn cả, đáng quan tâm hơn cả trong các thời điểm sáng tác đó Như vậy, qua sự lựa chọn đề tài, nhà văn đã thể hiện khá rõ tính khuynh hướng trong lập trường tư tưởng của mình
Trong thời kỳ 1930-1945, đứng trước cùng một hiện thực khách quan, với thế giới quan vô sản, các nhà văn cách mạng đã lựa chọn và thể hiện đề tài đấu tranh cứu nước, với thế giới quan tiểu tư sản tiến bộ, các nhà văn hiện thực phê phán lại lựa chọn đề tài hiện thực xã hội đau khổ, đen tối bất công
(Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao ), còn các nhà văn lãng
mạn lại đi sâu khai thác những đề tài có xu hướng thoát li hiện thực như đề tài cái Tôi, thế giới thần tiên, tình yêu, thiên nhiên, quá khứ thể hiện khát vọng vượt lên trên cuộc sống hiện tại, chật chội, tù túng, dung tục tầm thường Văn học lãng mạn là tiếng nói cá nhân tràn đầy cảm xúc đồng thời phát huy cao độ trí tưởng tượng để diễn tả những khát vọng ước mơ Nó coi con người là trung tâm của vũ trụ, khẳng định cái tôi cá nhân, đề cao con người thế tục, quan tâm đến những số phận cá nhân và những quan hệ riêng tư Trong một loạt sáng tác của Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng Tám có thể nhận thấy ba đề tài mà ông quan tâm đến nhiều nhất đó là đề tài của chủ nghĩa “xê dịch”, về vẻ đẹp “Vang bóng một thời” và đề tài về “đời sống trụy lạc” Như tựa đề “Vang bóng một thời” là cuốn sách ghi chép đậm nét về một thời đã qua và một lớp người đã tàn trong quá khứ, mà vang bóng thì hãy còn trong trí nhớ kính phục, tôn sùng và tâm trạng luyến tiếc của người ghi chép: Một nếp sống
Trang 32không giàu sang nhưng thanh bạch, cao khiết và rất tự trọng “Giấy rách giữ lấy lề”, không chịu buông mình theo dòng đục cuộc đời lúc đất nước là thuộc địa Mỗi truyện đi vào một cái tài hoa nghệ sỹ, một thú chơi phong lưu tao nhã, một thú “vang bóng” Nhà văn tự hào về những tập tục thanh nhã có khi cầu kỳ như uống trà đạo, như cả nhà đổ hết trí tuệ vào một cỗ đèn kéo quân cho lũ trẻ đón tết Trung thu, như một cuộc đua uyên bác của trò chơi thả thơ, hay “thú chơi chữ” là một thú chơi tao nhã đã được nâng lên thành nghệ thuật
thư pháp Chữ người tử tù rút từ tập “Vang bóng một thời” là kiệt tác của
Nguyễn Tuân viết về đề tài quá khứ, tác phẩm được xem là chấm son chói lọi trên cái nền vàng ảm đạm của xã hội đương thời Nhìn chung các nhà văn tiểu
tư sản của Việt Nam đều bất mãn với hiện thực, không dung hòa với thời cuộc lúc đó nên đành tìm về những “vẻ đẹp” đã một thời “vang bóng” Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Đọc Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân có cảm tưởng gần giống như những cảm tưởng trong khi ngắm một bức họa cổ” Bởi vì, Nguyễn Tuân đã làm công việc của người đi khơi lại đống tro tàn của dĩ vãng Cái dĩ vãng đầy “những nét rầu rầu, những màu xám xám” đã gợi lên trong lòng người đọc một nỗi ngậm ngùi, luyến tiếc về một thời vàng son đã qua hướng người ta muốn quay về quá khứ
Nguyễn Tuân tìm về đề tài quá khứ cho những sáng tác của mình thì Thạch Lam cũng quý trọng giá trị tinh thần của dân tộc, truyền thống văn hóa, nếp sống, phong tục tập quán “Hà nội 36 phố phường” là một ví dụ Ngoài ra,Thạch Lam còn chú trọng đến “không gian hiện thực hằng ngày” như những tác phẩm viết về đề tài cuộc sống hiện tại như “Dưới bóng hoàng lan”,
“Gió lạnh đầu mùa”, “Cô hàng xén” Truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch
Lam rút trong tập “Nắng trong vườn”, xuất bản năm 1938 là truyện tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Thạch Lam cũng như loại hình văn xuôi lãng mạn Toàn bộ truyện ngắn chỉ kể về tâm trạng buồn hiu hắt của Liên và An về cuộc sống đơn điệu tẻ nhạt và buồn đến mức xao xác cứ lặp đi lặp lại hàng ngày ở một ga xép của một phố huyện nhỏ và nghèo từ đó hai đứa trẻ mong
Trang 33mỏi, chờ đợi một chuyến tàu đêm đi qua phố huyện tiêu điều Qua câu chuyện
kể tưởng như nhỏ nhặt, đơn giản ấy, tác giả đã thể hiện khá chân thực về khung cảnh nghèo nàn, tẻ nhạt, đơn điệu của phố huyện và bộc lộ khát vọng vượt lên trên cuộc sống hiện tại chật chội, tù túng của con người nơi đây Vậy
Hai đứa trẻ thể hiện đề tài về cuộc sống hiện thực: Nghèo khổ, đơn điệu, bế
tắc của cư dân nơi phố huyện nghèo trước cách mạng Nếu trong chủ nghĩa cổ điển đề tài là cảnh sống giàu có, hành động đấu tranh cho lý tưởng cao cả của những ông hoàng bà chúa, hoàn toàn không đề cập đế những khía cạnh đời sống của những tầng lớp dưới (những người bình dân) thì ở chủ nghĩa lãng mạn mọi vấn đề của cuộc sống, mọi tầng lớp trong xã hội đều ngang nhau trở thành đề tài cho văn học nghệ thuật
Tóm lại, đề tài là cơ sở để nhà văn khái quát thành chủ đề và xây dựng hình tượng, những tính cách điển hình Văn học lãng mạn là một khuynh hướng thẩm mỹ lấy việc khẳng định cái Tôi cá nhân cá thể làm nguồn cảm hứng chủ đạo Một cái tôi không thỏa mãn với thực tại, tìm cách tự giải thoát thực tại bằng mộng tưởng và bằng sự đắm mình vào đời sống nội tâm tràn đầy tình cảm, cảm xúc Giải phóng trí tưởng tượng và tình cảm, cảm xúc ra khỏi sự trói buộc của lý trí, của chủ nghĩa duy lý, là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa lãng mạn Nó yêu tự do, thích sự độc đáo phi thường, có hứng thú giãi bày những cảm xúc mãnh liệt, đặc biệt là nỗi buồn đau, lòng sầu xứ, tình yêu say đắm
2.1.1.2 Kiểu phản ánh hiện thực
Chức năng của văn học chính là phản ánh hiện thực Nói như Stanhdal:
“Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội”, hay Balzac: “Nhà văn là thư kí của thời đại”, Lênin: “Nếu là nhà văn vĩ đại thì tác phẩm của anh ta phản ánh ít ra vài ba khía cạnh chủ yếu của cuộc cách mạng” Đối với các bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, phản ánh hiện thực có nghĩa là tìm kiếm các giá trị nhận thức, đạo đức, thẩm mĩ của đời sống, lột trần các dối trá, phơi bày
Trang 34mọi ung nhọt, xé toạc mọi mặt nạ, là dấn thân vào tiến trình tiến bộ của xã hội Các tư tưởng đó đã diễn đạt khá đúng và hay về mối quan hệ giữa văn học và đời sống lịch sử trên tầm vĩ mô, nghĩa là toàn bộ các sự kiện, nhân vật,
tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn học nghệ thuật đều là sự phản ánh của đời sống xã hội Trong văn chương cổ thì văn học là dùng để nói chí, còn chủ nghĩa lãng mạn xem văn học “biểu hiện tình cảm, khát vọng chủ quan của con
người” thì cái chí ấy, tình cảm ấy cũng đều là phản ánh đời sống xã hội
Nếu văn xuôi hiện thực phản ánh trực tiếp theo lối “tả chân” thường đề cập đến vấn đề thời sự xã hội như khai thác những xung đột xã hội gay gắt như áp bức bóc lột, nói lên tiếng nói đấu tranh chống áp bức giai cấp, phản ánh mâu thuẫn, xung đột giữa kẻ giàu người nghèo, giữa nhân dân lao động và tầng lớp thống trị, khắc họa những bi kịch con người với mục đích phê phán tố cáo thì những tác phẩm văn xuôi lãng mạn lại nghiêng về khai thác những cuộc sống đời thường, những số phận riêng tư cá nhân, khắc họa vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước và nhất là vẻ đẹp của tâm hồn con người Văn xuôi lãng mạn phản ánh hiện thực theo hướng lý tưởng hóa, những cái ở trên hiện tại, những cái đẹp đẽ thơ mộng Cuộc sống không được hiện ra trong những đường nét cụ thể mà hiện ra trong một thứ chất thơ, là những kỷ niệm được chắt lọc trong sự hồi tưởng Thế giới quanh ta không được nhìn nhận và thể hiện theo phương thức của chủ nghĩa hiện thực mà thể hiện qua tâm trạng,
cảm xúc, cảm giác chủ quan Truyện ngắn có tựa đề Hai đứa trẻ, Thạch Lam
chủ yếu tập trung thể hiện bức tranh đời sống của những người dân quê lam lũ nơi phố huyện làm nổi bật cái nghèo nàn, tẻ nhạt quẩn đọng của nông thôn Việt Nam trước cách mạng, đồng thời qua đó bày tỏ niềm khát vọng “Muốn cải thiện đời sống cho dân quê và làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn” Tuy được tạo dựng không nhằm mục đích tố cáo phê phán hiện thực nhưng bức tranh đời sống dân quê phố huyện này gợi một không khí rất gần không khí “Sống mòn” trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao Cuộc sống ở đây từ không gian, ánh sáng màu sắc, âm thanh đến gương
Trang 35mặt và những gương mặt kiếm sống của con người dường như đang mòn ra,
gỉ đi bởi sự nghèo nàn, tẻ nhạt, quẩn đọng, gây cho người đọc nhiều buồn thương day dứt, trăn trở và làm toát lên những ý nghĩa hiện thực, ý nghĩa
nhân đạo sâu sắc của tác phẩm Không gian Hai đứa trẻ là phố huyện, tuy có
một ga xép nhưng cuộc sống của những người dân quê ở đây vẫn tiêu điều xơ xác, tẻ ngắt và dường như mỗi ngày một thêm lụi tàn đi Chiều nào cũng như chiều nào, cả phố huyện cứ lặng lẽ chìm vào bóng tối cùng với tiếng trống thu không “từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều” như một điệp khúc buồn tẻ Bức tranh cuộc sống phố huyện được hiện lên qua phiên chợ tàn “Chợ họp ngoài phố đã vãn từ lâu, người về hết, tiếng ồn ào cũng mất Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ thị lá nhãn và bã mía Tất cả đều là dấu ấn của sự nghèo nàn và phơi bày sự quẩn đọng của đời sống nhà quê Có cả mùi vị quen thuộc mà chị
em Liên cảm nhận “mùi riêng của đất của quê hương này” thực chất cũng là mùi âm ẩm bốc lên lẫn mùi cát bụi, rác rưởi của cái chợ nghèo Đó không phải gì khác mà là mùi vị của sự nghèo khó lam lũ, lầm than Khi phố huyện vào đêm, phố huyện chìm trong bóng tối mênh mông Ánh sáng duy nhất là ngọn đèn của mẹ con chị Tí, cái bếp lửa của bác Siêu, và ngọn đèn hoa kỳ vặn nhỏ của chị em Liên Cả ba đều tù mù leo lét Ngọn đèn chị Tí trở đi trở lại tới bảy lần trong tác phẩm như một hình tượng đầy ám ảnh gợi người ta nghĩ về những kiếp sống nhỏ nhoi, leo lét giữa nhờ xám, tăm tối mênh mông của cuộc đời Trong khung cảnh tiêu điều xơ xác, buồn bã tẻ nhạt như vậy, gương mặt những con người phố huyện hiện lên thật lam lũ nhếch nhác Những đứa trẻ nhà nghèo nơi phố huyện như những con rơi người cứ chiều tối lại cúi lom khom nhặt nhạnh thanh tre, thanh nứa hay bất cứ cái gì của người bán hàng để lại Bác Siêu bán phở rong nhưng ế khách vì đó là “thứ quà xa xỉ”, chị Tí ngày mò cua bắt ốc, tối lại dọn hàng nước dưới gốc bàng, biết chẳng bán được là bao nhưng chiều nào chị cũng dọn hàng, chị em Liên âm thầm buồn bã với gian hàng tạp hóa nhỏ xíu, ngày chợ phiên mà cũng chẳng ăn thua gì Ngần ấy cảnh, ngần ấy người, ngần ấy hành động tất cả đều buồn tẻ, đơn điệu và lặp đi
Trang 36lặp lại như một điệp khúc uể oải của cuộc sống nghèo nàn quẩn đọng cả về
vật chất lẫn tinh thần Vì là nhà văn lãng mạn nên Hai đứa trẻ, Thạch Lam
không đi vào những truyện áp bức bóc lột, không khắc họa những cảnh thương tâm với mục đích tố cáo Bức tranh đời sống phố huyện được miêu tả trong tác phẩm chỉ với hình ảnh rất đời thường, quen thuộc của những dân quê lam lũ qua quan sát cảm nhận của hai đứa trẻ Tuy vậy, chính những hình ảnh chân thực của cuộc sống đời thường này lại giàu sức gợi, nó khiến người
ta cảm nhận được không khí trì trệ, “nổi váng lên” bởi sự tù đọng của xã hội Việt Nam trước cách mạng Thông qua bức tranh đời sống này, Thạch Lam đã bộc lộ sâu sắc những cảm thương chân thành đối với người lao động lầm than, lam lũ, niềm mong muốn cải thiện đời sống dân quê để “làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn.”
Còn tác phẩm Chữ người tử tù, đặc biệt là cảnh cho chữ, đặt trong
tương quan với hiện thực xã hội thực dân phong kiến thối nát đương thời, một
xã hội đang diễn ra bao nhiêu trò hề Âu hóa nhố nhăng, Nguyễn Tuân đã đề cao và ngợi ca nghệ thuật chơi chữ, đó cũng chính đề cao và ngợi ca một nét đẹp văn hóa dân tộc và một cách ông gián tiếp đề cao ý thức dân tộc, bày tỏ tâm sự yêu nước thầm kín của mình Nguyễn Tuân muốn phản ánh một hiện thực đau lòng trong xã hội cũ Huấn Cao – một con người tài hoa, nghĩa khí, nhân cách trong sạch thanh cao, trọng nghĩa khinh lợi, nâng đỡ thiên lương thì lại bị kết tội đại nghịch, chịu án tử hình Còn những kẻ bất tài vô hạnh, buôn dân bán nước, sâu mọt đục khoét thì vẫn sống nhởn nhơ Quản ngục, thơ lại những con người có sở thích cao quý, có tấm lòng biệt nhỡn liên tài, có chân tâm biết hướng thiện, yêu cái đẹp thì lại bị xã hội xô đẩy vào chốn nhơ nhớp, buộc phải đi làm cái nghề tàn ác Chơi chữ không chỉ là một thú chơi tao nhã mà còn là một nghệ thuật cao cấp.Trong nghệ thuật này, chữ được quan niệm phải được quan niệm với ý và nghĩa, chữ không chỉ bộc lộ tài hoa mà còn thể hiện phẩm chất nhân cách, ý chí của người chơi… chữ là hiện thân của cái đẹp, nó đố kị với cái ác cái xấu và những biểu hiện phàm tục Nếu như tác
Trang 37phẩm hiện thực “Số đỏ”, Vũ Trọng Phụng trực tiếp lên án xã hội tư sản thành thị lố lăng đồi bại do ảnh hưởng lối sống phương Tây thì Nguyễn Tuân theo lối lãng mạn, ông đã bày tỏ gián tiếp theo cách ngợi ca quá khứ để bất bình hiện tại Các nhà lãng mạn thường dùng bút pháp ngợi ca cái đẹp Sinh thời Thạch Lam đã từng cho rằng: “Nhiệm vụ của nhà văn là cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật bình thường Công việc của nhà văn là phải hiểu cái đẹp ở chính chỗ mà không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật cho người khác một bài học trông nhìn và thưởng thức” (Theo dòng)
Văn xuôi lãng mạn luôn tìm đến thiên nhiên như một đối tượng thẩm
mỹ nhằm thể hiện sự hòa điệu giữa con người và thiên nhiên, giữa nội tâm và ngoại giới, giữa tình và cảnh Thiên nhiên ở đây trở thành một tấm gương phản chiếu tâm hồn của con người nên thường giàu chất mỹ cảm và những xung đột thẩm mỹ tinh tế Thiên nhiên thường không được miêu tả như một khách thể vô cảm bên cạnh con người mà nó chính là một phần tâm hồn con người, là màu sắc, ánh sáng, cảm xúc, suy tư của con người Điều này ở những cây bút hiện thực ít có cảm hứng Cuộc đời sáng tác của Thạch Lam là cuộc đời của một người nghệ sĩ mải mê đi tìm cái đẹp và thể hiện nó trên
trang viết Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, trước hết ta được đắm mình vào
những khung cảnh thiên nhiên đầy thơ mộng, mang đậm dấu ấn xứ sở của con người và làng quê đất Việt, câu chuyện được mở ra từ hình ảnh một buổi chiều “phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” Khoảnh khắc thời gian của chiều muộn rực lên nuối tiếc, phả chút ánh hồng hiu hắt để rồi chìm vào yên lặng Làn gió mang theo “tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng” như khúc ca tiễn biệt “giờ khắc của ngày tàn” càng làm tăng thêm “cái buồn của buổi chiều quê” Khung cảnh đó đã dội vào lòng Liên một nỗi buồn man mác, trải dài theo không gian và thời gian Cảnh đêm
về được Thạch Lam miêu tả: “Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát Đường phố và các ngõ con dần chứa đầy bóng
Trang 38tối” “Vòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của những con đom đóm bay là là trên mặt đất hay len vào những cành cây ” “ một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn có những cảm giác mơ hồ không hiểu”
Trong vô vàn cái biểu hiện gai góc của đời sống, các tác phẩm văn xuôi lãng mạn thường quan tâm đến cái đẹp man mác tản mạn quanh ta như một cái nhìn, một lối tiếp cận đầy nâng niu trân trọng Nguyễn Đình Thi cũng đã nhận xét về Nguyễn Tuân: “Nguyễn Tuân là người suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật” Nguyễn Tuân luôn trân trọng, nâng niu và khát khao cái đẹp, ông chắt chiu cái đẹp trong cuộc sống cũng như trong nghệ thuật Chính từ góc độ cái đẹp các nhà văn lãng mạn một cách sắc sảo những nét phản thẩm mỹ, những mặt xấu xa, ti tiện, thấp hèn của bọn người trọc phú, trưởng giả trong cái xã hội kim tiền Điều đáng nói là thái độ phê phán của các nhà văn đối với
xã hội chủ yếu là từ góc độ thẩm mỹ, chứ không phải từ quan điểm giai cấp Không tìm thấy cái đẹp hiện hữu trong cuộc thực thậm chí bất mãn với thực tại, Nguyễn Tuân quay trở về tìm kiếm nét đẹp xưa của một thời vang bóng, rồi đi tìm nguồn an ủi trong vẻ đẹp truyền thống, đó cũng là một nét phổ biến trong nghệ thuật lãng mạn thế giới nói chung Phần lớn những truyện in trong tập “Vang bóng một thời” - một văn phẩm “gần đạt tới sự hoàn mỹ” (Vũ Ngọc Phan) đã chịu sự chi phối một cảm hứng thống nhất: ca ngợi cái Đẹp đa dạng nơi đời sống tinh thần và vật chất trong giới trí thức bình dân Mỗi truyện chính là một nén tâm hương nguyện cầu cho cái Đẹp Việt Nam, đó là
Uống đẹp (Những chiếc ấm đất; Chén trà trong sương sớm); Chơi đẹp (Thả
thơ; Đánh thơ; Một cảnh thu muộn ); Ứng xử đẹp (Ngôi mả cũ); Chữ viết
đẹp; Nhân cách đẹp (Chữ người tử tù) Thông qua việc ngợi ca cái đẹp để
phản ánh hiện thực Ngợi ca văn hóa truyền thống, khơi dậy vẻ đẹp của một thời đã qua người đọc có thể nhận diện được bộ mặt của văn hóa đương thời
đó là sự lai căng, suy đồi của văn hóa phương Tây mà bọn thực dân đang đổ
Trang 39vào nước ta để làm băng hoại những giá trị văn hóa, tinh thần được rèn đúc qua hàng ngàn năm lịch sử
Các nhà văn lãng mạn thường tìm kiếm những giá trị cao đẹp trong những cảnh đời tăm tối, tầm thường, khám phá cái cao cả trong những số
phận bị ruồng bỏ, chà đạp Thạch Lam trong Hai đứa trẻ xúc động, trân trọng
cái khát vọng được đổi đời, được sống hạnh phúc hơn của những con người
bé nhỏ bị lãng quên phố huyện nghèo xưa Nguyễn Tuân trong Chữ người
tử tù, nhà văn đã dũng cảm ca ngợi một con người “phản nghịch”, một
nghĩa sĩ có khí phách hiên ngang bất khuất, một con người tài hoa có tâm hồn cao thượng và đẹp đẽ Trong khi chờ đợi án tử hình, Huấn Cao vẫn giữ được nhân cách của một người anh hùng, thái độ của ông lúc nào cũng rất tự chủ đàng hoàng Ngục tối và cái chết không thể làm mất đi ở ông phong thái và tâm hồn của một nghệ sĩ tài hoa Tuy nhà văn không nói rõ cái lý tưởng mà Huấn Cao hướng tới, những người đọc cũng cảm nhận được lý tưởng đó là cao đẹp, vì con người, vì cuộc sống Lý tưởng đó toát
ra từ chính con người Huấn Cao, con người bất cứ trong hoàn cảnh nào cũng ung dung, tự chủ với tâm hồn phóng khoáng cao đẹp, người đọc tìm thấy sự tỏa sáng của nhân cách người tử tù nơi ngục thất tăm tối, sự vươn lên cái đẹp, cái thiên lương của một ngục quan, trong một nhà tù xã hội phong kiến xấu xa, suy tàn
Nhân vật của văn xuôi lãng mạn hành động theo sự tưởng tượng chủ
quan của nhà văn và trực tiếp thể hiện tư tưởng của tác giả Trong Hai đứa trẻ, Liên và An tuy còn nhỏ nhưng phải thay mẹ trông coi một quán tạp
hóa nhỏ để kiếm sống Hàng đêm các em lại cố thức để đón chuyến tàu đêm
đi qua phố huyện Con tầu với những toa sang trọng, đèn sáng trưng chiếu sáng xuống mặt đường và tiếng còi rít lên rầm rộ như mang theo cả một thế giới khác đối lập với cái phố huyện tăm tối, tĩnh lặng Nó như thắp lên trong tâm hồn của các em một niềm khát vọng dẫu mơ hồ nhưng thật xúc động,
Trang 40đáng trân trọng Nhà văn muốn qua đó thể hiện khát vọng hướng tới cuộc sống sáng tươi của những con người bé nhỏ bị lãng quên trong xã hộicũ
Thạch Lam không trực tiếp cảm nhận cảnh vật và cuộc sống, ông đã để cho nhân vật của mình cảm nhận Hay nói cách khác là nhà văn đã gián tiếp
vẽ bức tranh đời sống qua tâm trạng nhân vật, đó là tâm trạng của hai đứa trẻ bao trùm toàn bộ tác phẩm Bức tranh đời sống qua lối miêu tả gián tiếp ấy đã đặt trong một cấu trúc thời gian và cấu trúc tâm trạng Cấu trúc thời gian từ chiều xuống đến lúc chuyến tàu đêm qua phố huyện Cấu trúc tâm trạng là cô gái Liên buồn, luôn nhớ về một quá vãng cùng với một tương lai luôn hiện ra trong khao khát của con người Nói cách khác, hiện thực được khúc xạ qua tâm hồn con người mà dòng chảy đời sống được tái hiện Văn xuôi lãng mạn không tái hiện trực tiếp cuộc sống với mối quan hệ phức tạp nhưng lại dựng lên được không khí, tạo ra được nỗi ám ảnh khôn nguôi đối với người đọc
trước vấn đề về đời sống nhân sinh Ở truyện ngắn Hai đứa trẻ nhà văn
Thạch Lam quan sát, miêu tả tinh tế tâm hồn Liên với những biến thái phong phú Đoạn đầu là tâm trạng “buồn man mác trước giờ khắc của ngày tàn”, đoạn giữa là tâm trạng buồn thấm thía và “mong đợi một cái gì đó tươi sáng hơn cho sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ”, đoạn cuối là tâm trạng thấy
“mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ” Nhà văn thường sử dụng láy đi láy lại một
số từ chỉ trạng thái tâm lí như Liên thấy, Liên nghĩ, Liên mơ tưởng Các tác phẩm văn xuôi lãng mạn không tái hiện trực tiếp cuộc sống với nhiều mối quan hệ phức tạp, nhưng lại dựng lên trong không khí, tạo ra được nỗi ám ảnh khôn nguôi đối với người đọc trước các vấn đề về đời sống nhân sinh Các cây bút thuộc khuynh hướng này thương nhạy cảm với tâm hồn con người, nghiêng về khai thác các mối quan hệ tình cảm, những rung động tâm hồn Phản ánh hiện thực sử dụng phép tượng trưng, bút pháp đối lập, tương phản là biện pháp nghệ thuật đặc thù của văn chương lãng mạn Hai nhà văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân đã vận dụng thành công nghệ thuật miêu tả