1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu dạy nghề kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch bông KS trần đức hảo

64 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 580,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệt độ môi trường cao hay thấp ảnh hưởng rất lớn đến quá trình quang hợp, hôhấp, khả năng hút dinh dưỡng và vận chuyển các chất trong cây dẫn đến thực tế là thúcđẩy

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG TẬP ĐOÀN DỆT - MAY VIỆT NAM

-* -VIỆN NGHIÊN CỨU BÔNG & PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NHA HỐ

TÀI LIỆU DẠY NGHỀ

KỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC

VÀ THU HOẠCH BÔNG

Người biên soạn: KS Trần Đức Hảo

Ninh Thuận - 2011

Trang 2

CHƯƠNG 1 NGHỀ TRỒNG BÔNG TRÊN THẾ GIỚI

VÀ VIỆT NAM1.1 Nghề trồng bông trên thế giới

Bông (Gossypium sp.) là loại cây trồng cho năng suất kinh tế lớn Sản phẩm

của cây bông vừa là nguyên liệu chủ yếu của ngành Dệt – May, vừa là nguyên liệuquan trọng của nhiều ngành công nghiệp khác như công nghiệp nhẹ, công nghiệp hóachất … Do vậy, cây bông được trồng ở hơn 80 quốc gia, với diện tích hàng nămkhoảng 33-34 triệu ha và sản lượng đạt khoảng 20-25 triệu tấn bông xơ, có giá trịtrên 20 tỷ USD Cây bông chủ yếu được trồng tập trung ở các nước châu Á và châuMỹ, trong đó châu Á chiếm 61% diện tích và đạt 63% sản lượng, châu Mỹ chiếm24% diện tích và đạt 25% sản lượng bông thế giới

Các nước có diện tích bông đứng hàng đầu thế giới là Ấn Độ, Mỹ, TrungQuốc, Uzbekistan, Pakistan, Brazil, Argentina, Thổ Nhĩ Kỳ, … Năng suất bông hạttrung bình trên toàn thế giới là 16,19 tạ/ha Các nước có năng suất bông cao là Israel(40 – 50 tạ/ha), Úc (29 – 38 tạ/ha), Tây Ban Nha (30 – 36 tạ/ha), Syria (29 – 35 ta

̣/ha), Hy Lạp (22 – 29 tạ/ha), Trung Quốc (24 – 27 tạ/ha), Uzbekistan (22 – 27 tạ/ha),

Ai Cập (21 – 25 tạ/ha) và Mỹ (18 – 20 tạ/ha)

Trong 10 năm trở lại đây bình quân năng suất và giá bông xơ có tăng nhưngvới tốc độ chậm so với xu hướng tăng ngày càng nhanh của chí phí sản xuất do tănggiá vật tư đầu vào, chi phí lao động và một số chi phí thiết bị bổ sung và phụ trợ khác.Hiện tại, chi phí sản xuất trung bình khoảng 500 - 2500USD/ha tùy thuộc vào điềukiện sản xuất và mức năng suất đạt được (ICAC, 2008) Từ đó, thu nhập của ngườitrồng giảm và khả năng cạnh tranh của cây bông so với các cây trồng khác thấp

Bảng 1 Tình hình sản xuất bông của Thế giới Năm Diện tích (ha) Năng suất bông hạt

(tạ/ha)

Sản lượng bông hạt (tấn)

Sản lượng bông xơ

Trang 3

Năm Diện tích (ha) Năng suất bông hạt (tạ/ha) Sản lượng bông hạt (tấn) Sản lượng bông xơ (tấn)

Trang 4

Năm Diện tích (ha) Năng suất bông hạt (tạ/ha) Sản lượng bông hạt (tấn) Sản lượng bông xơ (tấn)

2.2 Nghề trồng bông ở Việt Nam

Cây bông được loài người sử dụng rất sớm Ở Việt Nam, nghề trồng bông dệt

vải đã có từ thời xa xưa, trên 2.000 năm với chủng bông Cỏ (Gossypium arboreum L.) Chủng bông Luồi (Gossypium hirsutum L.) và bông Hải đảo (Gossypium barbadense L.) chỉ mới được du nhập vào nước ta hơn một thế kỷ nay.

Đối với Việt Nam, phát triển bông hiện tại cũng nằm trong xu thế chung củathế giới Năng suất bông bình quân cả nước thấp (440 – 460kg xơ/ha) và tăng chậm.Hơn nữa, chi phí sản xuất cao, ước tính 11 – 12 triệu đồng/ha (570 – 600 USD/ha).Trung bình chi phí khoảng 1,1USD/1kg xơ, thuộc nhóm nước có chi phí sản xuất caonhất (ICAC, 2008) và đang có xu hướng tăng theo giá cả vật tư, nhân công hiện tạivà sắp tới Chính vì thế, các đơn vị sản xuất khó có thể dùng biện pháp tăng giá mua

để kích thích người trồng, đồng thời, hiệu quả sản xuất bông thấp, rủi ro cao, câybông mất ưu thế cạnh tranh so với cây trồng khác Hơn nữa, một trong những hạnchế năng suất bông Việt Nam và làm tăng chi phí đầu vào là sâu hại (sâu đục quả,chích hút) và bệnh hại (như đốm lá, phấn trắng ) phổ biến ở các vùng

Trang 5

Bảng 2 Tình hình sản xuất bông của Việt Nam

Niên vụ DT

(ha)

NS bông hạt (tạ/ha)

SL bông hạt (tấn) Niên vụ

DT (ha)

NS bông hạt (tạ/ha)

SL bông hạt (tấn)

Trang 6

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH CHỌN TẠO VÀ SỬ DỤNG

GIỐNG BÔNG TẠI VIỆT NAM

2.1 VAI TRÒ CỦA CHỌN TẠO GIỐNG BÔNG

Về chọn tạo giống: Cùng với các phương pháp truyền thống (nhập nội, chọn

lọc quần thể, chọn lọc cá thể đối với giống thuần; lai đơn, lai ba… và phân tích ditruyền số lượng đối với giống lai), ứng dụng công nghệ sinh học đã được đẩy mạnhvới các công nghệ chuyển gen, chọn giống nhờ chỉ thị phân tử….; hiện tại, diện tíchbông biến đổi gen chiếm đến hơn 40% tổng diện tích bông thế giới (chủ yếu bôngkháng sâu đục quả, chịu thuốc trừ cỏ và bông kết hợp hai tính trạng trên

Công tác chọn tạo giống bông có các vai trò sau:

2.1 1 Tăng giá trị đầu ra

Tăng năng suất xơ: chủ yếu dựa trên cơ sở tổ hợp hợp lý các yếu tố cấu thành

năng suất nhằm tăng số hạt cây và trên một đơn vị diện tích – tức tăng sốquả/cây hoặc/và tăng số hạt/quả

Trang 7

Cải tiến chất lượng xơ: tiêu chuẩn các chỉ tiêu chính gồm chiều dài > 30mm,

độ bền > 32gr/tex, độ mịn < 4,5M; trong đó, chú trọng sử dụng trực tiếp genchất lượng xơ tốt của loài bông hải đảo hoặc chuyển các gen này vào loài bôngluồi

Tăng giá trị sử dụng của hạt bông như là một sản phẩm phụ: chủ yếu tạo

giống có hàm lượng gossypol thấp trong hạt để sử dụng sản phẩm chế biến từhạt như dầu, protein

Tính thích ứng sinh thái phù hợp: đi kèm với tính thích ứng rộng trồng được

nhiều vùng, vụ, cần chú trọng loại hình giống thích ứng hẹp để trồng ở nhữngđiều kiện cụ thể (chín sớm, chịu bất lợi ngoại cảnh như nóng, hạn cục bộ, mặn,ứng…) nhằm tận dụng quỹ đất, thời vụ gieo trồng, khai thác triệt để tiềm năngcủa giống để đạt năng suất và chất lượng cao nhất

2.2.2 Giảm chi phí sản xuất đầu vào

Chín sớm: với tổng thời gian một vụ < 135 ngày, giống chín sớm giúp tiết

kiệm chi phí đầu vào (phân bón, nước tưới, phòng trừ sâu bệnh, công laođộng), tạo cơ chế trốn tránh rủi ro do áp lực sâu bệnh hại tích lũy cao và bất lợingoại cảnh (hạn, mưa muộn ) vào cuối vụ, giúp rút ngắn thời gian một vụbông từ 155 – 170 ngày hiện nay xuống dưới 135 ngày, nhờ đó, dễ bố trí thời

vụ bông sau cây trồng khác vụ 1 (ngô, đậu) trên các vùng trồng bông vụ mưa,thời vụ chiếm phần lớn diện tích trồng bông hiện tại cả nước (>85%) Mặtkhác, thời vụ ngắn là giải pháp kỹ thuật tiền đề để phát triển các vùng bông tậptrung, trang trại trong cả 2 vụ có hiệu quả nhất

Khả năng chống chịu sâu bệnh cao: tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học

kết hợp với phương pháp truyền thống, tập trung chủ yếu các loại sâu bệnh hạichính, sâu đục quả (sâu xanh đục quả, sâu xanh da láng, sâu hồng…), sâuchích hút (rầy, rệp, bọ trĩ, nhện đỏ…), bệnh đốm cháy lá, phấn trắng…; ưu tiênphát triển tính chống chịu nhiều mặt để tạo tính kháng bền vững và giảm thiểuchi phí phòng trừ

2.2 TÓM TẮT TÌNH HÌNH CHỌN TẠO VÀ SỬ DỤNG GIỐNG BÔNG TẠI VIỆT NAM

2.2.1 Giai đoạn trước năm 1980

Trang 8

 Chọn tạo và phóng thích các giống bông thường (TH1, TH2, MCU9, TM1,M456-10, D16-2).

2.2.2 Giai đoạn 1980 - 1995

 Tiếp tục chọn tạo và sử dụng các giống bông thường (điển hình là giốngC118)

 Bắt đầu nghiên cứu tạo giống lai trong nước

 Nhập nội và thử nghiệm một số giống lai Ấn Độ, Israel (H4, Bioseed-7…)

- Bước đầu NC tạo giống lai cải tiến tỷ lệ xơ nhưng không thành công do cácgiống như NH14, NH38 kháng rầy yếu và chất lượng xơ không đạt yêu cầu)

2.2.4 Giai đoạn từ 2000 đến nay

 Định hướng tạo giống: Tiếp tục chọn tạo và phổ biến giống bông lai và bước

đầu thử nghiệm thế hệ giống bông thường mới:

- Đẩy mạnh hướng chọn tạo giống lai kết hợp kháng sâu và kháng rầy đồngthời nâng cao dần tỷ lệ xơ, chất lượng xơ và đưa tính chịu thuốc cỏ vào

- Tạo giống bông thường kháng rầy, kháng sâu và chịu thuốc trừ cỏRoundup

 Thành tựu:

- Chọn tạo và phóng thích thành công các giống lai kháng sâu thế hệ thứ hai(điển hình là 02 giống quốc gia VN15, VN01-2: kháng sâu cao, kháng rầytrung bình (VN15), cao (VN01-2), tỷ lệ xơ trung bình khá và chất lượng xơtốt; sai quả nhưng quả nhỏ)

- Chọn tạo, công nhận tạm thời và cho phổ biến các giống lai kháng sâu thếhệ thứ ba (VN04-3, VN04-4 và VN04-5 (kháng sâu cao, kháng rầy trungbình-khá, quả to, tỷ lệ xơ cao và chất lượng xơ rất tốt)

Trang 9

- Chọn tạo và công nhận tạm thời một số giống lai bông thuần TM1KS vàVN36PKS

- Chọn tạo và đưa khảo nghiệm sản xuất một giống lai có mẹ là dòng bất dục đựcgen; một số dòng/giống bông thường kháng rầy và kháng sâu

2.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT SỐ GIỐNG BÔNG TRỒNG PHỔ BIẾN Ở TÂY NGUYÊN

* Giống bông lai VN04-3

- Nguồn gốc: VN04-3 (TL.0034/D.20-20) là giống bông lai F1 cùng loài bông luồi (Gossypium hirsutum L./ Gossypium hirsutum L.), mẹ là dòng TL00-34 chọn lọc

trong nước và bố là dòng D20-20 nhập nội từ Trung Quốc; được chọn lọc từ kết quả sosánh năm 2001-2003, khảo nghiệm và sản xuất thử từ 2004-2009; được công nhậngiống quốc gia năm 2010

- Đặc tính sinh trưởng, thực vật học: Chín tập trung, thời gian sinh trưởng trung

bình sớm (từ gieo đến nở quả 100-105 ngày Cây sinh trưởng khỏe, dạng hình cân đối,lá to trung bình, xanh đậm, ít lông, có từ 2-3 cành đực Hoa to trung bình, cánh hoamàu trắng và phấn màu trắng

- Đặc tính năng suất, phẩm chất xơ: Giống sai quả, quả to (5,5-6.0g) Tiềm năng

năng suất cao, có thể đạt 35-45tạ/ha trong điều kiện thuận lợi Tỷ lệ xơ cao (40-43%);giống có chất lượng xơ tốt với chiều dài xơ trung bình 32 - 33mm, độ bền 32 - 33g/tex,độ mịn 4,0 – 4,5M, độ đều >85% và độ chín tốt (>0.9%)

- Khả năng chống chịu sâu bệnh: kháng rầy xanh trung bình yếu (cấp 3 – 4 theo

thang 5 cấp), kháng sâu xanh cao, nhiễm nặng bệnh đốm cháy lá và nhiễm bệnh mốctrắng trung bình

- Đặc tính nông học: Giống trồng thích hợp trong điều kiện trồng nhờ nuớc trời

hoặc có tuới bổ sung, dễ trồng và có thể sử dụng ở hầu hết các vùng; lưu ý khả năngkháng rầy yếu khi trồng trong vụ khô và ở các vùng/vụ có áp lực rầy xanh cao

* Giống bông lai VN04-4

- Nguồn gốc: VN04-4 (TL.0035/D.20-9) là giống bông lai F1 cùng loài bông luồi (Gossypium hirsutum L./ Gossypium hirsutum L.), mẹ là dòng TL00-35 chọn lọc trong

nước và bố là dòng D20-9 nhập nội từ Trung Quốc; được chọn lọc từ kết quả so sánh

Trang 10

năm 2001-2003, khảo nghiệm và sản xuất thử từ 2004-2009; được công nhận giốngquốc gia năm 2010.

- Đặc tính sinh trưởng, thực vật học: Chín rất tập trung, thời gian sinh trưởng

trung bình sớm (từ gieo đến nở quả 100-105 ngày) Cây sinh trưởng khỏe, dạng hìnhcân đối, đốt thân cành nhặt, lá to trung bình, xanh đậm, ít lông, có từ 1-2 cành đực Hoa

to trung bình, cánh hoa màu trắng và phấn màu trắng

- Đặc tính năng suất, phẩm chất xơ: Giống sai quả, quả to (6,0-6,5g) Tiềm năng

năng suất cao, có thể đạt 35-45tạ/ha trong điều kiện thuận lợi Tỷ lệ xơ cao (40-43%);giống có chất lượng xơ tốt với chiều dài xơ trung bình 32 - 33mm, độ bền 32 - 33g/tex,độ mịn 4,0 – 4,5M, độ đều >85% và độ chín tốt (>0.9)

- Khả năng chống chịu sâu bệnh: kháng rầy xanh trung bình yếu (cấp 3 – 4 theo

thang 5 cấp), kháng sâu xanh cao, nhiễm nặng bệnh đốm cháy lá và nhiễm bệnh mốctrắng trung bình

- Đặc tính nông học: Giống trồng thích hợp trong điều kiện trồng nhờ nuớc trời

hoặc có tuới bổ sung, dễ trồng và có thể sử dụng ở hầu hết các vùng; lưu ý khả năngkháng rầy yếu khi trồng trong vụ khô và ở các vùng/vụ có áp lực rầy xanh cao

* Giống bông lai VN01-2

- Nguồn gốc: VN01-2 (CS.95/VN36P) là giống lai F1 cùng loài bông luồi (G.

hirsutum x G hirsutum) giữa giống mẹ CS.95 (nhập nội từ Mỹ)và giống bố VN36P

(nhập nội từ Israel); được chọn lọc từ kết quả so sánh năm 1998, khảo nghiệm và sảnxuất thử từ 2000-2004; được công nhận giống quốc gia năm 2004

- Đặc tính sinh trưởng, thực vật học: Thời gian sinh trưởng trung bình (từ gieo

đến nở quả 110-115 ngày Cây sinh trưởng rất khỏe, dạng hình cân đối và thoáng, lá totrung bình, xanh nhạt, nhiều lông, có từ 2-3 cành đực, cành quả nhiều và vươn dài Hoa

to trung bình, cánh hoa màu trắng và phấn màu trắng

- Đặc tính năng suất, phẩm chất xơ: Giống rất sai quả, quả to trung bình

(4,5-5.0g) Giống biểu hiện ưu thế lai cao cả về sinh trưởng và năng suất so với bố mẹ và đốichứng trong các thí nghiệm so sánh và khảo nghiêm Tiềm năng năng suất cao, có thể đạt30-40tạ/ha trong điều kiện thuận lợi Tỷ lệ xơ khá (36-38%); phẩm chất xơ tốt với chiềudài >30mm; độ mịn khá (4-4,5g); độ bền >30g/tex; độ đều >85% và độ chín tốt (>0.9%)

- Đặc tính nông học: Giống trồng thích hợp trong điều kiện trồng nhờ nuớc trời

hoặc có tuới bổ sung, dễ trồng và có thể sử dụng ở hầu hết các vùng; khả năng kháng

Trang 11

rầy xanh và sâu xanh khá, nhiễm bệnh mốc trắng Giống rất sai hoa, quả, thời gian nởquả, thu hoạch kéo dài Mặt khác, khả năng tái sinh và tự đền bù cao, nếu trong thời gianđầu gặp điều kiện không thuận lợi (sinh trưởng kém, sâu bệnh phá hại …), cần tiếp tụcchăm sóc thời kỳ sau để tận dụng bông tái sinh.

* Giống bông thuần VN36PKS

- Nguồn gốc: là giống bông thuần thuộc loài bông luồi (Gossypium hirsutum L.),

được chọn lọc từ quần thể hồi giao (D97-5/TM1)BC4 ở thế hệ thứ 5; trong đó, giống mẹnhận D97-5 được nhập nội từ Mỹ, nhiễm rầy xanh chích hút, kháng sâu xanh đục quảcao, tỷ lệ xơ cao, chất lượng xơ tốt và giống bố hồi qui TM1 nguồn gốc trong nước,nhiễm sâu đục quả, kháng rầy xanh khá, cứng cây, quả to, năng suất cao Giống đượccông nhận tạm thời và cho phép sản xuất thử ở các vùng bông trong nước theo Quyếtđịnh số 210/QĐ-TT_CCN ngày 30/6/2010

- Đặc tính sinh trưởng, thực vật học: thuộc nhóm chín trung bình muộn (thời gian nở

quả 115 – 120 ngày); có khả năng sinh trưởng khỏe, tái sinh mạnh, thân lá rất nhiều lông, lá

to trung bình, màu xanh bạc, quả dài nhọn, cuống quả dài, cánh hoa và hạt phấn trắng

- Đặc tính năng suất, phẩm chất xơ: Sai quả, quả to trung bình (khối lượng quả

5,0 – 5,5g), tỷ lệ xơ khá (37 – 38%); chất lượng xơ đạt yêu cầu nguyên liệu công nghiệpDệt May (chiều dài > 28mm; độ bền >28g/tex và độ mịn 4,6 -5,0M); cho năng suấtbông hạt cao Tại các vùng khảo nghiệm, năng suất trung bình VN36PKS đạt 26,4 tạ/ha(năm 2007); 30,7tạ/ha (năm 2008) và 27,3tạ/ha, tương đương với đối chứng đang trồngphổ biến là các giống bông lai VN15 và VN01-2 Trong điều kiện trồng mật độ cao, sửdụng các giống thường này mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn do giảm chi phí đầu vàovà tăng năng suất quần thể

- Khả năng chống chịu sâu bệnh: kháng rầy xanh chích hút cao (cấp 0 – 1 theo

thang 5 cấp), kháng sâu xanh đục quả cao, nhiễm bệnh mốc trắng

* Giống bông thường TM1

- Nguồn gốc: Thuộc loài bông luồi (G hirsutum), chọn lọc từ quần thể lai tự

nhiên giữa giống TH1 (chọn từ Camd 1-2 của Mỹ) và giống luồi địa phương Baghe(Bình Thuận); được chọn lọc và thuần hóa từ năm 1982-1985 tại Viện NCCB&CCS,khảo nghiệm từ 1986 và công nhận giống quốc gia năm 1992

- Vùng/vụ sản xuất: Thích hợp ở các vùng Nam Trung bộ (Ninh Thuận, Phú Yên,

Khánh Hòa trong vụ Mưa và vụ Đông Xuân

Trang 12

- Đặc điểm sinh trưởng, thực vật học: Thời gian sinh trưởng trung bình (từ gieo

đến nở quả 105-110 ngày) Cây khỏe, dạng hình tháp cân đối, thoáng, số cành quả vừa,có 1-2 cành đực, lá to trung bình, có nhiều lông cả 2 mặt do vậy trên ruộng nhìn có màutrắng bạc hơn so với các giống khác Cành quả gấp khúc, mắt cuống lá thô, có nhiềucành nách, quả nách

- Đặc điểm năng suất, phẩm chất xơ: Giống có quả to (khối lượng 5,0-5,5g); tiềm

năng năng suất cao, trong điều kiện thuận lợi có thể đạt 20-25tạ/ha; tỷ lệ xơ trung bìnhkhá (35-37%); xơ dài 25-27mm, độ mịn tốt (4,2Mi), độ bền 18-20g/tex, độ đều 47-48%và độ chín tốt (>90%)

- Đặc tính nông học: Giống có bộ rễ phát triển mạnh, chịu hạn tốt, có thể cho

năng suất cao hơn các giống khác tại các vùng khô hạn; khả năng tái sinh, tự đền bù caovà kháng rầy.

CHƯƠNG 3 KỸ THUẬT CANH TÁC BÔNG

BÀI 1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SINH THÁI

CỦA CÂY BÔNG

1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÂY BÔNG

1.1 Rễ bông

Rễ bông là bộ phận sinh trưởng sớm nhất của cây và thuộc loại rễ cọc, rễ chính cóthể ăn sâu xuống đất 2 - 3 m và rễ ngang có thể ăn xa gốc tới 0,6 - 1 m, mạng lưới rễ tậptrung chủ yếu ở tầng đất 5 - 30 cm tùy theo từng loại đất Bộ rễ bông phát triển mạnhhay yếu tùy theo giống và điều kiện đất đai và kỹ thuật canh tác Khi đủ ẩm, hạt bôngnảy mầm và rễ bắt đầu phát triển Sự hình thành bộ rễ bông có thể được phân thành 4giai đoạn như sau:

Trang 13

- Thời kỳ rễ phát triển: Từ khi hạt nảy mầm đến khi cây bông bắt đầu có nụ.

Trong thời kỳ này trung bình rễ có thể dài được 2 cm/ngày đêm, trong khi các bộ phậntrên mặt đất chỉ tăng được 0,4 - 0,5 cm/ngày đêm

- Thời kỳ rễ sinh trưởng mạnh: Kể từ khi ra nụ, mỗi ngày đêm rễ cái có thể dài

thêm 2,5 cm và rễ phụ có thể ăn rộng ra xung quanh gốc bông tới 50 cm

- Thời kỳ rễ đạt sức hút lớn: Trong thời gian cây bông ra hoa và kết quả, về cơ bản

bộ rễ đã hoàn thiện, sức hút của rễ đạt tối đa, đây cũng là thời kỳ cây bông cần nhiềudinh dưỡng nhất

- Thời kỳ suy thoái của bộ rễ: Khi quả bắt đầu nở, rễ bông bắt đầu suy tàn và năng

lực hấp thụ của rễ giảm rõ rệt

Để đạt được năng suất cao cần có những biện pháp kỹ thuật tác động để tăng khảnăng hút dinh dưỡng của bộ rễ Các yếu tố ngoại cảnh như dinh dưỡng trong đất, thànhphần lý hóa tính đất, cần phải thuận lợi cho sự phát triển của bộ rễ

1.2 Thân và cành bông

Thân chính của cây bông cao từ 0,7 - 1,5 m tùy theo giống và điều kiện môi trường.Trên thân bông có 20-30 đốt, các lóng ở phần gốc và ngọn cây thường ngắn hơn ở giữa.Thân cây thường có lông, riêng loài bông hải đảo có thân nhẵn Thân thường có màuxanh hoặc đỏ tía, màu sắc thân đậm hay nhạt tùy theo tuổi cây và giống Người ta thấyrằng trong một giống bông, chiều cao của thân có xu hướng tương quan thuận với tiềmnăng năng suất Cây bông có hai loại cành là cành đực (monopodial) và cành quả(sympodial) Cành đực thường mọc từ đoạn thân sát đất, cành đực không trực tiếp rahoa, quả mà từ cành đực mới mọc ra các cành thứ cấp mang quả (chúng giống như thânchính) Cành quả là cành được mọc từ thân chính hay mọc từ cành đực

Nhìn chung có ba dạng cây bông khác nhau đó là cây có dạng cành đực(monopodian), cành quả (sympodian) và cành cấp 0 (không có cành quả) Tùy theo cácdạng cành khác nhau mà chúng tạo nên cây có dạng hình tháp, bụi hoặc trụ

Dạng cây cành đực: Là dạng cây đặc trưng cho các loài bông hoang dại hay một

số giống bông một năm ở vùng nhiệt đới Những cây có dạng cành này là loại bông cócành quả đầu tiên mọc ở nách lá thứ 13 - 30

Dạng cây cành quả: Những loài bông được thuần hóa và trồng trọt hiện nay chủyếu thuộc dạng cành quả và cành quả đầu tiên nằm ở nách lá thứ 3 - thứ 10 và các cành

Trang 14

đực hoàn toàn nằm ở nách lá dưới của những nách lá của cành quả đầu tiên Cành đực ởđây chỉ ra hoa và kết quả ở cành thứ cấp Số lượng cành đực trên cây thường do đặc tínhcủa giống quy định, tuy nhiên cây có thể tự điều khiển số lượng cành đực, nếu mật độgieo trồng dày thì số lượng cành đực ít Cành quả được hình thành từ nách lá phụ và rahoa, quả trực tiếp trên cành, cành quả mảnh dẻ và có dạng dích dắc Số lượng cànhquả/cây thường do giống quy định, thông thường có 20 - 25 cành quả/cây và cành dài 20

Thông thường lá bông có màu xanh, trong những trường hợp đột biến thì lá cómàu đỏ Hình dạng lá bông và diện tích lá ở các giống và loài khác nhau rất khác nhauvà đa dạng Thông thường, các loài bông trồng trọt có dạng lá xẻ thành 3 thùy nông, cácloài hoang dại có dạng lá xẻ thùy sâu

1.4 Nụ, hoa và quả bông

Nụ bông được ra trên cành quả Nụ bông xuất hiện cùng với cành quả thứ nhất

Nụ hình tháp cân được bao bọc bằng 3 lá bắc Thời gian từ khi hạt nảy mầm đến khi nụthứ nhất xuất hiện kéo dài 20 - 30 ngày tùy theo giống và điều kiện môi trường Thôngthường mỗi nụ được mọc ra từ một nách lá ở trên cành quả Những giống bông có kiểu

nụ mọc chùm hoặc mọc ở thân chính là những trường hợp được tạo ra do đột biến hoặc

do kết quả của sự kết hợp giữa những giống bông dạng cành quả bình thường với nhữnggiống bông có dạng cành cấp không

Hoa bông là loại hoa lưỡng tính, bao gồm các phần chính là nhụy, nhị, bầu và 5cánh hoa Hoa bông có nhiều đặc điểm đặc trưng cho giống và loài Cánh hoa và hạt

Trang 15

phấn hoa của 2 loài bông cỏ và hải đảo có màu vàng đậm, còn ở loài bông luồi có màutrắng sữa hoặc vàng nhạt Trong tràng hoa của loài bông hải đảo và 2 loài bông cỏ cóvết sắc tố antoxian (antocyanin - màu đỏ tía), còn ở loài bông luồi không có sắc tố này.Ở gốc hoa có tuyến mật Những đặc điểm trên của hoa bông nhằm để hấp dẫn côn trùnggiúp cho sự thụ phấn của hoa được dễ dàng Thời gian khi hạt nảy mầm đến khi hoa thứnhất nở kéo dài 45-70 ngày tùy theo giống và điều kiện môi trường

Hoa bông thường bắt đầu nở vào thời gian từ 7 - 9 giờ sáng tùy theo nhiệt độ vàẩm độ môi trường, nếu nhiệt độ cao thì hoa nở sớm Bình thường hạt phấn có sức sốngtốt trong 24 giờ kể từ sau khi hoa nở Sau khi hoa nở được 24 - 48 giờ thì quá trình thụtinh được hoàn thiện Bông được coi là cây tự thụ phấn, song tỷ lệ giao phấn chéo khácao 1-12%, thậm chí có thể lên tới 20%

Quả bông thuộc loại quả nang, được hợp thành bởi 3 - 5 lá noãn, mỗi lá noãnchiếm một phòng của quả Vỏ quả có chứa hạch độc và diệp lục, song khả năng quanghợp của vỏ quả hầu như không có Khối lượng của quả bông thường đạt 3-6 g, thôngthường các giống thuộc loài bông luồi có khối lượng quả lớn nhất, tiếp đến loài bông hảiđảo và sau cùng là bông cỏ Loài bông cỏ châu Á, châu Phi và hải đảo có dạng quả dàivà đầu quả nhọn hơn so với loài bông luồi Quả bông có từ 3-5 múi, các múi bông cóhạt bông và xơ dính quanh hạt Quả bông có hình cầu, khi chín các múi bung ra

1.5 Hạt bông

Hạt bông có màu nâu đen và hình bầu dục, nhọn một đầu, bao gồm lông áo, vỏ vànội nhũ Lông áo là phần ngoài cùng bám vào vỏ hạt và có màu trắng nhạt hoặc nâuvàng Mức độ lông áo đặc trưng cho các loài bông trồng trọt hiện nay Các giống thuộcloài bông cỏ và bông luồi thường có lớp lông áo dày, loài bông hải đảo thường có lôngáo rất mỏng, thậm chí không có lông áo (hạt nhẵn) Khối lượng hạt bông là một chỉ tiêuquan trọng để đánh giá chất lượng của hạt và cấu thành nên tỷ lệ xơ của giống Thôngthường khối lượng 100 hạt của các giống thuộc loài bông hải đảo là 8 - 10 g, của 2 loàibông cỏ là 7 - 8 g và của loài bông luồi là 8 - 13g Trên cùng một cây thì quả ở gần thânchính và gần gốc có khối lượng hạt lớn hơn khối lượng hạt ở những quả tại các vị tríkhác trên cây

1.6 Xơ bông

Xơ bông là sản phẩm chính của cây bông Cùng với năng suất, sự phát triển của sảnxuất bông phụ thuộc rất lớn vào phẩm chất xơ bông Phẩm chất xơ bông rất khác nhau ở

Trang 16

mỗi giống cũng như ở các loài, thông thường các giống thuộc loài bông hải đảo có phẩmchất xơ tốt nhất, tiếp đến loài bông luồi và cuối cùng là 2 loài bông cỏ châu Á và châu Phi.Tuy nhiên, xơ của mỗi loài bông có vai trò khác nhau trong việc sản xuất các sản phẩmkhác nhau không thể thay thế cho nhau được Xơ bông được hình thành chủ yếu từ xenlulô(90%), ngoài ra còn một tỷ lệ rất thấp các chất khác chiếm 10%.

Bản chất của xơ bông là một tế bào có dạng hình ống dẹp, rỗng giữa chứa đầy chấtnguyên sinh, được sinh trưởng từ tế bảo biểu bì ngoài của vỏ hạt, có độ dài bằng 1000 -

5000 lần so với bề rộng của nó Xơ bông chín có dạng xoắn hình ống, từ ngoài vàotrong có 3 lớp: Lớp biểu bì bằng cutin, lớp sơ cấp và lớp thứ cấp, trong cùng là mộtkhoang rỗng

Một cấu trúc điển hình của xơ bông là hệ thống rỗng bao gồm nhiều lỗ nhỏ tạothành dạng xốp như tổ ong Đặc tính cấu tạo tự nhiên này của xenlulô tạo nên tính hút,bám và trơ đối với độ ẩm, không khí, của xơ bông Cấu tạo ở hệ thống tổ ong này khácnhau ở các giống, loài là một trong những nguyên nhân tạo nên tính chất cơ lý của xơkhác nhau giữa các giống, loài

Một cấu trúc quan trọng khác nữa của xơ là sự đồng đều kết dính với nhau giữa cácmắt xích phân tử trong các vi sợi, tạo nên tính bền của xơ tạo nên khả năng co giãn và tínhdẻo của sợi được kéo từ xơ bông tự nhiên Sự sắp xếp có định hướng của các phân tử quyếtđịnh đến độ xoăn các vi sợi trong lớp thứ cấp của xơ và ảnh hưởng đến độ bền và sức căngcủa xơ bông

2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI CỦA CÂY BÔNG

Bông là cây trồng cạn ưa nóng có nguồn gốc từ những vùng khác nhau trên thế giớitùy theo loài, song chúng đều xuất xứ ở các vùng có khí hậu nhiệt đới hoặc á nhiệt đới.Mặc dù có nguồn gốc xứ nóng, song hiện nay bông được trồng trải dài từ 47 - 48 vĩ độBắc (Bắc Biển Đen) đến 30 vĩ độ Nam, gần Narrabri- Úc và Áchentina Hơn 50% diệntích bông được trồng từ 30 vĩ độ Bắc trở lên Điều này đã nói lên tính thích nghi rộngcủa cây bông Tuy nhiên, hiện nay những vùng có năng suất bông cao đều là nhữngvùng có khí hậu lục địa và bông được trồng trong điều kiện có tưới, thâm canh cao vàtrên các loại đất trung tính (pHKCl = 6,5 - 7,5) có kết cấu viên bền vững, thoát nước tốt

2.1 Yêu cầu về nhiệt độ của cây bông

Để cho cây bông sinh trưởng và phát triển bình thường, kể cả giai đoạn nảy mầm,nhiệt độ không khí tối thích là 25 - 300C Yêu cầu tổng tích ôn của cây bông biến động từ

Trang 17

15600C - 20000C tùy theo giống Nếu nhiệt độ thấp hơn 250C thì cây bông sinh trưởngchậm lại và gần như ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ giảm xuồng 170C Nhiệt độ tối thiểu

để cho hạt nảy mầm là 120C và để hình thành lá sò là 160C Nếu nhiệt độ cao (37-400C)thì cây bông ngừng sinh trưởng Nhiệt độ cao ảnh hưởng mạnh nhất ở giai đoạn cây bông

ra hoa rộ, trong những ngày mùa hè cây bông chủ yếu phát triển vào ban đêm khi nhiệt độđã giảm xuống Tuy nhiên, vẫn có những loài bông hoang dại có thể phát triển được trongđiều kiện nhiệt độ 400C, những loài bông này nhiệt độ tối cao cho chúng là 450C

Nếu nhiệt độ vượt khỏi nhiệt độ tối ưu ở giai đoạn cây bông ra nụ - giai đoạn đầucủa chu kì sinh trưởng phát triển thì cây bông sinh trưởng nhanh hơn so với ở điều kiệnnhiệt độ tối thích, tuy nhiên cây bông có thể xuất hiện một số biến thể về hình thái như

vị trí ra cành quả thứ nhất thấp hơn hoặc số lượng cành đực/cây tăng hơn Nhiệt độ caohơn nhiệt độ tối đa của cây cũng làm giảm khả năng thụ phấn, trong trường hợp này quảbông thường rụng nhiều và có nhiều hạt lép Nếu nhiệt độ cao hơn 400C thì hạt phấn mấtkhả năng thụ phấn hoàn toàn

Nhiệt độ môi trường cao hay thấp ảnh hưởng rất lớn đến quá trình quang hợp, hôhấp, khả năng hút dinh dưỡng và vận chuyển các chất trong cây dẫn đến thực tế là thúcđẩy hoặc làm chậm lại sự sinh trưởng và phát triển của cây bông Nhiệt độ cao hay thấpcũng ảnh hưởng đến sự hình thành xơ bông Trong giới hạn nhiệt độ không khí tối thíchcho sự sinh trưởng của cây bông, nếu nhiệt độ tăng thì sự sinh trưởng về chiều dài xơkém, song sự sinh trưởng về bề rộng của xơ được tăng lên

2.2 Yêu cầu về ánh sáng của cây bông

Bản chất của cây bông là ưa ánh sáng, không chịu được rợp, trong một ngày lábông luôn thay đổi vị trí để làm cho phiến là vuông góc với hướng của ánh sáng mặt trời

để lá nhận được nhiều ánh sáng Ánh sáng được coi là yếu tố sống còn đối với sự sinhtrưởng và phát triển của cây bông

Trong điều kiện thiếu ánh sáng, cường độ quang hợp của cây giảm, cây bông sinhtrưởng và phát triển chậm và vóng, thời gian phát dục qua các giai đoạn kéo dài, nụ, hoavà quả rụng nhiều

Thời gian chiếu sáng trong ngày cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triểncủa cây bông Cây bông sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện đêm dài và ngàyngắn Trong điều kiện ngày dài, cây bông phát triển chậm và bước vào giai đoạn sinh

Trang 18

trưỏng sinh thực chậm so với điều kiện ngày ngắn Ngược lại, thời gian chiếu sáng trongngày dài, cây bông phát triển nhanh và bước vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực sớm

2.3 Yêu cầu về nước của cây bông

Nghiên cứu về nhu cầu nước của cây bông, nhiều tác giả đã ví bông là cây “chânướt đầu khô”, điều đó cho thấy cây bông cần nhiều nước cùng với ẩm độ không khí thấpcho sinh trưởng và phát triển của mình, tuy nhiên, bông là cây chịu hạn tốt Để sinhtrưởng và phát triển bình thường và cho năng suất cao thì cây bông đòi hỏi phải có chếđộ nước thích hợp

Trong chu kỳ sinh trưởng, cây bông cần 500 - 800m3 nước/ha Nhu cầu nước củacây bông khác nhau ở những giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây Khi diện tíchquang hợp của lá còn ít (giai đoạn trước khi cây có nụ), bình quân 1 ha đất trồng bôngcần 10 - 12 m3 Nhu cầu nước của cây bông tăng nhanh và cao ở giai đoạn cây có hoa vàhình thành quả (giai đoạn nụ 1 ha cần 30 - 35 m3, giai đoạn hoa nhu cầu này là 90 - 100

m3 và nhu cầu nước giảm đi ở giai đoạn nở quả là 30 - 40 m3/ha) Những vùng có lượngmưa thấp hơn 500 mm/6 tháng chỉ có thể trồng được bông nếu có tưới

Tuy cây bông cần nhiều nước nhưng lại không chịu úng Khi bị úng, đất thiếu oxy, sự

hô hấp của rễ bị trở ngại, quá trình trao đổi ion bị đình trệ, rễ ngừng sinh trưởng và chết.Cây bông yêu cầu độ ẩm không khí thấp Nếu độ ẩm không khí cao, nấm bệnh dễxâm nhiễm, phát triển làm cho cây bông dễ bị rụng nụ, rụng đài, quả bông dễ thối, chínmuộn và khó nở quả

2.4 Yêu cầu về đất đai và dinh dưỡng của cây bông (trình bày chuyên đề riêng)

BÀI 2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CÂY BÔNG DÙNG LÀM CƠ SỞ CHO KỸ THUẬT CANH TÁC BÔNG

1 Sinh lý hạt bông

* Hạt bông: Hạt màu nâu đen hình bầu dục nhọn một đầu Cấu tạo hạt bông gồm:

- Lông áo

- Vỏ

- Nhân Nội nhũ Phôi

Lông áo là lớp xơ ngắn bao quanh vỏ hạt Cũng từ vỏ hạt các tế bào biểu bìngoài phân hóa ra tế bào xơ bông chiếm 31-40%/trọng lượng bông hạt

Trang 19

Thành phần hóa học của hạt bông:

Hạt bông khi gia công thu được:

Vỏ hạt 32% Dầu bông 18% trọng lượngTrọng lượng 100 hạt: Bông cỏ 5-7 gam

Bông luồi 8-13 “ Hải đảo 8-10 “

* Giai đoạn ngủ nghỉ và nảy mầm

Hạt bông mới thu hoạch xong có năng lực và sức nảy mầm thấp, vì trong nhữnghạt bông đó có một số chất làm cản trở sự nảy mầm của hạt, mặt khác sự chín của hạtgiống bông chưa đạt mức độ cao (chưa hoàn toàn chín) Thí dụ: Acide absisic vàParacunaric tồn tại trong vỏ hạt Các thí nghiệm cho thấy, nếu loại bỏ vỏ hạt thì sự nảymầm hạt bông đến sớm hơn thường lệ, hoặc nếu tác động liên tục lên hạt bông trongnhững ngày ở nhiệt độ 50oC thì cũng làm cho sự nảy mầm đến sớm, vì quá trình nàylàm cho các chất cản trở bị loại trừ Trong khi bảo quản trong điều kiện thích hợp thìcũng làm cho hàm lượng các acide này giảm xuống đáng kể

Trong hạt bông độ ẩm thường là 7% nước Qua kết quả nghiên cứu của nhiềunước cho thấy, với lượng nước trong hạt bông như trên, trong điều kiện 20-32oC thì

sự nảy mầm có thể bảo quản được đến tháng thứ 28

Nếu ẩm độ hạt 14% và nhiệt độ 21oC thì sau 17 tháng sẽ hoàn toàn mất khảnăng nảy mầm, nhiệt độ 32oC thì sau 4 tháng khả năng nảy mầm mất hoàn toàn.Nguyên nhân là do độ ẩm cao kết hợp với sự tăng nhiệt độ dẫn đến sự giảm đột ngộthàm lượng đường, các chất chứa phospho, các Nuclotit, protein và các vitamin, và sựtăng lên của các acid béo tự do Ví dụ: ở trong hạt bông có độ ảm 15% thì hàm lượngacide béo tự do tăng lên 24 lần so với hạt có độ ẩm 7%

Trong thời gian bảo quản 1-2 năm, trong hạt bông hàm lượng một số Aminoacide tăng lên (Cerin, Sistin) và acide Asparagin và Glutamic cũng tăng lên 2 lần

Trang 20

Nhiều loại protein có hoạt tính men hoàn toàn mất đi, những điều tra nêu trên chothấy đó là những nguyên nhân làm cho sự nảy mầm của hạt giống giảm đi trong quátrình bảo quản.

Chúng ta thấy rằng sự hút nước của bất kỳ loại hạt giống nào cũng phụ thuộc vào

2 yếu tố chính: Hàm lượng nước trong hạt và độ ẩm không khí nơi cất giữ hạt giống.Vấn đề bảo quản đòi hỏi phải thiết lập được sự cân bằng độ ẩm có thể được Vớiđộ ẩm không khí cao, mà hạt giống có độ ẩm thấp, đương nhiên phải có sự hút nước,và sự cân bằng đó bị phá vỡ, trong hạt xuất hiện nước tự do và các quá trình trao đổităng nhanh Lượng nước trong hạt tăng lên đến 12-13%, sự hô hấp bắt đầu tăng lên,quá trình trao đổi tăng nhanh chóng, dẫn đến mất sức nảy mầm của hạt giống Nếubảo quản ở điều kiện có ẩm độ không khí 70% thì sau tháng thứ 20 khả năng nảymầm bị mất, Ngược lại, trong điều kiện tối ưu với độ ẩm 20% khả năng nảy mầm cóthể bảo quản đến tháng thứ 70 Rõ ràng rằng độ ẩm trong quá trình bảo quản ảnhhưởng lớn đến sự nảy mầm của hạt giống bông

Nếu đối với hạt sử dụng vào quá trình công nghiệp khác (ép dầu,…), để tránh mấtcác chất dinh dưỡng tiêu tốn vào quá trình hô hấp, thì hạt bông cần phải đem sấy khô.Đối với hạt giống thì không được sấy, mà phải được phơi vài nắng nhẹ

Các yếu tố ngoại cảnh chính cần thiết cho sự nảy mầm

* Nước: Nước tham gia vào nhiều phản ứng hóa học xảy ra trong hạt giống và

là môi trường để tồn tại các hoạt động sống của cây, nó là yếu tố ngoại cảnh cần thiết

để “Đánh thức” hạt giống sau một chu kỳ sinh trưởng (Seed to seed)

Sự hút nước chủ yếu qua mocropile (đầu nhỏ) và Khalaza (đầu to) của hạt,ngoài ra nước cũng được thấm qua vỏ hạt Sự hút nước của hạt phụ thuộc vào thànhphần của hạt (các chất hòa tan trong nước như đường, acid hữu cơ, acid amin, tinhbột, protẻin, xenlulo, lipit, karotin…)

* Nhiệt độ: Nhiệt độ là yếu tố tạo điều kiện cho sự xâm nhập của nước vào hạt.

Ví dụ: ở nhiệt độ 15oC độ ẩm của hạt có thể đạt 50% sau 48-60 giờ, và nếu ở nhiệtđộ 30oC thì độ ẩm trên có thể đạt sau 24-36 giờ

Đối với cây bông nhiệt độ trung bình tối thiểu để hạt bắt đầu nảy mầm là 12-14oC, tuynhiên có những giống nhiệt độ này thấp hơn; nhiệt thích hợp cho nảy mầm là 25-30oC

Trang 21

* Oxy: Ngoài nước và nhiệt độ hạt giống còn cần oxy cho quá trình nảy mầm Sự

thiếu oxy thường xảy ra trong các trường hợp hạt bông gieo bị mưa to hoặc mưa kéodài tạo nên váng bề mặt hoặc giống được gieo sâu trong điều kiện khu ruộng ẩm ướt.Thiếu oxy, trong hạt hình thành rượu Etylic (acid lactic) và các sản phẩm thảikhác gây độc hại cho sự nảy mầm của hạt bông

Các biện pháp tăng khả năng nảy mầm

Tuy với kích thước và trọng lượng bé, nhưng hạt bông chứa đầy đủ nhữngthành phần cần có của hạt giống để chờ điều kiện thuận lợi phát triển thành cá thểhoàn toàn độc lập về mọi mặt Tuy nhiên, không phải tất cả mọi hạt đều được nảymầm, mà nguyên nhân không nảy mầm đó rất đa dạng và phức tạp đã được các nhànghiên cứu tổng hợp như sau:

- Có một số hạt cứng như đá, các giống Tashkent, cản trở sự xâm nhập củanước vào hạt, làm cho hạt chậm hoặc kém nảy mầm Để khắc phục nguyênnhân trên người ta sử dụng phương pháp xử lý nước nóng 100oC trong vàigiây (làm cho vỏ hạt nứt ra) hoặc xử lý bằng rượu Etylic và Axeton trong2-3 phút (các chất cản trở xâm nhập của nước vào hạt sẽ hòa tan trongrượu và axeton)

- Kích thước và trọng lượng riêng của hạt giống không đồng đều, do vậy sựnảy mầm của chúng cũng không đồng đều

Để tăng khả năng nảy mầm hạt giống phải được chọn lọc phân loại theo trọnglượng riêng Hạt giống có trọng lượng lớn có nghĩa là có chứa nhiều protein, lipit vànhiều chất khác cần thiết cho sự nảy mầm Tất nhiên chúng sẽ nảy mầm tốt hơn cáchạt giống có trọng lượng bé hơn Nếu loại có trọng lượng hạt lớn nảy mầm 95% thìloại hạt có trọng lượng trung bình đạt 92% và loại hạt nhẹ chỉ đạt 73% Có thể dùngdung dịch Nitrat amôn (NH4NO3) với trọng lượng riêng: 1; 1,04; 1,07; 1,12; 1,14 và1,16 để tách hạt giống Hạt nào nhẹ hơn nổi lên trên sẽ không dùng làm hạt giống(phương pháp này hơi khó làm)

* Bằng biện pháp canh tác cũng có thể tăng khả năng nảy mầm của hạt giống:

- Canh tác lô bông giống trên nền đầy đủ dinh dưỡng, tạo đều kiện cho hạtbông chứa đầy đủ các chất hữu cơ và chất khoáng Đây là yếu tố cần thiết cho hạtnảy mầm Theo tài liệu nhiều nước cho thấy rằng canh tác bông trong điều kiện thiếuphospho thì trong các bộ phận tạo quả chứa ít phospho (0,3%), nếu thu làm hạt giống

Trang 22

thì tỷ lệ nảy mầm thấp (không đáng kể) Ngược lại, nếu trong bộ phận tạo quả cóchứa 0,8% phospho thì hạt giống nảy mầm bình thường.

- Độ sâu lúc gieo hạt cũng là một yếu tố quyết định sự nảy mầm của hạt giống.Gieo nong trên bề mặt hạt thiếu ẩm, ngược lại gieo quá sâu hạt thiếu oxy và thừa ẩm

Trường hợp gieo quá sâu, sự trao đổi khí giữa hạt đang nảy mầm và không khí bịphá vỡ, trong đất hàm lượng acid cabonic tăng lên và oxy giảm, phá vỡ các quá trìnhchuyển hóa các chất dinh dưỡng, tạo thành nhiều chất độc làm cho hạt chết Do đó, độsâu khi gieo hạt phải thích hợp (phần này trình bày ở phần kỹ thuật canh tác bông)

2 Các giai đoạn phát triển của cây bông

* Giai đoạn nảy mầm (từ khi nảy mầm đến xòe lá mầm): 4-7 ngày.

Hạt tốt rồi chưa đủ, muốn mọc nhanh, mọc đều phải có nhiều điều kiện khác

mà cơ bản nhất là nhiệt, ẩm và oxy.

- Nhiệt: Tốt nhất 25-30oC, dưới 10oC và trên 40oC hạt hầu như không mọc,55-60oC mà ẩm thì hạt chết

- Độ ẩm: 90% độ ẩm (giữ nước) của đất.

- Oxy: Cần nhiều, đất nặng gieo xong gặp mưa, đất đóng váng là hạt không

* Giai đoạn cây con (từ khi xòe hai lá mầm đến khi có nụ): 24-36 ngày.

Giai đoạn này là giai đoạn rễ được phát triển ưu tiên và cuối giai đoạn cành vàlá mới bắt đầu phát triển

a) Cũng như các sinh vật cao cấp, đây là giai đoạn thơ ấu, cây bông rất mẫncảm với điều kiện ngoại cảnh và nếu phát triển không tốt ảnh hưởng rất lớn đến sinh

trưởng về sau Điều kiện để phát triển tốt là: Nước, oxy, dinh dưỡng đủ.

Điều kiện tối thích lúc này là: nhiệt độ đất > 20oC, nhiệt độ không khí 25-30o

C Đất đủ ẩm, thoáng, không được bão hoà nước Từ nẩy mầm-ra lá thật đầu tiên,

Trang 23

nếu trời ấm (25oC), ẩm thì hết 5-6 ngày, nếu trời lạnh (nhiệt độ < 15oC) kéo dài 15

-16 ngày và sau đó cứ 2 - 6 ngày ra 1 lá thật

Thiếu nước, thiếu oxy cỏ lấn hoặc tỉa không kịp thời cây chen chúc Thiếu dinhdưỡng làm cho cây còi cọc, ảnh hưởng rất lớn đến các giai đoạn sau

Các biện pháp kỹ thuật cần chú ý trong giai đoạn này là:

- Tỉa kịp thời

- Làm cỏ sớm

- Xới

- Chỉ tưới nước khi cần và tưới nhẹ, và không để úng

b) Thường ở đốt thứ ba (lá thật thứ 3) có khi sớm hơn như ở bông cỏ đốt thứ 2 bắtđầu ra cành và thường là cành đực, có khi là cành quả (giống không cành đực) Phânbiệt cành đực với cành quả chủ yếu ở chỗ cành đực không trực tiếp ra hoa

Sau khi ra 1-2-3, có khi tới 12-14 cành đực (như ở bông Ba Ghe) thì đến cáccành quả Từ thấp lên cao cành quả dài thêm, có nhiều đốt (hoa) hơn, đến mức tối đa

ở cành thứ 4-7 rồi sau đó lại ngắn dần (tán cây hình thoi) Cành quả có nhiều loạihình 0, 1, 2, 3, 4, cũng khi do ảnh hưởng của ngoại cảnh, sau khi ra một số cành quảrồi, cây bông lại ra 1-2 cành đực phía trên (nhiệt độ, phân bón) Đó là biểu hiện sinhtrưởng mạnh hơn phát dục

Ở nách cành quả, ở nhiều giống còn có cành phụ, cành phụ có thể là một cànhđực (lá), một cành hoa hoặc một hoa

Mục đích của trồng bông là ra nhiều hoa quả, vậy cây bông ra nhiều cành lá, cànhnách thì không có lợi Nhiều cành lá khó phun sâu, quang hợp kém, rụng quả nhiều.Muốn có nhiều quả ít lá phải chọn giống, bón phân tưới nước hoặc tháo nước đúngcách, có khi phải can thiệp một cách cơ giới (đánh cành lá), bấm ngọn…

* Giai đoạn nụ-hoa (25-35 ngày) và ra hoa rộ

a) Từ nụ đến hoa trong điều kiện miền Nam chỉ 20-25 ngày và nếu tính từngày gieo đến khi nở hoa đầu tiên chỉ cần 55-60 ngày, sau đó hoa cứ tiếp tục nở mãivà trong thời gian này trên cây bông luôn luôn có hoa, quả non, quả già Thời gian

cây bông có hoa có thể kéo dài 2 tháng, nhưng cũng có thể rút ngắn lại 1 tháng hay

hơn một chút bằng cách chọn giống, điều tiết nước, phân, trừ sâu tốt Rút ngắn thời

Trang 24

gian bông có hoa rất lợi vì thời gian này cây bông rất mẫm cảm với sâu nhất, côngtrừ sâu và chăm sóc khác sẽ giảm đi nếu ra hoa qủa tập trung.

b) Trình tự nở hoa: hoa nở dần theo trình tự xuất hiện nụ từ dưới lên trên (1-2ngày) và từ trong ra ngoài (5-6 ngày) Cần chú ý quy luật này vì chất lượng xơ bôngtuỳ thuộc nhiều vào vị trí quả bông trên cây Ở Thanh Hóa, Vũ Công Hậu đã nghiêncứu kỹ ảnh hưởng của vị trí đến chất lượng trên những cây bông thuộc giống QuầyVịt (xem sách Kỹ thuật trồng bông trang 57) Nói vắn tắt: “Trừ vài quả ở sát gốc dođộ ẩm cao, đất cát dính vào, bông thu hoạch những lứa đầu (bông gốc) là nhữngbông tốt nhất về chất lượng hạt cũng như chất lượng xơ

c) Quy luật nở hoa thụ phấn: Nụ hoa chiều hôm trước phồng lên, sáng hôm saukhoảng 7-9 giờ thì nở Hoa to, màu sặc sỡ, có nhiều tuyến mật nên hấp dẫn côn trùng

mang phấn ở cây bông khác tới Như vậy, côn trùng , không phải là gió , là môi giới thụ phấn Tỷ lệ ngoại hoa thụ phấn khá cao (2-3 đến 20%), do đó gen hình của cây

bông không ổn định, khác với các cây tự hoa thu phấn chặt chẽ như lúa, đậu và cáccây này gen hình ổn định, độ đồng đều cao hơn

Mặt khác, công nghiệp se sợi, dệt vải bằng xơ bông hiện nay rất hiện đại, đòihỏi xơ bông phải đồng đều về nhiều tính năng (độ bền, độ mịn, độ chín, độ đềuxơ…) nên bắt buộc phải có giống bông thuần, và đảm bảo độ thuần cho giống bôngkhó hơn ở những cây tự hoa thụ phấn

Muốn cho giống bông thuần, khó có thể ngăn cản ong, bướm đến lấy mật hoabông (ở trại thí nghiệm phải buộc túi từng hoa một) Phương pháp đơn giản là chỉtrồng một giống Ong, bướm có mang phấn hoa lạ đến thì cũng là phấn hoa của cùnggiống bông đó, do đó vẫn bảo đảm được độ thuần

d) Thụ phấn tốt thì đậu quả Không đậu quả thì hoa rụng, ta gọi là rụng đài,nếu rụng thì quả non rụng từ ngày thứ 2-3 đến ngày thứ 10 kể từ khi hoa nở, saungày thứ 10 nếu quả không rụng thì coi như quả đã đậu

Tỷ lệ rụng đài ở cây bông thường cao, do đó phải tìm cách hạn chế Trước hếtnếu bị sâu ăn nụ, hoa, hay quả non thì đài thế nào cũng rụng Điều kiện tự nhiên ảnhhưởng nhiều nhất đến rụng đài là độ ẩm không khí cao, hoa nở gặp trời mưa đầu, đấtqúa tốt, bón nhiều phân đạm bông bốc lá Cũng có giống bông rụng đài nhiều, giốngbông rụng đài ít Ví dụ bông luồi rụng nhiều hơn bông hải đảo Giống chín muộnthường rụng nhiều hơn giống chín sớm

Trang 25

Đứng về mặt kỹ thuật canh tác, bắt đầu từ khi hoa nở, và đặc biệt trong khi nởhoa là thời kỳ nhựa lưu thông mạnh, nhựa sống được hút từ đất qua rễ lên cành lá, chấtdinh dưỡng tập trung vào hoa, quả non, rất hấp dẫn đối với sâu Thời kỳ này phải chú ý:

- Nụ, hoa nhiều, quả non nhiều, tập trung nhiều sâu đục quả, nhất là sâu xanhrất phàm ăn nên phải rất cảnh giác trong việc phòng trừ sâu

- Nước cần phải đầy đủ, tuyệt đối không để cho ruộng bông bị hạn, phải tướinhiều nhưng thoát nước cũng phải nhanh, nếu bị úng cũng như bị hạn, đài sẽrụng hàng loạt

- Quang hợp mạnh, cần ánh sáng, cần thoáng, không để cho bông bốc lá vànếu nhiều lá quá có thể phải bấm ngọn, đánh lá, nhưng chú ý không đánh láquá nhiều, “chột” cây bông

* Giai đoạn quả nở

a) Từ khi hoa nở đến khi quả nở phải mất một thời gian từ 42-55 ngày tuỳgiống, tuỳ quả to nhỏ Nếu tính từ khi gieo qua các giai đoạn phát dục, trong điềukiện thuận lợi, phải mất một thời gian như sau:

- Gieo – mọc 4-7 ngày

- Hoa – nở quả 42-55 “

99-133 ngày

Còn 40-50 ngày nữa quả tiếp tục nở hết rồi nhổ cây

Sau khi thụ phấn tốt, đài không rụng thì quả bông lớn dần

Nửa thời gian đầu 20-25 ngày quả lớn rất nhanh nhưng vẫn còn mầm non, sâuxanh, sâu loang rất thích ăn, sâu hồng cũng hay đến đẻ

Cũng nửa thời gian đầu xơ bông (tế bào lớp ngoài của biểu bì hạt) dài ra rấtnhanh nhưng vỏ xơ còn mỏng

- Nước và nắng là hai yếu tố cần thiết nhất cho bông lúc này, nhưng càng về

sau nước càng ít đi và nắng càng cần nhiều hơn

Trang 26

b) Khi quả đã già, thành thục hoàn toàn thì vỏ quả mất nước co lại, trụ giữa bịlinhin hóa cứng, không co được nên bị sức kéo của vỏ kéo vỡ thành 4-5 mảnh tùytheo số Carpel múi, múi bông bị phơi ra nhưng còn dính vào mảnh vỏ quả.

Xơ bông khô đi và nở bồng lên, múi bông dính nhiều hay ít vào vỏ, nở tốt hay

xấu tùy giống nhưng cũng tùy vào thời tiết, nhất là nắng và khô.

Có những giống bông quả nở ít hoặc phải bóc vỏ để lấy bông ra, có nhữnggiống bông hễ chín thì múi bông rơi xuống đất

Vậy phải tùy giống mà xác nhận thời gian thu hoạch nhưng nói chung, phải đểbông nở toác chỉ nhặt lấy múi, không bứt cả quả về rồi mới gỡ múi, bỏ vỏ, nhưngcũng không nên để lâu quá trên cây, xơ kém phẩm chất do bụi, nắng gió, rệp và bọchích hút châm vòi vào hạt

BÀI 3 ĐẤT TRỒNG BÔNG TẠI TÂY NGUYÊN

1 Lý tính đất

Cây bông có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau Tuy nhiên, bông sinh trưởngtốt trên những loại đất có nhiều màu, có cấu tượng viên bền vững, thành phần cơ giớitrung bình, thoát nước tốt, tầng canh tác dày Mặt khác, cây bông chịu úng kém, do đóđất trồng bông phải có địa thế cao ráo và có mực nước ngầm trong đất 1,0-1,5 m làthích hợp

Trang 27

Đất trồng bông không được đọng nước, úng thủy trong thời gian cây sinhtrưởng Do đó, chỉ có các loại đất cao như các nhóm đất đỏ Latosol, đất vàng đỏpodzolic, đất xám podzolic, đất giồng, đất đen, đất phù sa không ngập nước cạnh các

bờ sông mới có thể gieo bông được đầu mùa mưa Những đất thoái hóa, tầng đá ongdày, lại ở gần mặt đất không thích hợp cho bông

Ở vùng Tây Nguyên, đất có ưu điểm nổi bật về mặt lý tính Mặc dù có thànhphần sét cao (>50%) nhưng lại rất thoáng khí Chế độ nước và khí của đất đỏ bazanlà một mẫu hình tuyệt vời cho sự dung hòa có lợi cho sự phát triển của cây trồng

Ở nước ta nói chung các loại đất phù sa ven sông (Eutric Fluvisols), đất cát đỏ (Rhodic Arenosols), đất nâu (Haplic Lixisols) và các loại đất trồng hoa màu thoát

nước tốt đều rất thích hợp để trồng bông Ở vùng núi Tây Nguyên, các loại đất đen

(Luvisols), đất xám (Haplic Acrisols), đất đỏ bazan (Rhodic Ferralsols) trên các chân

đất đồi dốc, thoai thoải rất thích hợp cho việc trồng bông trong vụ mưa

2 Hóa tính đất

Tại vùng bông Tây Nguyên, cây bông thường được trồng trên 3 loại đất chính,đó là: đất đen, đất đỏ bazan và đất xám

+ Đất đen (Luvisols): Đây là loại đất có diện tích khá lớn Loại đất này có độ

chua và hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng thích hợp cho sinh trưởng của câybông Cây bông trồng trên loại đất này thường cho năng suất cao và ổn định; ngoài ranó còn không bị cạnh tranh với các loại cây công nghiệp dài ngày

+ Đất đỏ Bazan (Rhodic Ferralsols): Loại đất này phần lớn là đất chua, nghèo

Cation trao đổi Cây bông trồng trên loại đất này thường có hiện tượng chết cây consau khi mọc, cây còi cọc và năng suất không cao Hơn nữa, cây bông thường xuyên

bị cạnh tranh bởi các cây công nghiệp dài ngày

+ Đất xám (Haplic Acrisols): Đây là loại đất nghèo dinh dưỡng Cây bông

trồng trên loại đất này không bị cạnh tranh với các cây trồng khác nhưng thường chonăng suất và hiệu quả kinh tế kém

Một số đặc tính lý hóa chính của đất trồng bông vùng này có thể được tóm tắtnhư sau:

Bảng 3 Tính chất hóa học của đất trồng bông chính vùng Tây Nguyên.

Trang 28

3. Mg++ (mE /100 gr đất) 1,02 1,08 8,06

5. Lân dễ tiêu (mg P2O5 /100 gr đất) 8,38 9,21 13,20

6. Kali dễ tiêu (mg K2O /100 gr đất) 10,54 18,85 30,92

3 Tiêu chuẩn đất trồng bông

Để mở rộng diện tích và nâng cao năng suất bông ở Việt Nam, hàng loạt cácvấn đề kỹ thuật đã được đặt ra; trong đó, đất đai cũng đang là yếu tố hạn chế năngsuất và hiệu quả kinh tế của cây bông Môi trường hóa học đất không thích hợp đanglà vấn đề lớn, hạn chế việc mở rộng diện tích và nâng cao năng suất bông

Kết quả nghiên cứu về đất đai và dinh dưỡng cho cây bông ở Việt Nam chothấy, sinh trưởng và năng suất bông luôn có tương quan thuận với trị số pHKCl củađất, tổng các cation trao đổi, độ no bazơ, hàm lượng lân và kali dễ tiêu trong đất.Ngược lại, sinh trưởng và năng suất bông luôn tồn tại tương quan nghịch với độ chuathủy phân, độ chua trao đổi và đặc biệt là hàm lượng nhôm di động trong đất Đồngthời, các nghiên cứu cũng đã xác định được một trong những tiêu chuẩn chính đểchọn đất trồng bông, đó là:

+ Trên đất có pHKCl < 4,5 và hàm lượng Al3+ > 3,5 mg /100g đất thường xảy rahiện tượng chết cây bông con

+ Những loại đất có hàm lượng nhôm di động trong khoảng từ 1 đến 3,5 mg /100

g và pHKCl gần bằng 4,5 thì cây bông có thể sống nhưng còi cọc và ít có khả năng chonăng suất

+ Trên đất có pHKCl > 4,5 và hàm lượng Al3+ < 1 mg /100 g đất, cây bông cókhả năng sinh trưởng và phát triển tốt

Kết luận:

1 Năng suất bông hạt luôn có mối tương quan nghịch với các chỉ tiêu độ chuavà tương quan thuận với các chỉ tiêu về độ bão hòa các bazơ, hàm lượng kali, lân dễtiêu và canxi trao đổi cũng như mùn tổng số Tuy nhiên tùy loại đất và hóa tính củanó mà có thể yếu tố này hay yếu tố kia trở thành quan trọng hơn

2 Sự phản ứng của cây bông đối với các chỉ tiêu hóa tính đất cho thấy cây bôngrất ưa đất gần trung tính và hơi kiềm Các loại đất trẻ ít bị rửa trôi, đất phù sa mới,đất có đá mẹ giàu các nguyên tố kiềm, đất vùng khô hạn là những loại đất thích hợpcho cây bông Ngược lại các loại đất bị rửa trôi mạnh, đất chua, nghèo các nguyên tốkiềm và kiềm thổ không thích hợp cho việc trồng bông

Trang 29

3 Hiện tượng cây bông con chết hàng loạt là do đất bị rửa trôi mạnh, làm nghèohầu hết các cation kiềm và kiềm thổ, đồng thời làm tăng độ chua và nhôm di độngtrong đất, gây độc cho rễ cây.

4 pH thấp chỉ là một biểu hiện của đất bị rửa trôi hoặc bị khai thác mạnh.Ngoài ra sự suy giảm canxi, magie, kali trao đổi, lân dễ tiêu, độ no bazơ và sự tănglên của nhôm di động trong đất là các biểu hiện đồng thời của loại đất này mà tùytheo mức độ có thể từ làm giảm năng suất đến làm chết cây bông con ngay từ khimới mọc

5 Đối với đất phát triển trên bazan ở Đắc Lắc, sự chua hóa do rửa trôi gắn rấtchặt với sự nghèo đi của hàm lượng kali trao đổi Vì vậy hàm lượng kali trao đổitrong đất có tương quan rất chặt với sinh trưởng của cây bông

Chú ý:

1 Do nguyên nhân bông chết không chỉ đơn thuần là một yếu tố nên chưa phân định được rạch ròi ranh giới, tuy nhiên để tránh trồng bông vào những đất gây chết hoặc làm bông còi cọc suốt vụ, không cho năng suất, chúng tôi đề nghị sử dụng ngưỡng pH an toàn cho cây bông là pH KCl > 4,5 hoặc hàm lượng kali trao đổi > 15 mg/100 g đất cho vùng đất đỏ bazan.

2 Để gìn giữ và tăng cường độ phì cho đất trồng bông, chống hiện tượng chua hóa, mất khả năng canh tác trong các năm sau cần chú ý sử dụng các dạng phân trung tính và kiềm, tránh hoặc hạn chế dùng các loại phân chua sinh lý với số lượng lớn Cần chú ý sử dụng các loại phân chứa nhiều nguyên tố kiềm và kiềm thổ như vôi, phôt phát nghiền, thecmophosphat v v Riêng phân kali - là loại rất cần cho đất đỏ bazan trồng bông - thì vẫn phải bón đủ số lượng thích hợp nhưng nên cân đối với phân lân kiềm (Thermofosfat) để làm giảm sự chua hóa của đất.

BÀI 4 ĐIỀU KIỆN THỜI TIẾT, THỜI VỤ TRỒNG VÀ MẬT ĐỘ TRỒNG

CỦA VÙNG BÔNG TÂY NGUYÊN

1 Điều kiện thời tiết vùng bông Tây Nguyên: Bao gồm các tỉnh Đắk Lắk, Đắk

Nông và Gia Lai

Đây là vùng có rất nhiều triển vọng đối với cây bông Chế độ mưa ở vùng nàychia thành 2 nhóm khác nhau rõ rệt Số liệu khí tượng nhiều năm cho thấy: Phía TâyTrường Sơn, mùa mưa bắt đầu vào cuối tháng 4; mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng

Trang 30

10 với lượng 200 đến 300mm /tháng và hơn 20 ngày mưa/tháng Mùa mưa ở đâythường kết thúc vào cuối tháng 11.

Thời vụ gieo bông cho vùng Tây Trường Sơn có thể được tiến hành từ cuốitháng 6 đến đầu tháng 8 hàng năm Kết quả điều tra cho thấy, nông dân vùng TâyTrường Sơn gieo bông chủ yếu tập trung trong tháng 7 Trong đó, thời vụ gieo chonăng suất cao nhất là cuối tháng 6 và đầu tháng 7 dương lịch

Bảng 4 Số liệu khí tượng trung bình nhiều năm tại Cư Jút-Đắk Nông.

Tháng Nhiệt độ không khí (

oC) Ẩm độ

(%)

Số giờnắng/tháng

Lượng mưa(mm)

Số ngày mưa/tháng

T.bình Max Min

Đầu mùa mưa

Cuối mùa mưa

Các tháng mưa nhiều

Thời vụ gieo Thời kỳ nở quả và

Trang 31

2 Mật độ và phương pháp gieo hạt

- Mật độ gieo thích hợp khoảng từ 5,5 - 6,0 vạn cây/ha, tương ứng với khoảng cáchhàng là 0,7 - 0,9m x 0,20 - 0,25m x 1 cây

- Gieo hạt ở bên mép luống, phía mặt trời mọc, độ cao gieo hạt là 2/3 luống so vớiđáy rãnh Gieo 1-2 hạt/hốc, khoảng cách hốc 0,20-0,25m, độ sâu lấp hạt 1-1,5cm và nénchặt hạt

BÀI 5 NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CÂY BÔNG

VÀ VIỆC BÓN PHÂN CHO CÂY BÔNG

1 Vai trò của một số nguyên tố đối với cây bông

Cây bông cũng như các cây trồng khác cần rất nhiều nguyên tố dinh dưỡng,trong đó các nguyên tố đa lượng như N, P và K chiếm hàm lượng lớn Chúng cónhiều trong hạt và lá, thứ đến là trong thân và quả, rất ít trong xơ Trong sản xuấtngười ta chỉ cung cấp N, P, K cho cây bông dưới dạng phân bón

Vai trò của một số nguyên tố đối với cây bông như sau:

- Nitơ (N): là chất cây bông cần để sinh trưởng và phát dục, là thành phần cấu

tạo nên các chất protein, acid nucleic, diệp lục tố, các loại men và các loại sinh tố

Trang 32

Không có nguyên tố nitơ thì không thể hình thành các chất protein và không cóprotein thì không có sự sống Do đó ảnh hưởng của N tới sinh trưởng và phát dục củacây bông hết sức to lớn Cung cấp phân đạm đầy đủ có thể tăng diện tích lá, hàmlượng protein, diệp lục kết quả quang hợp và các hoạt động sinh lý khác cũng tănglên và làm tăng năng suất, tăng chiều dài xơ, hàm lượng protein và dầu trong hạt.Trong từng giai đoạn sinh trưởng, cây bông hút N theo tỷ lệ khác nhau:

Từ khi gieo đến hình thành cây con: 4,4% tổng lượng N

Từ giai đoạn cây con đến bắt đầu ra nụ: 12,8% tổng lượng N

Từ khi ra nụ đến bắt đầu hình thành quả: 43,3% tổng lượng N

Từ khi hình thành quả đến khi chín: 39,5% tổng lượng N

Nếu thiếu đạm thì cây bông sinh trưởng và phát triển chậm, thấp, bé, phiến lánhỏ và có màu xanh nhạt, tổng số cành quả trên cây ít, nụ và hoa rụng nhiều, quả nhỏvà nhẹ dẫn đến năng suất bông thấp Nếu thừa đạm cây sinh trưởng dinh dưỡngmạnh, lá to và phiến lá mỏng, lóng dài, nhiều cành đực, cây vóng, nụ ít và bé, đàirụng nhiều, quả chín muộn và cũng dẫn đến năng suất thấp

- Photpho (P): P là nguyên tố cấu tạo nên acid nucleotic, protein, acid amin và

ATP cùng các chất hóa học khác P tham gia hoạt hoá quá trình quang hợp, nâng caocường độ quang hợp, cải thiện dinh dưỡng P của cây trồng, tăng cường sự hợp thànhcác chất đường bột P là một thành phần của men trao đổi NH4+ và NO3-, tham giavào quá trình chuyển hóa N có lợi cho việc hấp thu phân đạm P xúc tiến bộ rễ pháttriển, đẩy nhanh sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực, làm cho câybông sớm ra nụ, ra hoa, xúc tiến hạt mau chín, nở xơ, tăng hàm lượng dầu trong hạt,tăng khối lượng quả, độ bền xơ

Một hecta bông không được tưới lấy đi ở đất khoảng 45kg P2O5 và chia chotừng giai đoạn sinh trưởng của cây bông như sau:

Cây con- ra nụ hoa đầu tiên: 7,8%

Nụ hoa đầu tiên- trái lớn đầu tiên: 3,4%

Trái lớn đầu tiên- trái chín: 56,0%

Nếu bông có tưới với năng suất đạt trên 40 tạ/ha hấp thu lên đến 80 kg

P2O5/ha Cứ mỗi kiện bông xơ (220 kg) cần bón khoảng 24-25kg P2O5

Ngày đăng: 09/06/2016, 13:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tình hình sản xuất bông của Thế giới - Tài liệu dạy nghề kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch bông   KS  trần đức hảo
Bảng 1. Tình hình sản xuất bông của Thế giới (Trang 2)
Bảng 2. Tình hình sản xuất bông của Việt Nam - Tài liệu dạy nghề kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch bông   KS  trần đức hảo
Bảng 2. Tình hình sản xuất bông của Việt Nam (Trang 5)
Bảng 3. Tình hình sản xuất bông của Việt Nam trong những năm qua - Tài liệu dạy nghề kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch bông   KS  trần đức hảo
Bảng 3. Tình hình sản xuất bông của Việt Nam trong những năm qua (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w