Tính thích ứng sinh thái phù hợp: đi kèm với tính thích ứng rộng trồng được nhiều vùng, vụ, cần chú trọng loại hình giống thích ứng hẹp để trồng ở những điều kiện cụ thể chín sớm, chị
Trang 1Bộ Công Thương Tập đoàn Dệt - May Việt Nam
-* - VIỆN NGHIÊN CỨU BÔNG & PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NHA HỐ
TÀI LIỆU TẬP HUẤN
Trang 2PHẦN 1 CHỌN TẠO VÀ SỬ DỤNG GIỐNG BÔNG
1 BỐI CẢNH CHUNG
1.1 Về sản xuất bông
Trên thế giới, cây bông (Gossypium sp.) được trồng ở hơn 80 quốc gia, với
diện tích hàng năm khoảng 33-34 triệu ha và sản lượng đạt khoảng 20-25 triệu tấn bông xơ, có giá trị trên 20 tỷ USD
Trong 10 năm trở lại đây bình quân năng suất và giá bông xơ có tăng nhưng với tốc độ chậm so với xu hướng tăng ngày càng nhanh của chí phí sản xuất do tăng giá vật tư đầu vào, chi phí lao động và một số chi phí thiết bị bổ sung và phụ trợ khác Hiện tại, chi phí sản xuất trung bình khoảng 500 - 2500USD/ha tùy thuộc vào điều kiện sản xuất và mức năng suất đạt được (ICAC, 2008) Từ đó, thu nhập của người trồng giảm và khả năng cạnh tranh của cây bông so với các cây trồng khác thấp
Đối với Việt Nam, phát triển bông hiện tại cũng nằm trong xu thế chung của thế giới Năng suất bông bình quân cả nước thấp (440 – 460kg xơ/ha) và tăng chậm Hơn nữa, chi phí sản xuất cao, ước tính 11 – 12 triệu đồng/ha (570 – 600 USD/ha) Trung bình chi phí khoảng 1,1USD/1kg xơ, thuộc nhóm nước có chi phí sản xuất cao nhất (ICAC, 2008) và đang có xu hướng tăng theo giá cả vật tư, nhân công hiện tại và sắp tới Chính vì thế, các đơn vị sản xuất khó có thể dùng biện pháp tăng giá mua để kích thích người trồng, đồng thời, hiệu quả sản xuất bông thấp, rủi ro cao, cây bông mất ưu thế cạnh tranh so với cây trồng khác Hơn nữa, một trong những hạn chế năng suất bông Việt Nam và làm tăng chi phí đầu vào là sâu hại (sâu đục quả, chích hút) và bệnh hại (như đốm lá, phấn trắng ) phổ biến ở các vùng
1.2 Về chọn tạo và sử dụng giống
Về chọn tạo giống: Cùng với các phương pháp truyền thống (nhập nội, chọn
lọc quần thể, chọn lọc cá thể đối với giống thuần; lai đơn, lai ba… và phân
Trang 3tích di truyền số lượng đối với giống lai), ứng dụng công nghệ sinh học đã được đẩy mạnh với các công nghệ chuyển gen, chọn giống nhờ chỉ thị phân tử….; hiện tại, diện tích bông biến đổi gen chiếm đến hơn 40% tổng diện tích bông thế giới (chủ yếu bông kháng sâu đục quả, chịu thuốc trừ cỏ và bông kết hợp hai tính trạng trên
Về sử dụng giống: giống thuần vẫn là chủ lực, giống lai chủ yếu phát triển ở
các nước có lực lượng lao động đồi dào và chi phí lao động rẻ trong sản xuất hạt giống lai như Trung Quốc (40%), Ấn Độ (50%)…
2 VAI TRÒ CỦA CHỌN TẠO GIỐNG BÔNG HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI 2.1 Tăng giá trị đầu ra
Tăng năng suất xơ: chủ yếu dựa trên cơ sở tổ hợp hợp lý các yếu tố cấu thành
năng suất nhằm tăng số hạt cây và trên một đơn vị diện tích – tức tăng số quả/cây hoặc/và tăng số hạt/quả
Cải tiến chất lượng xơ: tiêu chuẩn các chỉ tiêu chính gồm chiều dài > 30mm,
độ bền > 32gr/tex, độ mịn < 4,5M; trong đó, chú trọng sử dụng trực tiếp gen chất lượng xơ tốt của loài bông hải đảo hoặc chuyển các gen này vào loài bông luồi
Tăng giá trị sử dụng của hạt bông như là một sản phẩm phụ: chủ yếu tạo
giống có hàm lượng gossypol thấp trong hạt để sử dụng sản phẩm chế biến từ hạt như dầu, protein
Tính thích ứng sinh thái phù hợp: đi kèm với tính thích ứng rộng trồng được
nhiều vùng, vụ, cần chú trọng loại hình giống thích ứng hẹp để trồng ở những điều kiện cụ thể (chín sớm, chịu bất lợi ngoại cảnh như nóng, hạn cục bộ, mặn, ứng…) nhằm tận dụng quỹ đất, thời vụ gieo trồng, khai thác triệt để tiềm năng của giống để đạt năng suất và chất lượng cao nhất
2.2 Giảm chi phí sản xuất đầu vào
Chín sớm: với tổng thời gian một vụ < 135 ngày, giống chín sớm giúp tiết
Trang 4kiệm chi phí đầu vào (phân bón, nước tưới, phòng trừ sâu bệnh, công lao động), tạo cơ chế trốn tránh rủi ro do áp lực sâu bệnh hại tích lũy cao và bất lợi ngoại cảnh (hạn, mưa muộn ) vào cuối vụ, giúp rút ngắn thời gian một
vụ bông từ 155 – 170 ngày hiện nay xuống dưới 135 ngày, nhờ đó, dễ bố trí thời vụ bông sau cây trồng khác vụ 1 (ngô, đậu) trên các vùng trồng bông vụ mưa, thời vụ chiếm phần lớn diện tích trồng bông hiện tại cả nước (>85%) Mặt khác, thời vụ ngắn là giải pháp kỹ thuật tiền đề để phát triển các vùng bông tập trung, trang trại trong cả 2 vụ có hiệu quả nhất
Khả năng chống chịu sâu bệnh cao: tăng cường ứng dụng công nghệ sinh
học kết hợp với phương pháp truyền thống, tập trung chủ yếu các loại sâu bệnh hại chính, sâu đục quả (sâu xanh đục quả, sâu xanh da láng, sâu hồng…), sâu chích hút (rầy, rệp, bọ trĩ, nhện đỏ…), bệnh đốm cháy lá, phấn trắng…; ưu tiên phát triển tính chống chịu nhiều mặt để tạo tính kháng bền vững và giảm thiểu chi phí phòng trừ
TÓM TẮT TÌNH HÌNH CHỌN TẠO VÀ SỬ DỤNG GIỐNG BÔNG TẠI VIỆT NAM
3.1 Giai đoạn trước năm 1980
Chọn tạo và phóng thích các giống bông thường (TH1, TH2, MCU9, TM1, M456-10, D16-2)
3.2 Giai đoạn 1980 - 1995
Tiếp tục chọn tạo và sử dụng các giống bông thường (điển hình là giống C118)
Bắt đầu nghiên cứu tạo giống lai trong nước
Nhập nội và thử nghiệm một số giống lai Ấn Độ, Israel (H4, Bioseed-7…)
Trang 5lệ xơ trung bình khá, chất lượng xơ cấp I hoặc cao hơn;
- Bước đầu NC tạo giống lai cải tiến tỷ lệ xơ nhưng không thành công do các giống như NH14, NH38 kháng rầy yếu và chất lượng xơ không đạt yêu cầu)
3.4 Giai đoạn từ 2000 đến nay
Định hướng tạo giống: Tiếp tục chọn tạo và phổ biến giống bông lai và bước
đầu thử nghiệm thế hệ giống bông thường mới:
- Đẩy mạnh hướng chọn tạo giống lai kết hợp kháng sâu và kháng rầy đồng thời nâng cao dần tỷ lệ xơ, chất lượng xơ và đưa tính chịu thuốc cỏ vào
- Tạo giống bông thường kháng rầy, kháng sâu và chịu thuốc trừ cỏ Roundup
Thành tựu:
- Chọn tạo và phóng thích thành công các giống lai kháng sâu thế hệ thứ hai (điển hình là 02 giống quốc gia VN15, VN01-2: kháng sâu cao, kháng rầy trung bình (VN15), cao (VN01-2), tỷ lệ xơ trung bình khá và chất lượng xơ tốt; sai quả nhưng quả nhỏ)
- Chọn tạo, công nhận tạm thời và cho phổ biến các giống lai kháng sâu thế
hệ thứ ba (VN04-3, VN04-4 và VN04-5 (kháng sâu cao, kháng rầy trung bình-khá, quả to, tỷ lệ xơ cao và chất lượng xơ rất tốt)
- Chọn tạo và công nhận tạm thời một số giống lai bông thuần TM1KS và VN36PKS
Trang 6- Chọn tạo và đưa khảo nghiệm sản xuất một giống lai có mẹ là dòng bất dục đực gen; một số dòng/giống bông thường kháng rầy và kháng sâu
Đặc điểm của một số giống bông mới trồng phổ biến
* Giống bông thuần VN36PKS
- Nguồn gốc: là giống bông thuần thuộc loài bông luồi (Gossypium hirsutum
L.), được chọn lọc từ quần thể hồi giao (D97-5/TM1)BC4 ở thế hệ thứ 5; trong đó, giống mẹ nhận D97-5 được nhập nội từ Mỹ, nhiễm rầy xanh chích hút, kháng sâu xanh đục quả cao, tỷ lệ xơ cao, chất lượng xơ tốt và giống bố hồi qui TM1 nguồn gốc trong nước, nhiễm sâu đục quả, kháng rầy xanh khá, cứng cây, quả to, năng suất cao Giống được công nhận tạm thời và cho phép sản xuất thử ở các vùng bông trong nước theo Quyết định số 210/QĐ-TT_CCN ngày 30/6/2010
- Đặc tính sinh trưởng, thực vật học: thuộc nhóm chín trung bình muộn (thời
gian nở quả 115 – 120 ngày); có khả năng sinh trưởng khỏe, tái sinh mạnh, thân lá rất nhiều lông, lá to trung bình, màu xanh bạc, quả dài nhọn, cuống quả dài, cánh hoa và hạt phấn trắng
- Đặc tính năng suất, phẩm chất xơ: Sai quả, quả to trung bình (khối lượng
quả 5,0 – 5,5g), tỷ lệ xơ khá (37 – 38%); chất lượng xơ đạt yêu cầu nguyên liệu công nghiệp Dệt May (chiều dài > 28mm; độ bền >28g/tex và độ mịn 4,6 -5,0M); cho năng suất bông hạt cao Tại các vùng khảo nghiệm, năng suất trung bình VN36PKS đạt 26,4 tạ/ha (năm 2007); 30,7tạ/ha (năm 2008) và 27,3tạ/ha, tương đương với đối chứng đang trồng phổ biến là các giống bông lai VN15 và VN01-2 Trong điều kiện trồng mật độ cao, sử dụng các giống thường này mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn do giảm chi phí đầu vào và tăng năng suất quần thể
- Khả năng chống chịu sâu bệnh: kháng rầy xanh chích hút cao (cấp 0 – 1
theo thang 5 cấp), kháng sâu xanh đục quả cao, nhiễm bệnh mốc trắng
- Vùng/Vụ sản xuất:
Trang 7 Vụ Mưa: có thể trồng vùng chính: Duyên Hải miền Trung (Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên), các tỉnh vùng núi phía Bắc (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình) và vùng phụ: Tây Nguyên (Đắc Lắc, Đắc Nông và Gia Lai), Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước)
Vụ Khô: Duyên Hải miền Trung (Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên), Tây Nguyên (Đắc Lắc, Đắc Nông và Gia Lai)
* Giống bông lai VN15
- Nguồn gốc: VN15 (CS.95/LRA.5166) là giống lai F1 cùng loài bông luồi
(G hirsutum x G hirsutum) giữa giống mẹ CS.95 (nhập nội từ Mỹ)và giống bố
LRA.5166 (nhập nội từ Ấn Độ); được chọn lọc từ kết quả so sánh năm 1998, khảo nghiệm và sản xuất thử từ 1999-2002; được công nhận giống quốc gia năm 2002
- Đặc tính sinh trưởng, thực vật học: Thời gian sinh trưởng trung bình (từ
gieo đến nở quả 100-110 ngày) Cây sinh trưởng tương đối khỏe, thân cành hơi yếu, dạng hình cân đối và thoáng, lá to trung bình, xanh nhạt, tương đối nhiều lông,
có từ 2-3 cành đực, cành quả nhiều và vươn dài Hoa tương đối nhỏ, cánh hoa màu trắng và phấn màu vàng nhạt
- Đặc tính năng suất, phẩm chất xơ: Giống rất sai quả, khối lượng quả trung
bình (4,0-5,0g) Giống biểu hiện ưu thế lai cao cả về sinh trưởng và năng suất so với bố mẹ và đối chứng trong các thí nghiệm so sánh và khảo nghiêm Tiềm năng năng suất cao, có thể đạt 30-40tạ/ha trong điều kiện thuận lợi Tỷ lệ xơ khá (37-38%); phẩm chất xơ tốt với chiều dài > 30mm; độ mịn khá (4-4,5g); độ bền > 30g/tex; độ đều > 85% và độ chín tốt (>0.9%)
- Khả năng chống chịu sâu bệnh: kháng rầy xanh tương đối yếu (cấp 3-4
theo thang 5 cấp); chống chịu sâu xanh tốt; nhiễm bệnh mốc trắng và đốm cháy lá
Trang 8- Vùng/vụ sản xuất: Giống có phổ thích nghi rộng, thích hợp ở hầu hết các
vùng trong cả vụ mưa nhờ nước trời và vụ khô có tưới bổ sung; phát huy tốt tiềm năng trong điều kiện thâm canh, đất giàu dinh dưỡng
* Giống bông lai VN01-2
- Nguồn gốc: VN01-2 (CS.95/VN36P) là giống lai F1 cùng loài bông luồi (G hirsutum x G hirsutum) giữa giống mẹ CS.95 (nhập nội từ Mỹ)và giống bố VN36P
(nhập nội từ Israel); được chọn lọc từ kết quả so sánh năm 1998, khảo nghiệm và sản xuất thử từ 2000-2004; được công nhận giống quốc gia năm 2004
- Đặc tính sinh trưởng, thực vật học: Thời gian sinh trưởng trung bình (từ
gieo đến nở quả 110-115 ngày Cây sinh trưởng rất khỏe, dạng hình cân đối và thoáng, lá to trung bình, xanh nhạt, nhiều lông, có từ 2-3 cành đực, cành quả nhiều
và vươn dài Hoa to trung bình, cánh hoa màu trắng và phấn màu trắng
- Đặc tính năng suất, phẩm chất xơ: Giống rất sai quả, quả to trung bình
(4,5-5.0g) Giống biểu hiện ưu thế lai cao cả về sinh trưởng và năng suất so với bố
mẹ và đối chứng trong các thí nghiệm so sánh và khảo nghiêm Tiềm năng năng suất cao, có thể đạt 30-40tạ/ha trong điều kiện thuận lợi Tỷ lệ xơ khá (36-38%); phẩm chất xơ tốtvới chiều dài >30mm; độ mịn khá (4-4,5g); độ bền >30g/tex; độ đều >85% và độ chín tốt (>0.9%)
- Đặc tính nông học: Giống trồng thích hợp trong điều kiện trồng nhờ nuớc
trời hoặc có tuới bổ sung, dễ trồng và có thể sử dụng ở hầu hết các vùng; khả năng kháng rầy xanh và sâu xanh khá, nhiễm bệnh mốc trắng Giống rất sai hoa, quả, thời gian nở quả, thu hoạch kéo dài Mặt khác, khả năng tái sinh và tự đền bù cao, nếu trong thời gian đầu gặp điều kiện không thuận lợi (sinh trưởng kém, sâu bệnh phá hại …), cần tiếp tục chăm sóc thời kỳ sau để tận dụng bông tái sinh
- Vùng/Vụ sản xuất:
Vụ Mưa: có thể trồng vùng chính: Duyên Hải miền Trung (Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên), các tỉnh vùng núi phía Bắc
Trang 9(Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình) và vùng phụ: Tây Nguyên (Đắc Lắc, Đắc Nông và Gia Lai), Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Phước)
Vụ Khô: Duyên Hải miền Trung (Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên), Tây Nguyên (Đắc Lắc, Đắc Nông và Gia Lai)
* Giống bông lai VN04-3
- Nguồn gốc: VN04-3 (TL.0034/D.20-20) là giống bông lai F1 cùng loài bông luồi (Gossypium hirsutum L./ Gossypium hirsutum L.), mẹ là dòng Tl00-34
chọn lọc trong nước và bố là dòng D20-20 nhập nội từ Trung Quốc; được chọn lọc
từ kết quả so sánh năm 2001-2003, khảo nghiệm và sản xuất thử từ 2004-2009; được công nhận giống quốc gia năm 2010
- Đặc tính sinh trưởng, thực vật học: Chín tập trung, thời gian sinh trưởng
trung bình sớm (từ gieo đến nở quả 100-105 ngày Cây sinh trưởng khỏe, dạng hình cân đối, lá to trung bình, xanh đậm, ít lông, có từ 2-3 cành đực Hoa to trung bình, cánh hoa màu trắng và phấn màu trắng
- Đặc tính năng suất, phẩm chất xơ: Giống sai quả, quả to (5,5-6.0g) Tiềm
năng năng suất cao, có thể đạt 35-45tạ/ha trong điều kiện thuận lợi Tỷ lệ xơ cao (40-43%); giống có chất lượng xơ tốt với chiều dài xơ trung bình 32 - 33mm, độ bền 32 - 33g/tex, độ mịn 4,0 – 4,5M, độ đều >85% và độ chín tốt (>0.9%)
- Khả năng chống chịu sâu bệnh: kháng rầy xanh trung bình yếu (cấp 3 – 4
theo thang 5 cấp), kháng sâu xanh cao, nhiễm nặng bệnh đốm cháy lá và nhiễm bệnh mốc trắng trung bình
- Vùng/Vụ sản xuất:
Giống trồng thích hợp trong điều kiện trồng nhờ nuớc trời hoặc có tuới bổ sung, dễ trồng và có thể sử dụng ở hầu hết các vùng; lưu ý khả năng kháng rầy yếu khi trồng trong vụ khô và ở các vùng/vụ có áp lực rầy xanh cao
Trang 10* Giống bông lai VN04-4
- Nguồn gốc: VN04-3 (TL.0035/D.20-9) là giống bông lai F1 cùng loài bông luồi (Gossypium hirsutum L./ Gossypium hirsutum L.), mẹ là dòng TL00-35 chọn
lọc trong nước và bố là dòng D20-9 nhập nội từ Trung Quốc; được chọn lọc từ kết quả so sánh năm 2001-2003, khảo nghiệm và sản xuất thử từ 2004-2009; được công nhận giống quốc gia năm 2010
- Đặc tính sinh trưởng, thực vật học: Chín rất tập trung, thời gian sinh trưởng
trung bình sớm (từ gieo đến nở quả 100-105 ngày) Cây sinh trưởng khỏe, dạng hình cân đối, đốt thân cành nhặt, lá to trung bình, xanh đậm, ít lông, có từ 1-2 cành đực Hoa to trung bình, cánh hoa màu trắng và phấn màu trắng
- Đặc tính năng suất, phẩm chất xơ: Giống sai quả, quả to (6,0-6,5g) Tiềm
năng năng suất cao, có thể đạt 35-45tạ/ha trong điều kiện thuận lợi Tỷ lệ xơ cao (40-43%); giống có chất lượng xơ tốt với chiều dài xơ trung bình 32 - 33mm, độ bền 32 - 33g/tex, độ mịn 4,0 – 4,5M, độ đều >85% và độ chín tốt (>0.9)
- Khả năng chống chịu sâu bệnh: kháng rầy xanh trung bình yếu (cấp 3 – 4
theo thang 5 cấp), kháng sâu xanh cao, nhiễm nặng bệnh đốm cháy lá và nhiễm bệnh mốc trắng trung bình
- Vùng/Vụ sản xuất:
Giống trồng thích hợp trong điều kiện trồng nhờ nuớc trời hoặc có tuới bổ sung, dễ trồng và có thể sử dụng ở hầu hết các vùng; lưu ý khả năng kháng rầy yếu khi trồng trong vụ khô và ở các vùng/vụ có áp lực rầy xanh cao
Trang 11PHẦN 2 KỸ THUẬT CANH TÁC BÔNG 2.1 Kết quả nghiên cứu về đât trồng bông
Đất trồng bông không được đọng nước, úng thủy trong thời gian cây sinh trưởng Do đó, chỉ có các loại đất cao như các nhóm đất đỏ Latosol, đất vàng đỏ podzolic, đất xám podzolic, đất giồng, đất đen, đất phù sa không ngập nước cạnh các bờ sông mới có thể gieo bông được đầu mùa mưa
Theo hai tác giả người Mỹ (Brown và Ware, 1958) thì cây bông được trồng chủ yếu trên các loại đất cát pha, đất thịt nhẹ Nhưng đất trồng bông ở Mỹ phải thấp hơn 370 vĩ bắc, đất không bị ngập nước, đủ oxy và các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết
Theo GS Vũ Công Hậu, những đất thoái hóa, tầng đá ong dày, lại ở gần mặt đất không thích hợp cho bông Cũng như đất trồng các cây khác, cần một tỷ lệ thích đáng giữa các thành phần sét, limon và cát Tốt nhất là những loại đất có tầng canh tác dày, không có kết von, tỷ lệ cát thô (>0,2 mm) và mịn (0,02-0,002 mm) khoảng 50-60% trong đó limon nhiều hơn sét
Tỷ trọng đất để rễ bông phát triển tốt phải <1,38 Rễ bông mọc xấu khi khi tỷ trọng đất lag 1,65 Tỷ trọng đất >1,80 rễ bông không mọc nổi (GS Tôn Thất Trình)
Ở vùng Đồng Nai và Tây Nguyên, đất có ưu điểm nổi bật về mặt lý tính Mặc dù có thành phần sét cao (>50%) nhưng lại rất thoáng khí Chế độ nước và khí
Trang 12của đất đỏ bazan là một mẫu hình tuyệt vời cho sự dung hòa có lợi cho sự phát triển của cây trồng (Lê Xuân Đính)
Ở nước ta nói chung các loại đất phù sa ven sông (Eutric Fluvisols), đất cát
đỏ (Rhodic Arenosols), đất nâu (Haplic Lixisols) và các loại đất trồng hoa màu
thoát nước tốt vùng Duyên hải Nam Trung bộ đều rất thích hợp để trồng bông Ở
vùng núi Tây Nguyên và Đông Nam bộ, các loại đất đen (Luvisols), đất xám (Haplic Acrisols), đất đỏ bazan (Rhodic Ferralsols) trên các chân đất đồi dốc, thoai
thoải rất thích hợp cho việc trồng bông trong thời vụ có mưa
2.1.2 Một số chỉ tiêu hóa tính của đất ở các vùng trồng bông chính
a) Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
Tại vùng bông Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, cây bông thường được trồng trên 3 loại đất chính, đó là: đất đen, đất đỏ bazan và đất xám Một số đặc tính lý hóa chính của đất trồng bông ở 2 vùng này có thể được tóm tắt như sau:
Bảng 1 Tính chất hóa học của đất trồng bông chính vùng Tây Nguyên
Trang 13Bảng 2 Tính chất hóa học của đất trồng bông chính vùng Đông Nam Bộ
+ Đất đen (Luvisols): Đây là loại đất có diện tích khá lớn Loại đất này có độ
chua và hàm lượng các nguyên tố dinh dưỡng thích hợp cho sinh trưởng của cây bông Cây bông trồng trên loại đất này thường cho năng suất cao và ổn định; ngoài
ra nó còn không bị cạnh tranh với các loại cây công nghiệp dài ngày
+ Đất đỏ Bazan (Rhodic Ferralsols): Loại đất này phần lớn là đất chua,
nghèo Cation trao đổi Cây bông trồng trên loại đất này thường có hiện tượng chết cây con sau khi mọc, cây còi cọc và năng suất không cao Hơn nữa, cây bông thường xuyên bị cạnh trang bởi các cây công nghiệp dài ngày
+ Đất xám (Haplic Acrisols): Đây là loại đất nghèo dinh dưỡng Cây bông
trồng trên loại đất này không bị cạnh tranh với các cây trồng khác nhưng thường cho năng suất và hiệu quả kinh tế kém
b) Vùng Ninh Thuận - Bình Thuận
Tại vùng này, cây bông cũng được trồng trên 3 loại đất chính, đó là: đất cát
đỏ, đất phù sa Ninh Thuận và đất nâu Bình Thuận Một số đặc tính lý hóa chính của
đất trồng bông ở vùng này (xem bảng 3) như sau:
Trang 14Bảng 3 Tính chất hóa học của đất trồng bông chính vùng Ninh Thuận - Bình Thuận
Ninh Thuận
Đất phù sa Ninh Thuận
Đất nâu Bình Thuận
+ Đất phù sa sông Dinh (Eutric Fluvisols): Đây là loại đất phù sa có pha cát
và dễ thoát nước Đặc tính lý hóa học của loại đất này khá thích hợp cho cây bông Trên loại đất này, cây bông chủ yếu được trồng thâm canh, có tưới bổ sung, năng suất bông đạt cao và khá ổn định
+ Đất nâu (Haplic Lixisols): Loại đất này có thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát
nước và dễ canh tác Mặc dù phần lớn diện tích của loại đất này là nghèo dinh dưỡng, nhưng các chỉ tiêu lý hóa của nó cũng phù hợp cho cây bông Đây là loại đất chiếm diện tích khá lớn trong vùng Mặc dù ở đây cây bông vẫn được trồng nhờ nước trời nhưng năng suất thu được khá hơn so với trên nền đất cát đỏ
+ Đất cát đỏ (Rhodic Arenosols): Đây là loại đất có kết cấu kém, nhiều cát
và khả năng giữ nước kém Trên loại đất này, cây bông được trồng thả nhờ nước trời nên nó thường cho năng suất thấp và rất bấp bênh
Trang 152.1.3 Kết quả nghiên cứu về tiêu chuẩn đất trồng bông
Để mở rộng diện tích và nâng cao năng suất bông ở Việt Nam, hàng loạt các vấn đề kỹ thuật đã được đặt ra; trong đó, đất đai cũng đang là yếu tố hạn chế năng suất và hiệu quả kinh tế của cây bông Các nghiên cứu của chúng tôi trong những năm trước đây cho thấy, môi trường hóa học đất không thích hợp đang là vấn đề lớn, hạn chế việc mở rộng diện tích và nâng cao năng suất bông
Kết quả nghiên cứu về đất đai và dinh dưỡng cho cây bông ở Việt Nam cho thấy, sinh trưởng và năng suất bông luôn có tương quan thuận với trị số pHKCl của đất, tổng các cation trao đổi, độ no bazơ, hàm lượng lân và kali dễ tiêu trong đất Ngược lại, sinh trưởng và năng suất bông luôn tồn tại tương quan nghịch với độ chua thủy phân, độ chua trao đổi và đặc biệt là hàm lượng nhôm di động trong đất Đồng thời, các nghiên cứu cũng đã xác định được một trong những tiêu chuẩn chính để chọn đất trồng bông, đó là:
+ Trên đất có pHKCl < 4,5 và hàm lượng Al3+ > 3,5 mg /100g đất thường xảy
ra hiện tượng chết cây bông con
+ Những loại đất có hàm lượng nhôm di động trong khoảng từ 1 đến 3,5 mg /100 g và pHKCl gần bằng 4,5 thì cây bông có thể sống nhưng còi cọc và ít có khả năng cho năng suất
+ Trên đất có pHKCl > 4,5 và hàm lượng Al3+ < 1 mg /100 g đất, cây bông có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt
Trang 16Y = 15,583 X-0,2372
0 10 20 30 40 50 60 70
Al+++ (mE/100g) TLTQ(%)
Đồ thị1: Quan hệ giữa hàm lượng Al+++ với Tỷ lệ thành quả của cây bông
Bảng 4 Tính chất hóa học của đất trồng bông có hiện tượng cây bông bị chết ở giai
đoạn cây con so với lô đất cây bông sinh trưởng bình thường tại Đắc Lắc
sinh trưởng bình thường
Nền đất đỏ, cây bông bị chết giai đoạn cây con
Trang 17Các nghiên cứu về tiêu chuẩn đất trồng bông đã kết luận:
1 Năng suất bông hạt luôn có mối tương quan nghịch với các chỉ tiêu độ chua
và tương quan thuận với các chỉ tiêu về độ bão hòa các bazơ, hàm lượng kali, lân
dễ tiêu và canxi trao đổi cũng như mùn tổng số Tuy nhiên tùy loại đất và hóa tính của nó mà có thể yếu tố này hay yếu tố kia trở thành quan trọng hơn
2 Sự phản ứng của cây bông đối với các chỉ tiêu hóa tính đất cho thấy cây bông rất ưa đất gần trung tính và hơi kiềm Các loại đất trẻ ít bị rửa trôi, đất phù sa mới, đất có đá mẹ giàu các nguyên tố kiềm, đất vùng khô hạn là những loại đất thích hợp cho cây bông Ngược lại các loại đất bị rửa trôi mạnh, đất chua, nghèo các nguyên tố kiềm và kiềm thổ không thích hợp cho việc trồng bông
3 Hiện tượng cây bông con chết hàng loạt là do đất bị rửa trôi mạnh, làm nghèo hầu hết các cation kiềm và kiềm thổ, đồng thời làm tăng độ chua và nhôm di động trong đất, gây độc cho rễ cây
4 pH thấp chỉ là một biểu hiện của đất bị rửa trôi hoặc bị khai thác mạnh Ngoài ra sự suy giảm canxi, magie, kali trao đổi, lân dễ tiêu, độ no bazơ và sự tăng lên của nhôm di động trong đất là các biểu hiện đồng thời của loại đất này mà tùy theo mức độ có thể từ làm giảm năng suất đến làm chết cây bông con ngay từ khi mới mọc
5 Đối với đất phát triển trên bazan ở Đắc Lắc, sự chua hóa do rửa trôi gắn rất chặt với sự nghèo đi của hàm lượng kali trao đổi Vì vậy hàm lượng kali trao đổi trong đất có tương quan rất chặt với sinh trưởng của cây bông
Chú ý:
1 Do nguyên nhân bông chết không chỉ đơn thuần là một yếu tố nên chưa phân định được rạch ròi ranh giới, tuy nhiên để tránh trồng bông vào những đất gây chết hoặc làm bông còi cọc suốt vụ, không cho năng suất, chúng tôi đề nghị sử dụng ngưỡng pH an toàn cho cây bông là pH KCl > 4,5 hoặc hàm lượng kali trao đổi
> 15 mg/100 g đất cho vùng đất đỏ bazan
Trang 182 Để gìn giữ và tăng cường độ phì cho đất trồng bông, chống hiện tượng chua hóa, mất khả năng canh tác trong các năm sau cần chú ý sử dụng các dạng phân trung tính và kiềm, tránh hoặc hạn chế dùng các loại phân chua sinh lý với số lượng lớn Cần chú ý sử dụng các loại phân chứa nhiều nguyên tố kiềm và kiềm thổ như vôi, phôt phát nghiền, thecmophosphat v v Riêng phân kali - là loại rất cần cho đất đỏ bazan trồng bông - thì vẫn phải bón đủ số lượng thích hợp nhưng nên cân đối với phân lân kiềm (Thermofosfat) để làm giảm sự chua hóa của đất
2.2 Dinh dưỡng cho cây bông
2.2.1 Sinh lý dinh dưỡng cây bông
Cây bông cũng như các cây trồng khác cần rất nhiều nguyên tố dinh dưỡng, trong đó các nguyên tố đa lượng như N, P và K chiếm hàm lượng lớn Chúng có nhiều trong hạt và lá, thứ đến là trong thân và quả, rất ít trong xơ Theo Berger (1969), để đạt năng suất 2,5 kiện/ha (1kiện = 220kg) cây bông lấy đi từ đất 40 kg
N, 16 kg P2O5, 17 kg K2O, 7 kg MgO và 4 kg CaO/ha Khi năng suất là 7,5 kiện/ha
Trang 19thì lượng dinh dưỡng lấy đi đạt 125 kg N; 50 kg P2O5, 52 kg K2O, 22 kg MgO và
13 kg CaO/ha Trong sản xuất người ta chỉ cung cấp N, P, K cho cây bông dưới dạng phân bón
Vai trò của một số nguyên tố đối với cây bông như sau:
- Nitơ (N): là chất cây bông cần để sinh trưởng và phát dục, là thành phần
cấu tạo nên các chất protein, acid nucleic, diệp lục tố, các loại men và các loại sinh tố Không có nguyên tố nitơ thì không thể hình thành các chất protein và không có protein thì không có sự sống Do đó ảnh hưởng của N tới sinh trưởng
và phát dục của cây bông hết sức to lớn Cung cấp phân đạm đầy đủ có thể tăng diện tích lá, hàm lượng protein, diệp lục kết quả quang hợp và các hoạt động sinh lý khác cũng tăng lên và làm tăng năng suất, tăng chiều dài xơ, hàm lượng protein và dầu trong hạt Trong từng giai đoạn sinh trưởng, cây bông hút N theo
tỷ lệ khác nhau Kết quả nghiên cứu của J G De Geus (1983), trên đất thịt pha cát ở Georgia cho thấy:
Từ khi gieo đến hình thành cây con: 4,4% tổng lượng N
Từ giai đoạn cây con đến bắt đầu ra nụ: 12,8% tổng lượng N
Từ khi ra nụ đến bắt đầu hình thành quả: 43,3% tổng lượng N
Từ khi hình thành quả đến khi chín: 39,5% tổng lượng N
- Photpho (P): P là nguyên tố cấu tạo nên acid nucleotic, protein, acid amin
và ATP cùng các chất hóa học khác P tham gia hoạt hoá quá trình quang hợp, nâng cao cường độ quang hợp, cải thiện dinh dưỡng P của cây trồng, tăng cường sự hợp thành các chất đường bột P là một thành phần của men trao đổi NH4+ và NO3-, tham gia vào quá trình chuyển hóa N có lợi cho việc hấp thu phân đạm P xúc tiến
bộ rễ phát triển, đẩy nhanh sinh trưởng dinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực, làm cho cây bông sớm ra nụ, ra hoa, xúc tiến hạt mau chín, nở xơ, tăng hàm lượng dầu trong hạt, tăng khối lượng quả, độ bền xơ
Trang 20Một hecta bông không được tưới lấy đi ở đất khoảng 45kg P2O5 và chia cho từng giai đoạn sinh trưởng của cây bông như sau:
Cây con- ra nụ hoa đầu tiên: 7,8%
Nụ hoa đầu tiên- trái lớn đầu tiên: 3,4%
Trái lớn đầu tiên- trái chín: 56,0%
Nếu bông có tưới với năng suất đạt trên 40 tạ/ha hấp thu lên đến 80 kg P2O5/ha
Cứ mỗi kiện bông xơ cần bón khoảng 24-25kg P2O5
- Kali (K): Kali là nguyên tố có số lượng lớn nhất trong các nguyên tố vô cơ có
mặt trong cây bông Trong cây bông, kali chủ yếu phân bố ở các tổ chức có trao đổi vật chất mãnh liệt Kali hoạt hóa của hơn 60 loại men trong cơ thể sinh vật và nó xúc tiến các hoạt động trao đổi chất như quá trình chuyển hóa đường ở cây bông, xúc tiến quá trình quang hợp, xúc tiến sự hình thành protein, tổng hợp các hydrat cacbon và vận chuyển chúng, xúc tiến quá trình tổng hợp xelluoza
Khi thiếu kali, cây bông xuất hiện sự mất màu xanh lục, sau đó chuyển sang vàng, rồi ngọn lá và rìa lá khô đi, quăn xuống phía dưới, sau cùng toàn bộ phiến lá chuyển sang màu đỏ nâu Thiếu kali nặng làm lá khô và rụng, quả nhỏ, nở khó, độ chín của xơ thấp
- Các nguyên tố dinh dưỡng khác
Trong cây, magiê (Mg) vừa là yếu tố cấu tạo (cấu tạo nên các sắc tố
chlorophyll) vừa là chất hoạt hóa của nhiều loại men Magiê ảnh hưởng đến quá trình hình thành gluxit, lipit và protein; ảnh hưởng đến quá trình hút và vận chuyển
P trong cây Khi thiếu magiê, lá trở nên vàng hay trắng, nếu thiếu nhiều có thể bị rụng lá non
Lưu huỳnh (S) tồn tại trong protein và có liên quan đến sự hình thành diệp lục Thiếu lưu huỳnh làm lá bị vàng do cây bị mất diệp lục và hình thành sắc tố
Trang 21autoxian, đốt ngắn, thân nhỏ, hệ rễ phát triển kém và chậm ra hoa, biểu hiện bên ngoài hơi giống hiện tượng thiếu N
Sắt (Fe) là thành phần của nhiều men oxy hóa, rất cần cho sự tổng hợp của diệp lục tố
Kết quả nghiên cứu của Hinkle và Brown (1968) về ảnh hưởng của các nguyên
tố vi lượng đến năng suất và chất lượng bông cho thấy Ca, Mg, S, Zn, B, Mn, Cu, Mo,
Na, Cl là các nguyên tố ảnh hưởng trực tiếp đến số quả/cây và năng suất bông hạt Các nguyên tố trên cũng ảnh hưởng đến chỉ số khối lượng quả khô và khối lượng thân lá khô
2.2.2 Những nghiên cứu về phân bón cho bông
a) Nghiên cứu về loại phân bón
Kết quả phân tích đất cho thấy, phần lớn đất trồng bông hiện nay đều thuộc loại hơi chua, hàm lượng các cation trao đổi thấp và nghèo lưu huỳnh Từ đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về loại phân bón sử dụng cho bông
- Phân lân nung chảy: Kết quả nghiên cứu diện hẹp cho thấy, với cùng một
liều lượng P2O5 như nhau thì bón lân nung chảy cho năng suất bông cao hơn bón
super lân là 1,77 tạ /ha (tương đương 11,13%) ở Đắc Lắc và 1,52 tạ /ha (tương đương 10,21%) ở Đồng Nai Tiến hành thực nghiệm trên diện rộng cho thấy, việc bón 300 kg phân lân nung chảy Ninh Bình (tương đương 45 kg P 2 O 5 /ha) cho năng suất tăng 2,67 tạ /ha (tương đương 30,69%) so với đối chứng
- Phân lưu huỳnh: Kết quả nghiên cứu hiệu quả của phân S bón cho bông đã
chỉ ra rằng, việc bón lưu huỳnh ở dạng SO42- (Sulfat amon hay Sulfat kali) đều
mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với đối chứng
Bảng 5 Hiệu quả bội thu năng suất bông của S (kg bông hạt /kg S)
S1 = 45 S
S2 = 90 S
3,93 1,69
S1 = 26 S S2 = 52 S
3,12 2,42
S1 = 34 S S2 = 68 S
11,21 5,96
Trang 22b) Nghiên cứu về liều lượng phân bón
Kết quả điều tra về tình hình sử dụng phân bón cho bông của 300 hộ nông dân cho thấy, lượng phân bón bón cho bông giữa các hộ có sự chênh lệch khá lớn, điều này có thể do điều kiện đất đai và trình độ thâm canh của họ khác nhau
Bảng 6 Kết quả điều tra về lượng phân bón được sử dụng cho cây bông
205 kg N, 107 kg P2O5 và 134 kg K2O /ha
Để xác định được lượng phân bón thích hợp cho cây bông ở từng vùng, chúng tôi
đã tiến hành nghiên cứu về liều lượng phân bón và thu được kết quả (xem bảng 7) như
sau:
Bảng 7 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất bông hạt
phân bón Năng suất
(tạ /ha)
HQKT (1000đ/ha)
Năng suất (tạ /ha)
HQKT (1000đ/ha)
Năng suất (tạ /ha)
HQKT (1000đ/ha)
Trang 23Ghi chú: P1: 60kg N + 30kg P 2 O 5 +30kg K 2 O/ha; P2: 90kg N + 45kg P 2 O 5 +45kg
K 2 O/ha;
P3: 120kg N + 60kg P 2 O 5 +60kg K 2 O/ha; P4: 150kg N + 75kg P 2 O 5
+75kg K 2 O/ha
Tại Đồng Nai và Ninh Thuận: Mức phân bón thích hợp nhất là 120 kg N, 60
kg P2O5 và 60 kg K2O /ha; Công thức bón 150 kg N, 75 kg P2O5 và 75 kg K2O /ha
có cho năng suất bông cao hơn, nhưng hiệu quả kinh tế lại giảm so với mức phân 120:60:60 Mức bón này được áp dụng cho cả bông trồng vụ mưa và vụ khô (bông Đông xuân)
Tại Đắc Lắc: Mức phân bón thích hợp nhất là 90 kg N, 45 kg P2O5 và 45 kg
K2O /ha; Các nghiệm thức bón phân với mức cao đều cho hiệu quả kinh tế giảm so
với công thức này
c) Nghiên cứu về thời kỳ bón phân
Bảng 8 Ảnh hưởng của thời kỳ bón phân đến năng suất bông
(NSG - ngày sau gieo) Số quả
/m2
Năng suất (tạ /ha)
Số quả /m2
Năng suất (tạ /ha)
cao hơn các công thức khác có ý nghĩa (xem bảng 12) Tuy nhiên, việc bón thúc 3-4
lần tốn công lao động và khó chăm sóc, do vậy hiện nay chúng tôi đang khuyến cáo bón thúc 2 lần vào giai đoạn 20-25 và 45-50 ngày sau gieo
Trang 242.3 Một số đặc điểm sinh lý cây bông, dùng làm cơ sở cho kỹ thuật canh tác bông
Hạt bông khi gia công thu được:
Trọng lượng 100 hạt: Bông cỏ 5-7 gam
* Giai đoạn ngủ nghỉ và nảy mầm
Hạt bông mới thu hoạch xong có năng lực và sức nảy mầm thấp, vì trong những hạt bông đó có một số chất làm cản trở sự nảy mầm của hạt, mặt khác sự chín của hạt giống bông chưa đạt mức độ cao (chưa hoàn toàn chín) Thí dụ: Acide absisic
Trang 25và Paracunaric tồn tại trong vỏ hạt Các thí nghiệm cho thấy, nếu loại bỏ vỏ hạt thì sự nảy mầm hạt bông đến sớm hơn thường lệ, hoặc nếu tác động liên tục lên hạt bông trong những ngày ở nhiệt độ 50oC thì cũng làm cho sự nảy mầm đến sớm, vì quá trình này làm cho các chất cản trở bị loại trừ Trong khi bảo quản trong điều kiện thích hợp thì cũng làm cho hàm lượng các acide này giảm xuống đáng kể
Trong hạt bông độ ẩm thường là 7% nước Qua kết quả nghiên cứu của nhiều nước cho thấy, với lượng nước trong hạt bông như trên, trong điều kiện 20-32oC thì
sự nảy mầm có thể bảo quản được đến tháng thứ 28
Nếu ẩm độ hạt 14% và nhiệt độ 21oC thì sau 17 tháng sẽ hoàn toàn mất khả năng nảy mầm, nhiệt độ 32oC thì sau 4 tháng khả năng nảy mầm mất hoàn toàn Nguyên nhân là do độ ẩm cao kết hợp với sự tăng nhiệt độ dẫn đến sự giảm đột ngột hàm lượng đường, các chất chứa phospho, các Nuclotit, protein và các vitamin, và sự tăng lên của các acid béo tự do Ví dụ: ở trong hạt bông có độ ảm 15% thì hàm lượng acide béo tự do tăng lên 24 lần so với hạt có độ ẩm 7%
Trong thời gian bảo quản 1-2 năm, trong hạt bông hàm lượng một số Amino acide tăng lên (Cerin, Sistin) và acide Asparagin và Glutamic cũng tăng lên 2 lần Nhiều loại protein có hoạt tính men hoàn toàn mất đi, những điều tra nêu trên cho thấy đó là những nguyên nhân làm cho sự nảy mầm của hạt giống giảm đi trong quá trình bảo quản
Chúng ta thấy rằng sự hút nước của bất kỳ loại hạt giống nào cũng phụ thuộc vào 2 yếu tố chính: Hàm lượng nước trong hạt và độ ẩm không khí nơi cất giữ hạt giống
Vấn đề bảo quản đòi hỏi phải thiết lập được sự cân bằng độ ẩm có thể được Với độ ẩm không khí cao, mà hạt giống có độ ẩm thấp, đương nhiên phải có sự hút nước, và sự cân bằng đó bị phá vỡ, trong hạt xuất hiện nước tự do và các quá trình trao đổi tăng nhanh Lượng nước trong hạt tăng lên đến 12-13%, sự hô hấp bắt đầu tăng lên, quá trình trao đổi tăng nhanh chóng, dẫn đến mất sức nảy mầm của hạt giống Nếu bảo quản ở điều kiện có ẩm độ không khí 70% thì sau tháng thứ 20 khả
Trang 26năng nảy mầm bị mất, Ngược lại, trong điều kiện tối ưu với độ ẩm 20% khả năng nảy mầm có thể bảo quản đến tháng thứ 70 Rõ ràng rằng độ ẩm trong quá trình bảo quản ảnh hưởng lớn đến sự nảy mầm của hạt giống bông
Nếu đối với hạt sử dụng vào quá trình công nghiệp khác (ép dầu,…), để tránh mất các chất dinh dưỡng tiêu tốn vào quá trình hô hấp, thì hạt bông cần phải đem sấy khô
Đối với hạt giống thì không được sấy, mà phải được phơi vài nắng nhẹ
Các yếu tố ngoại cảnh chính cần thiết cho sự nảy mầm
* Nước: Nước tham gia vào nhiều phản ứng hóa học xảy ra trong hạt giống và
là môi trường để tồn tại các hoạt động sống của cây, nó là yếu tố ngoại cảnh cần thiết để “Đánh thức” hạt giống sau một chu kỳ sinh trưởng (Seed to seed)
Sự hút nước chủ yếu qua mocropile (đầu nhỏ) và Khalaza (đầu to) của hạt, ngoài ra nước cũng được thấm qua vỏ hạt Sự hút nước của hạt phụ thuộc vào thành phần của hạt (các chất hòa tan trong nước như đường, acid hữu cơ, acid amin, tinh bột, protẻin, xenlulo, lipit, karotin…)
* Nhiệt độ: Nhiệt độ là yếu tố tạo điều kiện cho sự xâm nhập của nước vào
hạt Ví dụ: ở nhiệt độ 15oC độ ẩm của hạt có thể đạt 50% sau 48-60 giờ, và nếu ở nhiệt độ 30oC thì độ ẩm trên có thể đạt sau 24-36 giờ
Đối với cây bông nhiệt độ trung bình tối thiểu để hạt bắt đầu nảy mầm là
12-14oC, tuy nhiên có những giống nhiệt độ này thấp hơn; nhiệt thích hợp cho nảy mầm là 25-30oC
* Oxy: Ngoài nước và nhiệt độ hạt giống còn cần oxy cho quá trình nảy mầm
Sự thiếu oxy thường xảy ra trong các trường hợp hạt bông gieo bị mưa to hoặc mưa kéo dài tạo nên váng bề mặt hoặc giống được gieo sâu trong điều kiện khu ruộng
ẩm ướt
Thiếu oxy, trong hạt hình thành rượu Etylic (acid lactic) và các sản phẩm thải khác gây độc hại cho sự nảy mầm của hạt bông
Trang 27Các biện pháp tăng khả năng nảy mầm
Tuy với kích thước và trọng lượng bé, nhưng hạt bông chứa đầy đủ những thành phần cần có của hạt giống để chờ điều kiện thuận lợi phát triển thành cá thể hoàn toàn độc lập về mọi mặt Tuy nhiên, không phải tất cả mọi hạt đều được nảy mầm, mà nguyên nhân không nảy mầm đó rất đa dạng và phức tạp đã được các nhà nghiên cứu tổng hợp như sau:
- Có một số hạt cứng như đá, các giống Tashkent, cản trở sự xâm nhập của nước vào hạt, làm cho hạt chậm hoặc kém nảy mầm Để khắc phục nguyên nhân trên người ta sử dụng phương pháp xử lý nước nóng 100oC trong vài giây (làm cho vỏ hạt nứt ra) hoặc xử lý bằng rượu Etylic và Axeton trong 2-3 phút (các chất cản trở xâm nhập của nước vào hạt sẽ hòa tan trong rượu và axeton)
- Kích thước và trọng lượng riêng của hạt giống không đồng đều, do vậy
sự nảy mầm của chúng cũng không đồng đều
Để tăng khả năng nảy mầm hạt giống phải được chọn lọc phân loại theo trọng lượng riêng Hạt giống có trọng lượng lớn có nghĩa là có chứa nhiều protein, lipit và nhiều chất khác cần thiết cho sự nảy mầm Tất nhiên chúng sẽ nảy mầm tốt hơn các hạt giống có trọng lượng bé hơn Nếu loại có trọng lượng hạt lớn nảy mầm 95% thì loại hạt có trọng lượng trung bình đạt 92% và loại hạt nhẹ chỉ đạt 73% Có thể dùng dung dịch Nitrat amôn (NH4NO3) với trọng lượng riêng: 1; 1,04; 1,07; 1,12; 1,14 và 1,16 để tách hạt giống Hạt nào nhẹ hơn nổi lên trên sẽ không dùng làm hạt giống (phương pháp này hơi khó làm)
* Bằng biện pháp canh tác cũng có thể tăng khả năng nảy mầm của hạt giống:
- Canh tác lô bông giống trên nền đầy đủ dinh dưỡng, tạo đều kiện cho hạt bông chứa đầy đủ các chất hữu cơ và chất khoáng Đây là yếu tố cần thiết cho hạt nảy mầm Theo tài liệu nhiều nước cho thấy rằng canh tác bông trong điều kiện thiếu phospho thì trong các bộ phận tạo quả chứa ít phospho (0,3%), nếu thu làm
Trang 28hạt giống thì tỷ lệ nảy mầm thấp (không đáng kể) Ngược lại, nếu trong bộ phận tạo quả có chứa 0,8% phospho thì hạt giống nảy mầm bình thường
- Độ sâu lúc gieo hạt cũng là một yếu tố quyết định sự nảy mầm của hạt giống Gieo nong trên bề mặt hạt thiếu ẩm, ngược lại gieo quá sâu hạt thiếu oxy và thừa ẩm
Trường hợp gieo quá sâu, sự trao đổi khí giữa hạt đang nảy mầm và không khí bị phá vỡ, trong đất hàm lượng acid cabonic tăng lên và oxy giảm, phá vỡ các quá trình chuyển hóa các chất dinh dưỡng, tạo thành nhiều chất độc làm cho hạt chết Do đó, độ sâu khi gieo hạt phải thích hợp (phần này trình bày ở phần kỹ thuật canh tác bông)
2.3.2 Sinh lý phát triển cây bông
* Giai đoạn nảy mầm (từ khi nảy mầm đến xòe lá mầm): 4-7 ngày
Hạt tốt rồi chưa đủ, muốn mọc nhanh, mọc đều phải có nhiều điều kiện khác
mà cơ bản nhất là nhiệt, ẩm và oxy
- Nhiệt: Tốt nhất 25-30oC, dưới 10oC và trên 40oC hạt hầu như không mọc, 55-60oC mà ẩm thì hạt chết
- Độ ẩm: 90% độ ẩm (giữ nước) của đất
- Oxy: Cần nhiều, đất nặng gieo xong gặp mưa, đất đóng váng là hạt không
* Giai đoạn cây con (từ khi xòe hai lá mầm đến khi có nụ): 24-36 ngày
Giai đoạn này là giai đoạn rễ được phát triển ưu tiên và cuối giai đoạn cành
và lá mới bắt đầu phát triển
Trang 29a) Cũng như các sinh vật cao cấp, đây là giai đoạn thơ ấu, cây bông rất mẫm cảm với điều kiện ngoại cảnh và nếu phát triển không tốt ảnh hưởng rất lớn đến
sinh trưởng về sau Điều kiện để phát triển tốt là: Nước, oxy, dinh dưỡng đủ
Điều kiện tối thích lúc này là: nhiệt độ đất > 20oC, nhiệt độ không khí 25-30o
C Đất đủ ẩm, thoáng, không được bão hoà nước Từ nẩy mầm-ra lá thật đầu tiên, nếu trời ấm (25oC), ẩm thì hết 5-6 ngày, nếu trời lạnh (nhiệt độ < 15oC) kéo dài 15 -
16 ngày và sau đó cứ 2 - 6 ngày ra 1 lá thật
Thiếu nước, thiếu oxy cỏ lấn hoặc tỉa không kịp thời cây chen chúc Thiếu dinh dưỡng làm cho cây còi cọc, ảnh hưởng rất lớn đến các giai đoạn sau
Các biện pháp kỹ thuật cần chú ý trong giai đoạn này là:
- Tỉa kịp thời
- Làm cỏ sớm
- Xới
- Chỉ tưới nước khi cần và tưới nhẹ, và không để úng
b) Thường ở đốt thứ ba (lá thật thứ 3) có khi sớm hơn như ở bông cỏ đốt thứ 2 bắt đầu ra cành và thường là cành đực, có khi là cành quả (giống không cành đực) Phân biệt cành đực với cành quả chủ yếu ở chỗ cành đực không trực tiếp ra hoa
Sau khi ra 1-2-3, có khi tới 12-14 cành đực (như ở bông Ba Ghe) thì đến các cành quả Từ thấp lên cao cành quả dài thêm, có nhiều đốt (hoa) hơn, đến mức tối
đa ở cành thứ 4-7 rồi sau đó lại ngắn dần (tán cây hình thoi) Cành quả có nhiều loại hình 0, 1, 2, 3, 4, cũng khi do ảnh hưởng của ngoại cảnh, sau khi ra một số cành quả rồi, cây bông lại ra 1-2 cành đực phía trên (nhiệt độ, phân bón) Đó là biểu hiện sinh trưởng mạnh hơn phát dục
Ở nách cành quả, ở nhiều giống còn có cành phụ, cành phụ có thể là một cành đực (lá), một cành hoa hoặc một hoa
Trang 30Mục đích của trồng bông là ra nhiều hoa quả, vậy cây bông ra nhiều cành lá, cành nách thì không có lợi Nhiều cành lá khó phun sâu, quang hợp kém, rụng quả nhiều Muốn có nhiều quả ít lá phải chọn giống, bón phân tưới nước hoặc tháo nước đúng cách, có khi phải can thiệp một cách cơ giới (đánh cành lá), bấm ngọn…
* Giai đoạn nụ-hoa (25-35 ngày) và ra hoa rộ
a) Từ nụ đến hoa trong điều kiện miền Nam chỉ 20-25 ngày và nếu tính từ ngày gieo đến khi nở hoa đầu tiên chỉ cần 55-60 ngày, sau đó hoa cứ tiếp tục nở mãi và trong thời gian này trên cây bông luôn luôn có hoa, quả non, quả gìa Thời
gian cây bông có hoa có thể kéo dài 2 tháng, nhưng cũng có thể rút ngắn lại 1
tháng hay hơn một chút bằng cách chọn giống, điều tiết nước, phân, trừ sâu tốt Rút ngắn thời gian bông có hoa rất lợi vì thời gian này cây bông rất mẫm cảm với sâu nhất, công trừ sâu và chăm sóc khác sẽ giảm đi nếu ra hoa qủa tập trung
b) Trình tự nở hoa: hoa nở dần theo trình tự xuất hiện nụ từ dưới lên trên
(1-2 ngày) và từ trong ra ngoài (5-6 ngày) Cần chú ý quy luật này vì chất lượng xơ bông tuỳ thuộc nhiều vào vị trí quả bông trên cây Ở Thanh Hóa, Vũ Công Hậu đã nghiên cứu kỹ ảnh hưởng của vị trí đến chất lượng trên những cây bông thuộc giống Quầy Vịt (xem sách Kỹ thuật trồng bông trang 57) Nói vắn tắt: “Trừ vài quả
ở sát gốc do độ ẩm cao, đất cát dính vào, bông thu hoạch những lứa đầu (bông gốc)
là những bông tốt nhất về chất lượng hạt cũng như chất lượng xơ
c) Quy luật nở hoa thụ phấn: Nụ hoa chiều hôm trước phồng lên, sáng hôm sau khoảng 8-9 giờ thì nở Hoa to, màu sặc sỡ, có nhiều tuyến mật nên hấp dẫn côn
trùng mang phấn ở cây bông khác tới Như vậy, côn trùng, không phải là gió là môi giới thụ phấn Tỷ lệ ngoại hoa thụ phấn khá cao (2-3 đến 20%), do đó gen hình của
cây bông không ổn định, khác với các cây tự hoa thu phấn chặt chẽ như lúa, đậu
và các cây này gen hình ổn định, độ đồng đều cao hơn
Mặt khác, công nghiệp se sợi, dệt vải bằng xơ bông hiện nay rất hiện đại, đòi hỏi xơ bông phải đồng đều về nhiều tính năng (độ bền, độ mịn, độ chín, độ đều
Trang 31xơ…) nên bắt buộc phải có giống bông thuần, và đảm bảo độ thuần cho giống bông khó hơn ở những cây tự hoa thụ phấn
Muốn cho giống bông thuần, khó có thể ngăn cản ong, bướm đến lấy mật hoa bông (ở trại thí nghiệm phải buộc túi từng hoa một) Phương pháp đơn giản là chỉ trồng một giống Ong, bướm có mang phấn hoa lạ đến thì cũng là phấn hoa của cùng giống bông đó, do đó vẫn bảo đảm được độ thuần
d) Thụ phấn tốt thì đậu quả Không đậu quả thì hoa rụng, ta gọi là rụng đài, nếu rụng thì quả non rụng từ ngày thứ 2-3 đến ngày thứ 10 kể từ khi hoa nở, sau ngày thứ 10 nếu quả không rụng thì coi như quả đã đậu
Tỷ lệ rụng đài ở cây bông thường cao, do đó phải tìm cách hạn chế Trước hết nếu bị sâu ăn nụ, hoa, hay quả non thì đài thế nào cũng rụng Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng nhiều nhất đến rụng đài là độ ẩm không khí cao, hoa nở gặp trời mưa đầu, đất qúa tốt, bón nhiều phân đạm bông bốc lá Cũng có giống bông rụng đài nhiều, giống bông rụng đài ít Ví dụ bông luồi rụng nhiều hơn bông hải đảo Giống chín muộn thường rụng nhiều hơn giống chín sớm
Đứng về mặt kỹ thuật canh tác, bắt đầu từ khi hoa nở, và đặc biệt trong khi nở hoa là thời kỳ nhựa lưu thông mạnh, nhựa sống được hút từ đất qua rễ lên cành lá, chất dinh dưỡng tập trung vào hoa, quả non, rất hấp dẫn đối với sâu Thời kỳ này phải chú ý:
- Nụ, hoa nhiều, quả non nhiều, tập trung nhiều sâu đục quả, nhất là sâu xanh rất phàm ăn nên phải rất cảnh giác trong việc phòng trừ sâu
- Nước cần phải đầy đủ, tuyệt đối không để cho ruộng bông bị hạn, phải tưới nhiều nhưng thoát nước cũng phải nhanh, nếu bị úng cũng như bị hạn, đài sẽ rụng hàng loạt
- Quang hợp mạnh, cần ánh sáng, cần thoáng, không để cho bông bốc lá và nếu nhiều lá quá có thể phải bấm ngọn, đánh lá, nhưng chú ý không đánh
lá quá nhiều, “chột” cây bông,
Trang 32* Giai đoạn quả nở
a) Từ khi hoa nở đến khi quả nở phải mất một thời gian từ 42-55 ngày tuỳ giống, tuỳ quả to nhỏ Nếu tính từ khi gieo qua các giai đoạn phát dục, trong điều kiện thuận lợi, phải mất một thời gian như sau:
Còn 40-50 ngày nữa quả tiếp tục nở hết rồi nhổ cây
Thực tế đã diễn ra như vậy Ở Nha Hố, vụ bông này sau khi thụ phấn tốt, đài không rụng thì quả bông lớn dần
Nửa thời gian đầu 20-25 ngày quả lớn rất nhanh nhưng vẫn còn mầm non, sâu xanh, sâu loang rất thích ăn, sâu hồng cũng hay đến đẻ
Cũng nửa thời gian đầu xơ bông (tế bào lớp ngoài của biểu bì hạt) dài ra rất nhanh nhưng vỏ xơ còn mỏng
- Nước và nắng là hai yếu tố cần thiết nhất cho bông lúc này, nhưng càng về
sau nước càng ít đi và nắng càng cần nhiều hơn
b) Khi quả đã già, thành thục hoàn toàn thì vỏ quả mất nước co lại, trụ giữa
bị linhin hóa cứng, không co được nên bị sức kéo của vỏ kéo vỡ thành 4-5 mảnh tùy theo số Carpel múi, múi bông bị phơi ra nhưng còn dính vào mảnh vỏ quả
Xơ bông khô đi và nở bồng lên, múi bông dính nhiều hay ít vào vỏ, nở tốt
hay xấu tùy giống nhưng cũng tùy vào thời tiết, nhất là nắng và khô
Trang 33Có những giống bông qủa nở ít hoặc bóc vỏ để lấy bông ra, có những giống bông hễ chín để rời múi bông xuống đất
Vậy phải tùy giống mà xác nhận thời gian thu hoạch nhưng nói chung, phải
để bông nở toác chỉ nhặt lấy múi, không bứt cả quả về rồi mới gỡ múi, bỏ vỏ, nhưng cũng không nên để lâu quá trên cây, xơ kém phẩm chất do bụi, nắng gió, rệp
và bọ chích hút châm vòi vào hạt
2.3.3 Những yêu cầu của cây bông về điều kiện ngoại cảnh
* Nhiệt độ: Cây bông là cây có nguồn gốc vùng nhiệt đới, cho nên cây bông có đòi
hỏi cao về nhiệt
Để cho cây bông sinh trưởng và phát triển bình thường, kể cả giai đoạn nảy mầm, thì nhiệt độ tối ưu là 25-30oC Nhiệt độ thấp hơn 25oC làm sự phát triển của cây bông chậm lại, và nhiệt độ dưới 17oC thì cây bông bắt đầu cằn lại
Nhiệt độ tối thiểu để cho hạt bắt đầu nảy mầm là 12oC và để hình thành lá mầm trên mặt đất là 16oC (nhiệt độ trong không khí)
Nếu nhiệt độ 37-40oC cây bông không ngừng phát triển, đặc biệt nhiệt độ cao ảnh hưởng tới giai đoạn hoa, cho nên vào mùa hè cây bông chủ yếu phát triển vào ban đêm khi nhiệt độ không khí đã giảm xuống Tuy nhiên, vẫn có những loài hoang dại
có thể phát triển được trên nhiệt độ 40oC như Gossypium stocksii (nhiệt độ tối đa của
nó là 45oC)
Nếu nhiệt độ tăng (cao hơn mức tối ưu) ở giai đoạn ban đầu của chu kỳ sinh trưởng và phát triển (trước giai đoạn nụ) thì thúc đẫy cây bông sinh trưởng và phát triển nhanh hơn và sẽ có một số biến thể về hình thái cây bông như: Vị trí cành quả thứ nhất (hs) thấp hơn, hoặc số lượng cành đực tăng lên
Trong trường hợp nhiệt độ cao hơn mức tối đa làm giảm khả năng thụ phấn của hạt phấn, tăng hạt lép và rụng nhiều đài Đặc biệt khi nhiệt độ cao hơn 40oC, hạt phấn hoàn toàn mất khả năng thụ phấn, và các hoa không được thụ phấn sẽ rụng ngay sau đó
Trang 34Nhiệt độ môi trường xung quanh thực tế là yếu tố thúc đẩy hoặc làm chậm sự phát triển của cây bông; ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến chất lượng xơ bông và bông hạt Nhiệt độ cao có ảnh hưởng xấu đến sự hút chất dinh dưỡng của cây bông
và làm giảm tỷ lệ, chiều dài và độ bền xơ
Để hoàn thành một giai đoạn sinh trưởng và phát triển cây bông cũng như các cây trồng khác, đòi hỏi phải tích được một lượng nhiệt nhất định (lượng nhiệt hữu hiệu) Ở mỗi loài, mỗi giống, đòi hỏi về lượng nhiệt có khác nhau Nghiên cứu của các tác gỉa Liên Xô cho thấy, để hoàn thành giai đoạn mọc mầm, các giống loài bông luồi cần bình quân 84oC, giai đoạn nụ 500oC, giai đoạn hoa 1.000oC và từ hoa đến nở qủa 700oC
Lượng nhiệt hữu hiệu cần thiết để hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống bông luồi G.hirsutum (Theo Sleikher A.I.)
Giống
Tổng nhiệt hữu hiệu tính từ gieo tới Tổng nhiệt tính từ
gđ hoa đến 50% số cây nở quả
Trang 35- Gieo đến ra hoa 800-930oC
Tính từ gieo đến nở quả giống Quầy Vịt cần 1.450-1.660oC
* Ánh sáng: Bông là cây trồng rất thích ánh sáng, không chịu được rợp (bóng che),
do vậy lá của cây bông trong ngày luôn thay đổi vị trí để làm sao cho phiến lá luôn vuông góc với các tia chiếu của mặt trời, và chỉ khi nào mặt trời lặn lá bông mới rũ xuống
Trong điều kiện thiếu ánh sáng, như bị bóng cây, các công trình xây dựng che khuất hay mây mù kéo dài cây bông phát triển chậm và cao vóng lên Nếu trong giai đoạn nụ, hoa và hình thành quả thì đài, nụ và quả nở sẽ bị rụng nhiều
Mặt khác, khi thiếu ánh sáng cường độ quang hợp của cây bông giảm đi nhiều Các tác gỉa Liên Xô cho thấy rằng, trong điều kiện chiếu sáng tối ưu của mặt trời, thì 1m2 phiến lá, trong 1 giờ có thể tổng hợp được 1,46 g chất khô, ngược lại trong điều kiện chiếu sáng không đầy đủ thì chỉ số đó chỉ còn 0,073
Các dạng bông thân gỗ (to cao như các dạng bông địa phương Ba Ghe của ta) có nguồn gốc xích đạo đòi hỏi chiếu sáng nhiều hơn Các dạng thấp cây (dạng bông trồng trọt – trồng hàng năm), không đòi hỏi cường độ chiếu sáng cao, chúng sinh trưởng và phát triển bình thường trong điều kiện ánh sáng tán xạ và ánh sáng bình thường, thậm chí ngay khi cường độ chiếu sáng có giảm đi Novicov V.A đã chứng minh rằng, cường độ ánh sáng giảm đi 47% so với bình thường, không ảnh hưởng đến sự ra nụ và ra hoa và chỉ làm kéo dài thêm một vài ngày từ hoa đến nở quả, làm giảm một chút ít năng suất, mặt khác cây bông không những không nhỏ đi
mà còn lớn hơn Điều này chứng tỏ rằng cây bông không những có sự đòi hỏi đối với chiếu sáng, mà còn có sự thích ứng sinh lý rộng đối với chiếu sáng
* Thời gian chiếu sáng trong ngày cũng có ảnh hưởng lớn đến phát triển của cây bông
Trang 36Ảnh hưởng của ngày ngắn nhân tạo lên sự phát triển của cây bông (V.A.Novicov)
Nụ Ra hoa Nở quả
1 Giống chín trung bình – muộn (bông luồi)
- “ nhân tạo 10 giờ 13/5 17/5 6/6 30/6 11/8
- Ph.triển nhanh hơn so với tự
- “ nhân tạo 10 giờ 13/5 17/5 11/6 6/8 23/8
- Ph.triển nhanh hơn so với tự
nhiên
y
14 ngày
25 ngày
Cũng như mọi cây trồng ngắn ngày khác, cây bông đòi hỏi phải có đêm dài ngày ngắn Trong điều kiện ngày dài, cây bông phát triển chậm, và bước vào giai đoạn sinh thực muộn (chậm hình thành nụ và nở hoa) và ngược lại, thời gian chiếu sáng nhiều (ngày dài) làm cho cây bông phát triển nhanh hơn và nhanh chóng bước vào giai đoạn sinh thực Sự phản ứng của cây bông đối với sự thay đổi thời gian chiếu sáng gọi
là phản ứng cảm quang Các dạng và các giống khác nhau có phản ứng cảm quang
khác nhau Theo N.N Constantinov, các dạng bông lâu năm thân gỗ có phản ứng cảm quang lớn (mặc dù vậy trong chúng có những dạng hoàn toàn không có phản ứng cảm quang) Các dạng chín muộn sử dụng như cây hàng năm có phản ứng cảm quang yếu; các dạng chín sớm có phản ứng cảm quang rất yếu, hoặc hoàn toàn không có phản ứng cảm quang
* Đòi hỏi của cây bông đối với yếu tố nước
Cây bông là cây chịu hạn tốt, nhờ có bộ rễ phát triển và ăn sâu vào lòng đất Nhưng để sinh trưởng và phát triển bình thường, cho năng suất và phẩm chất tốt, cây bông đòi hỏi phải có chế độ nước thích hợp
Hệ số bốc hơi của cây bông bình quân 600-700 mm, tuy nhiên hệ số này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác: Giống, loài, điều kiện tự nhiên… Thường ỏ vùng
Trang 37trồng bông Liên Xô hệ số này là 400-800 mm, nhưng cũng có thể đạt tới 1.000 thậm chí 1.600 mm, tuỳ thuộc điều kiện trồng trọt
Tất nhiên, điều kiện canh tác càng cao thì hệ số bốc hơi càng ít, do đó trong điều kiện trồng bông có tưới hoặc tưới bổ sung, vấn đề điều chỉnh nước tưới và chế độ canh tác thích hợp là một vấn đề rát được quan tâm nhằm tăng hiệu quả sử dụng nước của cây bông
Ảnh hưởng của chế độ canh tác đến năng suất và hệ số bốc hơi của cây bông (theo S.N.Rưzov)
Mặt khác, cây bông đòi hỏi sự có tưới rất cao, cho nên trong điều kiện có tưới năng suất bông đạt cũng rất cao Trong giai đoạn cây con (trước khi ra nụ), khi
Trang 38diện tích quang hợp còn ít bông cần ít nước (1 ha cần bình quân 10-12m3 nước), giai đoạn nụ và đặc biệt là giai đoạn hoa nhu cầu về nước của cây bông tăng lên mạnh mẽ để phục vụ cho nhu cầu hình thành nụ và hoa quả (giai đoạn nụ 30-35m3/ha, hoa 90-100m3/ha Và giai đoạn nở quả nhu cầu về nước của cây bông giảm xuống (30-40m3/ha) Cả vụ cây bông cần nước ở mức 5.000-8.000 m3/ha, như vậy, những vùng quá khô hạn (200-500 mm/năm) chỉ có thể trồng bông trong điều kiện có tưới, còn những vùng nhiệt đới ẩm với lượng mưa 800-1000mm) có thể trồng bông không tưới (nhờ nước trời)
* Đòi hỏi của cây bông đối với đất và dinh dưỡng
Cây bông đòi hỏi đất xốp, có thành phần cơ giới trung bình, dễ tưới, tiêu và
có độ mùn khả dĩ Trên đất chua (pH<5,5) và đất mặn cây bông sẽ giảm năng suất rất lớn Thích hợp nhất cho cây bông là pH từ 6,5 đến 7,5
2.3.4 Điều kiện thời tiết của một số vùng trồng bông chính của Việt Nam và thời vụ gieo trồng
* Vùng bông Tây Nguyên: Bao gồm các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông và Gia Lai
Đây là vùng có rất nhiều triển vọng đối với cây bông Chế độ mưa ở vùng này chia thành 2 nhóm khác nhau rõ rệt Số liệu khí tượng nhiều năm cho thấy: Phía Tây Trường sơn, mùa mưa bắt đầu vào cuối tháng 4; mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng 200 đến 300mm /tháng và hơn 20 ngày mưa/tháng Mùa mưa ở đây thường kết thúc vào cuối tháng 11
Thời vụ gieo bông cho vùng Tây Trường Sơn có thể được tiến hành từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 8 hàng năm Kết quả điều tra cho thấy, nông dân vùng Tây Trường Sơn gieo bông chủ yếu tập trung trong tháng 7 Trong đó, thời vụ gieo cho năng suất cao nhất là cuối tháng 6 và đầu tháng 7 dương lịch
Trang 39Bảng Số liệu khí tượng trung bình nhiều năm tại Cư Jút-Đắk Nông
Tháng Nhiệt độ không khí (
o
C) Ẩm độ (%)
Số giờ nắng/tháng
Lượng mưa (mm)
Số ngày mưa/ tháng T.bình Max Min
Thời vụ gieo bông
Đầu mùa
mưa
Cuối mùa mưa
Các tháng mưa nhiều
Thời vụ gieo
cho cây trồng
vụ 1
Thời kỳ nở quả và thu hoạch
Trang 40Bảng Số liệu khí tượng trung bình nhiều năm tại Eakar-Đắk Lắk
Tháng
Nhiệt độ không khí (oC) Ẩm độ
(%)
Số giờ nắng/tháng
Lượng mưa (mm)
Số ngày mưa/ tháng T.bình Max Min
Nguồn: Trạm Khí tượng Eakar
Thời vụ gieo bông cho vùng Đông Trường Sơn có thể được tiến hành từ giữa tháng 7 đến cuối tháng 8 dương lịch Trong đó, thời vụ gieo cho năng suất cao nhất
là thượng tuần và trung tuần tháng 8 dương lịch
Sơ đồ 2 Chế độ mưa và thời vụ gieo bông cho vùng Đông Trường Sơn
Đầu mùa mưa
Cuối mùa mưa
Những tháng mưa nhiều
Thời vụ gieo
cây vụ 1
Thời kỳ bông nở quả và thu hoạch