Khi nghiên cứu về “ kỹ năng của luật sư trong hoạt động thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong các vụ án tranh chấp đất đai” có thể giúp chúng ta giải đáp được một phần
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, cùng với tiến trình mở cửa của đất nước và sjư phát triển của kinh tế thị trường, đội ngũ luật sư từng bước được phát triển về số lượng, nâng cao dần chất lượng hành nghề Phạm vi các dịch vụ mà luật sư cung cấp đang trở nên phong phú và đa dạng.Sự tham gia, hỗ trợ của các luật sư hay “ hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đấy là cái vinh của nghề luật sư Nhưng cũng như bao nghề khác trong xã hội đi liền với cái vinh ấy là cái “nhục” của nghề mà mấy ai hiểu thấu Có người nói rằng cái vinh cái nhục của nghề luật sư là ở “ nghệ thuật đánh giá và sử dụng chứng cứ” Tại sao lại có thể khẳng định như vậy? Điều này có đúng không?
Thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ là một hoạt động chính xuyên suốt quá trình giải quyết làm sáng tỏ vụ án đặc biệt là các vụ án dân sự khi nghĩa vụ chính minh thuộc về các đương sự Tuy nhiên hoạt động này không chỉ riêng luật sư
mà còn của tất cả những người tham gia tiến hành tố tụng Mục đích thu thâoh đánh giá và sử dụng chứng cứ hầu như là giống nhau đó là tìm ra sự thật khách quan của vụ
án Nhưng ở mỗi vị trí khác nhau thì kỹ năng hành nghề lại hoàn toàn khác nhau Và tại sao không nối thẩm phán, hội thẩm nhân dân… có nghệ thuật sử dụng chứng cứ
mà lại chỉ đặt ra vấn đề đó với luật sư, điều đó ảnh hưởng đến thành công của nghề luật sư ra sao?
Khi nghiên cứu về “ kỹ năng của luật sư trong hoạt động thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong các vụ án tranh chấp đất đai” có thể giúp chúng ta giải đáp được một phần những câu hỏi đã nêu ở trên Là một học viên lớp luật sư của Học viện tư pháp, em mạnh dạn trình bày một số nhận thức của mình về vấn đề đó Do
Trang 2mới tiếp cận với đề tài và vì thời gian có hạn nên không tránh khỏi sai sót Chính vì vậy em rất mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô cho bài tiểu luận của em.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN I:
THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG CHỨNG CỨ CỦA
LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
I KHÁI NIỆM VỀ CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1 Chứng cứ
Vật chất không tự sinh ra và cũng không bao giờ mất đi, nó chỉ có thể chuyển hoá
từ dạng này sang dạng khác nên khi một hành vi được thực hiện, một sự việc xảy
ra thì bao giờ cũng để lại “ dấu vết” trong thế giới vật chất Khi một quan hệ pháp luật hình thành thì phải để lại dấu vết trong tự nhiên Những dấu vết ấy thể hiện dưới những hình thức khác nhau của vật chất Việc nghiên cứu tìm hiểu những dấu vết này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quan hệ, hành vi đã hình thành
ra chúng Căn cứ vào những dấu về tự nhiên này, bằng khả năng nhận thức của mình Toà án có thể xác định được những sự kiện liên quan đến vụ án, làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án Những dấu vết đó được gọi là chứng cứ
Chứng cứ là những gì có thật, mà dựa và đó theo một trình tự do luật định, toà án xác định có hay không có những tình tiết, sự kiện làm cơ sở cho yêu cầu của đương sự và những sự kiện, tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết đúng đắn vụ án
Hiểu một cách đơn giản, chứng cứ trong tố tụng dân sự là những căn cứ để giải quyết vụ án Nó tồn tại dưới dạng những vật thể khác nhau như giấy tờ, tài liệu, các vật chứng … Trong trường hợp đặc biệt nó tồn tại trong trí nhớ của con người Vì vậy toà án ngoài việc nghiên cứu tìm hiểu sự việc từ tài liệu, sự vật thì còn triệu tập các đương sự, người làm chứng để xác minh những tình tiết của vụ
án Chứng cứ có vai trò quyết định trong việc giải quyết vụ án dân sự nếu không
có chứng cứ thì không thể giải quyết được vụ án Việc xác định chứng cứ là vô
Trang 4cùng phức tạp, nó đòi hỏi sự nỗ lực từ các cơ quan tiến hành tố tụng và đặc biệt là các đương sự Bằng sự hiểu biết pháp luật của mình luật sư giúp đỡ đương sự cung cấp chứng cứ và xác định những chứng cứ nào cung cấp làm cơ sở cho việc bảo vệ quyền lợi của đương sự.
kỳ tác động tới chứng cứ theo hướng nào của ai đều bị coi là trái pháp luật và làm mất đi giá trị chứng minh của chứng cứ đó Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng như thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, các đương sự, luật sư… chỉ cung cấp, thu thập, nghiên cứu chứng cứ chứ không tạo ra chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án
2.2 Tính liên quan
Chứng cứ là những gì có thật, có mối quan hệ với vụ án Mối quan hệ này có thể là trực tiếp cũng có thể là gián tiếp Mối quan hệ trực tiếp là mối quan hệ mà dựa vào chứng cứ có thể xác định được ngay những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ
án Mối quan hệ gián tiếp là mối quan hệ mà dựa vào chứng cứ đó, phải qua nhiều khâu trung gian mới xác định được giá trị chứng minh của chứng cứ đối với những
Trang 5sự kiện trong vụ án Nhưng cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì đó đều phải là mối quan hệ nội tại có tính nhân quả.
Ví dụ: A và B là vợ chồng ở trên đất của gia đình B từ năm 2000 Hai vợ chồng đã hai lần xây nhà và tu tạo nhà vào các năm 2002, 2005 Đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006 Năm 2008 A và B li hôn yêu cầu chia nhà và đất Gia đình B không đồng ý vì cho rằng là nhà của vợ chồng A và B còn đất là của gia đình B trước đó mẹ B làm đơn yêu cầu toà án xác định đất là của gia đình bà
Để chứng minh quyền sử dụng đất đó thuộc ai cần có các chứng cứ sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của A và B : là chứng cứ trực tiếp
- Lấy lời khai của cán bộ địa chính : là chứng cứ gián tiếp
- Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất : là chứng cứ gián tiếp…
Dù là chứng cứ có mối quan hệ thế nào với nhau thì bản thân nó phải liên quan đến các mối quan hệ pháp luật về đất đai đang tranh chấp
2.3 Tính hợp pháp
Được thể hiện qua quá trình cung cấp, thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo một trình tự của pháp luật quy định Đây là trình tự nhằm đảm bảo quá trính chứng minh của chứng cứ Vì vậy chứng cứ sẽ mất đi giá trị chứng minh nếu không đảm bảo cho tính hợp pháp Trong thực tế tính hợp pháp của chứng cứ được xác định thông qua các hoạt động chứng minh được của toàn án và tất cả người tham gia tố tụng thực hiện và tuân thủ
3 Phân loại chứng cứ
Có nhiều cách phân loại chứng cứ và việc phân chia chỉ mang tính chất tương đối Tuy nhiên để nghiên cứu chứng cứ dễ dàng, thuận tiện đặc biệt để xác định nhanh
Trang 6chóng giá trị chứng minh của chứng cứ mà nhà làm luật đã tiến hành phân loại chứng cứ Phổ biến có các cách sau:
3.1 Phân loại chứng cứ dựa vào nguồn thu nhận chứng cứ:
Thứ nhất: Phân loại theo cách này chúng ta có chứng cứ theo người và chứng cứ
theo vật Chứng cứ theo người là chứng cứ được rút ra từ lời khai của các đương
sự, người làm chứng Đây chính là chứng cứ thể hiện dưới dạng trí nhớ của con người Chứng cứ theo vật là chứng cứ được rút ra từ những sự vật, tài liệu, giấy tờ
… Sự phân loại này chỉ có tính chất tương đối vì ở một khía cạnh nào đó thì chứng
cứ theo người lại chuyển thành chứng cứ theo vật Ví dụ : lời khai của người làm chứng được ghi thành biên bản và ta nghiên cứu biên bản lời khai đó
Thứ hai: Chia theo cách này chúng ta cũng có hai loại chứng cứ là chứng cứ sao
chép và chứng cứ gốc Chứng cứ gốc là chứng cứ rút ra từ nguồn đầu tiên phản ánh thông tin về sự kiện có liên quan đến vụ việc dân sự Nó là kết quả trực tiếp của một quan hệ hoặc một hành động hay một hành vi Theo quy định tại phần II mục 2 tiểu mục 2.1 nghị quyết 04/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của bộ luật tố tụng dân sự về “ chứng minh và chứng cứ” thì bản chính có thể
là bản gốc hoặc bản làm cơ sở lập ra các bản sao Việc sao chép các chứng cứ gốc theo những trình tự do luật định sẽ tạo thành các chứng cứ sao chép lại
Ví dụ: Bản sao giấy khai sinh từ sổ khai sinh có đóng dấu tư pháp là cơ sở để lập
ra các bản sao giấy khai sinh khác được coi là bản chính Các bản sao khác từ giấy khai sinh này được chứng thực theo quy định gọi là bản sao
3.2 Phân loại chứng cứ dựa vào mối quan hệ giữa chứng cứ với các sự kiện cần chứng minh trong vụ án:
Trang 7Theo cách này chứng cứ được chia thành hai loại : Chứng cứ trực tiếp và chứng
cứ gián tiếp Chứng cứ trực tiếp là những chứng cứ chỉ thằng và làm rõ ngay những vấn đề cần chứng minh Chứng cứ gián tiếp là những chứng cứ không tự
nó làm rõ được ngay tình tiết của đối tượng cần chứng minh mà nó phải kết hợp với các chứng cứ phù hợp khác
Việc phân loại chứng cứ trực tiếp hay gián tiếp không nhằm để xác định giá trị chứng minh của chứng cứ Nói cách khác không phải chứng cứ trực tiếp thì có giá trị cao hơn chứng cứ gián tiếp mà giá trị chứng minh của chứng cứ tuỳ thuộc vào giá trị của nó Sự phân loại chỉ có ý nghĩa giúp cho người nghiên cứu, đánh giá có một phương pháp làm việc phù hợp với từng loại chứng cứ,
II QUÁ TRÌNH CUNG CẤP, THU THẬP, NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG CHỨNG CỨ:
1 Cung cấp chứng cứ:
Theo điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương
sự Nói cách khác đương sự có nghĩa vụ cung cấp để chứng minh cho yêu cầu của mình trước toà án
Để có thể cung cấp được chứng cứ cho Toà án luật sư cần phải giúp thân chủ của mình xác định được chứng cứ theo quy định tại điều 83 bộ luật tố tụng dân sự và nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP của hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của bộ luật tố tụng dân sự về “chứng minh và chứng cứ” Trong một số trường hợp đặc biệt như tài liệu là băng ghi âm thì theo hướng dẫn tại nghị quyết trên được coi là chứng cứ khi có văn bản xác nhận xuất
xứ hoặc về sự liên quan đến việc ghi âm đó Như vậy điều kiện để trở thành chứng
cứ trong trường hợp này là khá thuận lợi tuy nhiên trên thực tế giá trị chứng minh của nó hết sức mong manh Vì vậy cần có các chứng cứ khác như trưng cầu giám
Trang 8định về giọng nói, lấy lời khai của người làm chứng có mặt … Đây là một kỹ năng của luật sư trong việc chuyển chứng cứ từ băng ghi âm thành văn bản để xác định giá trị chứng minh của chứng cứ được tốt nhất.
2 Nghiên cứu, đánh giá chứng cứ:
Nghiên cứu chứng cứ : là các hoạt động xem xét chứng cứ được thu thập trong mối liên hệ mật thiết với nhau, so sánh chứng cứ này với chứng cứ khác, phân tich các chứng cứ trong mối liên hệ với các tình tiết của vụ án
Trong tiếng Việt, đánh giá là việc chủ thể xác định giá trị của đối tượng Ở đây, đối tượng được đánh giá là chứng cứ Vì vậy đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy logic của các chủ thể chứng minh trên cơ sở tình tiết sự kiện và trên cơ sở các quy định của pháp luật để rút ra kết luận của mình về đối tượng cần chứng minh
Việc nghiên cứu, đánh giá chứng cứ phải tuân theo những quy định của pháp luật nội dung Ví dụ các quy định về điều kiện có hiệu lực, thời điểm có hiệu lực của di chúc Đồng thời việc nghiên cứ đanh giá chứng cứ cũng phải tuân theo các quy định của luật tố tụng như bảo quản chứng cứm uỷ thác thu thập chứng cứ … Những quy định này là những bảo đảm quan trọng cho giá trị chứng minh của chứng cứ
Trong một số trường hợp đặc biệt vịêc đánh giá chứng cứ có thể căn cứ vào tập quán Nhưng đây là một vấn đề hết sức khó khăn mặc dù vậy trong những trường hợp nhất định luật sư cần quan tâm để bảo vệ được quyền lợi của khách hàng một cách tốt nhất
Một căn cứ khác để đánh giá chứng cứ là kết luận giám định Dựa trên kết luận này
có thể đưa ra kết luận về tính hợp pháp hay không hợp pháp của một chứng cứ
Trang 9Như vậy đương sự có quyền trưng cầu giám định hay không Nếu xét theo góc độ
lý luận thì nghĩa vụ chứng minh thuộc đương sự nên các đương sự có quyền trưng cầu giám định Tuy nhiên theo quy định tại điều 90 Bộ luật tố tụng dân sự thì Thẩm phán có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định trên cơ sở yêu cầu của đương sự Điều mâu thuẫn này làm cho việc chứng minh của đương sự bị hạn chế
3 Nguyên tắc đánh giá chứng cứ:
Căn cứ để đánh giá chứng cứ là những tình tiết cần sự chứng minh; những quy định của pháp luật nội dung, luật tố tụng; những căn cứ khác theo quy định của pháp luật như tập quán … Và một vấn đề quan trọng khác ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đánh giá đó chính là niềm tin nội tâm của chủ thể đánh giá Vì vậy đánh giá chứng cứ phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật như điều 96 Bộ luật tố tụng quy định: đánh giá chứng cứ phải tuân theo các nguyên tắc khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác
3.1 Nguyên tắc khách quan:
Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ khi đánh giá chứng cứ các chủ thể đánh giá chứng
cứ phải đứng trên quan điểm khách quan, không chủ quan duy ý chí Việc xác định giá trị chứng minh của các thông tin, tài liệu, đồ vật được sử dụng làm chứng cứ phải trên cơ sở giá trị vốn có của nó chứ không phải xuất phát từ ý chí của người đánh giá Điều này xuất phát từ việc chứng cứ tồn tại khách quan từ khi nó được sinh ra nên không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người
Đối với luật sư, nhiều người cho rằng khi đánh giá chứng cứ không đảm bảo nguyên tắc này vì luật sư phục vụ khách hang và đánh giá chứng cứ theo hướng có lợi cho khách hang tức là đánh giá chứng cứ bằng ý chí chủ quan của luật sư Tuy nhiên thực tế việc đánh giá chứng cứ một cách khách quan của luật sư lại là điều
Trang 10kiện vừa đảm bảo tính có căn cứ của những lời nhận định về vụ án, nhằm đề xuất các ý kiến và trao đổi quan điểm về vụ án của toà án, vừa đảm bảo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi của đương sự trong việc giải quyết vụ án.
3.2 Nguyên tắc toàn diện:
Đánh giá chứng cứ một cách toàn diện có nghĩa là không chỉ xem xét, xác định giá trị chứng minh của một hay một nhóm chứng cứ mà phải xem xét, xác định giá trị chứng minh của toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại thời điểm đó Một hay một nhóm chứng cứ nhiều khi chỉ nói lên một vấn đề hoặc chẳng nói lên được điều
gì nếu không xem xét trong một thể thống nhất với các chứng cứ chứng minh khác
3.4 Nguyên tắc chính xác:
Khi đánh giá chứng cứ luật sư hay bất kỳ một chủ thể nào khác đều phải có một cách nhìn chính xác về giá trị chứng minh của từng chứng cứ riêng biệt cũng như
Trang 11tất cả các chứng cứ đã thu thập được Có những chứng cứ nếu không xem xét trong mối quan hệ với các chứng cứ khác nó có thể không có giá trị chứng minh gì
cả nhưng khi xem xét nó trong mối quan hệ mật thiệt với các chứng cứ khác thì giá trị chứng minh cỷa nó hoàn toàn bị thay đổi Vì vậy luật sư khi đánh giá chứng cứ phải xác định được giá trị của chứng cứ một cách chính xác từ hình thức, nội dung của chứng cứ
Tuân thủ những nguyên tắc trên khi đánh giá chứng cứ là điều kiện đảm bảo cho việc đánh giá chứng cứ có hiệu quả trong việc giải quyết vụ án dân sự Luật sư khi đánh giá chứng cứ phải dựa trên cơ sở pháp luật như các quy định trong luật dân
sự, các luật chuyên ngành như luật đất đai, luật tố tụng và các văn bản hướng dẫn thi hành luật … đồng thời phải dựa trên cơ sở ý thức pháp luật là toàn bộ những hiểu biết về pháp luật và thái độ của các chủ thể áp dụng đối với pháp luật Và một điều quan trọng là đánh giá trên cơ sở niềm tin nội tâm của luật sư Niềm tin nội tâm là sự tin tưởng một cách chắc chắn vào các quyết định mà mình đã đưa ra Khi đánh giá chứng cứ được bằng tất cả các nguyên tắc trên luật sư có thể hiểu ngọn nguồn của tất cả các vấn đề có thể bảo vệ cho thân chủ của mình được một cách tốt nhất
Nghiên cứu đánh giá chứng cứ là để luật sư cùng đương sự muốn sử dụng kết quả
đó vào việc chứng minh một số vấn đề được gọi là đối tượng chứng minh
4 Đối tượng chứng minh:
Đối tượng chứng minh là những sự kiện tình tiết làm cơ sở cho yêu cầu của đương
sự và các tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết đúng vụ án Đây là vấn đề trọng tâm
mà luật sư cùng với các đương sự cần hướng hoạt động chứng minh vào để làm rõ