1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại

60 322 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 3,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sản xuất và kinh doanh hàng nông sản nói chung và sản phẩm rau nói riêng của nước ta còn thấp vẫn mang nặng tính tự phát, sức cạnh tranh của nông nghiệp thấp, giá thành cao, chất lượng c

Trang 1

VIỆN KHNN VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU RAU QUẢ

FOOD AND AGRICULTURE ORGANIZATION OF UNITED NATIONS

Trang 2

I MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Hiện nay, thực trạng về các mối liên kết trong chuỗi giá trị rau tại các vùng trọng điểm trồng rau trên cả nước đã có những tiến triển nhất định Sản xuất và kinh doanh hàng nông sản nói chung và sản phẩm rau nói riêng của nước ta còn thấp vẫn mang nặng tính tự phát, sức cạnh tranh của nông nghiệp thấp, giá thành cao, chất lượng chưa phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của thị trường, sự liên kết giữa sản xuất - kinh doanh - chế biến – tiêu thụ chưa phát triển mạnh Hiện nay tình hình sản xuất rau ở nước ta đã dần đi vào ổn định và đạt trạng thái cân bằng cả về chất và lượng Mỗi địa phương trong cả nước đều có những thế mạnh riêng trong sản xuất rau và luôn bổ sung cho nhau nhằm ổn định thị trường rau Tuy nhiên, sự kết nối giữa các tác nhân trong ngành hàng rau còn manh mún, nhỏ lẻ, các mối liên kết chưa thực sự bền vững

Việt Nam có khả năng sản xuất rau quanh năm với số lượng, chủng loại rau rất phong phú đa dạng ở nhiều vùng miền khác nhau trên cả nước Có đến 60-80 loại rau trong

vụ đông xuân, 20-30 loại rau trong vụ hè thu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu

Để góp phần đáp ứng được nhu cầu về kết nối các sản phẩm rau trong nước, tăng cường năng suất, chất lượng và an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm cho sản phẩm rau bằng việc tiếp cận chuỗi giá trị Thúc đẩy các cơ hội thị trường cho các loại rau của Việt Nam, từ

đó thiết lập hệ thống quản lý chất lượng và an toàn cho các sản phẩm rau, xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm cũng như tăng cường liên kết giữa người sản xuất và

các nhà kinh doanh, chúng tôi đi sâu “Nghiên cứu kết nối thi trường trong nước” là vấn đề

- Hệ thống lý luận và cơ sở thực tiễn về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ

- Đánh giá được hiện trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau tại các điểm thực hiện dự án là Sơn La, Hưng Yên, Lâm Đồng Thấy được nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm rau

an toàn của một số đơn vị thu mua (nhà chế biến, nhà phân phối và nhà xuất khẩu) tại địa bàn 3 tỉnh thực hiện dự án là Sơn La, Hưng Yên, Lâm Đồng và một số thị trường lớn

- Xác định các điều kiện cho các mối liên kết và khuyến cáo hình thức liên kết phù hợp với từng địa bàn

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng

Trang 3

- Đối tượng nghiên cứu: Các mối liên kết giữa sản xuất - kinh doanh - chế biến – tiêu thụ rau tại các địa bàn đã chọn của dự án

- Đối tượng thu thập số liệu: Nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà thu gom và nhà chế biến, xuất khẩu rau

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

1.3.2.1 Không gian

Địa điểm nghiên cứu là tại các tỉnh thực hiện dự án là Sơn La, Hưng Yên, Lâm Đồng

và thị trường lớn tiêu thụ lớn là TP Hà Nội

Trang 4

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC MỐI LIÊN KẾT TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ RAU

2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn trong liên kết sản xuất rau

2.1.1 Cơ sở lý luận về liên kết

Một số khái niệm về liên kết

- Liên kết: Khái niệm liên kết xuất phát từ tiếng Anh “integration”mà trong hệ thống

thuật ngữ kinh tế có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sáp nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hoá và gần đây mới gọi là liên kết

- Liên kết kinh tế: Theo từ điển Thuật ngữ kinh tế học của Viện nghiên cứu và phổ

biến tri thức bách khoa thì: liên kết kinh tế là hình thức hợp tác phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng

có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước Mục tiêu là tạo ra mối liên kết kinh tế

ổn định thông qua các hoạt động kinh tế hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt các tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra thị trường tiêu thụ chung, bảo vệ lợi ích cho nhau Liên kết kinh tế là quá trình xâm nhập, phối hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế dưới hình thức tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật, thông qua hợp đồng kinh tế để khai thác tốt các tiềm năng của các chủ thể tham gia liên kết Liên kết kinh

tế có thể tiến hành theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc giữa các ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vị khu vực và quốc tế

Với khái niệm về liên kết chung kể trên, có khái niệm về:

- Liên kết dọc: Là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất

kinh doanh (Theo dòng vận động của sản phẩm) Kiểu liên kết theo chiều dọc là toàn diện nhất bao gồm các giai đoạn từ sản xuất, chế biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm Trong mối liên kết này thông thường mỗi tác nhân tham gia vừa có vai trò là khách hàng của tác nhân trước đó đồng thời bán sản phẩm cho tác nhân tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian

- Liên kết ngang: Là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức hay cá nhân tham gia

là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểm soát chung Trong liên kết này mỗi thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế theo quy mô của tổ chức liên kết Kết quả của liên kết theo chiều ngang hình thành nên những tổ chức liên kết như Hợp tác xã, liên minh, hiệp hội và

có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường nhất định

2.1.2.Cơ sở thực tiễn về liên kết

2.1.2.1 Quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước ta về vấn đề liên kết trong sản xuất nông nghiệp

Trang 5

Thực hiện các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc về phát triển kinh tế-xã hội nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng theo hướng CNH, HĐH, Chính phủ đã ban hành một số văn bản quan trọng để triển khai và nhân rộng mô hình hợp tác, liên kết giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa doanh nghiệp nhà nước và sản xuất của kinh tế hộ ở nông thôn, ngày 15/6/2000 Chính phủ ban hành Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP về “một số chủ trương

và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, theo đó Nghị

quyết yêu cầu “Tạo thêm các nguồn lực, phát triển các hình thức hợp đồng với nông dân, liên kết có hiệu quả giữa nông nghiệp, công nghiệp chế biến và tiêu thụ nông sản”

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002, về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng; trong đó, quyết định nêu lên các hình thức liên doanh, liên kết giữa các chủ thể kinh tế nhằm thúc đẩy việc phát triển sản xuất gắn với tiêu thụ hàng hoá nông sản, bảo đảm lợi ích chính đáng của các bên tham gia liên doanh, liên kết mà trước hết là lợi ích của người nông dân Quyết định đã đặt ra mối quan hệ nhiều mặt giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội, trong đó chủ yếu là quan hệ giữa 4 nhà: nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, ngân hàng và có sự tham gia của nhà quản lý ở các Bộ, ngành, chính quyền đoàn thể các cấp

Chính phủ cũng ban hành các văn bản khác có liên quan như: Nghị định số 106/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 4/2004 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; Nghị định số 20/2005/NĐ-CP ngày 28/2/2005; Nghị định số 106/2004/NĐ-CP; Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 2/6/2006 về đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn; Nghị định số 56/2005/NĐ-CP ngày 26 tháng 4 năm 2005 về chính sách khuyến nông, khuyến ngư…

Cùng với các văn bản chỉ đạo phát triển các mô hình liên kết trong nông nghiệp, Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg nhằm khuyến khích phát triển liên kết sản xuất với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn được coi là bước đột phá nhằm thúc đẩy các mối liên kết ngày càng chặt chẽ hơn Các văn bản trên được ban hành nhằm tạo thuận lợi bằng chính sách để khuyến khích phát triển các mô hình liên kết trong nông nghiệp Trên tinh thần các Nghị quyết, Quyết định, Nghị định của Chính phủ, Bộ nông nghiệp và PTNT, các bộ ngành Trung ương và các địa phương đã ban hành các văn bản Chỉ thị, thông tư và hướng dẫn nhằm tổ chức thực hiện, khuyến khích các mô hình liên kết trong nông nghiệp phát triển

2.2.2.3 Tình hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ trên thế

* Hàn Quốc

Cũng như nhiều quốc gia Châu Á, các nông trại gia đình của Hàn Quốc là đơn vị kinh tế tự chủ nhưng quy mô trang trại nhỏ, bình quân chỉ có 1,3ha/hộ Cho đến năm 1960, nông nghiệp vẫn chiếm ½ GDP của nền kinh tế và ½ lao động, nhưng đến năm 2000 chỉ chiếm 4,4% GDP, năm 2002 chiếm 3,5% và sử dụng 2,3 triệu lao động Liên đoàn quốc gia HTXNN Hàn Quốc (NACF) được thành lập từ năm 1961, là tổ chức cao nhất (HTX của các

Trang 6

HTX ở cấp quốc gia) của HTX, liên hiệp HTXNN Hàn Quốc, được qui định trong Luật HTXNN Hàn Quốc Từ năm 1980, hệ thống HTXNN không ngừng hoàn thiện về tổ chức và hình thức hoạt động và đến nay đã rất hoàn chỉnh Cơ quan đứng đầu của Hệ thống là NACF, trong đó có hai nhánh là HTX cơ sở và HTX ở đô thị

+ Kinh nghiệm mở rộng chế biến sản phẩm nông nghiệp để tăng tốc độ tiêu thụ

hàng nông sản

Các HTX nông nghiệp của Hàn Quốc rất chú trọng đến việc nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng cho sản phẩm để cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu Số lượng nhà máy chế biến nông sản tăng từ 9 (năm 1988) lên 153 (năm 1998) nhà máy chế biến nông sản hiện đại với qui mô lớn trên toàn Trong đó có 14 nhà máy chế biến rau, 13 nhà máy làm dưa kim chi (món đặc sản nổi tiếng của Hàn Quốc), 12 nhà máy chế biến gạo, 12 nhà máy chế biến nước uống, 11 nhà máy chế biến đậu tương, 10 nhà máy chế biến chè và 8 nhà máy chế biến

ớt Tổng doanh thu qua các hoạt động chế biến năm 1998 đạt 174 triệu USD Cuối năm

1993, NAFC đã thiết lập 183 điểm thu mua hàng nông sản, 116 kho bảo quản lạnh và 30 trung tâm phân loại hoa quả Từ năm 1990 – 1993, số lượng các siêu thụ hàng nông sản tăng

từ 38 lên 217, các cửa hàng marketing trực tiếp tăng từ 38 lên 151 và các trung tâm buôn bán tăng từ 1 lên 6 Các điểm buôn bán hàng nông sản nhỏ được thành lập ngay tại các văn phòng chi nhánh của NACF Đến cuối năm 1998, các trung tâm trưng bày và bán buôn hàng nông sản đã được thành lập tại Yang-Jae, Chang-Dong và Cheong-Ju Các trung tâm buôn bán đã được xây dựng ở Gun-wi vào năm 1999, và Koh-Yang vào năm 2001 Thị phần của các HTX đã chiếm tới 40% vào năm 2001

Kinh nghiệm tiếp thị hàng nông sản của HTXNN Hàn Quốc

Trong NACF có Trung tâm bán buôn và phân phối nông sản chịu trách nhiệm nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản và bảo vệ thị trường Với mục tiêu đưa sản phẩm của HTX đến với người tiêu dùng, các kênh tiếp thị được tổ chức tại các trung tâm tiêu dùng quan trọng NACF đã tổ chức hệ thống tiêu thụ gồm 99 trung tâm bán buôn nông sản, và 12

“Câu lạc bộ Hanaro” (cửa hàng giảm giá lưu kho cho các thành viên), và 2.206 “Hanaro Mart” (siêu thị cho những người không phải là xã viên) và các tổ hợp tiếp thị nông sản Mô hình này đã giảm chi phí tiếp thị đơn lẻ, của các thành viên, mặt khác các thành viên bán sản phẩm ổn định với mức giá có lợi

Doanh số nông sản của hệ thống HTXNN Hàn Quốc năm 2008 đạt tới 19,3 tỷ USD, trong đó 70% từ các HTX cơ sở Hiện nay, Liên đoàn quản lý một hệ thống doanh nghiệp kinh doanh nông sản lớn nhất và cạnh tranh mạnh nhất, nắm giữ 40% thị phần buôn bán nông sản trên thị trường Hàn Quốc

Trang 7

Mức tiêu dùng rau bình quân tại Thái Lan là 53 kg/người/năm với các kênh tiêu thụ rau chủ yếu trên thị trường là:

Loại kênh thứ nhất: Người sản xuất - Nhóm nông dân tự thành lập - Người bán buôn (tại Băng Cốc)/Người chế biến/Xuất khẩu - Người bán buôn - Người bán lẻ - Người tiêu dùng

Loại kênh thứ hai: Người sản xuất - người thu gom trên địa bàn trồng rau - thị trường bán buôn trung tâm - người bán buôn tại Băng Cốc - người bán lẻ - người tiêu dùng

Thông thường phần lớn các thương lái thu gom rau trực tiếp tại các nông hộ và chở rau đi bằng xe tải Một số nông hộ cũng có thể bán trực tiếp rau ra chợ bằng cách chuyên chở bằng xe tải riêng của gia đình Rau thường được vận chuyển vào buổi chiều và được tiêu thụ chủ yếu ở các chợ bán buôn lớn ở Băng Cốc Khoảng hơn 20% lượng rau ở các chợ bán buôn được đưa đến các siêu thị và khuynh hướng này đang tăng dần trong cách tiêu thụ rau an toàn ở Thái Lan

Đối với Thị trường giao dịch theo hợp đồng: Cục nội thương trực thuộc Bộ Thương mại thiết lập thị trường để phục vụ cho các giao dịch theo hợp đồng giữa người nông dân hoặc tổ chức nông nghiệp với những người mua hàng Cục nội thương đề ra tiêu chuẩn hàng hoá, đề ra mẫu hợp đồng tiêu chuẩn, Văn phòng thương mại của Cục nội thương đặt tại các tỉnh để điều tiết các hoạt động ký kết, giám sát thực hiện hợp đồng, tham gia cùng với bên trọng tài và các bên ký kết giải quyết mâu thuẫn khi có tranh chấp

* Trung Quốc

Theo kết quả khảo sát của Trung Quốc thì hầu hết nông dân được phỏng vấn đều đồng tình với phương pháp sản xuất theo hợp đồng và hưởng ứng cách làm này Tuy nhiên, sản xuất theo hợp đồng có xu hướng bỏ qua những người sản xuất nhỏ Nông dân xác định được giá cả ổn định và được tiếp cận thị trường như là những ưu điểm chính của phương thức này để ký hợp đồng với doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp coi việc cải tiến chất lượng sản phẩm là mấu chốt để đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện kết quả là sản xuất thep phương thức này là chất lượng sản phẩm cao hơn, chi phí sản xuất và tiếp thị thấp hơn Trong chương trình công nghiệp hoá nông nghiệp, chính phủ Trung Quốc có chủ trương hỗ trợ và thúc đẩy phương thức hợp đồng sản xuất nông nghiệp nhằm mục tiêu tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh cho sản xuất nông nghiệp Hợp đồng sản xuất nông nghiệp như phương tiện để gắn nông dân sản xuất nhỏ với doanh nghiệp chế biến quy mô lớn Chính quyền địa phương đã nhận thức tiềm năng của sản xuất theo hợp đồng trong việc cơ cấu lại sản xuất và tăng thu nhập cho nông dân

Những đặc điểm chính có được từ phương thức sản xuất theo hợp đồng là:

- Số hàng hoá nông nghiệp sản xuất theo phương thức này tăng một cách vững chắc

- Địa bàn áp dụng phương thức sản xuất này cũng tăng nhanh chóng, ngay cả đến những vùng kém phát triển của miền Trung và Tây Trung Quốc

- Quy mô của phương thức sản xuất này cũng mở rộng và số lượng hợp đồng cũng tăng nhanh

Kết quả phân tích từ điều tra 1036 hộ nông dân, trong đó có 220 hộ (chiếm 21%) thực

Trang 8

hiện hợp đồng đã chỉ ra những lý do tại sao việc thực hiện hợp đồng còn khó khăn và có liên quan đến cả hai phía nông dân và doanh nghiệp

2.2.2.4 Bài học rút ra từ hoạt động liên kết của một số nước trên thế giới

Đối với các nước có sản xuất nông nghiệp và đặc biệt là sản xuất rau, trong sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm rau đều có hoạt động liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ, mối liên kết này có quy mô khá và rất lớn, thường liên kết trong một vùng hay một ngành hoặc nhiều ngành

Chính phủ các nước cũng rất quan tâm đến vấn đề là làm thế nào để người sản xuất nông nghiệp yên tâm sản xuất, người chế biến yên tâm về nguồn đầu vào cho sản xuất, người tiêu dùng thì hài lòng về các sản phẩm sau chế biến có mặt trên thị trường, vì thế họ ban hành những chính sách vĩ mô giúp cho hoạt động liên kết thực sự hiệu quả, góp phần phát triển kinh

tế xã hội

Các đối tượng thu mua đầu ra tồn tại dưới nhiều loại hình như: loại hình HTX ở Hàn Quốc hay loại hình các cơ sở, các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào thu mua các sản phẩm đầu ra cho nông dân nhằm tạo nguồn đầu ra ổn định cho người sản xuất và nguồn đầu vào

ổn định cho các doanh nghiệp chế biến, mặt khác hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ đã mang lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông nghiệp

Chính từ những nhận thức về lợi ích từ hoạt động liên kết mang lại, từ những năm đầu của thế kỷ 19 một số nước trên thế giới đã biết vận dụng và thực hiện hoạt động này rất hiệu quả

2.2.3 Tình hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp của Việt Nam

Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/6/02 được ban hành

là cơ sở pháp lý đầu tiên để hình thành mối liên kết 4 nhà, đặc biệt giữa nhà nông và nhà doanh nghiệp Mặc dù một số doanh nghiệp không đợi đến Quyết định số 80 ra đời nhưng

họ đã thực hiện việc ký kết hợp đồng tiêu thụ và ứng trước vật tư với nông dân từ lâu, bước đầu thực hiện thành công

* Ưu điểm của Quyết định 80/2002/QĐ-TTg

Thúc đẩy hình thành nhiều vùng nguyên liệu gắn liền với chế biến và tiêu thụ nông sản, nhất là đối với sản xuất mía đường, thuốc lá, sữa và một số loại rau quả Đã xuất hiện nhiều mô hình liên kết thành công ở các địa phương

* Nhược điểm của Quyết định 80/2002/QĐ-TTg

- Tỷ trọng giá trị sản phẩm được sản xuất, chế biến, tiêu thụ qua hợp đồng thấp Nhiều mặt hàng xuất khẩu lớn như gạo, cà phê, chè, rau quả, chế biến gỗ tỷ lệ tiêu thụ qua hợp đồng chỉ chiếm từ 3 – 15%

- Vai trò của các bên trong liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản còn hạn chế Các doanh nghiệp thường dựa vào thương lái thu gom nông sản, chưa phát triển liên kết trực tiếp với nông dân; các cơ quan, tổ chức khoa học còn thụ động, chưa chủ động liên kết với doanh nghiệp và người sản xuất để thực hiện các hợp đồng nghiên cứu; cơ quan chính quyền địa phương còn lúng túng trong chỉ đạo phát triển liên kết tại địa phương

Trang 9

III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu thành phố Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của cả nước với dân số xấp xỉ 7 triệu người là một thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất nhì cả nước Đây là địa bàn tập trung nhiều dân cư có dân trí cao, đời sống của người dân ổn định nên việc tiêu dùng rau quả rất được coi trọng Đặc biệt hệ thống bán hàng rau quả lại rất đa dạng từ truyền thống đến hiện đại Hệ thống cửa hàng, siêu thị có bán rau chất lượng ngày càng nhiều nhắm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân Các hình thức liên kết bán hàng rau rất phát triển và trong nhiều năm tới đây vẫn là địa bàn tiêu thụ mạnh các sản phẩm rau

3.2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu tỉnh Lâm Đồng

Lâm Đồng thuộc Nam Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên 9.772,19 km2 Đây là vùng rau trọng điểm của cả nước và có truyền thống sản xuất rau lâu đời Về đất đai, khí hậu, địa hình rất phù hợp cho sản xuất rau Một thế mạnh nữa của Lâm Đồng là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là thị trường có nhiều tiềm năng lớn Toàn tỉnh có thể chia thành 3 vùng với 5 thế mạnh: Phát triển cây công nghiệp dài ngày, lâm nghiệp, khoáng sản, du lịch - dịch vụ và chăn nuôi gia súc Các hình thức liên kết trong chuỗi giá trị rau rất chuyên nghiệp và được đánh giá là địa hương tiêu biểu đi đầu về sản xuất và tiêu thụ rau trong cả nước

3.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu tỉnh tỉnh Sơn La

Tỉnh Sơn La là tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam, tỉnh có diện tích 14.125 km² chiếm 4,27% tổng diện tích Việt Nam, đứng thứ 3 trong số 63 tỉnh thành phố

Sơn La có khí hậu cận nhiệt đới ẩm vùng núi, mùa đông phi nhiệt đới lạnh khô, mùa

hè nóng ẩm, mưa nhiều Do địa hình bị chia cắt sâu và mạnh nên hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu, cho phép phát triển một nền sản xuất nông - lâm nghiệp phong phú Vùng cao nguyên Mộc Châu phù hợp với cây trồng và vật nuôi vùng ôn đới Vùng dọc sông Đà phù hợp với cây rừng nhiệt đới xanh quanh năm Đây cũng là địa phương có tiềm lực phát triển cây rau rất mạnh Với lơi thế về đất đai và khí hậu có thể phát triển các loại rau đặc sản, rau trái vụ mang lại lợi ích kinh tế cao Chúng tôi lựa chọn các xã tiêu biểu có truyền thống phát triển rau như Đông Sang, Mường Sang và Chiềng Hắc để đánh giá hiện trạng liên kết trong chuỗi giá trị rau

3.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu tỉnh Hưng Yên

Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng Việt Nam có diện tích 923,09 km² Hưng Yên là một tỉnh công nghiệp phát triển nhanh và mạnh nhất của miền Bắc Hiện nay trên địa bàn tỉnh có rất nhiều các khu công nghiệp lớn như phố nối A, phố nối B (khu công nghiệp dệt may), khu công nghiệp Thăng long II (Mitsutomo Nhật Bản), khu công nghiệp Như Quỳnh, khu công nghiệp Minh Đức, khu công nghiệp nhỏ Kim Động, khu công nghiệp Quán Đỏ Sản phẩm công nghiệp của tỉnh là dệt may, giày da, ô tô, xe máy, công nghiệp thực phẩm Cơ cấu theo hướng phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ đang là chủ đạo

Trang 10

Đây cũng là địa bàn có truyền thống sản xuất rau, đặc biệt là các loại rau chuyên phục vụ chế biến xuất khẩu Tuy nhiên hiện trạng liên kết trong chuỗi giá trị rau tại Hưng Yên chưa thực sự gắn kết và cần có sự can thiệp từ nhiều hướng khác nhau mới có thể cải thiện được sự phát triển bền vững theo định hướng của tỉnh

* Các cơ sở chế biến – xuất khẩu trên địa bàn tỉnh:

Trên địa bàn tỉnh hiện nay có khoảng trên 10 cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến các mặt hàng nông sản;

Nguồn cung cấp sản phẩm chính: Các địa phương có phong trào trồng cây vụ đông, cây màu,… trong và ngoài tỉnh;

Các chủng loại sản phẩm: Dưa chuột, Cà chua bi, Ớt, Thì là, Tỏi,…

Các hình thức liên kết với các nhà cung cấp sản phẩm đầu vào: Liên kết theo chiều dọc (hoặc vừa chiều ngang, vừa chiều dọc) bằng Hợp đồng bao tiêu sản phẩm (hợp đồng bằng văn bản hoặc hợp đồng bằng miệng);

Các dạng sản phẩm chế biến: Đồ hộp đông lạnh là chủ yếu, thị trường chính của họ trong nước là các tỉnh thành phía nam, các cửa hàng siêu thị ngoài Hà Nội Nước ngoài là các thị trường khá quen thuộc như Liên bang Nga, Trung Quốc…

3.5 Phương pháp nghiên cứu

- Tiếp cận theo từng vùng, từng tỉnh và từng thị trường

3.5.2 Chọn địa bàn nghiên cứu:

Chọn 3 điểm thực hiện dự án là Sơn La, Hưng Yên, Lâm Đồng và thành phố Hà Nội

3.5.3 Phương pháp Thu thập số liệu

3.5.3.2 Số liệu sơ cấp

Trang 11

Các số liệu sơ cấp ở đây là những số liệu mới, chúng được thu thập qua quá trình quan sát, điều tra, phỏng vấn trực tiếp các đối tượng kể trên bằng các bản câu hỏi đã được soạn thảo trước Các số liệu sơ cấp chủ yếu liên quan đến tình hình thực tế sản xuất và nhu cầu kinh doanh của các tác nhân

* Các bước tiến hành như sau:

Bước 1: + Thu thập các thông tin từ các Sở NN và PTNT, các huyện có vùng dự án

triển khai

+ Phỏng vấn nhanh các tác nhân theo từng vùng để từ đó xác định mẫu khảo sát

Bước 2: Tiến hành phỏng vấn sâu các tác nhân

Phỏng vấn 12 nhà quản lý ngành hàng rau tại Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và PTNT ở Hà Nội và các tỉnh Sơn La, Hưng Yên, Lâm Đồng để có được thông tin chung

Phỏng vấn 4 siêu thị, 5 cửa hàng, 15 người sản xuất, 7 người thu gom, 4 nhà chế biến xuất khẩu, Đây là những người tham gia trực tiếp vào sản xuất cũng như những người chịu trách nhiệm chính trong đơn vị kinh doanh được phỏng vấn

Ngoài ra, nghiên cứu còn lấy ý kiến chuyên gia:

- Lấy ý kiến của các cơ quan quản lý tại các địa phương

- Các đấu mối của đơn vị chế biến xuất khẩu trên địa bàn triển khai dự án

Bảng 1 Số mẫu điều tra

Nhà Quản lý

Siêu thị

Cửa hàng

Người sản xuất

Người thu gom

Chế biến xuất khẩu Tổng số

3.5.5 Phương pháp phân tích thông tin, số liệu

3.5.5.1 Phương pháp thống kê mô tả:

Mô tả thực trạng các mối liên kếttrong chuỗi giá trị rau tại 3 điểm thực hiện dự án là Sơn

La, Hưng Yên và Lâm Đồng

3.5.5.2 Phương pháp so sánh:

- Hệ các dữ liệu thu thập được thành các bảng chỉ tiêu để từ đó so sánh và đánh giá

- Phương pháp này được dùng để so sánh kết quả và năng lực sản xuất và nhu cầu kinh doanh của các tác nhân trong chuỗi giá trị rau So sánh khả năng liên kết giữa các vùng triển khai dự án, lượng hoá thông qua hệ thống chỉ tiêu, sau đó tiến hành so sánh mức độ đạt được của từng chỉ tiêu thông qua thời gian, không gian nhất định để rút ra nhận xét, đánh giá và đưa ra kết luận

Trang 12

IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thực trạng về tình hình sản xuất và tiêu thụ rau của Hà Nội

4.1.1 Thực trạng về tình hình sản xuất rau của Hà Nội

Thành phố Hà Nội có tổng diện tích canh tác rau 12.041 ha; tương đương 29.000 ha gieo trồng/năm, phân bố ở 22 quận, huyện, thị xã Chủng loại rau được sản xuất ở Hà Nội khá phong phú với trên 40 loại rau, tập trung chủ yếu ở vụ Đông xuân Năng suất rau trung bình đạt 19-20 tấn/ha/vụ, sản lượng rau ước đạt 570.000tấn/năm, tương đương 1.560 tấn/ngày Nhu cầu rau xanh của Thành phố khoảng 2.600 tấn/ngày, tương đương 950.000 tấn/năm Với 12.041 ha canh tác rau như trên có khả năng đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu rau xanh của người dân Thủ đô, còn lại 40% lượng rau từ các địa phương khác đưa về

Bảng 2 Biến động đề diện tích, năng suất và sản lượng rau

trên địa bàn thành phố Hà Nội

1 Tổng diện tích sản xuất rau (ha) 11.650 12.000 12.041,7 12.041,7

2 Sản lượng (tấn/năm) 558.430 567.200 570.000 570.000

3 Diện tích sản xuất RAT:

- RAT được xác nhận (ha): 2.105 2.626 3.255 3.800

Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội, 2014

4.1.2 Các kênh tiêu thụ chính của Hà Nội

Dựa vào đặc điểm của rau chất lượng cao, vị trí nơi sản xuất mà rau chất lượng cao của Hà Nội đã xây dựng được hệ thống phân phối Hệ thống phân phối rau chất lượng cao của Hà Nội được thể hiện qua sơ đồ dưới đây:

Sơ đồ Các kênh tiêu thụ chính của thị trường rau Hà Nội

Hà Nội, An Việt

Một số HTX ở Tây Bắc (Dì Thàng, Lào Cai; Mộc Châu, Sơn La,…)

HTX Xuân Hương;

Công ty TNHH Đà Lạt GAP (Đà Lạt, Lâm Đồng)

Cửa hàng, quầy Siêu thị Bếp ăn tập thể ở các trường học, công ty

Nhà hàng

Người tiêu dùng

Trang 13

Sơ đồ 1 Kênh tiêu thụ rau chất lượng cao ở Hà Nội

Nguồn: Số liệu điều tra, FAVRI, 6/2014

a Các loại rau bày bán tại cửa hàng và siêu thị

Bảng 3: Chủng loại rau được bày bán tại cửa hàng và siêu thị

trên địa bàn thành phố Hà Nội

1 Cửa hàng

Cải bẹ đông dư,Xu hào, bắp cải, cà chua, rau muống, rau ngót, dưa chuột, các lại cải, rau gia vị, bí xanh, bí đỏ, rau dền, ngon su su, đậu trạch, hành tỏi…

Bắp cải, cà chua, bí xanh…

2 Siêu thị

Đậu leo, xu hào, bắp cải, cà chua, rau muống, rau ngót, dưa chuột, các lại cải, rau gia vị, bí xanh, bí đỏ, rau dền, ngon su su, xúp lơ…

Cà chua, bắp cải, các loại cải, hành tỏi …

b Nhu cầu về số lượng rau tươi của cửa hàng và siêu thị

Tùy thuộc vào các nhà phân phối khác nhau mà lượng rau nhập của họ cũng có sự khác nhau đáng kể Lượng rau nhập cụ thể cho từng tác nhân được phản ánh qua bảng dưới đây

Bảng 4: Số lượng rau an toàn cần bởi những tác nhân khác nhau

Số lượng cần mua (kg/ngày)

Nguồn: Số liệu điều tra, 2014

c Các tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp rau

Trang 14

Nguồn: Số liệu điều tra,FAVRI, 6/2014

Đồ thị 2 Tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp rau ở một số cửa hàng, siêu thị chính tại Hà Nội

(Xếp thứ tự quan trọng)

Đối với kênh phân phối hiện đại của sản phẩm rau, thông qua cửa hàng và siêu thị, việc đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm luôn là suy nghĩ đầu tiên mà khách hàng có khi đến mua và cũng là yêu cầu của các cơ quan chức năng khi cấp phép kinh doanh cho các cửa hàng, siêu thị vì vậy tiêu chí này là ưu tiên hàng đầu khi lựa chọn nhà cung cấp, đặc biệt là các siêu thị, ngành hàng rau quả luôn chú ý đến quá trình sản xuất tại vùng cung cấp rau trước khi đi đến kí kết hợp đồng

4.2 Tình hình sản xuất rau và tiêu thụ rau tại Lâm Đồng

4.2.1 Tình hình sản xuất rau của tỉnh Lâm Đồng

Tình hình năng suất, diện tích, sản lượng rau

Diện tích rau trên toàn tỉnh năm 2013 đạt xấp xỉ 48.00 ha (Sở NN & PTNT Lâm Đồng), trong đó nhóm rau ăn lá với hơn 20 chủng loại (48% diện tích); nhóm rau ăn củ với

10 chủng loại rau (20%), nhóm rau ăn quả bao gồm 9 chủng loại (27%), còn lại là các loại rau ăn hoa, rau gia vị

Nghề trồng rau ở Đà Lạt mang tính hàng hóa cao, đã giải quyết việc làm và mang lại thu nhập không nhỏ cho hàng trăm ngàn hộ nông dân (giá trị sản xuất trên đất canh tác bình quân 150 triệu đồng/ha/năm) Vì vậy, qua đó nông dân đã tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm và mạnh dạn đầu tư khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đặc biệt trong công nghệ giống, tưới tiêu,…; 100% diện tích rau được cơ giới cho khâu làm đất và tưới nước; 3700 ha (gần

0 1 2 3 4 5 6

Độ an toàn của rau

Trang 15

10%) diện tích rau ứng dụng công nghệ cao, trong đó 240 ha rau trồng trong nhà kính; 114,47 ha rau nhà lưới và gần 1.00 ha có hệ thống tưới tự động kết hợp bón phân lỏng Vung chuyên canh rau Đà Lạt được hình thành từ những năm 1930 Năm 1993 Đà Lạt bắt đầu áp dụng chương trình sản xuất ”rau sạch”, chương trình rau sạch của Bộ, 1997 Công nghệ cao đã được áp dụng với diện tích 400 ha chủ yếu sản xuất rau cao cấp

Hiện nay tại Lâm Đồng có 6 cơ sở tham gia chuỗi sản xuất, sơ chế và tiêu thụ rau an toàn, đứng đầu sản lượng hàng năm là HTX Dịch vụ Nông nghiệp tổng hợp Anh Đào, Đà Lạt với 18 ngàn tấn, canh tác hơn 73 ha được cấp Chứng nhận VietGAP Kế tiếp là HTX Nông nghiệp Thạnh Nghĩa, Đơn Dương sản xuất gần 68ha rau an toàn, sản lượng từ 12 - 15 ngàn tấn; Công ty TNHH Sản xuất Thương mại nông sản Phong Thúy, Đức Trọng sản xuất hơn 40ha rau đạt Chứng nhận VietGAP, đạt sản lượng 6 ngàn tấn Còn lại 3 cơ sở gồm: Doanh nghiệp tư nhân Phú Sỹ Nông, Đơn Dương đạt sản lượng kinh doanh trên 2 ngàn tấn/năm; HTX Xuân Hương, Đà Lạt sản xuất gần 4ha đạt Chứng nhận VietGAP, sản lượng đạt 800 tấn/năm; Cơ sở Nông sản Đức Thành, Đà Lạt canh tác trên 3ha rau sử dụng nhãn

hiệu “Đà Lạt”, sản lượng kinh doanh 500 tấn/năm

Bảng 5: Các đơn vị tham gia chuỗi sản xuất, sơ chế, tiêu thụ rau

được cấp chứng nhận VietGAP

3 Công ty TNHH Sản xuất Thương

mại nông sản Phong Thúy

Nguồn: Sở NN & PTNT Lâm Đồng, năm 2014

Thị trường tiêu thụ ổn định rau an toàn của 6 cơ sở nói trên phát triển đều khắp ở các

hệ thống chợ đầu mối, siêu thị tại các khu vực Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên, đồng thời

mở rộng sang các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Campuchia…

Bảng 6: Diện tích, sản lượng rau của tỉnh Lâm Đồng

Trang 16

Huyện khác 1.940 2.403 2.459 2.281 2.186,2 2.731

Sản lượng (tấn) 933.895 1.128.356 1.243.918 1.296.424 1.398.469 1.594.398

Trong đó

Đà lạt 203.439 211.336 226.643 262.971 289.826 289.750 Lạc Dương 45.217 60.724 69.594 80.100 86.260 101.200 Đơn Dương 368.928 508.167 568.977 541.800 576.410 716.445 Đức Trọng 290.774 313.803 347.894 381.750 403.870 495.475 Huyện khác 25.537 34.335 30.810 29.803 42.103 50.100

Nguồn: Sở NN & PTNT Lâm Đồng, năm 2014

Những nhóm rau chính và phân bổ diện tích gieo trồng rau của tỉnh Lâm Đồng Bảng 7 Chủng loại của các nhóm rau chínhđược sản xuất tại Lâm Đồng

Nhóm rau chính % tổng diện tích Chủng loại

* Rau ăn lá 48 Xà lách, Cải thảo, Bó xôi, Rau cải, Bắp cải,

Rau thơm các loại, Cần tây, Paro hành, Nha đam, Đọt bí, Đọt su su, Rau muống, Xà lách xoong, Rau mầm, nấm các loại…

* Rau ăn củ 20 Khoai tây Cà rốt Hành tây Củ cải đỏ Su hào

Củ cải Củ dền Củ hồi

* Rau ăn hoa 5 Súp lơ, Kim châm, Artiso, Bông bí…

* Rau ăn quả 27 Su su, Cà tím, Bầu, Bí, Cà chua, Mướp đắng,

Dưa leo, Đậu cove, Đậu Hòa lan, Ớt ngọt, Ớt cay, Chanh…

Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng, năm 2014 Bảng 8: Phân bố diện tích gieo trồng các loại rau trong các vụ chính của tỉnh Lâm Đồng

TT Thời vụ Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Nguồn: Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng

* Tiềm năng sản xuất rau của Lâm Đồng

Trang 17

Vùng Rau tỉnh Lâm Đồng tập trung tại các địa bàn Đà Lạt, Đức Trọng, Lạc Dương, Đơn Dương và Lâm Hà Diện tích trồng rau các loại năm 2013 là 51.729 ha với tổng sản lượng đạt 1.952.390 tấn, trong đó sản lượng xuất khẩu 8.918 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 21,8 triệu USD Rau Đà Lạt từng bước được sản xuất theo phương pháp rau an toàn Tuy vậy, vấn đề giống, công nghệ sản xuất hiện đại, công nghệ sau thu hoạch và chế biến rau vẫn còn là những lĩnh vực cần có các nhà đầu tư Thương hiệu rau Đà Lạt đã được công nhận, hiện đang tiếp tục xây dựng tiêu chuẩn GAP cho thương hiệu rau Đà lạt để đáp ứng cho thị trường xuất khẩu

Rau Lâm Đồng được tiêu thụ ở hầu hết các thành phố lớn, các địa phương trong cả nước, về xuất khẩu Rau Lâm Đồng phần lớn được xuất khầu sang thị trường Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Campuchia

* Kênh tiêu thụ chính của Lâm Đồng

Sơ đồ 3: Các kênh tiêu thụ rau của Lâm Đồng Ghi chú:

Kênh tiêu thụ chính Kênh tiêu thụ sản phẩm với tỷ lệ nhỏ

Kênh tiêu thụ sản phẩm với tỷ lệ trung bình

Nguồn: Số liệu điều tra, 2014

Bán

thị/cử

a hàng

Người bán lẻ

NGƯỜI TIÊU DÙNG

Xuất khẩu

Trang 18

4.2.2 Tình hình liên kết trong tiêu thụ sản phẩm rau

Qua phân tích và đánh giá thực trạng tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rau tại Lâm Đồng cho thấy:

Về hình thức tổ chức sản xuất rau

Quá trình nghiên cứu cho thấy, tại tỉnh Lâm Đồng, có các hình thức tổ chức sản xuất rau như sau:

● Sản xuất theo hộ gia đình: các hộ tự quyết định trong khâu tổ chức cũng như tiêu

thụ sản phẩm của họ Hình thức này chiếm hơn 95% diện tích, cung cấp chủ yếu sản lượng rau quả cho thị trường và các cơ sở chế biến Sản xuất ở nông hộ chủ yếu là khâu gieo trồng, canh tác; đa phần khi đến khâu thu hoạch, bảo quản do các cơ sở thu mua, các công

ty chế biến đảm trách

● Sản xuất theo tổ hợp tác/hợp tác xã: các xã viên tham gia HTX, tổ chức sản xuất

và tiêu thụ theo kế hoạch của ban chủ nhiệm Trong tỉnh có 12 hợp tác xã sản xuất được tổ chức khép kín từ khâu canh tác, thu hoạch, sơ chế và tiêu thụ Sản phẩm sản xuất từ các HTX chưa nhiều, tuy nhiên chất lượng được kiểm soát, quản lý tốt, có kế hoạch sản xuất tốt

và thị trường tương đối ổn định Diện tích đất sản xuất trong các hợp tác xã này chiếm khoảng 2%

● Các loại hình doanh nghiệp (công ty tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần,…)

Bên cạnh diện tích trồng rau của doanh nghiệp, họ còn tổ chức thu mua rau từ các hộ sản xuất Diện tích rau quả được sản xuất từ các doanh nghiệp chiếm khoảng 7%;

Về tình hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau

Kết quả khảo sát cho thấy có hai hình thức liên kết sản xuất tiêu thụ trong chuỗi giá trị rau Lâm Đồng gồm:

● Liên kết dọc: gồm hộ nông dân liên kết trực tiếp với doanh nghiệp theo hình thức

hợp đồng nông sản (Trường hợp Công ty CP Nông Sản Thực Phẩm Lâm Đồng, TT Phong Thuý)

Hiện nay các đơn vị này ký hợp đồng với nông dân để thu mua sản phẩm Các đơn vị này có kho bãi, nhà xưởng và phương tiện vận chuyển, sơ chế và bao gói tùy theo nhu cầu của từng khách hàng Họ có phương tiện vận chuyển để thu mua sản phẩm từ các vùng sản xuất Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp kiểm soát quy trình kỹ thuật và có các cán bộ hướng dẫn người sản xuất thực hiện theo quy trình Thông qua sự liên kết kết

Trang 19

giữa nông dân và doanh nghiệp đã tạo ra sự phát triển sản xuất rau bền vững ở Lâm Đồng

● Liên kết ngang: các hộ nông dân liên liên kết sản xuất tiêu thụ theo hình thức xã

viên trong HTX sản xuất rau an toàn: trường hợp HTX DVNNTH Anh Đào)

Các đối tượng rau của HTX bao gồm cà chua, bắp cải, cà rốt, khoai tây, cải thảo, ớt các loại, xà lách, bó xôi…Sau khithu hoạch, loại bỏ những sản phẩm không đạt chất lượng, người sản xuất mang đến điểm tập kết hàng hóa của HTX Việc tổ chức sản xuất được thống nhất giữa ban chủ nhiệm và các hộ xã viên Công tác giám sát chất lượng để đảm bảo chất lượng sản phẩm giữa các hộ được theo dõi thường xuyên hàng ngày với đội ngũ cán bộ kỹ thuật của HTX

Thời gian và khối lượng giao nhận rau của từng hộ đều được ghi chép vào sổ theo dõi bởi đại diện ban chủ nhiệm và hộ xã viên Việc tiêu thụ sản phẩm rau do ban chủ nhiệm HTX quyết định và chịu trách nhiệm điều phối chung

● Nông dân sản xuất tự do

Đây là hình thức sản xuất tiêu thụ phổ biến nhất đối với người sản xuất rau trên địa bàn tình Lâm Đồng Trong trường hợp này, rau chủ yếu được sản xuất theo kinh nghiệm của nông dân và cung cấp cho người tiêu dùng thông qua nhiều đối tượng người thu gom, bán buôn Giữa nông dân và người thu gom, bán buôn không có một quy định ràng buộc nào về

số lượng, chất lượng, yêu cầu kỹ thuật, thời gian, giá cả Quan hệ giữa người thu gom, bán buôn và nông dân chỉ là quan hệ mua bán sản phẩm theo thị trường tự do dựa trên thỏa thuận miệng giữa hai bên và theo mối quen qua nhiều năm

Bảng 9 Đánh giá điểm mạnh, hạn chế trong liên kết tiêu thụ rau tại các đơn vị nghiên cứu

● Chủng loại rau sản xuất đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp

● Được cung cấp giống rau đảm bảo chất lượng

● Sản phẩm rau sản xuất ra đảm bảo chất lượng

● Đòi hỏi nguồn lực: vốn, đất đai, nguồn lao động lớn

● Thực hiện quy trình kỹ thuật nghiêm túc, cặn kẽ

● Doanh nghiệp phân loại sản phẩm chặt chẽ

● Doanh nghiệp ký hợp đồng chưa thường xuyên, lâu dài với người sản xuất

Trang 20

● Được doanh nghiệp hướng dẫn thực hiện đúng quy trình kỹ thuật

● Sản phẩm sản xuất ra được đảm bảo tiêu thụ

● Người sản xuất có tâm lý không muốn bị ràng buộc bởi hợp đồng

Liên kết ngang

(HTX sản xuất và

tiêu thụ RAT)

● Các hộ trong HTX áp dụng quy trình sản xuất chung

● Các xã viên hỗ trợ nhau trong tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

● Cán bộ kinh doanh của HTX năng động kiếm thị trường, đàm phán và ký hợp đồng với các đối tác, gắn bó với HTX

● Một số HTX đã có thương hiệu,

đã xác lập được vị trí trên thị trường trong nước

● Có điều kiện để liên kết với các

tổ chức nghiên cứu khoa học trong việc nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật

● Người sản xuất phải có đầy đủ nguồn lực (vốn, đất đai, lao động) và trình độ áp dụng kỹ thuật cao vào sản xuất

● HTX mới dừng lại ở việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho xã viên mà chưa có các hoạt động cung ứng vật tư đầu vào: giống, phân bón

Nông dân sản xuất

tự do

● Người thu gom, bán buôn mua tất cả sản phẩm rau theo hình thức mua non

● Nhanh thu hồi vốn cho các hộ nông dân sản xuất nhỏ,sản xuất theo truyền thống

● Mua bán thông qua thỏa thuận miệng, nhanh chóng thống nhất giá cả, chất lượng

● Không đòi hỏi hợp đồng, yêu cầu chất lượng cũng như quy trình thực hiện

● Mối liên kết giữa người mua

và người bán không chặt chẽ, không bị ràng buộc

● Người mua và người bán không liên hệ thường xuyên nên không nắm được nhu cầu cũng như khả năng cung cấp

● Hiện tượng người thu gom, bán buôn liên kết để ép giá nông dân để ép cấp, ép giá người sản xuất

● Chất lượng sản phẩm rau tiêu thụ qua kênh này không được đảm bảo từ khâu sản xuất cho tới khi tới tay người tiêu dùng

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2014

* Các khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoàn thiện mô hình liên kết tại Lâm Đồng

Qua phân tích cho thấy, tại Lâm Đồng có hai hình thức liên kết trong sản xuất và tiêu

Trang 21

thụ tương đối thành công đó là hình thức hợp đồng nông sản giữa các doanh nghiệp và hộ nông dân và mô hình HTX sản xuất RAT Tuy nhiên, cũng có một HTX chưa thành công trong liên kết giữa các xã viên trong HTX (HTX DVNN Thạnh Nghĩa) trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn, vì vậy cần phải có những hoạt động hỗ trợ trong thời gian tới như:

- Tăng cường sự tham gia của các đơn vị nghiên cứu, vai trò của địa phương trong việc khuyến khích, hướng dẫn xây dựng, giám sát hợp đồng giữa người sản xuất, HTX và doanh nghiệp

- Cần tư vấn, hỗ trợ HTX (HTX DVNN Thạnh Nghĩa) thành lập các tổ chuyên trách

về phụ trách sản xuất, kinh doanh thuộc HTX nhằm giúp đỡ các xã viên từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm,

- Đào tạo, cải thiện năng lực cho ban chủ nhiệm HTX về kỹ năng quản lý tổ nhóm, lập phương án sản xuất kinh doanh, marketing tìm kiếm thị trường

- Khuyến khích và hỗ trợ các HTX thực hiện các dịch vụ cung ứng đầu vào cho xã viên để giúp giảm chi phí và chủ động trong sản xuất và liên kết đa dạng với các đối tượng kinh doanh rau để tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho xã viên

4.3 Tình hình sản xuất và kinh doanh rau tại Mộc Châu - Sơn La

4.3.1 Thực trạng tình hình sản xuất rau trên địa bàn huyện Mộc Châu

*Quy mô diện tích

Bảng 10 Diện tích gieo trồng rau trên địa bàn huyện Mộc Châu 2011-2013

Trang 22

Nguồn: UBND huyện Mộc Châu, 2014

Diện tích gieo trồng rau các loại trong giai đoạn 2011-2013 tăng lên rõ rệt Tốc độ tăng bình quân 3 năm đạt 11,2 %/năm Diện tích rau được gieo trồng chủ yếu ở Thị trấn Nông trường, Thị trấn Mộc Châu, Xã Đông Sang, Xã Mường Sang, Lân Lập, Chiềng Hắc

* Năng suất, sản lượng

Bảng 11 Sản lượng rau trên địa bàn huyện Mộc Châu từ 2011-2013

Nguồn: UBND huyện Mộc Châu, 2014

- Năng suất rau trung bình của huyện giai đoạn 2011-2013 đạt 182,1 tạ/ha Một số xã

có năng suất khá cao như Thị trấn Nông trường, Thị trấn Mộc Châu, Mường Sang, Đông Sang, Tân Lập, Phiêng Luông

Trang 23

- Sản lượng rau các loại năm 2011 là 14,7 nghìn tấn; năm 2013 là 17,2 nghìn tấn, đạt tốc độ tăng 8,5 %/năm trong giai đoạn 2011-2013

* Cơ cấu thời vụ và chủng loại

Hiện nay các loại rau được trồng cả 4 vụ là vụ đông, vụ đông xuân, vụ xuân hè và vụ

hè thu, nhưng chủ yếu vẫn tập trung sản xuất các loại rau trái vụ, thời vụ sản xuất từ tháng 4 đến tháng 11 hàng năm, chiếm khoảng 80% về diện tích và sản lượng trong năm Đây cũng chính là thời điểm mà vùng đồng bằng gặp nhiều khó khăn trong sản xuất rau Sản lượng sản phẩm rau sản xuất ra không những đáp ứng nhu cầu trên địa bàn huyện, mà còn tạo ra sản phẩm hàng hoá cung cấp chủ yếu cho các tỉnh đồng bằng, đặc biệt là thành phố Hà Nội trong thời điểm trái vụ sản xuất rau khan hiếm Các loại rau chiếm diện tích chủ yếu như:

Su su, Bắp cải, Cà chua, Bí xanh, Bí đỏ, Dưa chuột, Cải mèo, Hành tỏi Trong đó, cây Su su

là cây chủ lực có thế mạnh ở Mộc Châu, khai thác theo 2 hướng trồng lấy rau và lấy quả, chiếm diện tích và sản lượng lớn nhất

Trong 3 năm 2011-2013, một số loại rau biến động mạnh về cơ cấu diện tích gieo trồng do thị trường tiêu thụ và nhu cầu tiêu dùng

Bảng 12 Diện tích và sản lượng một số loại rau chủ yếu trên địa bàn

Trang 24

Trong giai đoạn 2011-2013, nhiều loại cây trồng đã tăng lên cả về diện tích và sản lượng như: Bắp cải, Cà chua, Đậu quả, Rau cải Những loại rau này chủ yếu được trồng ở

vụ Đông Xuân, có giá trị kinh tế cao Sự tăng lên về diện tích gieo trồng cho thấy được sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong sản xuất, tăng cường đầu tư, mở rộng vào những loại cây trồng có hiệu quả hơn

* Hình thức sản xuất

- Về hạ tầng sản xuất rau an toàn như việc đầu tư hệ thống nhà lưới, nhà kính, hệ thống tưới ẩm còn hạn chế Mới tập trung phát triển chủ yếu ở các doanh nghiệp và số ít HTX, còn lại diện tích của các hộ gia đình chủ yếu đang được diễn ra ở ngoài trời, khó khăn cho sản xuất cây trồng trái vụ Diện tích nhà lưới toàn huyện có trên 30 ha, trong đó riêng công ty CP hoa nhiệt đới có 20 ha

- Về hình thức tổ chức sản xuất:

+ Có 7 doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu thụ trên địa bàn huyện Mộc Châu: Công ty Greenfarm (xã Đông Sang); Công ty Rasa (Xã Mường Sang); Công ty hoa cao nguyên (xã Đông Sang); Công ty Cổ phẩn cao nguyên (TTNT); Công ty Việt Nhật (xã Đông Sang); Công ty Ka Ky; Công ty cổ phần Hoa Nhiệt Đới (TTMC)

+ Có 3 HTX hình thành khu vực trồng rau là HTX rau an toàn, HTX dịch vụ nông nghiệp 19/5, HTX Nga Doanh

+ Các nhóm hộ sản xuất rau tập trung: Gồm các bản An Thái, Mường Sang; Ta Niết

xã Chiềng Hắc; Tự Nhiên, xã Đông Sang; Tiểu khu 14, thị trấn Mộc Châu có quy mô lớn hơn bình quân từ 2000-5000m2 và các hộ trồng rau phân tán, nhỏ lẻ theo mô hình kinh tế hộ gia đình có quy mô nhỏ, trung bình từ 300-700 m2

* Hình thức tổ chức sản xuất

Bảng 13: Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trên địa bàn huyện Mộc Châu

Hình thức tổ chức sản xuất Địa bàn

Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ RAT Đông Sang

Nhóm sản xuất và tiêu thụ RAT Mường Sang, Chiềng Hắc

Hộ gia đình tự sản xuất và tiêu thụ TT Nông Trường, Tân Lập, Phiêng Luông,

Lóng Sập, Hua Păng, Nà Mường, Tà Lại, Quy Hướng, Chiềng Khừa, Chiềng Sơn

Nguồn: Kết quả khảo sát, 2014

Hiện nay, trên địa bàn huyện Mộc Châu đang tồn tại 3 hình thức tổ chức sản xuất là HTX sản xuất và tiêu thụ RAT, nhóm sản xuất và tiêu thụ RAT và hộ gia đình tự sản xuất kinh doanh

Cùng với sự tồn tại của 3 hình thức tổ chức sản xuất này, kênh tiêu thụ của sản phẩm

ở mỗi hình thức tổ chức sản xuất có sự khác nhau và mang nhiều nét riêng:

Trang 25

Nguồn: Kết quả khảo sát , 2014

Sơ đồ 4: Một số kênh tiêu thụ rau chủ yếu trên địa bàn huyện Mộc Châu

Kênh tiêu thụ chính Kênh tiêu thụ sản phẩm với tỷ lệ nhỏ (khoảng 10-20%)

Kênh tiêu thụ sản phẩm với tỷ lệ trung bình (khoảng 15-35%) Chiếm khoảng 90% sản lượng rau được sản xuất ra trên địa bàn huyện Mộc Châu được tiêu thụ theo kênh truyền thống gồm có sự tham gia của các tác nhân: người sản xuất, người thu gom, bán buôn, bán lẻ và người tiêu dùng Điều này có nghĩa là không hề có hợp đồng hay bất cứ điều khoản nào ràng buộc trong mối quan hệ của người mua và người bán

Họ hợp tác với nhau đơn giản vì chấp nhận về hình thức, chất lượng và giá cả của sản phẩm Nếu các tiêu chí này không được đáp ứng ở bạn hàng này họ sẽ tìm kiếm các đối tác mới

Hình thức tiêu thụ sản phẩm theo nhóm, HTX là hình thức tổ chức sản xuất mới xuất hiện ở Mộc Châu trong vài năm trở lại đây Đây là kết quả của sự tham gia, hỗ trợ của

một số dự án hợp tác quốc tế như FAO (tên đầy đủ???) (2010-2011) và dự án “Cải thiện liên kết giữa thị trường và người sản xuất rau trái vụ vùng Tây Bắc Việt Nam” (2011 đến

NGƯỜI TIÊU DÙNG

Distributio

n Companies NGƯỜI SẢN XUẤT

Supper markets and shops in Ha Noi

Trang 26

nay) Ngoài các nhóm, HTX do các dự án hỗ trợ, trên địa bàn huyện Mộc Châu mới xuất hiện HTX dịch vụ nông nghiệp Doanh Nga, đây cũng được coi là một trong những tác động của các dự án đến nhận thức và xu hướng sản xuất, kinh doanh rau của người dân trên địa bàn huyện

Hai nhóm sản xuất và tiêu thụ RAT ở xã Mường Sang và Chiềng Hắc đã có sự kết nối và mối tiêu thụ ổn định với một số cửa hàng bán thực phẩm an toàn ở Hà Nội như Big Green, VinaGAP hay tiêu thụ rau tại một số siêu thị ở Hà Nội thông qua công ty phân phối

là Sơn Hà Việc tiêu thụ sản phẩm thông qua kênh này với các hợp đồng mua-bán rõ ràng đã giúp người sản xuất giảm thiểu rủi ro và gia tăng quyền lực trong chuỗi Thay vì bị thu gom

ép giá như trong kênh tiêu thụ truyền thống, người sản xuất trong kênh hiện đại là người quyết định giá bán và có quyền đồng ý hay không đồng ý khi thương thảo với người mua Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa HTX và nhóm sản xuất RAT trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Điều này dẫn đến sự khác nhau về doanh thu và hiệu quả trong kinh doanh Khối lượng sản phẩm tiêu thụ qua kênh hiện đại của hai nhóm chưa nhiều, nông dân trong nhóm vẫn phải tiêu thụ rau qua các kênh truyền thống (chiếm khoảng 15-35% tổng sản lượng rau sản xuất ra) Để tháo gỡ khó khăn này, những người trưởng nhóm đã liên kết với nhau, liên kết với HTX sản xuất và tiêu thụ RAT ở bản Tự Nhiên, xã Đông Sang để tiêu thụ sản phẩm Mối liên kết mới nhưng khá hiệu quả này giúp giải quyết phần nào khó khăn về đầu ra cho sản phẩm ở các nhóm nhưng không phải là giải pháp lâu dài

Thông qua việc tìm hiểu, phân tích và so sánh giữa các hình thức tổ chức sản xuất, các kênh tiêu thụ và các mối quan hệ liên quan đến việc sản xuất – tiêu thụ sản phẩm rau chúng ta nhận thấy rằng ba yếu tố tiên quyết để tạo lập được mối quan hệ hiệu quả, bền vững trong kênh là tính pháp nhân, cơ sở hạ tầng và phương tiện vận chuyển và khả năng đáp ứng yêu cầu về sản phẩm của khách hàng

4.3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ ở vùng chuyên canh rau Mộc Châu – Sơn La

* Thuận lợi

Nằm ở độ cao 1.000 m, cách Hà Nội 190 km là vùng kinh tế quan trọng của Tây Bắc

và giáp với nước CHDCND Lào Huyện Mộc Châu có những ưu thế về khí hậu thích nghi với nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới với năng suất chất lượng cao như: Chè, bò sữa, mận hậu, mơ, đào, rau, hoa… Trên các xã vùng cao nguyên Mộc Châu như: thị trấn Nông trường Mộc Châu, xã Phiêng Luông, Tân Lập, Vân Hồ… có một số loại đất tốt như đất Feralit mùn đỏ vàng trên đá sét, đất Feralit mùn đỏ vàng trên đá vôi,… Khí hậu và điều kiện đất phù hợp cho việc trồng các loại rau quả ôn đới có thể nhanh chóng trở thành vùng

sản xuất hàng hoá lớn, ứng dụng kỹ thuật cao với nhiều sản phẩm mũi nhọn

Cơ sở hạ tầng đã được đầu tư xây dựng tập trung chủ yếu cho các công trình trọng điểm phục vụ sản xuất nông nghiệp, phát triển giao thông, thuỷ lợi, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện cao thế kéo dọc qua Trung tâm huyện và đã được kéo đến trung tâm các xã

và bản; hệ thống thông tin đã thông suốt từ huyện xuống các xã, thị trấn

Trang 27

Sản xuất nông nghiệp có sự chuyển dịch quan trọng theo hướng tập trung, đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất, khai thác và phát huy lợi thế của huyện gắn với thị trường Huyện đã tập trung chỉ đạo sản xuất nông nghiệp và coi đây là mặt trận hàng đầu là yếu tố

quyết định thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống nhân dân

Nguồn lao động dồi dào, chủ yếu là lao động tham gia vào nông nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong thực tế sản xuất các loại cây trồng chủ lực của vùng như: chè, cây ăn

quả, rau…

* Khó khăn

Trong thời gian gần đây, diện tích cây rau, đậu tuy có tăng lên một cách đáng kể, song không đồng đều giữa các loại cây trồng, việc phát triển cây có lợi thế so sánh là rất hiệu quả tuy nhiên việc phát triển ồ ạt không theo quy hoạch sẽ dẫn tới việc khó kiểm soát trong công tác phòng trừ dịch bệnh, đặc biệt sẽ ảnh hưởng tới việc phát triển cây trồng khác

và chất lượng, năng suất và sản lượng, giá cả sản phẩm

Sản xuất rau chủ yếu là quy mô hộ gia đình, việc liên doanh liên kết giữa các cơ sở kinh tế, đặc biệt là các Doanh nghiệp, HTX với nhân dân trong việc tổ chức trồng rau đang

là hướng đi mới có hiệu quả nhưng chưa được nhân rộng

Rau là cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao, để sản xuất rau an toàn và trở thành hàng hóa phải đòi hỏi kỹ thuật cao, chăm sóc tỉ mỉ, thâm canh lớn cho nên chủ yếu giới hạn diện tích trong các Công ty, HTX Trong khi đó các Doanh nghiệp muốn mở rộng diện tích

để phát triển các loại rau hoa cao cấp đảm bảo là rau an toàn thì lại hạn chế về quỹ đất và

thiếu cán bộ khoa học kỹ thuật để hướng dẫn nhân dân khi nhân rộng mô hình

Là một huyện có nhiều dân tộc thiểu số, trình độ dân trí không đồng đều, nguồn lao động dồi dào song chưa được khai thác Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn du canh

du cư, địa bàn dân cư phân tán, phương thức canh tác lạc hậu, đời sống khó khăn, nền kinh tế

của huyện chưa có tích luỹ, điểm xuất phát của nền kinh tế còn thấp

Cơ sở hạ tầng thiếu thốn và không đồng bộ, đặc biệt là hệ thống đường giao thông đến một số xã đang là một yếu tố cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt ít và phân bố không đều Nước phục vụ sản xuất, cho đô thị và nước sinh hoạt cho nhân dân vùng cao còn gặp khó khăn Mạng lưới điện quốc gia lan toả chưa đều trên địa bàn, vị trí cửa ngõ của huyện chưa được khai thác và phát huy Công trình hạ tầng cơ

sở nhất là hệ thống thủy lợi phục vụ tưới ẩm cho diện tích đất canh tác rau, hoa vẫn còn thiếu,

hạn chế cho phát triển và mở rộng diện tích

* Các khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoàn thiện mô hình liên kết tại Sơn La

Đối với các xã có điều kiện tự nhiên, địa lý thích hợp để sản xuất rau nên đầu tư sản xuất rau thương mại để đáp ứng yêu cầu của người dân địa phương và đưa về các thành phố lớn

- Mô hình sản xuất phát điểm được khuyến cáo cho những địa phương nêu trên là HTX Với việc thành lập HTX và thống nhất những nguyên tắc trong sản xuất, quản lý và kinh doanh rau ngay từ ban đầu sẽ giúp các thành viên có được định hướng tốt và dễ dàng phát triển trong tương lai

Trang 28

- Cần có sự tham gia, hỗ trợ của các đơn vị nghiên cứu để thành lập, duy trì và phát triên các mối liên kết trong chuỗi, đặc biệt hỗ trợ người sản xuất trong việc nâng cao năng lực đàm phán, kinh doanh

- Mối liên kết cần được thiết lập và duy trì giữa tất cả các tác nhân thông qua sự trao – nhận thông tin Đặc biệt, các thông tin về sản phẩm cần được quảng bá đến người tiêu dùng

- Đề xuất hình thức liên kết giữa: doanh nghiệp – người sản xuất – nhà khoa học – đơn vị phân phối – người tiêu dùng để việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được hiệu quả

4.4 Tình hình sản xuất, kinh doanh rau tại tỉnh Hưng Yên

4.4.1 Thực trạng sản xuất rau của tỉnh Hưng Yên

Các loại rau khác

Tổng diện tích trồng rau

Nguồn: Sở NN & PTNT tỉnh Hưng Yên, 2014

* Chiến lược trong sản xuất và tiêu thụ rau của tỉnh

- Quy mô: Hiện nay, toàn tỉnh có khoảng 70 vùng sản xuất rau chuyên canh với diện tích trên 700 ha; trong đó 30 vùng có qui mô từ 10 ha trở lên (diện tích gần 300 ha) Vùng trồng rau chuyên canh có qui mô lớn nhất là vùng rau thôn Đào Xá - xã Đào Dương - huyện

Ân Thi có qui mô 38 ha; Vùng rau thôn Bình Phú, xã Yên Phú - huyện Yên Mỹ có qui mô

36 ha;Vùng rau thôn Toàn Tiến, xã Thiện Phiến – TP Hưng Yên có qui mô 35 ha

* Một số chủng loại rau chính:

Bảng 15 Các nhóm rau chính

Trang 29

TT Nhóm rau chính Chủng loại

1 Rau ăn lá Rau muống, cải các loại, bắp cải, súp lơ,…

2 Rau ăn quả Dưa chuột, bí xanh, bí đỏ, bầu, mướp, cà chua,…;

3 Rau ăn củ, rễ, thân Su hào, cà rốt, khoai tây, tỏi, hành,…;

4 Các loại rau khác Chưa phân vào đâu

Nguồn: Nguồn: Sở NN & PTNT tỉnh Hưng Yên, năm 2014 Bảng 16: Diện tích, năng suất và sản lượng rau trong 3 năm qua

của tỉnh Hưng Yên (2011-2013)

Nguồn: Sở NN & PTNT tỉnh Hưng Yên, năm 2014

* Các đối tượng tham gia trong sản xuất rau:

+ Nông hộ là chủ yếu;

+ Hợp tác xã

+ Các công ty chế biến/ xuất khẩu

* Thực trạng tiêu thụ rau của tỉnh Hưng Yên

Sơ đồ tiêu thụ rau tại Hưng Yên

chế biến, xuất

NGƯỜI TIÊU DÙNG

Xuất khẩu

Trang 30

Kênh tiêu thụ chính Kênh tiêu thụ với tỷ lệ trung bình

Kênh tiêu thụ với tỷ lệ nhỏ

Sơ đồ 6: Các kênh tiêu thụ chính ở Hưng Yên

* Một số thuận lợi và khó khăn nói chung trong sản xuất và tiêu thụ rau tại Hưng Yên

- Thuận lợi:

Hàng năm, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tham mưu với UBND tỉnh ban hành chủ trương, cơ chế chính sách đồng thời phối hợp với các đơn vị có liên quan triển khai các đề tài, dự án hỗ trợ người nông dân phát triển sản xuất nói chung và phát triển cây rau nói riêng

+ Năm 2010 triển khai đề tài “Xây dựng mô hình chuyển giao công nghệ và áp dụng

kỹ thuật tiến bộ sản xuất dưa chuột an toàn theo qui trình VietGAP tạo vùng nguyện liệu phục vụ nội tiêu và xuất khẩu” đã tập huấn cho 42 nông dân tại xã Toàn Thắng -huyện Kim

+ Đầu tư giống, vật tư trồng cao, giá cả không ổn định nên không khuyến khích được nông

dân phát triển sản xuất.4.4.2 Cơ cấu mùa vụ và quy trình sản xuất

* Cơ cấu mùa vụ cá loại rau chính tại Hưng Yên

Bảng 17 Cơ cấu mùa vụ các loại rau tại Hưng Yên

1 Các chủng loại rau chính

Bắp cải, dưa chuột, bí

đỏ, cà chua, mướp hương, bí, bầu, mướp đắng…

Hầu như không sản xuất rau

mà chỉ trồng màu chỉ trồng màu và sản xuất cây vụ đông

Nguồn: Số liệu điều tra, 2014

Ngày đăng: 09/06/2016, 05:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1. Kênh tiêu thụ rau chất lượng cao ở Hà Nội - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Sơ đồ 1. Kênh tiêu thụ rau chất lượng cao ở Hà Nội (Trang 13)
Đồ thị 2.  Tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp rau ở một số cửa hàng, siêu thị chính tại Hà Nội - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
th ị 2. Tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp rau ở một số cửa hàng, siêu thị chính tại Hà Nội (Trang 14)
Bảng 6: Diện tích, sản lượng rau của tỉnh Lâm Đồng - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Bảng 6 Diện tích, sản lượng rau của tỉnh Lâm Đồng (Trang 15)
Sơ đồ 3: Các kênh tiêu thụ rau của Lâm Đồng  Ghi chú: - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Sơ đồ 3 Các kênh tiêu thụ rau của Lâm Đồng Ghi chú: (Trang 17)
Bảng 10. Diện tích gieo trồng rau trên địa bàn huyện Mộc Châu 2011-2013 - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Bảng 10. Diện tích gieo trồng rau trên địa bàn huyện Mộc Châu 2011-2013 (Trang 21)
Bảng 11. Sản lượng rau trên địa bàn huyện Mộc Châu từ 2011-2013 - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Bảng 11. Sản lượng rau trên địa bàn huyện Mộc Châu từ 2011-2013 (Trang 22)
Bảng 12. Diện tích và sản lượng một số loại rau chủ yếu trên địa bàn - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Bảng 12. Diện tích và sản lượng một số loại rau chủ yếu trên địa bàn (Trang 23)
Sơ đồ 4: Một số kênh tiêu thụ  rau chủ yếu trên địa bàn huyện Mộc Châu - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Sơ đồ 4 Một số kênh tiêu thụ rau chủ yếu trên địa bàn huyện Mộc Châu (Trang 25)
Bảng 14: Phân bổ các diện tích sản xuất rau tại các huyện năm 2014. - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Bảng 14 Phân bổ các diện tích sản xuất rau tại các huyện năm 2014 (Trang 28)
Bảng 16: Diện tích, năng suất và sản lượng rau trong 3 năm qua - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Bảng 16 Diện tích, năng suất và sản lượng rau trong 3 năm qua (Trang 29)
Sơ đồ tiêu thụ rau tại Hưng Yên - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Sơ đồ ti êu thụ rau tại Hưng Yên (Trang 29)
Đồ thị 8: Tỷ lệ bán rau cho các tác nhân - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
th ị 8: Tỷ lệ bán rau cho các tác nhân (Trang 34)
Đồ thị 10:  Diện tích trồng rau và diện tích nhà lưới - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
th ị 10: Diện tích trồng rau và diện tích nhà lưới (Trang 37)
Bảng 27: Mùa vụ của các sản phẩm rau quả chế biến tại HAVECO - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Bảng 27 Mùa vụ của các sản phẩm rau quả chế biến tại HAVECO (Trang 39)
Bảng 29: Thời điểm thu gom các loại rau chính - Tăng cường năng lực vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) Việt Nam cho thương mại
Bảng 29 Thời điểm thu gom các loại rau chính (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w