1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM

94 539 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, các tổ chức XHDS ở Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực BVMT chưa thực sự tạo ra được sức mạnh góp phần hỗ trợ Chính phủ quản lý, bảo vệ, giám sát môi trường; đặc biệt là chưa mang

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Lê Quốc Hùng

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Lê Quốc Hùng

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Thị Hoàng Liên

Hà Nội - 2015

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ

công trình nào trước đây

Học viên

Lê Quốc Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Hoàng Liên, giảng viên Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội

đã trực tiếp giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Bộ môn Quản lý môi trường - Khoa Môi trường - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia

Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và đóng góp ý kiến giúp cho luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn chỉnh hơn

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn

bè đã quan tâm, chia sẻ khó khăn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2015

Học viên

Lê Quốc Hùng

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục tiêu của đề tài 5

4 Ý nghĩa của đề tài 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan về các tổ chức xã hội dân sự 6

1.1.1 Khái niệm về xã hội dân sự 6

1.1.2 Khái niệm về tổ chức xã hội dân sự 8

1.1.3 Đặc trưng của các tổ chức xã hội dân sự 9

1.1.4 Các loại hình tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay 11

1.2 Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam và một số nước trên thế giới 14

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam 14

1.2.2 Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT ở một số nước trên thế giới 19

- Tại Trung Quốc 19

- Tại Mỹ 20

1.3 Rà soát quy định về sự tham gia của các tổ chức XHDS trong văn bản quy phạm pháp luật hiện hành ở Việt Nam 21

1.3.1 Cơ sở pháp lý cho các tổ chức XHDS 21

1.3.2 Quy định về sự tham gia của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT 22 CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 28

2.2 Nội dung nghiên cứu 28

Trang 6

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Đánh giá thực trạng tham gia của một số tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay 31

3.1.1 Giới thiệu về các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA 31

3.1.2 Sự tham gia của ENV, CPSE, VUSTA trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay 37

3.1.2.1 Phát hiện, tố giác vi phạm về BVMT 41

3.1.2.2 Kiểm tra, giám sát môi trường 43

3.1.2.3 Phản biện xã hội về môi trường 48

3.1.2.4 Tư vấn, vận động chính sách về môi trường 51

3.1.2.4 Giáo dục - đào tạo, phổ biến, tuyên truyền về BVMT 54

3.2 Những thuận lợi và khó khăn của các tổ chức VUSTA, CPSE, ENV khi hoạt động trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam 59

3.3 Đề xuất những giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức VUSTA, CPSE và ENV trong lĩnh vực BVMT 66

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 1 NHỮNG VĂN BẢN PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC XHDS TẠI VIỆT NAM 76

PHỤ LỤC 2 MỘT SỐ TỔ CHỨC XHDS HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 79

PHỤ LỤC 3 BẢNG HỎI PHỎNG VẤN SÂU MỘT SỐ CÁN BỘ CỦA CPSE, ENV, VUSTA……….….86

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các tổ chức xã hội dân sự chính ở Việt Nam 12

Bảng 1.2 Năm thành lập của một số tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường giai đoạn 1980-2010 17

Bảng 2.1 Danh sách một số cán bộ của ENV, CPSE, VUSTA được phỏng vấn 29

Bảng 3.1 Trình độ chuyên môn của cán bộ trung tâm CPSE 33

Bảng 3.2 Một số dự án của CPSE về BVMT và liên quan đến BVMT 34

Bảng 3.3 Các hoạt động chính của tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT 37

Bảng 3.4 Hoạt động chính của các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA 40

Bảng 3.5 Số vụ vi phạm về bảo vệ ĐVHD qua một số năm do ENV tiếp nhận và lưu trữ hồ sơ 43

Bảng 3.6 Hoạt động kiểm tra, giám sát môi trường của ENV, CPSE, VUSTA 45

Bảng 3.7 Hoạt động tư vấn, vận động chính sách môi trường của ENV, CPSE, VUSTA 52

Bảng 3.8 Những thuận lợi và khó khăn của các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA khi hoạt động trong lĩnh vực BVMT 59

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Ranh giới mờ của Xã hội dân sự 8

Hình 1.2 Tam giác thể chế cho sự phát triển bền vững 8

Hình 1.3 Mức độ tham gia của cộng đồng trong các dự án phát triển 25

Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức của ENV 31

Hình 3.2 Cơ cấu tổ chức của CPSE 32

Hình 3.3 Cơ cấu tổ chức của VUSTA 36

Hình 3.4 Mô hình hoạt động của mạng lưới tình nguyện viên ENV 42

Hình 3.5 Mô hình hoạt động giáo dục, truyền thông về BVMT của các tổ chức XHDS 55

Hình 3.6 Hoạt động đào tạo, lồng ghép các kiến thức địa phương vào dự án BVMT của CPSE 57

Trang 8

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á

BĐKH Biến đổi khí hậu

BVMT Bảo vệ môi trường

VGCL Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam

VUFO Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam

VUSTA Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

XHDS Xã hội dân sự

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trên thế giới, hiện nay các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) đang ngày càng có nhiều đóng góp quan trọng vào nỗ lực phát triển bền vững của nhiều quốc gia, đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội mà Nhà nước “không với tới” hoặc hoạt động kém hiệu quả trong đời sống của cộng đồng dân cư Ở Việt Nam, tổ chức XHDS bao gồm những loại hình và tên gọi khác nhau như: hiệp hội, hội, câu lạc bộ, quỹ, trung tâm, viện, NGOs, uỷ ban, nhóm tình nguyện, Đây là những tổ chức tự nguyện, tự quản, dân chủ, công khai của người dân, không vì mục tiêu lợi nhuận, độc lập tương đối với Nhà nước và thị trường nhằm thoả mãn nhu cầu và lợi ích nhất định của cá nhân hoặc cộng đồng

Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS là một tất yếu khách quan gắn liền với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Mỗi tổ chức XHDS, tuỳ theo mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể đều trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở một hoặc một số lĩnh vực khác nhau, trong khuôn khổ của Hiến pháp và Pháp luật

Trong thời gian gần đây, rất nhiều tổ chức XHDS đã hình thành và hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT) ở Việt Nam Họ đã chung sức cùng với Nhà nước tham gia quá trình giám sát, BVMT Tuy nhiên, do chưa có một khung pháp lý đồng bộ và một cơ chế thực thi hiệu quả nên sự tham gia của các tổ chức XHDS trong công tác BVMT còn nhiều hạn chế Vì vậy, các tổ chức XHDS ở Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực BVMT chưa thực sự tạo ra được sức mạnh góp phần

hỗ trợ Chính phủ quản lý, bảo vệ, giám sát môi trường; đặc biệt là chưa mang lại nhiều tác động hiệu quả từ hoạt động vận động chính sách, tư vấn, phản biện xã hội đối với những chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở cấp trung ương và địa phương

có tác động đến môi trường Trong khi đó, nhiều vụ vi phạm pháp luật về môi trường diễn ra hàng ngày và thường xuyên, với cấp độ ngày càng nghiêm trọng hơn

Trang 10

Luật Bảo vệ Môi trường được Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014 đã có bước tiến lớn khi dành riêng Chương 15 quy định về trách nhiệm và quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong công tác BVMT Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường dành riêng Chương 8 quy định về cộng đồng dân cư tham gia BVMT, và Nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định các nội dung về tham vấn cộng đồng trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chiến lược bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường Những văn bản pháp luật này mở ra cơ hội để sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT được cụ thể hóa bằng hành lang pháp lý

Hiện nay, một trong những khó khăn của các tổ chức XHDS trong việc bảo

vệ, giám sát môi trường đó là nhận thức của chính quyền, ban, ngành địa phương, thậm chí của xã hội nói chung, về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của các tổ chức XHDS còn chưa đầy đủ Vì chưa có luật về tiếp cận thông tin nên các tổ chức XHDS không dễ dàng tiếp cận thông tin cần thiết cho hoạt động giám sát, BVMT Thêm vào đó, sự liên kết và mối quan hệ tương tác giữa các tổ chức XHDS trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn rời rạc, thiếu hệ thống và thiếu cơ chế điều phối, hợp tác nên hiệu quả thu được còn hạn chế

Trong bối cảnh trên, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự tham gia của

một số tổ chức xã hội dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tại Việt Nam”

có ý nghĩa rất cấp thiết, không chỉ cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, mà còn góp phần đổi mới nhận thức về sự tham gia của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về khái niệm, bản chất, đặc điểm và chức năng của tổ chức XHDS Các tổ chức này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình quản lý, phát triển xã hội nói chung và lĩnh vực BVMT nói riêng

Trang 11

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu nước ngoài có những cách tiếp cận và quan điểm lý luận khác nhau do bối cảnh mối quan hệ Nhà nước - Thị trường - Xã hội khác nhau

Nghiên cứu “Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong vấn đề bảo vệ môi trường” của Anjali Agarwal đã chỉ ra vai trò quan trọng của các tổ chức XHDS đối với việc giải quyết những vấn đề xã hội mà nhà nước hoạt động kém hiệu quả Các

tổ chức phi chính phủ đã và đang có những hoạt động nhằm nâng cao nhận thức BVMT cho cộng đồng, về sự phát triển bền vững, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phục hồi hệ sinh thái; tổ chức các khóa đào tạo BVMT; tiến hành nghiên cứu về môi trường và những vấn đề liên quan đến phát triển [24]

Nghiên cứu “Tăng cường vai trò của các tổ chức XHDS để bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững” của LI Lei cho thấy, các tổ chức XHDS hỗ trợ nhà nước đạt được những mục tiêu môi trường quốc gia, thúc đẩy hoạt động giám sát và BVMT của người dân, tham gia BVMT toàn cầu thông qua thông qua hợp tác với các tổ chức XHDS, chính phủ và tổ chức quốc tế khác [28]

Ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của các Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX.04 (2001-2005) do GS VS Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm [17] và KX.10.06 (2004-2006) do PGS TS.Trần Đình Hoan chủ nhiệm [5] đã bước đầu xác định khái niệm XHDS và cho rằng XHDS không phải là một thực thể do ý định chủ quan tạo lập ra, mà là sản phẩm của quá trình lịch sử - tự nhiên, chịu sự chi phối, tác động của những nhân tố khách quan và chủ quan nhất định, nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu của sự phát triển xã hội Theo đó, XHDS ở Việt Nam là kết quả tất yếu của quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội, là một điều kiện đảm bảo cần thiết

để củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN và phát triển dân chủ

Công trình “Vai trò các tổ chức xã hội đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN - Cơ sở lý luận và thực tiễn” do TS Khang Văn Phúc chủ biên đã phân tích nội hàm khái niệm XHDS, đề cập đến chức năng của các tổ chức XHDS như: cầu nối, kênh truyền dẫn tiếng nói, nguyện vọng của người dân

Trang 12

đến với Nhà nước; tham gia việc hoạch định các chủ trương, chính sách của Nhà nước, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý; thực hiện giám sát, phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Nhà nước; phát huy nguồn lực và tính năng động, sáng tạo của các tầng lớp dân cư, tham gia hoạt động cung cấp dịch

vụ công như giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học, bảo vệ môi trường [20]

Bài báo “Vai trò và hoạt động của các tổ chức xã hội trong việc giám sát, bảo

vệ môi trường” đăng tải trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp của TS Hoàng Văn Nghĩa

đã trình bày những nhận thức chung về tổ chức XHDS, đồng thời chỉ ra rằng việc bảo vệ và giám sát việc thực thi pháp luật BVMT không chỉ thuộc trách nhiệm của các cấp chính quyền, mà còn là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân và của toàn xã hội, trong đó có các tổ chức XHDS Bài viết phân tích cơ sở lý luận và pháp lý của các tổ chức XHDS trong việc bảo vệ, giám sát môi trường ở Việt Nam [11]

Nghiên cứu “Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong phát triển bền vững” của Vũ Thị Hiền thuộc Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng cao (CERDA) đã bước đầu phân tích những đóng góp của các tổ chức XHDS trong quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam Hoạt động của các tổ chức XHDS tại Việt Nam được đánh giá là có nhiều đóng góp tích cực trong việc liên kết và động viên các thành viên trong xã hội thực hiện có hiệu quả một số lĩnh vực quan trọng, trong

đó có vấn đề bảo vệ môi trường [7]

Cuốn “Tài liệu đào tạo tập huấn viên về biến đổi khí hậu” được biên soạn theo kế hoạch thực hiện Dự án “Xây dựng năng lực về biến đổi khí hậu cho các tổ chức XHDS” do Đại sứ quán Phần Lan tài trợ cho Nhóm làm việc về Biến đổi khí hậu (CCWWG), Mạng lưới các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam và Biến đổi khí hậu (VNGO&CC) do Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) điều phối theo sự ủy quyền của hai mạng lưới Tài liệu này góp phần nâng cao nhận thức và năng lực cho các tổ chức XHDS trong việc giảm thiểu, thích ứng với biến đổi khí hậu và lồng ghép nhiệm vụ này vào những chương trình liên quan hiện có hoặc

Trang 13

trong tương lai, nhằm đóng góp vào sự phát triển bền vững lâu dài của Việt Nam [6]

Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề sự tham gia của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

3 Mục tiêu của đề tài

- Mục tiêu tổng quát

Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT, đồng thời đề xuất một số giải pháp cụ thể cho việc tăng cường sự tham gia của các tổ chức XHDS trong hoạt động BVMT ở Việt Nam hiện nay

- Mục tiêu cụ thể

+ Làm sáng tỏ vai trò, chức năng của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT; + Đánh giá hiện trạng tham gia của một số tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay;

+ Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò và sự tham gia của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam

4 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các tổ chức XHDS đối với việc giám sát, BVMT trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp luận cứ phục vụ xây dựng, hoàn thiện chính sách, thể chế quản lý các tổ chức XHDS, qua đó phát huy vai trò của những tổ chức này trong lĩnh vực BVMT, góp phần phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về các tổ chức xã hội dân sự

1.1.1 Khái niệm về xã hội dân sự

"Xã hội dân sự" (civil society) là khái niệm xuất hiện khá sớm ở Châu Âu từ thế kỷ XVII và sớm nhất ở nước Anh (1594), nó được hiểu là những con người sống trong cộng đồng Trong lý thuyết của nhà triết học Scottish (thế kỷ XVIII), XHDS có nghĩa là xã hội văn minh với một nhà nước không độc đoán Đến thế kỷ XIX, Heghen mô tả XHDS như là một phần của đời sống đạo đức, bao gồm ba yếu tố: gia đình, XHDS và nhà nước, trong đó các cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng trong giới hạn đã được pháp luật thừa nhận Nhà triết học này nhấn mạnh rằng, một XHDS tự tổ chức cần phải do nhà nước cân nhắc và đặt trật tự cho nó, nếu không xã hội đó sẽ trở thành tư lợi và không đóng góp gì cho lợi ích chung [4]

K Marx đã bàn nhiều về XHDS trong các tác phẩm đầu tay về Hệ tư tưởng Ðức và vấn đề Do Thái Cũng như Hegel, ông xem XHDS là một hiện tượng lịch

sử, là kết quả của sự phát triển lịch sử mà không phải là “vật ban tặng” của tự nhiên

và XHDS có tính chất tạm thời [4]

Mặc dù các khái niệm về XHDS có lịch sử phát triển khá lâu dài và phong phú, tuy nhiên chỉ vào khoảng hai thập kỷ gần đây (sau khi Chiến tranh Lạnh kế thúc năm 1990, nó mới trở thành trọng tâm được chú ý tại các diễn đàn công luận quốc tế [21]

Trong xã hội hiện đại, do bối cảnh lịch sử và các mối quan hệ nhà nước - xã hội khác nhau, có những cách tiếp cận và quan điểm lý luận khác nhau về XHDS Theo TS Irenne Norlund, có ba cách tiếp cận đối với XHDS là: Thuyết tân tự do cho rằng XHDS tồn tại một cách độc lập, thuộc “khu vực thứ ba”, “khu vực tự nguyện”, ở đó các công dân tự tổ chức thành nhóm và giải quyết các vấn đề phát sinh thông qua đối thoại “dân sự” và biện pháp phi bao lực Vai trò của các tổ chức này là kiểm soát và làm cân bằng mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường Theo

Trang 15

không hoàn toàn tách biệt với nhà nước, thị trường và gia đình mà nằm ở khu vực giao nhau của ba bộ phận này; ranh giới của nó cũng không rạch ròi, luôn có sự tương tác giữa nhà nước, thị trường và các tổ chức XHDS nhằm đem lại sự đồng thuận tốt lành cho mọi người Mô hình Hậu hiện đại (Postmodern) xem XHDS thuộc khu vực thứ ba và đề cao vai trò chia sẻ, thông cảm và liên kết, hợp tác giữa các bên tham gia đối thoại, thảo luận [20]

Marlies Glasius, David Lewis và Hakan Seckinelgin định nghĩa rằng, XHDS được lập nên bởi cộng đồng dựa trên cơ sở tự nguyện, nằm ngoài phạm vi nhà nước; tổ chức và hoạt động của các tổ chức XHDS phụ thuộc vào chế độ chính trị, cấu trúc của hệ thống quyền lực chính trị của quốc gia và các yếu tố văn hoá, dân tộc [29]

Theo Gerassimos Fourlanos, XHDS được hiểu là tổng thể các tổ chức, thiết chế xã hội tự nguyện, không phụ thuộc vào hình thức pháp lý, cùng tự nguyện tham gia vào các hoạt động vì những giá trị, mục tiêu, lợi ích chung [20]

Theo Liên minh Thế giới vì Sự tham gia của Công dân (CIVICUS), XHDS

là diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung Theo đó, muốn cải thiện tính hiệu quả của Nhà nước, cần phải dựa vào sức mạnh tương đối của thị trường và XHDS Các tổ chức XHDS có thể vừa là cộng sự vừa là đối thủ cạnh tranh trong việc cung ứng các dịch

vụ công cộng; các tổ chức này có thể gây áp lực có ích đối với chính quyền để cải thiện việc cung cấp và chất lượng các dịch vụ công cộng

Ranh giới giữa XHDS, Nhà nước, Thị trường và Gia đình là mờ nhạt (Hình 1.1) Đây là một phần quan trọng của định nghĩa Trong một số định nghĩa khác, XHDS được cảm nhận một cách chặt chẽ hơn, đó là các hoạt động “bên ngoài Nhà nước” Ở Việt Nam, các nước châu Á khác và ở hầu hết các nước châu Âu, không thể tách hẳn Nhà nước ra khỏi XHDS ngay cả trong trường hợp có những điểm chồng chéo, trùng lặp giữa hiệp hội này với hiệp hội khác [13]

Trang 16

Hình 1.1 Ranh giới mờ của Xã hội dân sự

Một xã hội muốn đạt mục tiêu phát triển bền vững phải được điều hành trong một hệ thống thể chế gồm ba “đỉnh” gắn kết chặt chẽ với nhau (Hình 1.2), đó là: thể chế Nhà nước; thể chế Thị trường; và thể chế XHDS Trong đó: Thể chế nhà nước tập trung vào cải tiến chính sách; Thể chế thị trường/doanh nghiệp tập trung vào công nghệ và các giải pháp kinh tế; và Thể chế XHDS tập trung vào huy động sự gắn kết của cộng đồng, phát huy sự tham gia của các tổ chức xã hội trong công cuộc phát triển bền vững

Hình 1.2 Tam giác thể chế cho sự phát triển bền vững 1.1.2 Khái niệm về tổ chức xã hội dân sự

- Theo định nghĩa của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)

Thể chế Nhà nước

Thể chế thị trường

Thể chế

xã hội dân sự Phát triển

bền vững

Trang 17

Tổ chức xã hội dân sự (CSO) là tổ chức của những người hoạt động phi nhà nước không nhằm mục tiêu lợi nhuận cũng như tìm kiếm quyền lực quản lý Các tổ

chức XHDS đoàn kết mọi người nhằm thúc đẩy các mục tiêu và lợi ích chung Các

tổ chức này hiện diện trong đời sống công cộng, đại diện thể hiện lợi ích và giá trị của các thành viên trong tổ chức hoặc của những người khác, và thành lập dựa trên

cơ sở đạo đức, văn hóa, tôn giáo hoặc từ thiện

Tổ chức XHDS bao gồm các tổ chức phi chính phủ (NGO), hiệp hội nghề nghiệp, quỹ, viện nghiên cứu độc lập, tổ chức cộng đồng (CBOs), tổ chức tín ngưỡng, tổ chức nhân dân, phong trào xã hội và công đoàn [10]

1.1.3 Đặc trưng của các tổ chức xã hội dân sự

Các tổ chức xã hội dân sự trên thế giới nói chung có 5 đặc trưng cơ bản sau:

- Là tổ chức “phi nhà nước”, không phải là đảng chính trị, bao gồm các quan hệ và

tổ chức không mang dấu hiệu quyền lực công

- Là liên kết xã hội hoàn toàn mang tính tự nguyện của các thành viên (công dân)

- Hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận (phi lợi ích kinh tế), theo đuổi mục tiêu phúc lợi cộng đồng và dịch vụ xã hội, trong đó chứa đựng lợi ích của từng người

- Được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự quản (bao gồm tự quản lý, điều hành, độc lập về tài chính, không lệ thuộc vào ngân sách của chính phủ hay bất cứ đảng phái chính trị nào, )

- Đa dạng về cách thức và hình thức tổ chức, phong phú về nhu cầu và lợi ích, mục tiêu cụ thể; quan hệ với các cơ quan, tổ chức khác theo chiều ngang, không mang tính hệ thống theo chiều dọc

Sự khác nhau trong việc xác định và cách hiểu về tổ chức XHDS ở mỗi quốc gia đôi khi phụ thuộc vào mức độ biểu hiện của những đặc trưng trên Chẳng hạn ở những quốc gia phát triển có truyền thống dân chủ lâu đời như Bắc Âu, một số nước Tây Âu và Bắc Mỹ, đặc trưng về tính độc lập luôn được tôn trọng, bảo đảm thực thi

Trang 18

hiệu quả Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia đang phát triển, đặc trưng này còn tương đối hạn chế [20]

Trên thực tế, do lịch sử hình thành và phát triển nên nhiều tổ chức XHDS ở Việt Nam khó đạt được đầy đủ cả 5 tiêu chí này Ngoài đặc tính chung của tổ chức XHDS trên thế giới, nhiều tổ chức XHDS ở Việt Nam còn có những đặc điểm riêng

do Đảng Cộng sản đề ra, chịu sự lãnh đạo của Đảng và gắn bó mật thiết với Nhà nước Nhiều tổ chức được Nhà nước hỗ trợ về ngân sách, cơ sở vật chất Vì vậy, tuy các tổ chức XHDS ra đời nhằm thực hiện yêu cầu lợi ích của các thành viên, hội viên, song ở Việt Nam những yêu cầu lợi ích đó chỉ có thể được thực hiện khi chúng được phản ánh trong đường lối chính trị của Đảng, chính sách của Nhà nước, tức là có sự thống nhất cao giữa lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích của các thành viên, hội viên trong tổ chức Người dân tự nguyện tham gia tổ chức XHDS vì họ thừa nhận tôn chỉ, mục đích của tổ chức đó, cũng đồng thời thừa nhận mục tiêu chính trị của Đảng lãnh đạo

- Phần lớn các tổ chức XHDS ở Việt Nam đều tham gia Mặt trận tổ quốc Việt Nam, một liên minh chính trị - xã hội rộng lớn có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cấp

cơ sở, hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, thống nhất và phối hợp hành động

- Một số tổ chức XHDS được Nhà nước hỗ trợ gần như hoàn toàn kinh phí hoạt động, trụ sở làm việc, biên chế cán bộ chuyên trách

Trang 19

Những đặc điểm mang tính lịch sử nói trên của các tổ chức XHDS ở Việt Nam, một mặt tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, đồng thuận xã hội, góp phần tạo nên những thắng lợi trong kháng chiến giải phóng dân tộc và là động lực phát triển đất nước Tuy nhiên, trong những bối cảnh nhất định, các đặc điểm này làm phát sinh một số vấn đề sau:

- Tính độc lập của các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam chưa cao

Chính do đặc điểm ra đời như đã nêu trên, các tổ chức XHDS ở Việt Nam còn thiếu chủ động, lúng túng trong tìm kiếm các nội dung và phương thức hoạt động, còn chưa chú ý đúng mức các hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của hội viên, còn xem nhẹ chức năng giám sát, phản biện xã hội đối với các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Vì vậy tầm ảnh hưởng của các tổ chức XHDS trong cộng đồng, giới, nhóm hoặc nghề nghiệp chuyên môn của mình còn hạn hẹp

- Tính hành chính hóa trong mô hình tổ chức và hoạt động thể hiện khá rõ và chậm được khắc phục Tổ chức hệ thống các cấp và tổ chức bộ máy lãnh đạo, điều hành rập khuôn theo tổ chức hành chính nhà nước; nội dung hoạt động thường trông chờ vào chỉ đạo, giao việc của các cơ quan nhà nước, hoặc chỉ thị của cấp trên, thiếu năng động, sáng tạo; kinh phí hoạt động dựa nhiều vào sự hỗ trợ kinh phí từ phía nhà nước; đội ngũ cán bộ chủ chốt của các tổ chức XHDS thường là các cán bộ, công chức nhà nước nghỉ hưu trong cơ quan đảng, nhà nước Do đó trong phong cách hoạt động chưa chú trọng sử dụng phương thức vận động, thuyết phục hội viên

là phương thức hoạt động chủ yếu phổ biến của các tổ chức XHDS [20]

1.1.4 Các loại hình tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, các tổ chức XHDS ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng Chúng khác nhau về quy mô, cơ cấu tổ chức và được gọi với nhiều tên khác nhau như Liên hiệp hội, Hiệp hội, Câu lạc bộ, Quỹ, Viện, Trung tâm, Ủy ban và cả Nhóm tình nguyện [20]

Trang 20

Mặc dù tổ chức XHDS mới thu hút được sự quan tâm của xã hội trong những năm gần đây, nhưng đã có minh chứng cho rằng các tổ chức XHDS ở Việt Nam bắt nguồn sâu xa trong cấu trúc làng xã của xã hội truyền thống Do vậy, khu vực XHDS ở Việt Nam không chỉ bao gồm các NGO, mà còn có cả các tổ chức quần chúng, các tổ chức nghề nghiệp, các tổ chức tại cộng đồng, quỹ từ thiện và trung tâm hỗ trợ

Một trong số những nỗ lực mang tính hệ thống nhằm phác họa XHDS tại Việt Nam do Liên minh toàn cầu vì sự tham gia của công dân (CIVICUS) thiết lập vào năm 2005-2006 [2] Với cách tiếp cận bao rộng và toàn diện, bao gồm cả các tổ chức quần chúng có quan hệ với Đảng - Nhà nước, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức bảo trợ, nhóm nghiên cứu Chỉ số Xã hội Dân sự Việt Nam đã đưa ra một cách phân loại dành cho các tổ chức XHDS ở Việt Nam như sau:

Bảng 1.1 Các tổ chức xã hội dân sự chính ở Việt Nam [2]

Tổ chức quần

chúng

• Hội Phụ nữ

• Hội Nông dân

• Đoàn Thanh niên

• Hội Cựu chiến binh

• Tổ chức của người lao động (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam)

• Các hiệp hội nghề

• Mặt trận Tổ quốc

• Đăng ký với một tổ chức bảo trợ, các tổ chức

• Các hiệp hội nghề nghiệp xã hội

• Các hiệp hội

xã hội và nghề

Trang 21

nghiệp hoặc tỉnh/ thành

phố

trực thuộc các NGO

thành phố hoặc quận/huyện

Các tổ chức xã hội, NGO

Các tổ chức dựa

vào cộng đồng

(CBO)

• Các tổ chức cung cấp dịch vụ và làm dự án phát triển hoặc hướng đến sinh kế

• Các tổ chức dựa vào tín ngưỡng

• Các nhóm dân cư

• Các gia tộc

• Các nhóm nghỉ ngơi giải trí

• Các nhóm sáng kiến

• Quan hệ gián tiếp với các tổ chức khác hoặc

Bộ luật Dân sự

• Nhiều tổ chức không đăng ký

• Các nhóm hợp tác nông thôn

• Các tổ chức dựa trên tín ngưỡng

90 của thế kỷ trước, có ý kiến cho rằng Việt Nam không có XHDS, cho dù có một vài tổ chức có tiềm năng là tổ chức XHDS [31] Trong Luận văn này sử dụng cách phân loại, định nghĩa của CIVICUS như là phương tiện cho những lập luận và phân tích khác

Trang 22

1.2 Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam và một số nước trên thế giới

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam

Những năm gần đây, các tổ chức XHDS tại Việt Nam đang ngày càng có nhiều đóng góp tích cực hơn trong lĩnh vực BVMT, góp phần giúp đất nước thực hiện những mục tiêu quốc gia hướng tới sự phát triển bền vững Vai trò của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT dần được Chính phủ và xã hội công nhận

Quá trình hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS nói chung Có thể chia làm 3 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Gắn liền với xã hội truyền thống

Lịch sử hàng nghìn năm của Việt Nam đã tồn tại các tổ chức liên kết, tự nguyện có tính chất tự quản cộng đồng của người dân nhằm mục đích giúp đỡ lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ tâm tư, tình cảm, bảo vệ lợi ích của người dân, đáp ứng các yêu cầu khác nhau của đời sống xã hội Hiện nay, hình thức tổ chức xã hội truyền thống này vẫn còn tồn tại ở một số vùng nông thôn, làng xã như: loại hình tổ chức dựa trên huyết thống (gia tộc), theo nguồn gốc và địa bàn cư trú (đồng hương, xóm, làng), theo nghề nghiệp (phường, hội, chẳng hạn: phường gốm, phường mộc, phường chèo, phường tuồng, phường Quan họ, ) theo sở thích, thú vui, như: hội văn phả (các nhà Nho trong làng không ra làm quan), hội bô lão (các

cụ ở trong làng), hội đồng môn (cùng học), hội đồng niên (cùng tuổi), hội tổ tôm,

Các tổ chức nói trên chính là những hình thức sơ khai của các tổ chức XHDS

ở Việt Nam Chúng có 2 đặc điểm nổi bật sau: (1) Mang tính tự nguyện, tự giác:

Các phường, hội do từng nhóm người lập ra, tự giác thực hiện vì mục đích chung

của nhóm người đó; (2) Mang tính ràng buộc: Tuy không có hình thức pháp luật

hay cơ quan hành chính, tổ chức nào kiểm tra, giám sát, nhưng các tổ chức xã hội

Trang 23

mang tính ràng buộc cao Nguyên nhân không chỉ vì tính tự nguyện mà còn do người dân thân quen nhau, tin nhau từ tấm bé, sống trong hàng loạt mối quan hệ của cộng đồng làng xã Mọi hành vi bỏ hay phản lại phường, hội đều bị lên án gay gắt

và người vi phạm sẽ bị cộng đồng tẩy chay bằng nhiều biện pháp Ở giai đoạn này chưa xuất hiện các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT

- Giai đoạn 2: Thời kỳ trước đổi mới

Trước năm 1986, các tổ chức XHDS ở Việt Nam chủ yếu bao gồm các tổ chức quần chúng có liên kết ở cấp cơ sở rất mạnh và đông hội viên, thường được gọi là tổ chức chính trị - xã hội như: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và Đoàn thanh niên Đây là những tổ chức được thành lập vào những năm 1930, gắn bó mật thiết với Đảng, kết nối với Nhà nước từ trung ương đến cấp làng xã

Đầu thập niên 80, có 3 hiệp hội nghề nghiệp đã được thành lập để thúc đẩy

sự giao lưu giữa những người quan tâm tới các lĩnh vực khoa học, văn hóa và đoàn kết bao gồm: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA); Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam (VWAA) và Liên hiệp các Hiệp hội Hòa bình, Hữu nghị và Đoàn kết Việt Nam (VUPSFO và sau này gọi là VUFO) Hiện nay, VUSTA và rất nhiều tổ chức thành viên đã tư vấn, đóng góp nhiều ý kiến cho các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực BVMT; tham gia các hoạt động góp phần sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, cải thiện môi trường; giáo dục, tuyên tryền nâng cao nhận thức của người dân, xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ thiên nhiên và môi trường

Trong cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp trước thời kỳ đổi mới, các quan hệ kinh tế - xã hội mang nặng tính hành chính và nhà nước hóa, quyền tự do kinh doanh, sự đa đạng của các hình thức sở hữu và quan hệ thị trường bị hạn chế; quyền dân chủ của người dân chưa được đảm bảo; các tổ chức XHDS nói chung và các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT nói riêng chưa có điều kiện hình thành và phát triển

- Giai đoạn 3: Thời kỳ sau khi đổi mới đến nay

Trang 24

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam chính thức được thực hiện vào năm 1986, khi đất nước bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, khuyến khích kinh tế

hộ gia đình, mở cửa cho thành phần tư nhân, đầu tư nước ngoài

Nhận thức được vị trí, vai trò của các tổ chức quần chúng, các hội trong sự nghiệp đổi mới, Nghị quyết số 8B-NQ/HNTW (khóa VI) của Đảng đã nêu ra chủ trương: “Trong giai đoạn mới cần thành lập các hội đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống nhân dân hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái Các tổ chức hội quần chúng được thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính trong khuôn khổ pháp luật” Nghị định 35/HDBT ban hành ngày 28/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, về việc thành lập các

tổ chức khoa học và công nghệ phi lợi nhuận là văn bản pháp lý đầu tiên xác định quyền của cá nhân, tổ chức XHDS và tổ chức kinh tế trong việc tổ chức và thực hiện các hoạt động khoa học công nghệ kể từ sau thời kỳ đổi mới

Do đó, các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT bắt đầu hình thành và phát triển từ nửa đầu thập niên 1990 và phát triển mạnh mẽ nhất từ năm

2000 đến nay, bao gồm chủ yếu là các hiệp hội, hội, NGOs, tổ chức tự nguyện,… Những tổ chức này thành lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải về tài chính, phi lợi nhuận; trình độ chuyên môn và tính chuyên nghiệp ngày càng tăng lên

Căn cứ vào cuốn “Danh tập một số tổ chức hội, liên hiệp hội, và phi chính phủ Việt Nam” do Quỹ Châu Á và Viện Nghiên cứu Xã hội xuất bản năm 2011 và lĩnh vực hoạt động của các tổ chức nói trên [16], có thể thống kê được một số tổ chức XHDS tham gia hoạt động trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam trong phần Phụ lục 2 Các tổ chức XHDS này có phạm vi hoạt động rộng khắp cả nước; tham gia nhiều dự án, đóng góp tích cực vào hoạt động BVMT Đa số các tổ chức đều tham gia hoạt động trong mạng lưới của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA)

Trang 25

Bảng 1.2 Năm thành lập của một số tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực bảo

vệ môi trường giai đoạn 1980-2010 (dựa trên 75 tổ chức trong Phụ lục 2)

Bối cảnh và vấn đề đặt ra cho các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam giai đoạn hiện nay

Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thu hút các dự án đầu tư, đã tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho người lao động, nhờ đó kinh tế tăng trưởng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, nhưng cũng kéo theo đó là sự xuống cấp nghiêm trọng của môi trường Vì vậy, vấn đề BVMT không chỉ thách thức đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là những nước đang phát triển

Yêu cầu đặt ra là Nhà nước cần phải huy động được mọi nguồn lực của xã hội cho quá trình phát triển bền vững Chính vì vậy, Nhà nước đã đề ra chủ trương

“xã hội hoá” bao gồm cả lĩnh vực BVMT nhằm huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức XHDS và cộng đồng tham gia các hoạt động BVMT

Chủ trương xã hội hóa trong BVMT được cụ thể hóa thông qua một số văn bản pháp luật như: Nghị quyết 41/NQ-TW (ngày 15/11/2004) của Bộ Chính trị đã nêu cần xác định rõ trách nhiệm BVMT của Nhà nước, cá nhân, tổ chức và cộng

Trang 26

đồng Luật bảo vệ môi trường 2014 đã khẳng định BVMT là sự nghiệp của toàn xã hội, là quyền và trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động BVMT Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030 nêu rõ: “BVMT là trách nhiệm của toàn xã hội, là nghĩa vụ của mọi người dân; phải được thực hiện thống nhất trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, phân cấp cụ thể giữa Trung ương và địa phương; kết hợp phát huy vai trò của cộng đồng, các tổ chức quần chúng và hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới”

Khái niệm “xã hội hóa” mà chúng ta thường dùng hiện nay thực chất là một thuật ngữ mang tính quy ước, dùng để chỉ một cách làm, cách thực hiện chủ trương của nhà nước trong nhiều lĩnh vực trong đó có BVMT, bằng con đường huy động tổng lực của toàn xã hội hay một số cộng đồng, trên một lãnh thổ hay một vùng, liên vùng nhằm phát huy tiềm năng của toàn xã hội Xã hội hóa về bản chất là thực hiện quyền dân chủ, những hoạt động dân chủ trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật một cách công bằng [8] Xã hội hóa trong BVMT là sự phân quyền hạn và trách nhiệm từ Trung ương xuống địa phương, là sự huy động sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quần chúng, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và người dân vào hoạt động BVMT

Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về “phát triển xã hội” ở Copenhaghen (Đan Mạch) tháng 3/1995 và các hội nghị sau đó khẳng định một vấn đề có tính nguyên lý của thời đại là các chính sách xã hội phải gắn bó trong một cơ chế: kết hợp thể chế Nhà nước, thể chế công dân, thể chế thị trường; các thể chế đó được thực thi trên cơ sở quyền tiếp cận của công dân, quyền tiếp cận luật pháp và quyền

được tham gia; và tất cả các quyền đó được thực thi trên nguyên tắc: dân biết, dân

bàn, dân làm, dân kiểm tra đã được xác định trong cương lĩnh của Nhà nước về

quản lý đất nước theo cơ chế nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý

Trang 27

Trước tình hình mới, các tổ chức XHDS đóng vai trò là một kênh và cầu nối quan trọng giữa Nhà nước, khu vực tư nhân và người dân Các tổ chức XHDS cần phải tham gia hoạt động hiệu quả hơn, giúp cơ quan Nhà nước tăng cường năng lực xây dựng và thực thi pháp luật về BVMT, bảo đảm quyền tham gia của người dân vào hoạt động BVMT

1.2.2 Sự hình thành và phát triển của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT ở một số nước trên thế giới

Sau năm 1949, cùng với việc thiết lập thể chế chính trị - kinh tế tập trung cao

độ, Trung Quốc đã hình thành nên một nhà nước toàn năng, khống chế và lũng đoạn toàn diện mọi nguồn lực xã hội, nhà nước bao trọn xã hội, bao trọn tư hữu, và do

đó, về cơ bản XHDS không còn không gian phát triển Từ năm 1978, cùng với việc thực hiện chính sách cải cách, mở cửa, Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu tạo không gian rộng rãi cho sự phát triển của các tổ chức XHDS Các tổ chức XHDS chỉ cần không vi phạm pháp luật sẽ được đăng ký thành lập Chính vì thế, giai đoạn này các tổ chức XHDS ở Trung Quốc phát triển tương đối nhanh về mặt số lượng [20]

Lịch sử phát triển của các NGO về môi trường ở Trung Quốc tuy không dài nhưng đã trải qua nhiều thách thức, khó khăn Nhiều tổ chức NGO phải đối mặt với trở ngại về thể chế trong quá trình phát triển, gặp khó khăn trong việc đăng ký, tài chính và năng lực hoạt động [27] Các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT ở Trung Quốc phải đăng ký thành lập và hoạt động theo Quy định đăng ký

và quản lý của các tổ chức xã hội, ban hành năm 1998

Kể từ đầu những năm 1990, số lượng các tổ chức XHDS ở Trung Quốc tăng lên nhanh chóng Đến cuối tháng 10 năm 2008, Trung Quốc có 3.600 tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT, bao gồm: những tổ chức được Chính phủ

hỗ trợ, NGOs, hội và hiệp hội bảo vệ môi trường của sinh viên, các tổ chức XHDS quốc tế có trụ sở tại Trung Quốc [28]

Trang 28

Các tổ chức XHDS ở Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người dân về môi trường, hỗ trợ Nhà nước hoạch định chính sách, tăng cường thực thi pháp luật về BVMT, tố giác những cơ sở hoạt động kinh doanh trái phép, thúc đẩy giải quyết tranh chấp môi trường, có quan hệ đối tác với NGO quốc tế và các nhà tài trợ nước ngoài, thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội của công ty để mở rộng nguồn tài trợ [27]

NGO đi tiên phong trong lĩnh vực BVMT ở Trung Quốc là “Friends of Nature-Bạn của Tự nhiên” thành lập năm 1994 Đây là tổ chức có nền tảng của một

tổ chức NGO hiện đại, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Trung Quốc Kể từ

đó, Chính phủ Trung Quốc đã tạo điều kiện và khuyến kích thành lập các NGO hoạt động trong lĩnh vực BVMT, chẳng hạn như Ngôi làng toàn cầu Bắc Kinh, Tình nguyện viên vì Trái Đất xanh, Lưu vực xanh,… Nhiều nhóm học sinh tham gia bảo

vệ môi trường và "Câu lạc bộ xanh" được thành lập ở các trường đại học trên khắp

cả nước Không giống như mối quan hệ giữa chính phủ và NGO hoạt động trong lĩnh vực BVMT ở các nước phương Tây như Mỹ, NGO ở Trung Quốc có một cách tiếp cận ít đối đầu [25]

Kể từ năm 2006, Liên đoàn Môi trường Trung Quốc (ACEF) đã tổ chức thành công 7 Hội nghị thường niên của các tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực BVMT ở Trung Quốc về phát triển bền vững Khoảng 450 tổ chức XHDS tham gia hội nghị đã gặp gỡ, chia sẻ thông tin, thảo luận, hợp tác với nhau để có nhiều đóng góp tích cực hơn trong hoạt động BVMT [28]

Sự nổi lên của phong trào BVMT ở Mỹ bắt đầu vào năm 1962, khi tác phẩm Mùa xuân thầm lặng (Silent Spring) của Rachel Carson được xuất bản Silent Spring cảnh báo cho công chúng về khả năng thuốc trừ sâu có thể tích lũy trong chuỗi thức ăn, gây ra những tổn hại môi trường lâu dài và nghiêm trọng

Năm 1967, Quỹ Bảo vệ môi trường được thành lập bởi một nhóm các nhà

Trang 29

đồng Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên (NRDC) hình thành với nỗ lực yêu cầu Ủy ban Năng lượng Liên bang phải để ý đến vấn đề môi trường khi xem xét một dự án điện có thể phá hủy danh lam thắng cảnh và lịch sử của sông Hudson Vào thời điểm này, không có cơ quan Liên bang nào quan tâm đến vấn đề BVMT Kể từ đó

có nhiều tổ chức hoạt động BVMT được thành lập mới, vận động Chính phủ giải quyết tốt hơn những vấn đề BVMT Trong khoảng thời gian từ năm 1970 – 1976, Quốc hội Mỹ ban hành hàng loạt các bộ Luật về vấn đề môi trường như: Đạo luật không khí sạch, Đạo luật nước sạch, nước uống an toàn, Đạo luật Bảo tồn thiên nhiên và Phục hồi, Đạo luật kiểm soát chất độc…[27]

Vào những năm 1960, có khoảng 150.000 người đã đóng góp ngân sách cho những tổ chức NGO hoạt động ở Mỹ trong lĩnh vực BVMT Tổng ngân sách hàng năm của những tổ chức này lên đến gần 20 triệu USD Đến cuối những năm 1980, khoảng 8 triệu người Mỹ đã đóng góp cho 100 NGO hoạt động BVMT của quốc gia hơn 500 triệu USD Sự gia tăng số lượng của các NGO Mỹ hoạt động BVMT được thúc đẩy một phần bởi các quỹ tài trợ Quỹ tài trợ Ford (Ford Foundation) cung cấp nhiều khoản kinh phí quan trọng để hình thành những tổ chức BVMT mới Những thành công sớm của phong trào BVMT ở Mỹ đã thu hút thêm nhiều hội viên, thúc đẩy các nhà doanh nghiệp tham gia BVMT [30]

1.3 Rà soát quy định về sự tham gia của các tổ chức XHDS trong văn bản quy phạm pháp luật hiện hành ở Việt Nam

1.3.1 Cơ sở pháp lý cho các tổ chức XHDS

Địa vị pháp lý của tổ chức XHDS đã sớm được xác lập bằng các nguyên tắc hiến định và luật định Thực tế ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hiến pháp 1946, quyền lập hội đã được ghi nhận Sắc lệnh số 102/SL-L004 ngày 20 tháng 5 năm 1957 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định về quyền lập hội của công dân Trong Hiến pháp Việt Nam năm

2013, điều thứ 25 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,

Trang 30

tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” Vì vậy, quyền lập hội là một quyền cơ bản của công dân

Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng có những điều khoản liên quan đến hình thức

và cơ chế hoạt động của hội Nghị định 88/2003/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ đã quy định chi tiết về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, theo đó có những quy định về chức năng, vai trò, thẩm quyền của hội Nghị định này đã được sửa đổi, bổ sung và thay thế bằng Nghị định 45/2010/NĐ - CP có hiệu lực từ 1/7/2010 theo đó xác lập quyền tham gia chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu và giám định xã hội, cung cấp dịch vụ công về các vấn đề thuộc lĩnh vực của hội Quyết định số 68/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định hội có tính chất đặc thù tiếp tục củng cố địa vị pháp lý của các tổ chức XHDS thông qua quy định về chức năng và đặc trưng của tổ chức xã hội đặc thù, với tư cách là một hình thức của tổ chức xã hội nói chung Tổng hợp tương đối đầy đủ các văn bản pháp lý đối với tổ chức XHDS tại Việt Nam có trong phần Phụ lục 1

Như vậy, địa vị pháp lý của tổ chức XHDS bắt nguồn từ địa vị pháp lý của công dân được xác định bằng những nguyên tắc hiến định và luật định Đặc biệt nguyên tắc này là sự cụ thể hóa hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra/giám sát” của Đảng và Nhà nước [22] Sự ra đời các tổ chức XHDS là vô cùng cần thiết và là kênh thông tin tất yếu, là yêu cầu chính đáng của nhân dân trong việc thực hiện quyền lực của mình vốn không thể và không bao giờ ủy thác được hết vào các cơ quan công quyền đại diện cho mình

1.3.2 Quy định về sự tham gia của các tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) khẳng định “phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh”, là “yêu cầu xuyên suốt” của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020, trong đó BVMT là mục tiêu và nhiệm vụ quan trọng Đại hội XI nhấn mạnh quan điểm cốt lõi của Đảng và Nhà nước Việt Nam: “BVMT là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân” Không có sự lãnh đạo kiên quyết của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của nhà nước và sự tham gia tích cực thật

Trang 31

sự của nhân dân, không thể bảo vệ được môi trường Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về BVMT, cần xây dựng các cơ chế, chính sách và giải pháp cần thiết để đẩy mạnh xã hội hóa công tác BVMT, huy động sức mạnh tổng hợp của cộng đồng, các tổ chức xã hội trong BVMT

Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 chỉ có 01 điều quy định về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên (Điều 124), trong đó quy định các tổ chức này có trách nhiệm tuyên truyền, vận động các thành viên tham gia BVMT, giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước là tạo điều kiện cho các hoạt động trên Ngoài ra, Điều 105 quy định về thực hiện dân chủ cơ sở về BVMT, trong đó có trách nhiệm phổ biến thông tin môi trường của các cơ quan liên quan, tổ chức đối thoại

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã tích hợp các nội dung trên, mở rộng đối tượng và nội dung về trách nhiệm, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các

tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp và đặc biệt là cộng đồng dân cư tại 01 chương riêng (Chương XV) Theo các quy định này, các tổ chức nói trên và cộng đồng dân cư có trách nhiệm và quyền hạn rộng hơn, góp phần quan trọng vào việc xã hội hóa công tác BVMT và vai trò của người dân trong BVMT được phát huy tốt hơn

Quy định về quyền tiếp cận thông tin môi trường của tổ chức XHDS (Dân biết)

Quyền tiếp cận thông tin được cụ thể hóa trong những quy định của Luật BVMT 2014 về nghĩa vụ công khai thông tin và quyền yêu cầu cung cấp thông tin của các bên liên quan như cơ quan quản lý các cấp, doanh nghiệp, người dân, các tổ chức xã hội Điều 145 của Luật BVMT 2014 quy định về quyền của tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp: “Được cung cấp và yêu cầu cung cấp thông tin về BVMT theo quy định của pháp luật” Điều 146 quy định về quyền đại diện cộng đồng dân cư trên địa bàn chịu tác động môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quyền yêu cầu chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ cung cấp thông

Trang 32

tin về BVMT thông qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; tổ chức tìm hiểu thực

tế về công tác BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thu thập, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền và chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp và

có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cung cấp kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý đối với cơ sở

Phạm trù cộng đồng khá rộng, gồm nhiều cấp, trong đó cấp trực tiếp nhất là người dân chịu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của một dự án cụ thể Cấp thứ hai

là cộng đồng dân cư (tổ, thôn, xóm, cao hơn là làng bản), và tiếp theo là các tổ chức

có tư cách pháp nhân nhưng không trực tiếp liên quan đến hoạt động dự án (NGO,

tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, chuyên gia, thông tấn báo chí) Đây là những đối tượng mà Luật BVMT 2014 nhìn nhận vai trò trong ngữ cảnh làm thế nào để tăng cường sự tham gia của cộng đồng, hay còn gọi là các bên liên quan [1]

Theo Điều 131 Luật BVMT 2014, có 5 nhóm thông tin môi trường phải được công khai bao gồm: (1) Báo cáo ĐMC, ĐTM và kế hoạch BVMT; (2) Thông tin về nguồn thải, chất thải, xử lý chất thải; (3) Khu vực môi trường bị ô nhiễm, suy thoái

ở mức nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, khu vực có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường; (4) Các báo cáo về môi trường; và (5) Kết quả thanh tra, kiểm tra về BVMT Tuy nhiên nếu “các thông tin quy định tại khoản này mà thuộc danh mục bí mật nhà nước thì không được công khai”

Quy định của pháp luật về sự tham gia của tổ chức XHDS trong hoạt động xây dựng chủ trương, chính sách, kế hoạch và các quy định về BVMT (Dân bàn)

Luật BVMT 2014 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện tư vấn, phản biện, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về BVMT theo quy định của pháp luật Cơ quan quản lý nhà nước các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia BVMT

Tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp có quyền được tham vấn đối

Trang 33

biện về BVMT với cơ quan quản lý nhà nước và chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có liên quan theo quy định của pháp luật

Đại diện cộng đồng dân cư có quyền tham gia đánh giá kết quả BVMT của

cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật

Theo Tài liệu hướng dẫn ĐTM của Chương trình Môi trường của Liên Hợp quốc [32], sự tham gia của cộng đồng và công chúng nói chung trong các dự án

được phân chia thành 4 cấp độ như sau: (1) Thông báo: một chiều thông tin từ người đề xuất tới cộng đồng, (2) Tham vấn: hai chiều thông tin giữa người đề xuất

và cộng đồng với cơ hội cho cộng đồng bày tỏ quan điểm về đề xuất, (3) Tham gia:

sự trao đổi tương tác giữa người đề xuất và cộng đồng bao gồm chia sẻ phân tích và thiết lập chương trình làm việc, tăng cường hiểu biết và những điểm thỏa thuận

được về đề xuất và tác động của nó, (4) Đàm phán: thảo luận trực tiếp giữa người

đề xuất và các bên chủ chốt liên quan nhằm xây dựng sự đồng thuận và hướng tới giải pháp các bên có thể chấp nhận, ví dụ gói giảm thiểu tác động và các biện pháp bồi thường

Hình 1.3 Mức độ tham gia của cộng đồng trong các dự án phát triển

Nếu so sánh với biểu đồ về mức độ tham gia của người dân (Hình 1) với các văn bản hướng dẫn Luật BVMT 2005, sự tham gia của cộng đồng trong quá trình

thực hiện ĐTM ở Việt Nam mới chỉ vừa bước qua giai đoạn sơ khai nhất là Thông

Trang 34

báo để bước sang giai đoạn Tham vấn Tuy nhiên, tham vấn mới chỉ dừng lại ở lấy

ý kiến cộng đồng chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án đề xuất thay vì công khai rộng rãi cho mọi đối tượng quan tâm có thể đóng góp ý kiến Như vậy, cả đối tượng được tham vấn và hình thức trao đổi thông tin đều rất hạn chế, tính tương tác hai chiều giữa đơn vị thực hiện tham vấn và đối tượng được tham vấn thấp

Để rút bớt khoảng cách giữa thực tiễn áp dụng trong nước và chuẩn mực quốc tế, Luật BVMT 2014 đã có những bước tiến bộ nhất định khi mở rộng đối tượng tham vấn không chỉ bao gồm cộng đồng mà còn các cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp bởi dự án Bên cạnh đó, vai trò của cộng đồng và Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp trong phản biện và giám sát các vấn đề môi trường của dự án cũng được tăng cường Để cụ thể hóa những nguyên tắc và quy định chung trong Luật BVMT 2014 về sự tham gia của cộng đồng và các

tổ chức xã hội, Nghị định 18/2015/NĐ-CP hướng dẫn về tham vấn trong quá trình lập ĐTM và Nghị định 19/2015/NĐ-CP hướng dẫn sự tham gia, giám sát trong công tác BVMT đã được ban hành [15]

Quy định của pháp luật về sự tham gia của tổ chức XHDS vào hoạt động BVMT (Dân làm)

Điều 43, Hiến pháp 2013 quy định: Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ BVMT Điều 4, Luật BVMT 2014 quy định: BVMT là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân Như vậy, mọi chủ thể trong xã hội phải có nghĩa vụ BVMT, trong đó có tổ chức XHDS

Biểu hiện sự tham gia (thực hiện nghĩa vụ BVMT) của tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư được thực hiện dưới các hình thức như thành lập tổ chức tự quản

về BVMT Tổ chức tự quản về BVMT có trách nhiệm xây dựng và thực hiện hương ước về BVMT; tuyên truyền, vận động nhân dân xóa bỏ hủ tục, thói quen mất vệ sinh, có hại cho sức khỏe và môi trường

Trang 35

Một trong những nội dung hoàn toàn mới của Luật BVMT 2014 là tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp có quyền kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm pháp luật về BVMT và đại diện cộng đồng dân

cư có quyền tham gia đánh giá kết quả BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật [14]

Như vậy, Luật BVMT 2014 đã quy định tương đối đầy đủ về sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong BVMT

Quy định của pháp luật về sự tham gia của tổ chức XHDS trong hoạt động giám sát, phát hiện hành vi vi phạm pháp luật BVMT (Dân kiểm tra)

Tổ chức tự quản về BVMT có quyền tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật về BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn

Tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp có quyền tham gia hoạt động kiểm tra về BVMT tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền

xử lý hành vi vi phạm pháp luật về BVMT

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các hoạt động BVMT của 3 tổ chức XHDS bao gồm: Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi trường (CPSE) và Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV) Trong đó:

- VUSTA là tổ chức bảo trợ của 140 hội thành viên, và 119 tổ chức khoa học – công nghệ ngoài Nhà nước VUSTA tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học

và công nghệ; điều hoà, phối hợp hoạt động của các hội thành viên trong nhiều lĩnh vực, trong đó có hoạt động BVMT

- CPSE là một tổ chức phi chính phủ (NGO) chuyên thực hiện những dự án nghiên cứu, phát triển bền vững và BVMT cho đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo vùng trung du, miền núi phía Bắc

- ENV là tổ chức xã hội hoạt động chuyên sâu về lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ các loài động vật hoang dã

Mặc dù VUSTA, CPSE, ENV có mục tiêu, phương thức hoạt động khác nhau, tuy nhiên những tổ chức này đã thể hiện vai trò, chức năng chính của các tổ chức XHDS khi hoạt động trong lĩnh vực BVMT đó là: (1) Phát hiện, tố giác vi phạm về BVMT, (2) Phản biện xã hội về môi trường, (3) Tư vấn, vận động chính sách về môi trường, (4) Kiểm tra, giám sát môi trường, (5) Giáo dục, phổ biến, tuyên truyền về BVMT

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Sự tham gia của một số tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam,

cụ thể là 3 tổ chức VUSTA, CPSE và ENV

- Những thuận lợi và khó khăn của các tổ chức VUSTA, CPSE, ENV khi hoạt động trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam

Trang 37

- Đề xuất những giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức VUSTA, CPSE

và ENV trong lĩnh vực BVMT

2.3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập tài liệu

Thu thập, tổng quan tài liệu, kế thừa kết quả liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu dựa trên những báo cáo khoa học trong và ngoài nước, các tài liệu, ấn phẩm, báo cáo dự án về BVMT do VUSTA, CPSE, ENV cung cấp

- Phương pháp phỏng vấn sâu

Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu một số cán bộ của các tổ chức CPSE, ENV, VUSTA để thu thập thêm thông tin Các câu hỏi phỏng vấn bao gồm những nội dung được liệt kê trong Phụ lục 3

Bảng 2.1 Danh sách một số cán bộ của ENV, CPSE, VUSTA được phỏng vấn

phỏng vấn

2 Đặng Minh Ngọc Điều phối viên dự án CPSE Tháng 4/2015

6 Ninh Phương Thảo Điều phối viên mạng

lưới tình nguyện viên

Trang 38

biện xã hội về môi trường, (3) Tư vấn, vận động chính sách, (4) Kiểm tra, giám sát, (5) Giáo dục, phổ biến, tuyên truyền Qua đó tìm ra những thuận lợi và khó khăn, đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò của những tổ chức này trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam thời gian tới Thao tác tính toán và xử lý số liệu, vẽ biểu đồ được thực hiện bằng phần mềm Microsoft Excel 2007

Trang 39

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đánh giá thực trạng tham gia của một số tổ chức XHDS trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam hiện nay

3.1.1 Giới thiệu về các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA

3.1.1.1 Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV)

Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (Education for Nature - ENV) là tổ chức xã hội được thành lập từ năm 2002 với 30 nhân viên, và có trụ sở tại phòng 1701, Tòa 17T5, Đường Hoàng Đạo Thúy, Quận Cầu Giấy, Hà Nội Mục tiêu của ENV là bảo

vệ đa dạng sinh học thông qua việc hỗ trợ các cơ quan chức năng tăng cường thể chế, chính sách và thực thi pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD), giáo dục nâng cao nhận thức, khuyến khích cộng đồng cùng tham gia bảo vệ ĐVHD

Cơ cấu tổ chức của ENV theo mô hình có phòng ban, bao gồm Ban giám đốc, dưới là các phòng hành chính kế toán, phòng quản lý chương trình dự án và 3 phòng chức năng (phòng giáo dục môi trường, phòng bảo vệ ĐVHD, phòng tư vấn

và vận động chính sách) Mỗi phòng, ban, bộ phận được bố trí sắp xếp từ 2-10 cán

bộ tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi bộ phận được giao

Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức của ENV

Phòng quản lý chương trình dự

án

Phòng Bảo vệ ĐVHD

Phòng tư vấn, vận động chính sách

Trang 40

3.1.1.2 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi trường (CPSE)

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi trường (tên tiếng Anh: Research and Development Center for Population, Social and Environmental Affairs, tên viết tắt: CPSE) là một NGO được thành lập theo Quyết định số 1112/TC-LHH ngày 16/11/2000 của Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) Giấy phép hoạt động số A - 472 ngày 12/01/2006 do Bộ Khoa học

và Công nghệ cấp Trụ sở của CPSE tại số 9 phố Nguyễn Đình Chiểu, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội

 Cơ cấu tổ chức

Khác với ENV, mô hình hoạt động của CPSE chưa phân hóa rõ rệt thành các phòng ban khác nhau và phân định thành nhiều chức năng riêng rẽ Cơ cấu tổ chức bao gồm: Ban giám đốc (giám đốc và phó giám đốc), bên dưới là các cán bộ chuyên môn theo dõi phụ trách từng lĩnh vực Với mô hình này một cán bộ có thể đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau

Hình 3.2 Cơ cấu tổ chức của CPSE

 Nguồn nhân lực của CPSE

CPSE có 12 thành viên làm việc chính thức với trình độ đại học và sau đại học ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có 3 chuyên viên về Lâm nghiệp (2 tiến sĩ,

1 thạc sĩ), 2 chuyên viên về dân tộc học (1 nghiên cứu sinh, 1 thạc sĩ), 1 cử nhân xã

Cán bộ truyền thông

và đào tạo

Cán bộ chương trình, dự án

Ngày đăng: 09/06/2016, 01:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thanh An (2015), Biên bản tọa đàm: Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội: Kinh nghiệm thực tiễn và nhu cầu thể chế hóa cho Luật BVMT, PanNature phối hợp với Vụ Chính sách và pháp chế thuộc Tổng Cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội: Kinh nghiệm thực tiễn và nhu cầu thể chế hóa cho Luật BVMT
Tác giả: Dương Thanh An
Năm: 2015
2. CIVICUS (2006), Xã hội dân sự đang nổi: đánh giá ban đầu về xã hội dân sự tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội dân sự đang nổi: đánh giá ban đầu về xã hội dân sự tại Việt Nam
Tác giả: CIVICUS
Năm: 2006
3. Trần Thị Giang, Tạ Thùy Linh (2015), “Vai trò của giám sát xã hội đối với hoạt động bảo vệ môi trường”, Tạp chí Môi trường, số 1+2/2015, Viện Khoa học Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của giám sát xã hội đối với hoạt động bảo vệ môi trường”, "Tạp chí Môi trường, số 1+2/2015
Tác giả: Trần Thị Giang, Tạ Thùy Linh
Năm: 2015
4. Đinh Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thành Lợi, Nguyễn Thị Minh Hiền, Vũ Thị Phương Thảo (2011), Hình ảnh các tổ chức xã hội dân sự trên một số báo in và báo mạng, ISEE, NXB Thế Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình ảnh các tổ chức xã hội dân sự trên một số báo in và báo mạng
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thành Lợi, Nguyễn Thị Minh Hiền, Vũ Thị Phương Thảo
Nhà XB: NXB Thế Giới
Năm: 2011
5. Trần Đình Hoan (2006), Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chủ động hội nhập quốc tế, Báo cáo kết quả nghiên cứu của các đề tài thuộc Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chủ động hội nhập quốc tế
Tác giả: Trần Đình Hoan
Năm: 2006
6. Trương Quang Học (2011), Tài liệu đào tạo tập huấn viên về biến đổi khí hậu, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo tập huấn viên về biến đổi khí hậu
Tác giả: Trương Quang Học
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2011
7. Vũ Thị Hiền (2012), Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong phát triển bền vững, Bản tin FSSP, sô 34-35 tháng 7/2012, tr 13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong phát triển bền vững
Tác giả: Vũ Thị Hiền
Năm: 2012
8. Nguyễn Đắc Hy (2011), Môi trường và con đường phát triển, NXB Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và con đường phát triển
Tác giả: Nguyễn Đắc Hy
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2011
9. Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Ngọc Lâm (2014), Bộ nguyên tắc thực hành cho các tổ chức xã hội Việt Nam khi tham gia đóng góp xây dựng chính sách, Trung tâm nghiên cứu quản lý và phát triển bền vững (MSD) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ nguyên tắc thực hành cho các tổ chức xã hội Việt Nam khi tham gia đóng góp xây dựng chính sách
Tác giả: Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Ngọc Lâm
Năm: 2014
10. Ngân hàng Phát triển Châu Á (2008), Tài liệu cơ bản về Tổ chức Xã hội Dân sự: Tài liệu hướng dẫn nhân viên về hợp tác với các tổ chức xã hội dân sự, Mandaluyong, Philippines Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu cơ bản về Tổ chức Xã hội Dân sự: "Tài liệu hướng dẫn nhân viên về hợp tác với các tổ chức xã hội dân sự
Tác giả: Ngân hàng Phát triển Châu Á
Năm: 2008
11. Hoàng Văn Nghĩa (2011), Vai trò và hoạt động của các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ, giám sát môi trường, Nghiên cứu lập pháp số 18 (203), tháng 9/2011, tr 20-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Vai trò và hoạt động của các tổ chức xã hội trong việc bảo vệ, giám sát môi trường
Tác giả: Hoàng Văn Nghĩa
Năm: 2011
12. Hoàng Văn Nghĩa (2015), Thúc đẩy vai trò của các tổ chức xã hội trong giám sát bảo vệ môi trường, Bản tin Chính sách Quý I/2015, Trung tâm Con người và Thiên nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thúc đẩy vai trò của các tổ chức xã hội trong giám sát bảo vệ môi trường
Tác giả: Hoàng Văn Nghĩa
Năm: 2015
14. Nguyễn Văn Phương (2015), Vai trò của tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường, Tạp chí Môi trường, số 3/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường
Tác giả: Nguyễn Văn Phương
Năm: 2015
15. Nguyễn Hoàng Phượng, Đỗ Hải Linh, Trần Thanh Thủy (2015), Thể chế hóa quy trình tham vấn trong đánh giá tác động môi trường, Trung tâm Con người và Thiên nhiên, NXB Hồng Đức 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế hóa quy trình tham vấn trong đánh giá tác động môi trường
Tác giả: Nguyễn Hoàng Phượng, Đỗ Hải Linh, Trần Thanh Thủy
Nhà XB: NXB Hồng Đức 2015
Năm: 2015
16. Quỹ Châu Á (2011), Danh tập một số tổ chức hội, liên hiệp hội, và phi chính phủ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh tập một số tổ chức hội, liên hiệp hội, và phi chính phủ Việt Nam
Tác giả: Quỹ Châu Á
Năm: 2011
17. Nguyễn Duy Quý (2005), Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, Báo cáo kết quả nghiên cứu của các đề tài thuộc Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.04 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân
Tác giả: Nguyễn Duy Quý
Năm: 2005
18. Phạm Văn Tân (2015), Phản biện xã hội về môi trường – xu thế và đòi hỏi tất yếu, Bản tin chính sách tài nguyên, môi trường phát triển bền vững, số 17 Quý I (2015), tr 13-14, Trung tâm Con người và Thiên nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản biện xã hội về môi trường – xu thế và đòi hỏi tất yếu
Tác giả: Phạm Văn Tân (2015), Phản biện xã hội về môi trường – xu thế và đòi hỏi tất yếu, Bản tin chính sách tài nguyên, môi trường phát triển bền vững, số 17 Quý I
Năm: 2015
19. Phạm Văn Tân (2014), Hoạt động tư vấn phản biện và giám định xã hội về lĩnh vực môi trường của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Tạp chí Môi trường, số 10/2014, VUSTA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động tư vấn phản biện và giám định xã hội về lĩnh vực môi trường của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Tân
Năm: 2014
20. Viện khoa học tổ chức nhà nước - Bộ nội vụ (2010), Vai trò các tổ chức xã hội đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Cơ sở lý luận và thực tiễn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Vai trò các tổ chức xã hội đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Cơ sở lý luận và thực tiễn
Tác giả: Viện khoa học tổ chức nhà nước - Bộ nội vụ
Năm: 2010
21. Viện Nghiên cứu Châu Âu (2009), Kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự ở Châu Âu đối với mô hình đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự ở Châu Âu đối với mô hình đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay
Tác giả: Viện Nghiên cứu Châu Âu
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Ranh giới mờ của Xã hội dân sự - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Hình 1.1. Ranh giới mờ của Xã hội dân sự (Trang 16)
Hình 1.2. Tam giác thể chế cho sự phát triển bền vững  1.1.2. Khái niệm về tổ chức xã hội dân sự - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Hình 1.2. Tam giác thể chế cho sự phát triển bền vững 1.1.2. Khái niệm về tổ chức xã hội dân sự (Trang 16)
Bảng 1.1. Các tổ chức xã hội dân sự chính ở Việt Nam [2] - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Bảng 1.1. Các tổ chức xã hội dân sự chính ở Việt Nam [2] (Trang 20)
Bảng 1.2. Năm thành lập của một số tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực bảo - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Bảng 1.2. Năm thành lập của một số tổ chức XHDS hoạt động trong lĩnh vực bảo (Trang 25)
Hình 1.3. Mức độ tham gia của cộng đồng trong các dự án phát triển - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Hình 1.3. Mức độ tham gia của cộng đồng trong các dự án phát triển (Trang 33)
Bảng 2.1. Danh sách một số cán bộ của ENV, CPSE, VUSTA được phỏng vấn - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Bảng 2.1. Danh sách một số cán bộ của ENV, CPSE, VUSTA được phỏng vấn (Trang 37)
Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức của ENV - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Hình 3.1. Cơ cấu tổ chức của ENV (Trang 39)
Hình 3.2. Cơ cấu tổ chức của CPSE - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Hình 3.2. Cơ cấu tổ chức của CPSE (Trang 40)
Bảng 3.2. Một số dự án của CPSE về BVMT và liên quan đến BVMT - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Bảng 3.2. Một số dự án của CPSE về BVMT và liên quan đến BVMT (Trang 42)
Hình 3.3. Cơ cấu tổ chức của VUSTA - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Hình 3.3. Cơ cấu tổ chức của VUSTA (Trang 44)
Bảng 3.4. Hoạt động chính của các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Bảng 3.4. Hoạt động chính của các tổ chức ENV, CPSE, VUSTA (Trang 48)
Hình 3.4. Mô hình hoạt động của mạng lưới tình nguyện viên ENV - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Hình 3.4. Mô hình hoạt động của mạng lưới tình nguyện viên ENV (Trang 50)
Hình  3.5.  Mô  hình  hoạt  động  giáo  dục,  truyền  thông  về  BVMT  của  các  tổ  chức - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
nh 3.5. Mô hình hoạt động giáo dục, truyền thông về BVMT của các tổ chức (Trang 63)
Hình 3.6. Hoạt động đào tạo, lồng ghép các kiến thức địa phương vào dự án BVMT - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
Hình 3.6. Hoạt động đào tạo, lồng ghép các kiến thức địa phương vào dự án BVMT (Trang 65)
Hình  VTC,  USAID,  Humane  Society  International, - NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA CỦA MỘT SỐ TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM
nh VTC, USAID, Humane Society International, (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w