Xuất phát từ thực tế và với sự hớng dẫn của thầy giáo Th.S Tạ Lợi emquyết định chọn đề tài “ Động cơ của Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ khi kiện cá tra và basa của Việt Nam“ Ngoài
Trang 1Lời cam đoan
Em xin cam đoan bài viết này đợc hoàn thành dựa trên sự tự tìm tòi củabản thân và dới sự hớng dẫn của thầy giáo Tạ Lợi Nếu có bất kỳ sự sao chépnào em xin nhận mọi hình thức kỉ luật
Sinh viên
Nguyễn Quốc Khánh
Trang 2Mục lục
Lời cam đoan 1
Mục lục 2 Danh mục các thuật ngữ Viết tắt 3
Danh mục các bảng 4
Lời nói đầu 5
1.1 Khái quát về nghề nuôi cá ở Mỹ và Việt nam 6
1.1.1 Nuôi cá tra và cá basa ở đồng bằng sông Cửu Long và chế biến sản phẩm đông lạnh xuất khẩu 6
1.1.2 Nghề nuôi cá da trơn và thị trờng cá da trơn ở Mỹ 6
1.2 Hoạt động xuất khẩu cá tra và cá basa sang thị trờng Mỹ 7
1.3 Vụ kiện cá tra, basa của hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ 8
1.3.1 Kiện về tên gọi Catfish 8
1.3.2 Vụ kiện bán phá giá 9
1.4 Động cơ của CFA khi kiện sản phẩm cá tra và basa của Việt nam 11
Chơng II Phân tích động cơ vụ kiện cá tra và basa của Việt nam xuất khẩu sang Mỹ 13
2.1 Phân tích động cơ của CFA kiện cá tra và cá basa của Việt nam 13
2.1.1 CFA và tên gọi Catfish 13
2.1.2 Động cơ của CFA 13
2.2 ảnh hởng của vụ kiện cá tra và basa 17
2.2.1 Về phía Việt Nam 17
2.2.2 Về phía Mỹ 19
2.3 Tồn tại và những nguyên nhân của vụ kiện cá tra và cá basa Việt Nam 19
Chơng III Những bài học kinh nghiệm và giải pháp đối với các vụ kiện bán phá giá quốc tế 22
3.1 Những bài học kinh nghiệm 22
3.2 Kiến nghị và giải pháp 23
3.2.1 Đối với các doanh nghiệp: 23
3.2.2 Đối với Nhà nớc 25 Kết luận 28
Trang 3Danh mục các thuật ngữ Viết tắt
CFA Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ
USITC Uỷ ban thong mại quốc tế Mỹ
Lobby Vận động hành lang
VASEP Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
AFTA Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam á
WTO Tổ chức thong mại thế giới
Trang 4Danh mục các bảng
Biểu 01: Sản lợng xuất khẩu cá phi lê đông lạnh sang Mỹ qua các năm … 9
Biểu 02: Cơ cấu kinh ngạch xuất khẩu cá phi lê đông lạnh của Việt nam năm
2000 theo doanh nghiệp………10
Biểu 03: Thị phần sản phẩm mặt hàng từ Việt Nam tại thị trờng Mỹ…… 20
Trang 5Lời nói đầu
Trong xu hớng toàn cầu hoá hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp không chỉkinh doanh trong quốc gia mình mà còn mở rộng hoạt động kinh doanh quốcgia mình mà còn mở rộng hoạt động kinh doanh của mình ra các nớc trên thếgiới
Trong quá vơn ra thị trờng thế giới các doanh nghiệp đặc biệt là các doanhnghiệp vừa và nhỏ thuộc các nớc đang phát triển gặp nhiều trở ngại từ hàngrào thơng mại các nớc phát triển Các rào cản đó bao gồm các biện pháp thuếquan và phi thuế quan Để xâm nhập thành công các doanh nghiệp phải vợtqua hàng rào này
Thời gian vừa qua các doanh nghiệp Việt Nam liên tiếp bị kiện về các vấn
đề thơng hiệu, bán phá giá tại thị trờng nớc ngoài Mà điển hình là vụ kiện cátra và basa của hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ
Đây là thử thách đầu tiên mà các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khihiệp định thơng mại Việt- Mỹ có hiệu lực Nó cung cấp nhiều kinh nghiệm bổích cho các doanh nghiệp khi tham gia vào thơng mại quốc tế
Xung quanh vụ kiện này có 1 loạt các vấn đề quan trọng nh quy định vềnhãn hiệu, chống trợ giá xuất khẩu, chống bán phá giá, môi trờng lao động …
ở mức độ nào là các rào cản thơng mại ngầm Động cơ của chính phủ khi canthiệp vào thơng mại, tầm quan trọng của các yếu tố kinh tế thị trờng trong các
vụ tranh chấp thơng mại về bán phá giá hay trợ giá, bài học từ vụ kiện này đốivới hàng loạt các vụ kiện bán phá giá sắp tới…
Xuất phát từ thực tế và với sự hớng dẫn của thầy giáo Th.S Tạ Lợi emquyết định chọn đề tài “ Động cơ của Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo
Mỹ khi kiện cá tra và basa của Việt Nam“
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận bài viết của em gồm 3 phần:
Chơng I: Động cơ kiện cá tra, cá Basa của CFA
Chơng II:Phân tích động cơ vụ kiện cá tra và basa của Việt nam xuất khẩusang Mỹ
Chơng III:Những bài học kinh nghiệm và giải pháp đối với các vụ kiệnbán phá giá quốc tế
Do thời gian và trình độ có hạn nên bài viết của em không tránh khỏi thiếuxót Em rất mong đợc thầy,cô góp ý thêm hoàn thiện đề tài Em xin chânthành cản ơn
Trang 6Chơng I động cơ kiện cá tra, cá Basa của Hiệp hội
các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ1.1 Khái quát về nghề nuôi cá ở Mỹ và Việt nam
1.1.1 Nuôi cá tra và cá basa ở đồng bằng sông Cửu Long và chế biến
sản phẩm đông lạnh xuất khẩu.
Tại Việt nam cá da trơn chủ yếu đợc nuôi ở Đồng bằng sông Cửu Long,phổ biến là cá tra và cá basa Trớc năm 1945 cá giống phụ thuộc vào nguồnvớt tự nhiên Công nghệ tạo giống đợc đầu t, phát triển từ tháng 5 năm 1995cá giống sinh sản nhân tạo với số lợng lớn và chi phí thấp đợc cung cấp thờngxuyên cho nông dân
Hoạt động nuôi cá tra, cá basa bắt đầu phát triển dới hình thức bè cá vàhầm cá, dọc hai bờ sông Hậu thuộc tỉnh An Giang và Đồng Tháp huyện Châu
Đốc của An Giang là nơi tập trung chủ yếu của các bè cá và cũng là nơi cungcấp cá giống chính chủ yếu cho cả vùng Năm 2001, sản lợng cá tra và cá basacủa các tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long lên tới 120.000 tấn, tăng gấp 6 lần sovới năm 1997 Từ hai tỉnh đầu nguồn là An Giang, Đồng Tháp, nghề nuôi cátra và cá basa đã lan nhanh đến Cần Thơ, Bến Tre, Vĩnh Long và Tiền Giang Hầu hết cá tra và cá basa sau khi nuôi đợc chế biến dới dạng đông lạnh tr-
ớc khi đi đến tay ngời tiêu dùng cuối cùng Các tỉnh nuôi cá tra và basa ở
Đồng Bằng sông Cửu Long đều có doanh nghiệp chế biến thủy sản gắn vớicác làng bè nuôi cá
1.1.2 Nghề nuôi cá da trơn và thị trờng cá da trơn ở Mỹ
Trớc năm 1970, cá da trơn hay Catfish theo tên tiếng Anh vẫn chỉ là mộtthứ đặc sản của một số vùng ở Mỹ và nhu cầu đối với sản phẩm này rất hạnchế Hình ảnh này đã đợc dần dần thay đổi bằng các doanh nghiệp chế biếnthủy sản Kết quả là nhu cầu nhu cầu đối với các sản phẩm chế biến từ Catfishtăng lên Catfish trở thành một món ăn chính ở rất nhiều nhà hàng thuỷ sản vàxuất hiện ở hầu hết các siêu thị Mức tiêu dùng cá Catfish bình quân đầu ngời
ở Mỹ tăng từ 0,41 pao vào năm 1985 lên 1 pao vào năm 2001
Sản lợng cá tăng từ 2.580 tấn vào năm 1970 lên 271.000 tấn vào năm
2001 với doanh số trên dới nửa tỷ đôla Các trại nuôi cá Catfish đợc tập trungchủ yếu ở đồng bằng sông Missisipi tại các bang Missisipi, Alabama,Ankansas và Louisiana Khác với Đồng Bằng sông Cửu Long nơi cá đợc nuôi
Trang 7chủ yếu bằng cách thả bè trên sông, cá Catfish ở các bang miền nam nớc Mỹhiện là 76.000 ha, trong đó bang Missisipi đã chiếm tới 58% diện tích
1.2 Hoạt động xuất khẩu cá tra và cá basa sang thị trờng Mỹ
Việt nam bắt đầu xuất khẩu cá basa và cá tra sang Mỹ từ năm 1996 saukhi cấm vận kinh tế đợc bãi bỏ Cá xuất khẩu vào thị trờng Mỹ là sản phẩmphi lê đông lạnh Sản lợng cá da trơn dạng phi lê đông lạnh không xơng nhậpkhẩu từ Việt nam vào Mỹ tăng mạnh từ năm 2000 Đến cuối năm 2001, sản l-ợng cá phi lê đông lạnh xuất khẩu đã tăng lên gần 21.000 tấn gấp hơn 20 lầnsản lợng xuất khẩu năm 1998
Nguồn: Fulbright economic teaching program, case study cuộc chiến“
catfish”
Biểu 01: Sản lợng xuất khẩu cá phi lê đông lạnh sang Mỹ qua các năm
Trớc khi Hiệp định Thơng mại song phơng có hiệu lực ( tháng 12 năm2001), cá da và cá basa phi lê đông lạnh của Việt nam xuất sang chỉ Mỹ phảichịu thuế suất khoảng 1,3% giá trị sản phẩm (suy ra từ mức thuế đơn vị 4,4xen/kg và giá nhập khẩu trung bình 3,5 USD/kg) Còn từ tháng 12 năm 2001sản phẩm cá tra và basa phi lê đông lạnh của Việt nam không còn chịu thuếkhi nhập khẩu vào Mỹ
An Giang là tỉnh chủ lực sản xuất cá tra, basa, là nơi tập trung nhữngdoanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thuỷ sản lớn nh công ty cổ phần xuấtnhập khẩu thủy sản An Giang ( Angifish), công ty nhập khẩu nông sản thựcphẩm An Giang ( Afiex) và công ty trách nhiệm hữu hạn Nam Việt Các doanhnghiệp lới với các địa phơng khác gồm công ty Vĩnh Hoàn ( Đồng Tháp),công ty Catato (Cần Thơ) và công ty Cafatex ( Cần Thơ) Các công ty này hiện
Trang 8chiếm tới 95% kim ngạch xuất khẩu cá phi lê đông lạnh của Việt nam với thịphần của từng công ty đợc trình bày trong biểu 02
Nguồn : Fulbright economic teaching program, case study cuộc chiến“
catfish ”
Biểu 02: Cơ cấu kinh ngạch xuất khẩu cá phi lê đông lạnh của Việt
Nam năm 2000 theo doanh nghiệp
1.3 Vụ kiện cá tra, basa của hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ
Sau một thời gian hởng sự gia tăng cả về sản lợng và giá cả, các nhà nuôicá Catfish bắt đầu phải chấp nhận giảm giá từ năm 2001 Giá bình quân mộtpao mà các nhà nuôi cá Catfish nhận đợc giảm từ 75 xen ( 2000) xuống 66xen năm 2001 và 50 xen ( 2002) Hiệp hội các nhà nuôi cá Catfish Mỹ (CFA)lập luận rằng giá bán hiện nay thấp hơn chi phí sản xuất tới 15 xen Tổngdoanh số cá Catfish nội địa bán cho các đơn vị chế biến giảm 20% từ 446 triệuUSD năm 2000 xuống 385 triệu USD năm 2001 CFA coi các sản phẩm gây ra
sự giảm sút này với lập luận rằng sản phẩm của Việt nam đang đợc bán tại Mỹvới giá thấp hơn 1 USD/pao so với sản phẩm nội địa Chính vì vậy họ chủ tr-
ơng dấy lên cuộc chiến chống lại cá tra và basa của Việt nam và đòn tấn công
đầu tiên là vào tên gọi Catfish
1.3.1 Kiện về tên gọi Catfish
*Lập luận của CFA
Sự thành công bất ngờ của Việt nam trong xuất khẩu cá tra và basa đã gâythiệt hại nghiêm trọng cho ngành nuôi cá nội địa của Mỹ Cá Việt nam thắnglợi là do thay đổi về chiến lợc tiếp thị Những đợt cá đầu tiên đợc mang nhữngthơng hiệu khác nhau xoay quanh chữ “ basa” Việc tiêu thụ không đợc thànhcông lắm Năm 1996 sản lợng xuất khẩu cá da trơn dạng nh phi lê đông lạnhcủa Việt nam vào Mỹ là 59 tấn và đến năm 1998 cũng chỉ đạt 260 tấn Các
Trang 9doanh nghiệp nhập khẩu thủy sản Mỹ sau đó bắt đầu tiêu thụ sản phẩm cábasa của Việt nam trên thị trờng với nhãn hiệu Catfish Sản lợng nhập khẩu từViệt nam kể từ đó tăng vọt Từ 3269 tấn năm 1999 lên 8624 tấn năm 2000,
13475 tấn năm 2001 và 20965 tấn năm 2001 Nh vậy sản lợng cá của ViệtNam xuất khẩu năm 2002 đã gấp hơn 21 lần so với năm1998
CFA còn đa thêm bằng chứng cho rằng bao bì đóng gói cũng giống vớicác nhà sản xuất trong nớc, nhiều hãng nhập khẩu cá của Mỹ sử dụng nhãnhiệu “ Delta Fesh” CFA cho rằng nhãn hiệu này tạo ra sự nhầm lẫn vì ngờitiêu dùng có thể hiểu rằng cá đợc nuôi từ Đồng bằng sông Missisippi, trongkhi trên thực tế là từ Đồng Bằng sông Cửu Long
Kết luận của CFA là phía Việt nam đang lợi dụng thành quả tiếp thị củanhững ngời nuôi cá Mỹ
CFA và các nhà vận động hậu trờng cho những chủ trại nuôi cá tìm cáchchứng minh rằng cá tra và basa của Việt nam không phải là Catfish và do vậyviệc sử dụng nhãn hiệu Catfish trên bao bì là không đợc phép
*Lập luận của phía Việt nam
“ Catfish” là một từ tiếng Anh thông dụng chỉ hàng trăm loại cá Theo từ
điển Webster định nghĩa thì Catfish là “ bất kỳ loại cá nớc ngọt nào có da trơn,
có ria gần miệng thuộc Silurifonnes” Nh vậy, thì rõ ràng cá tra và basa củaViệt nam là Catfish
Theo bộ thủy sản Việt nam thì trên tất cả bao bì của sản phẩm thủy sảnxuất khẩu của Việt nam đều ghi rõ dòng chữ tiếng Anh “Product of Việt Nam”hay “ Made in Việt nam” và thực hiện việc ghi đầy đủ cả tên khoa học lẫn tênthơng mại theo đúng quy định của FDA
1.3.2 Vụ kiện bán phá giá
Mặc dù thắng lợi về quy định về tên gọi Catfish nhng rõ ràng quy địnhnày không cản trở đợc cá tra và basa của Việt nam nhập vào Mỹ Và việc cácphơng tiện thông tin đại chúng đa tin về vụ tranh chấp tên gọi đã làm cho cátra và basa trở nên nổi tiếng Với nhãn hiệu và chiến lợc tiếp thị mới giá cá tra
và basa phi lê đông lạnh ở thị trờng tăng lên tới 20- 30% so với trớc khi đổitên Cá tra và basa phi lê đông lạnh của Việt nam xuất sang Mỹ trong 6 tháng
đầu năm 2002 tăng tới 24% cả về lợng và giá trị so với cùng kỳ năm 2001.Thêm vào đó không chỉ có ngời tiêu dùng Mỹ mà cả ngời tiêu dùng ở nhiều n-
ớc khác cũng biết đến sản phẩm của Việt nam Đứng trớc lo ngại về thị phầncá Việt nam ngày càng gia tăng các nhà nuôi cá và chế biến cá của Mỹ đa ra
Trang 10đòn tấn công thứ hai: cáo buộc doanh nghiệp chế biến thủy sản của Việt nambán phá giá cá tra và basa phi lê đông lạnh trên thị trờng Mỹ
Vào ngày 28 tháng 6 năm 2002, Hiệp hội chủ trại nuôi cá da trơn Mỹ(CFA) đã đệ đơn kiện một số doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt nam lên bộthơng mại Mỹ ( DOC) và Uỷ Ban Thơng mại Quốc tế Mỹ (USITC) là các sảnphẩm cá tra và basa phi lê đông lạnh đợc bán thấp hơn giá trị hợp lý tại thị tr-ờng Mỹ gây thiệt hại về vật chất cho sản xuất nội địa
Luận điểm của các bên về các cáo buộc bán phá giá cá tra và basa phíacác trại nuôi cá Catfish và các doanh nghiệp chế biến Catfish Mỹ :
- Về khía cạnh thứ nhất- ngày sản xuất nội địa và thiệt hại vật chất
+ Bên nguyên đơn lập luận cho rằng sản phẩm của họ chiếm khoảng 86%sản lợng sản xuất nội địa Các trại nuôi cá bán hầu hết cho các đơn vị chế biến
và đơn vị chế biến phụ thuộc hoàn toàn vào các nguyên liệu của nông dânnuôi cá Do vậy, cá trại nuôi lẫn cơ sở chế biện cộng lại có thể đại diện chophía sản xuất trong ngành để kiện Việt nam
+ Hàng nhập khẩu của Việt Nam đã tăng lên nhanh chóng từ năm 1999
và chiếm tới 20% thị phần vào năm 2001 Các sản phẩm cá tra và basa nh phi
lê đông lạnh nhập khẩu luôn có giá trị hơn các sản phẩm Catfish nội địa (mứcchênh lệch 0,8- 1 USD/pao)
- Về khía cạnh thứ hai- bán phá giá:
+ Trong đơn kiện nhằm khởi xớng điều tra bán phá giá, CFA cung cấp cáctính toán về mức độ bán phá giá trên cả cơ sở kinh tế thị trờng và phi thị trờng + Trong trờng hợp kinh tế thị trờng, CFA cho rằng thị trờng cá tra và basaphi lê đông lạnh ở Việt nam quá nhỏ nên không thể căn cứ vào giá nội địa đểtính giá trị hợp lý Do CFA cũng không tìm thấy đợc số liệu về giá xuất khẩucủa Việt nam ở một nớc thứ ba nên trong tính toán CFA tự xây dựng chi phísản xuất
+ Trờng hợp kinh tế phi thị trờng, CFA chọn ấn Độ là nớc “ có khả năng
so sánh” Vì ấn Độ có cùng mức độ phát triển nh Việt Nam và có sản xuất
đáng kể cá trê trắng giống cá tra và basa
+ Giá cả nguyên liệu chế biến cá phi lê đông lạnh ở ấn độ đợc sử dụng
để tính giá trị hợp lý Đối với số lợng các nhân tố sản xuất CFA cho rằngkhông thu thập đợc thông tin tin cậy của Việt nam Với lập luận quy trình chếbiến cá phi lê đông lạnh gần nh giống nhau ở mọi nơi trên thế giới, CFA dựa
Trang 11vào số liệu về lợng nhân số sản xuất của một số cơ sở chế biến của Mỹ sau khi
đã hiệu chỉnh những khác biệt đợc biết đến ở Việt nam để tính toán
* Phía các doanh nghiệp chế biến cá tra và basa phi lê đông lạnh của Việtnam :
- Về khía cạnh thứ nhất – ngành sản xuất nội địa và thiệt hại vật chất: + Việc quy định về tên gọi vừa qua chứng tỏ rằng không có một sản phẩmnào ở Mỹ là đồng nhất với cá tra hay basa của Việt nam Do vậy, vụ kiện phảidựa vào sản phẩm sản xuất ở Mỹ giống nhất với cá tra hay basa đông lạnh + Ngành kinh tế đợc xem xét là chế biến cá phi lê đông lạnh và do vậycác chủ trại nuôi cá Catfish đủ t cách đại diện cho các nhà sản xuất sản phẩmchế biến
Ngành chế biến Catfish phi lê đông lạnh của Mỹ không bị thiệt hại vậtchất do cả sản lợng nội địa lẫn nhập khẩu đều tăng và không cạnh tranh trựctiếp về giá giữa hai loại
- Về khía cạnh thứ hai- bán phá giá :
+ Việt nam lập luận mạnh mẽ cho t cách kinh tế thị trờng
+ Với t cách kinh tế thị trờng, giá cả phi lê trong thị trờng nội địa củaViệt nam có thể đợc dùng để tính giá trị hợp lý
+ Ngay cả khi vẫn coi Việt nam là nớc cha có kinh tế thị trờng thì đề xuấtchọn ấn Độ là nớc thứ ba để so sánh giá thành cá tra, basa Việt nam xuất sangthị trờng Mỹ vẫn là vô lý Vì cá trê trắng ấn Độ khác với cá basa, cá tra Việtnam và kỹ thuật nuôi cá, quy trình chế biến phi lê và chi phí sản xuất củangành cá hai nớc cũng hoàn toàn khác biệt
+ Quy trình chế biến cá là quy trình khép kín từ nuôi cá đến chế biến cáphi lê đông lạnh
1.4 Động cơ của CFA khi kiện sản phẩm cá tra và basa của Việt nam
Động cơ về lợi nhuận: Kinh tế Mỹ suy thoái, giá năng lợng tăng cầugiảm, giá giảm trong khi giá thành sản xuất tăng làm cho lợi nhuận giảm Mặtkhác CFA vừa đổ tội cho các doanh nghiệp Việt Nam bán pháp giá cá tra vàBasa và áp với mức thuế cao vừa cho rằng thiệt hại của họ là do thiên tai gây
ra để xin đợc hởng tiền trợ cấp của chính phủ (ít nhất 80% số tiền thu đợc sẽchui vào túi các thành viên CFA)
Trang 12Động cơ về thị trờng : CFA lo ngại cho vị thế độc quyền của cá nheo Mỹngay trên đất Mỹ Do đó họ đã sử dụng mọi biện pháp để ngăn chặn khôngcho cá tra và basa xâm nhập vào thị trờng Mỹ Mục đích là để bảo vệ mìnhkhỏi sự cạnh tranh hợp pháp và làm triệt tiêu cạnh tranh giữa các doanhnghiệp Hoa Kỳ với doanh nghiệp Việt Nam
- Động cơ về chính trị:
+ Quan điểm bảo hộ mậu dịch cho rằng xuất khẩu thì tốt hơn nhập khẩu
Do vậy họ cần phải ủng hộ chính sách bảo hộ về phía mình và lên án chínhsách bảo hộ của phía nớc đối tác
+ Bảo vệ hàng nghìn ngời nuôi cá trong nớc và bảo vệ ngành công nghiệpchế biến thuỷ sản
+ Các quyết định ngoại thơng mang tính chính trị cao, bị ảnh hởng bởimột nhóm nhỏ những nghị sĩ Mọi chính sách thơng mại thờng đem lại lợi íchcho một nhóm ngời, nhng lại gây hại cho nhóm khác Tự do nhập khẩu cábasa của Việt Nam làm lợi cho ngời tiêu dùng thu nhập thấp ở Mỹ, nhng lạigây hại cho các chủ trại trên thị trờng Catfish Do đó, các chính sách thơngmại thờng thiên lệch theo hớng bảo vệ những nhóm lợi ích hùng mạnh, thậmchí đa ra những lý lẽ trái ngợc nhau nh việc coi cá basa giống Catfish nhngkhông đợc mang tên Catfish
Trang 13Chơng II Phân tích động cơ vụ kiện cá tra và basa của
Việt nam xuất khẩu sang Mỹ2.1 Phân tích động cơ của CFA kiện cá tra và cá basa của Việt nam
2.1.1 CFA và tên gọi Catfish
Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ ( CFA) đại diện cho giới chủ trạinuôi cá giàu có có bang Missisipi và một số bang miền nam nớc Mỹ Là mộtngành sản xuất quan trọng tại các bang này Các chủ trại nuôi cá nheo thu lợirất lớn và họ đã dầy công để đa con cá nheo trở thành một món ăn phổ biến đ-
ợc tiêu thụ rộng rãi khắp cả nớc Quyền lợi của họ gắn chặt với loài cá này.Cho nên họ rất lo lắng khi thấy những sản phẩm cá da trơn đợc nhập từ nớcngoài có phẩm chất tốt hơn, giá bán rẻ hơn đang chiếm lĩnh trên thị trờng Mỹ
Do đó, họ tiến hành vụ kiện cá basa của Việt nam
“ Catfish” là tên tiếng Anh chỉ tính có các loài cá da trơn ( không vảy).Theo cách phân loại tất cả các loài cá đó đều thuộc bộ cá nheo gồm khoảng 2.500 loài cá đến 3000 loài khác nhau phân bố trong các thuỷ vực nớc ngọt,mặn và nợ trên khắp thế giới
có tạo ra đợc lợi nhuận hay không
Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo cuả Mỹ ( CFA) cũng không nằm ngoài quy luật đó
Trang 14Mỹ là một quốc gia có nền kinh tế thị trờng lâu đời Hoạt động của cácdoanh nghiệp luôn dựa trên một mục tiêu duy nhất đó là lợi nhuận Họ tìmcách để tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp mình, tổ chức mình kể cả bằngcác biện pháp cạnh tranh lành mạnh lẫn các hình thức cạnh tranh không lànhmạnh Khi hoạt động trong một môi trờng kinh doanh nh vậy thì bất kỳ sựcạnh tranh không lành mạnh nào mà ảnh hởng đến lợi nhuận của các bên sẽ bịtrả đũa
Nh đã nêu ở chơng I, từ năm 1970 cá da trơn hay Catfish đã dần trở nênquen thuộc đối với ngời tiêu dùng Mỹ Thông qua hành loạt các chiến dịchquảng cáo, tiếp thị các nhà sản xuất cá nheo Mỹ đã làm thay đổi hình ảnh củasản phẩm Catfish Kết quả là nhu cầu đối với các sản phẩm chế biến từ Catfishtăng lên Nó trở thành món ăn chính của rất nhiều nhà hàng thuỷ sản và xuấthiện ở hầu hết các siêu thị Mức tiêu dùng cá Catfish bình quân đầu ngời ở Mỹtăng từ 0,41pao vào năm 1985 lên 1 pao vào năm 2001 Hầu hết nguyên liệucho chế biến các sản phẩm này đều do các trại cá ở các bang Missisippi,Alabama, Arkansas và Louisana cung cấp Trong đó bang Missisippi có diệntích mặt nớc ao hồ lớn nhất chiếm 58% diện tích Nếu năm 1970 các nhà nuôicá nheo Mỹ chỉ sản xuất đợc 2.580 tấn thì vào năm 2001 đã lên tới 270.000tấn với doanh số trên dới nửa tỷ đô la Cá Catfish trở thành sản phảm quantrọng đối với các bang miền nam nớc Mỹ
Tuy nhiên thị trờng Catfish gia tăng ở Mỹ đã hấp dẫn hàng nhập khẩu từnớc ngoài nh Braxin, Guyana, Trung quốc và Việt nam Sự có mặt của các sảnphẩm cá da trơn từ các nớc này với chất lợng cao giá thấp đã làm cho phí giácá trên thị trờng Mỹ giảm Giá bình quân 1 pao mà các nhà nuôi cá Catfishnhận đợc giảm từ 75 xen năm 2000 Từ đó dẫn đến doanh số nội địa bán chocác đơn vị chế biến giảm 20% Từ 446 triệu USD năm 2000 xuống 385 triệuUSD năm 2001 Điều này ảnh hởng mạnh đến các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ.Nguồn thu nhập chính của họ có nguy cơ bị đe doạ bởi các sản phẩm xuấtkhẩu
Mặt khác kinh tế Mỹ trong giai đoạn này đang suy thoái, giá năng lợngtrên thị trờng thế giới cũng nh tại Mỹ tăng Nền kinh tế suy thoái làm cho nhucầu về các sản phẩm cá Catfish bị giảm họ buộc phải giảm giá bán sản xuất lạităng do đó lợi nhuận giảm
Do nhu cầu của ngời tiêu dùng về thủy sản giải và lại chịu gánh nặng mởrộng sản xuất, các nhà nuôi cá Catfish Mỹ phải tìm ra lý do giải thích vấn đềcủa họ Họ cho rằng cá tra và basa của Việt nam chính là nguyên nhân gây ra
Trang 15sự giảm sút về lợi nhuận Họ đổ lỗi cho các nhà nhập khẩu và Việt Nam làmột mục tiêu dễ dàng vì các doanh nghiệp Việt Nam ít có kinh nghiệm ở thịtrờng Mỹ
2.1.2.2 Động cơ về thị trờng
Thị trờng tiêu thụ cá da trơn của Mỹ là một thị trờng đầy tiềm năng Vớidân số trên 200 triệu dân và GDP hàng năm đạt trên dới 10.000 tỷ USD, mứctiêu dùng cá và hải sản các loại bình quân đầu ngời ở Mỹ hiện nay là 15 pao,sản lợng tiêu thụ cá Catfish mới chỉ chiếm 3- 4% tổng lợng cá và hải sản tiêuthụ Chính vì quy mô rộng lớn các thị trờng Mỹ đã thu hút rất nhiều các quốcgia tham gia xuất khẩu vào thị trờng này
Trong 10 năm qua các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ gần nh độc quyền, không
có đối thủ cạnh tranh Nhng từ khi các nớc thực hiện xuất khẩu cá da trơn vào
Mỹ đã làm cho CFA dần mất đi vị thế độc quyền Cá tra và basa của Việt nambắt đầu có mặt trên thị trờng năm 1996 Thời gian đầu việc tiêu thụ khôngthàmh công Năm 1996, sản lợng xuất khẩu cá da trơn dạng phi lê đông lạnhcủa Việt nam vào Mỹ chỉ đợc 59 tấn và đến năm 1998 cũng chỉ đạt đợc 260tấn Nhng sản lợng bắt đầu tăng nhanh ở các năm tiếp theo ( xem Biểu 01)
Đến năm 2002 sản lợng cá da trơn phi lê đông lạnh đã đạt 20.965 tấn Thịphần cá tra và cá basa ngày càng tăng
Bảng 03: Thị phần sản phẩm mặt hàng từ VN tại thị trờng Mỹ
63.96967.05671.278Chỉ tiêu 1999 2000 2001Sản lợng cá tra, basa phi lê đông lạnh nhập
khẩu từ Việt Nam (tấn)Sản lợng tiêu dùng
Thị phần của sản phẩm Việt Nam 3.4 8.0 15.5
Nguồn : Fulbright economic teaching program, case study cuộc chiến“
catfish”
Các sản phẩm nhập khẩu với giá rẻ hơn chất lợng cao hơn, với kim ngạchtăng 80% trong vòng 2 năm 2000-2002 đã làm điêu đứng nghề cá Catfish trênsông Missisippi Do đó, CFA lo ngại thị trờng cá phi lê đông lạnh sẽ bị sụp đổbởi các sản phẩm nhập ngoại Nên họ đã quyết định can thiệp thông qua việctác động đến chính phủ Hoa Kỳ