Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán lưu chuyển hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ hàng hóa trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mạiBiên tập bởi: Nguyễn Văn Bắc... Những vấn đ
Trang 1Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán lưu chuyển hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ hàng hóa trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại
Biên tập bởi:
Nguyễn Văn Bắc
Trang 2Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán lưu chuyển hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ hàng hóa trong các doanh nghiệp kinh doanh thương mại
Trang 3MỤC LỤC
1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại
2 Khái niệm, yêu cầu quản lý hàng hoá và nhiệm vụ hạch toán lưu chuyển hàng hoá
3 Các phương thức mua hàng, thanh toán và thủ tục chứng từ
4 Phương pháp tính giá hàng hoá nhập kho
5 Kế toán chi tiết hàng hoá
6 Hạch toán tổng hợp một số nghiệp vụ mua hàng chủ yếu
7 Các phương thức tiêu thụ hàng hoá, phương thức thanh toán và thủ tục chứng từ
8 Phạm vi và thời điểm xác định hàng bán
9 Phương pháp xác định giá vốn
10 Hạch toán tổng hợp nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá chủ yếu
11 Hạch toán các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho và dự phòng phải thu khóđòi
12 Hạch toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp và kết quả tiêu thụhàng hoá
13 Các hình thức sổ kế toán áp dụng trong hạch toán lưu chuyển hàng hoá
Tham gia đóng góp
Trang 4Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại
Thương mại là khâu trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng Thương mại baogồm phân phối và lưu thông hàng hoá
Đặc điểm khác biệt cơ bản giữa doanh nghệp kinh doanh thương mại và doanh nghiệpsản xuất là doanh nghiệp thương mại không trực tiếp tạo ra sản phẩm, nó đóng vai tròtrung gian môi giới cho người sản xuất và người tiêu dùng Doanh nghiệp sản xuất làdoanh nghiệp trực tiếp tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của xã hội Doanhngiệp thương mại thừa hưởng kết quả của doanh nghiệp sản xuất, vì thế chi phí màdoanh nghiệp thương mại bỏ ra chỉ bao gồm: giá phải trả cho người bán và các phí bỏ ra
để quá trình bán hàng diễn ra thuận tiện, đạt hiệu quả cao
Đặc điểm về hoạt động: Hoạt động kinh tế chủ yếu của doanh nghiệp thương mại là lưuchuyển hàng hoá Quá trình lưu chuyển hàng hoá thực chất là quá trình đưa hàng hoá từnơi sản xuất đến nơi tiêu dùng thông qua hoạt động mua bán, trao đổi sản phẩm hànghoá nhằm thoả mãn nhu cầu hàng hoá của người tiêu dùng
Đặc điểm về hàng hoá: Hàng hoá trong kinh doanh thương mại gồm các loại vật tư, sảnphẩm có hình thái vật chất hay không có hình thái vật chất mà doanh nghiệp mua về đểbán
Đặc điểm về phương thức lưu chuyển hàng hoá: Quá trình lưu chuyển hàng hoá đượcthực hiện theo hai phương thức: bán buôn và bán lẻ Trong đó bán buôn là phương thứcbán hàng cho các đơn vị thương mại, doanh nghiệp sản xuất để thực hiện bán ra, hoăcgia công, chế biến bán ra Đặc điểm của hàng hoá bán buôn là hàng hoá vẫn nằm tronglưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng, do đó, giá trị và giá trị sử dụng hàng hoá chưađược thực hiện Còn bán lẻ là phương thức bán hàn trực tiếp cho người tiêu dùng hoặccác tổ chức đơn vị kinh tế mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ
Trang 5khác nhau Do đó, chi phí thu mua và thời gian lưu chuyển hàng hoá cũng khác nhaugiữa các loại hàng.
Trang 6Khái niệm, yêu cầu quản lý hàng hoá và
nhiệm vụ hạch toán lưu chuyển hàng hoá
Khái niệm, yêu cầu quản lý hàng hoá và nhiệm vụ hạch toán lưu chuyển hàng hoá:
Quá trình mua hàng (T-H) là quá trình vận động của vốn kinh doanh từ hình thái vốnbằng tiền sang hình thái vốn bằng hàng hoá Quá trình mua hàng ở doanh nghiệp đượccoi là hoàn tất khi hàng hoá đã được kiểm nhận nhập kho hoặc chuyển bán thẳng, doanhnghiệp đã thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận thanh toán
Quá trình bán hàng (H-T) là quá trình vận động của vốn kinh doanh từ vốn bằng hànghoá sang vốn bằng tiền tệ và hình thành kết quả sản xuất kinh doanh Quá trình bán hàngđược hoàn tất khi hàng hoá đã giao cho người mua và đã thu tiền hàng hoặc được chấpnhận thanh toán
Ngoài nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu là mua bán hàng hoá ra thì các doanh nghiệp thươngmại có thể thực hiện nhiệm vụ sản xuất, gia công, chế biến kèm theo để tạo ra các nguồnhàng và tiến hành các hoạt động kinh doanh dịch vụ khác
Trang 7Quản lý về mặt số lượng: đó là việc phản ánh thường xuyên tình hình nhập xuất hànghoá về mặt hiện vật để qua đó thấy được việc thực hiện kế hoạch mua và tiêu thụ hànghoá, qua đó cũng phát hiện ra những hàng hoá tồn đọng lâu ngày tiêu thụ chậm hoặckhông tiêu thụ được để có biện pháp giải quyết, tránh tình trạng ứ đọng vốn.
Quản lý về mặt chất lượng: để có thể cạnh tranh được trên thị trường hiện nay thì hànghoá lúc nào cũng đáp ứng được chất lượng thoã mãn nhu cầu của người tiêu dùng Đó
là một yêu cầu rất cần thiết của hoạt động kinh doanh thương mại, do đó, khi mua hàngthì các doanh nghiệp phải lựa chọn nguồn hàng có tiêu chuẩn cao và phải kiểm nghiệmchất lượng khi mua hàng về nhập kho Hàng hoá dự trữ trong kho luôn phải kiểm tra bảoquản tốt tránh tình trạng hư hỏng, giảm chất lượng làm mất uy tín của doanh nghiệp
Quản lý về mặt giá trị: đơn vị luôn phải theo dõi giá trị hàng hoá trong kho, và theo dõitình hình biến động giá cả trên thị trường để biết được hàng hoá có giá trị tăng giảm nhưthế nào để phản ánh đúng thực tế giá trị hàng hoá tồn kho
Nhiệm vụ hạch toán lưu chuyển hàng hoá:
Trong nền kinh tế thị trường, các đơn vị kinh doanh có thể tồn tại và phát triển được thìluôn phải bám sát tình hình thị trường để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình cóhiệu quả Để cung cấp thông tin hữu hiệu cho nhà quản trị ra quyết định thì công tác kếtoán luôn phải được cập nhật nhanh chóng, chính xác Trong doanh nghiệp thương mạithì công tác kế toán lưu chuyển hàng hoá đóng vai trò rất quan trọng ảnh hưởng tới kếtquả kinh doanh của công ty Để cung cấp cho các nhà quản trị một cách chính xác, kịpthời thì công tác kế toán lưu chuyển hàng hoá trong doanh nghiệp phải thực hiện cácnhiệm vụ sau:
• Phản ánh kịp thời, chính xác tình hình nhập- xuất- tồn kho hàng hoá cả về sốlượng, giá cả, chất lượng, tình hình bảo quản hàng hoá dự trữ Phản ánh đầy đủnghiệp vụ mua, bán hàng hoá
• Quản lý chặt chẽ tình hình biến động và dự trữ hàng hoá, phát hiện xử lý kịpthời những hàng hoá giảm chất lượng, giá cả và khó tiêu thụ
• Tổ chức tốt nghiệp vụ hạch toán chi tiết hàng hoá, luôn luôn kiểm tra tình hìnhghi chép ở các kho, quầy hàng Thực hiện tốt chế độ kiểm tra, đối chiếu sổ sáchghi chép và kết quả kiểm kê hàng hoá ở các kho và quầy hàng
• Lựa chọn phương pháp tính giá vốn hàng hoá xuất bán cho phù hợp với tìnhhình đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp mình để đảm boả đúng chỉ tiêu lãigộp hàng hoá
• Ghi nhận doanh thu bán hàng đầy đủ và kịp thời phản ánh kết quả mua bánhàng hoá, tham gia kiểm kê đánh giá lại hàng hoá
• Tính toán chính xác các chi phí liên quan đến quá trình mua bán hàng hoá, cáckhoản giảm trừ doanh thu, các khoản thanh toán công nợ với nhà cung cấp vàvới khách hàng
Trang 8• Xác định kết quả tiêu thụ và lên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Trang 9Các phương thức mua hàng, thanh toán và thủ tục chứng từ
Các phương thức mua hàng, thanh toán và thủ tục chứng từ:
Doanh nghiệp thương mại có thể mua hàng theo các phương thức sau:
Mua hàng theo phương thức trực tiếp: Theo phương thức này, căn cứ vào hợp đồng
đã ký kết, doanh nghiệp cử nhân viên thu mua hàng hoá mang giấy uỷ nhiệm nhận hàngđến đơn vị bán hàng để nhận hàng theo quy định của hợp đồng mua bán hàng hoá, hoặc
có thể doanh nghiệp mua trực tiếp tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, tại thị trường Saukhi hoàn thành thủ tục chứng từ giao nhận hàng hoá, nhân viên thu mua sẽ vận chuyểnhàng hoá bằng phương tiện tự có hoặc thuê ngoài, mọi chi phí vận chuyển thì do doanhnghiệp chịu
Mua hàng theo phương thức chuyển hàng: Căn cứ vào hợp đồng đã ký kết hoặc đơn
đặt hàng, bên bán chuyển hàng tới cho bên mua theo địa điểm quy định trước và bênmua sẽ cử nhân viên thu mua đến nhận hàng Trường hợp này thì chi phí vận chuyểnhàng hoá có thể do bên bán hoặc bên mua chịu theo thoả thuận của hai bên
Chứng từ mua hàng hoá có thể kèm theo quá trình mua hàng đó là:
• Hoá đơn giá trị gia tăng (bên bán lập)
• Hoá đơn bán hàng (bên bán lập)
• Bảng kê mua hàng hoá
• Phiếu nhập kho
• Biên bản kiểm nhận hàng hoá
• Phiếu chi, giấy báo nợ, phiếu thanh toán tạm ứng…
Trang 10Phương pháp tính giá hàng hoá nhập kho Phương pháp tính giá hàng hoá nhập kho:
Theo quy định, đối với hàng hoá nhập mua trong hoạt động kinh doanh thương mại đượctính theo phương pháp giá thực tế nhằm đảm bảo nguyên tắc giá phí Tính giá hàng mua
là việc xác định giá ghi sổ của hàng hoá mua vào Giá thực tế của hàng hoá mua vàođược xác định:
Giá mua hàng hoá là số tiền mà doanh nghiệp phải trả cho người bán theo hoá đơn:
Đối với doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì giá muacủa hàng hoá là mua chưa có thuế giá trị gia tăng đầu vào
Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tang theo phương pháp trực tiếp và đối vớinhững hàng hoá không thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng thì giá mua hàng hoábao gồm cả thuế giá trị gia tăng đầu vào
Ngoài ra, đối với trường hợp hàng hoá mua vào trước khi bán cần phải gia công chế biếnthì giá mua hàng hoá bao gồm toàn bộ cho phí phát sinh trong quá trình đó
Giảm giá hàng bán là số tiền mà người bán giảm cho người mua Khoản này sẽ ghi giảmgiá mua hàng hoá Giảm giá hàng mua bao gồm: giảm giá đặc biệt, bớt giá và hồi khấu.Chi phí thu mua hàng hoá là chi phí phát sinh liên quan đến việc thu mua hàng hoá nhưchi phí vận chuyển, bôc dỡ, hao hụt trong định mức
Trang 11Kế toán chi tiết hàng hoá
Kế toán chi tiết hàng hoá:
Kế toán chi tiết hàng hoá được thực hiện chi tiết đối với các loại hàng hoá lưu chuyểnqua kho cả về chỉ tiêu giá trị lẫn hiện vật Đây là công tác quản lý hàng hoá cần có ở cácdoanh nghiệp Hạch toán nhập- xuất- tồn hàng hoá phải được phản ánh theo giá thực tế
Việc hạch toán chi tiết hàng tồn kho phải được thực hiện hàng ngày ở từng kho và từngloại vật tư, hàng hoá Cuối tháng, phải tổng hợp số liệu để xác định giá vốn của hàngtiêu thụ
Hiện nay các doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba phương pháp ghi chi tiết hànghoá đó là: phương pháp thẻ song song, phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển, phươngpháp sổ số dư
Phương pháp thẻ song song:
Ở kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép hàng hoá nhập- xuất- tồn về mặt số lượng.Hàng ngay, căn cứ vào chứng từ nhập- xuất kho thủ kho ghi chép số lượng thực nhập,thực xuất vào các thẻ kho có liên quan và sau mỗi nghiệp vụ nhập, xuất hoặc cuối ngàythủ kho tính ra số tồn kho của từng loại hàng hoá trên thẻ kho
Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ chi tiết vật liệu để ghi chép tình hình nhập- tồn từng loại hàng hoá cả về mặt số lượng lẫn giá trị Định kỳ 3 đến 5 ngày, khi nhậnđược chứng từ nhập, xuất hàng hoá do thủ kho gửi lên, nhân viên kế toán tiến hành kiểmtra và ghi vào sổ chi tiết hàng hoá Hàng tháng, căn cứ vào sổ chi tiết hàng hoá, kế toánvào bảng tổng hợp nhập- xuất- tồn hàng hoá Số tồn trên sổ chi tiết phải khớp với số tồntrên thẻ kho
xuất-• Ưu điểm:
• Đơn giản, dễ hiểu, dễ làm và dễ đối chiếu
• Cung cấp thông tin thường xuyên, kịp thời cho nhà quản lý cả về hiện vật lẫngiá trị
• Vận dụng vào máy vi tính việc hạch toán chi tiết hàng hoá
Trang 12Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển:
Ở kho: thủ kho vẫn mở Thẻ kho để theo dõi số lượng hàng hoá nhập, xuất giống như ởphương pháp thẻ song song
Ở phòng kế toán: căn cứ vào chứng từ nhập, xuất hàng hoá kế toán ghi vào Bảng
kê nhập, Bảng kê xuất sau đó tập hợp số liệu trên các bảng này kế toán ghi vào
sổ đối chiếu luân chuyển Cuối tháng, kế toán đối chiếu số lượng trên sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và thủ kho lấy số tiền của từng loại hàng hoá đối chiếu với
kế toán tổng hợp.
• Ưu điểm:
• Tránh được việc ghi trùng lắp giữa kho và phòng kế toán
• Cung cấp được thông tin cả về hiện vật và giá trị cho người quản lý
• Nhược điểm: Công việc kế toán thường dồn vào cuối tháng nên việc lên báo cáo kế toán chậm.
Trang 13số dư Sổ số dư do phòng kế toán lập và cuối tháng gửi cho thủ kho để ghi sổ.
Định kỳ, thủ kho phân loại chứng từ nhập, xuất hàng hoá để lập phiếu giao nhận chứng
từ và chuyển giao cho phòng kế toán kèm theo các chứng từ nhập, xuất
Ở phòng kế toán: Nhân viên kế toán có trách nhiệm theo định kỳ từ 3 đến 5 ngày xuốngkho để kiểm tra, hướng dẫn thủ kho ghi chép và xem xét việc phân loại chứng từ Kếtoán thu nhận phiếu giao nhận chứng từ và các chứng từ nhập, xuất kho có liên quan.Căn cứ vào chứng từ nhập, xuất kế toán phải đối chiếu vào các chứng từ có liên quansau đó căn cứ vào giá hạch toán mà công ty đang sử dụng để ghi số tiền vào phiếu giaonhận chứng từ Từ phiếu giao nhận chứng từ, kế toán tiến hành ghi vào bảng luỹ kếnhập, xuất, tồn hàng hoá Bảng này được mở riêng cho từng kho mỗi danh điểm hànghoá được ghi trên một dòng riêng Cuối thàng, kế toán phải tổng hợp số tiền nhập, xuấttrong tháng và tính ra số dư cuối tháng cho từng loại hàng hoá trên bảng luỹ kế Số dưtrên bảng luỹ kế sẽ được đối chiếu với sổ số dư của thẻ kho
• Ưu điểm:
• Tránh được việc ghi chép trùng lắp giữa kho và phòng kế toán
• Cung cấp thông tin thường xuyến giá trị hàng hoá nhập, xuất, tồn
• Nhược điểm: Nếu có nhầm lẫn, sai sót khó phát hiện ra Công tác này đòi hỏi
nhân viên kế toán và thủ kho phải có trình độ chuyển môn cao
Trang 14Hạch toán tổng hợp một số nghiệp vụ mua hàng chủ yếu
Hạch toán tổng hợp một số nghiệp vụ mua hàng chủ yếu:
Theo phương pháp kê khai thường xuyên
• Tài khoản sử dụng:
TK 156 “Hàng hoá”: tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình tăng,giảm theo giá thực tế của các loại hàng hoá của doanh nghiệp, bao gồm hàng hoá tại cáckho hàng, quầy hàng
TK 156 chi tiết thành 2 tài khoản cấp 2:
TK 1561 “Giá mua hàng hoá”: phản ánh giá trị mua thực tế của hàng hoá tại kho
TK 1562 “Chi phí thu mua hàng hoá”: phản ánh chi phí thu mua hàng hoá
TK 151 “Hàng mua đang đi đường”: phản ánh hàng hoá, vật tư của doanh nghiệp cuối
kỳ vẫn đang trên đường đi
Ngoài các tài khoản trên, trong quá trình hạch toán ở giai đoạn mua hàng kế toán còn sửdụng các tài khoản có liên quan như: TK 111, 112, 133, 331
• Phương pháp hạch toán nghiệp vụ mua hàng trong các doanh nghiệp tính thuếgiá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ:
Quá trình hạch toán nghiệp vụ mua hàng trong các doanh nghiệp thương mại tính thuếtheo phương pháp khấu trừ được khái quát ở sơ đồ sau:
Trang 15Hạch toán nghiệp vụ mua hàng trong các doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theophương pháp khấu trừ:
• Phương pháp hạch toán nghiệp vụ mua hàng trong các doanh nghiệp tính thuếGTGT theo phương pháp trực tiếp hay đối với mặt hàng không chịu thuế
GTGT:
Hạch toán mua hàng trong các doanh nghiệp này, về nguyên tắc cũng tương tự như cácdoanh nghiệp chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, chỉ khác, trong giá mua hànghoá còn bao gồm cả thuế GTGT
Hạch toán nghiệp vụ mua hàng theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp căn cứ vào kết quả kiểm kê thực tế đểphản ánh giá trị tồn kho cuối kỳ của vật tư, hàng hoá trên sổ kế toán tổng hợp và từ đótính ra giá trị hàng hoá, vật tư xuất dùng trong kỳ theo công thức:
• Tài khoản sử dụng:
• TK 611 “Mua hàng”
Ngoài ra, trong quá trình hạch toán kế toán còn sử dụng các tài khoản khác như: 156,
157, 151, 111, 112, 331, 133
Trang 16• Phương pháp hạch toán mua hàng hoá trong các doanh nghiệp tính thuế GTGTtheo phương pháp khấu trừ:
Quá trình hạch toán nghiệp vụ mua hàng trong các doanh nghiệp thương mại sử dụngphương pháp kiểm kê định kỳ và tính thuế theo phương pháp khấu trừ được khái quát ở
sơ đồ sau:
Sơ đồ: Hạch toán một số nghiệp vụ chủ yếu quá trình mua hàng ở các doanh nghiệp sử
dụng phương pháp kiểm kê định kỳ và tính thuế theo phương pháp khấu trừ.
• Phương pháp hạch toán nghiệp vụ mua hàng trong các doanh nghiệp tính thuếGTGT theo phương pháp trực tiếp hay đối với mặt hàng không chịu thuế
GTGT:
Hạch toán mua hàng trong các doanh nghiệp này, về nguyên tắc cũng tương tự như cácdoanh nghiệp chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, chỉ khác, trong giá mua hànghoá còn bao gồm cả thuế GTGT
Trang 17Các phương thức tiêu thụ hàng hoá, phương thức thanh toán và thủ tục chứng từ
Các phương thức tiêu thụ hàng hoá, phương thức thanh toán và thủ tục chứng từ:
Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệpthương mại Thông qua bán hàng giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá được thực hiện,vốn của doanh nghiệp thương mại được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái giátrị Doanh nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra bù đắp chi phí và có nguồn tích luỹ để mở rộnghoạt động kinh doanh
Các doanh nghiệp thương mại có thể sử dụng các phương thức bán hàng sau:
• Phương thức bán buôn: là phương thức bán hàng cho các đơn vị sản xuất, các
đơn vị thương mại để tiếp tục bán ra hoặc đưa vào sản xuất, gia công, chếbiến tạo ra sản phẩm để bán ra Đặc điểm của phương thức bán hàng này làhàng hoá vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông chứ chưa đưa vào trạng thái tiêudùng Hàng hoá bán ra thường với khối lượng lớn và có nhiều hình thức thanhtoán Trong bán buôn thường bao gồm 2 kiểu:
• Bán buôn qua kho: là phương thức bán buôn hàng hoá trong đó hàng hoá được
xuất kho bảo quản của doanh nghiệp Bán buôn qua kho được thể hiện dưới haihình thức:
• Bán buôn qua kho theo hình thức giao trực tiếp: theo hình thức này, bên mua
cử nhân viên mua hàng đến kho của doanh nghiệp để nhận hàng Sau khi tiếnhành xong thủ tục xuất kho, bên mua ký nhận vào chứng từ và coi như hànghoá được tiêu thụ
• Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng: dựa vào hợp đồng đã ký kết bên
bán hàng sẽ đưa hàng tới địa điểm giao hàng theo quy định, bên mua sẽ cửnhân viên tới địa điểm giao hàng để nhận hàng Khi bên mua ký vào chứng từgiao nhận hàng hoá thì coi như hàng hoá đã được tiêu thụ Chi phí vận chuyểnhàng hoá có thể do bên bán hoặc bên mua chịu tuỳ theo sự thoả thuận của haibên
• Bán buôn vận chuyển thẳng: là phương thức mà hàng hoá mua về không nhập
kho mà doanh nghiệp chuyển thẳng đến cho bên mua Đây là phương thức bánhàng tiết kiệm vì nó giảm được chi phí lưu thông và tăng nhanh sự vận độngcủa hàng hoá Bán buôn vận chuyển thẳng có 2 hình thức:
• Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán: theo hình thức này, doanh
nghiệp vừa tiến hành thanh toán với bên cung cấp hàng hoá và bên mua hàng
Trang 18Nghĩa là đồng thời phát sinh 2 nghiệp vụ mua hàng và bán hàng Bán buôn vậnchuyển thẳng có tham gia thanh toán có 2 kiểu:
Giao tay ba: nghĩa là bên mua cử người đến nhận hàng trực tiếp tại nơi cung cấp Saukhi ký nhận đã giao hàng hoá thì hàng hoá được coi như đã tiêu thụ
Gửi hàng: doanh nghiệp sẽ chuyển hàng đến nơi quy định cho bên mua, và hàng hoáđược coi là tiêu thụ khi bên mua chấp nhận thanh toán
• Bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán: doanh nghiệp chỉ là
bên trung gian giữa bên cung cấp và bên mua Trong trường hợp này tại đơn vịkhông phát sinh nghiệp vụ mua bán hàng hoá Tuỳ theo điều kiện ký kết hợpđồng mà đơn vị được hưởng khoản tiền hoa hồng do bên cung cấp hoặc bênmua trả
• Phương thức bán lẻ: là hình thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc
các tổ chức kinh tế mua để tiêu dùng nôị bộ không mang tính chất hinh doanh.Bán lẻ hàng hoá là giai đoạn vận động cuối cùng của hàng từ nơi sản xuất đếnnơi tiêu dùng Bán lẻ hàng hoá thường bán đơn chiếc hoặc khối lượng nhỏ, giábán thưởng ổn định và thường thanh toán ngay bằng tiền mặt Bán lẻ thường cócác hình thức sau:
• Bán lẻ thu tiền tập trung: là hình thức bán hàng mà nghiệp vụ thu tiền và giao
hàng tách rời nhau Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền riêng lamg nhiệm
vụ thu tiền của khách, viết hoá đơn cho khách hàng đến nhận hàng ở quầy hàng
do nhân viên giao hàng Cuối ca, nhân viên thu tiền sẽ làm giấy nộp tiền và nộptiền hàng cho thủ quỹ Còn nhân viên giao hàng xác định số lượng hàng bántrong ca để lập báo cáo bán hàng
• Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: nhân viên bán hàng sẽ thu tiền trực tiếp và
giao cho khách hàng Hết ca, nhân viên bán hàng sẽ nộp tiền bán hàng cho thủquỹ và kiểm kê hàng hoá và lên báo cáo bán hàng
Trang 19của các doanh nghiệp thương mại Số hàng này được coi là tiêu thụ khi doanhnghiệp nhận được thông báo chấp nhận thanh toán.