Trong kế hoạch hoạt động của toàn ngành giáo dục nhằm thực hiện Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo đã tiếp tục khẳng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ BÍCH HẰNG
TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN LÀM VĂN (NGỮ VĂN 10, TẬP 2) THEO HƯỚNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, quý thầy cô tham gia giảng dạy lớp Cao học Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn khoá 2013 - 2015 tại Trường Đại học Giáo dục đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Đặc biệt tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến
cô giáo TS Nguyễn Thị Ban, người đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ
tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các
em học sinh trường THPT Xuân Khanh và Trung tâm GDTX Sơn Tây đã động viên, cộng tác và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình điều tra, nghiên cứu, kiểm chứng kết quả nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Kính mến gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, hỗ trợ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô và đồng nghiệp
Hà Nội, tháng 01 năm 2016 Tác giả
Vũ Thị Bích Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 13
1.1 Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống 13
1.1.1 Khái niệm 13
1.1.2 Phân loại kĩ năng sống 19
1.1.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 21
1.1.4 Những kĩ năng sống có thể tích hợp giáo dục cho học sinh qua dạy học Ngữ văn THPT 26
1.2 Dạy học tích hợp 29
1.2.1 Khái niệm 29
1.2.2 Các cách tích hợp 33
1.2.3 Ý nghĩa của dạy học tích hợp 36
1.2.4 Tích hợp trong dạy học Ngữ văn 36
1.3 Tích hợp kĩ năng sống trong dạy học Làm văn 38
1.3.1 Khả năng tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) 38
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) 42
Chương 2: THỰC TRẠNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG TRONG DẠY HỌC VÀ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH QUA DẠY HỌC LÀM VĂN (NGỮ VĂN 10, TẬP 2) 50
2.1 Thực trạng dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) theo hướng tích hợp giáo dục KNS 50
Trang 62.1.1 Việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học hiện nay 50
2.1.2 Thực trạng kĩ năng sống và nhu cầu được giáo dục KNS của HS 52
2.1.3 Kết quả khảo sát thực trạng KNS của HS THPT 53
2.1.4 Khảo sát thực trạng dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) theo hướng tích hợp giáo dục KNS 57
2.1.5 Phân tích kết quả khảo sát 60
2.1.6 Nguyên nhân của những tồn tại 61
2.2 Biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) 64
2.2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 64
2.2.2 Sử dụng phương pháp/kĩ thuật dạy học tích cực 68
2.2.3 Xây dựng mục tiêu 74
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích thực nghiệm 80
3.2 Tổ chức thực nghiệm 80
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 80
3.2.2 Giáo viên dạy học thực nghiệm 80
3.2.3 Thời gian thực nghiệm 81
3.2.4 Chọn mẫu và nội dung thực nghiệm 81
3.2.5 Thiết kế bài dạy thực nghiệm 81
3.2.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96
1 Kết luận 96
2 Khuyến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát nhận thức của GV và HS THPT về KNS 54
Bảng 2.2 Sự tiếp nhận thông tin liên quan đến KNS của học sinh THPT 55
(Tỷ lệ%) 55
Bảng 2.3 Đánh giá của giáo viên về mức độ KNS của học sinh THPT 56
Bảng 2.4 Phiếu khảo sát học sinh 57
Bảng 2.5 Mức độ thực hiện tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) 58
Bảng 2.6 Cơ sở vận dụng các biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho HS qua dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) 58
Bảng 2.7 Mức độ sử dụng các phương pháp/ kỹ thuật dạy học tích cực để tích hợp giáo dục KNS cho HS trong dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) 59
Bảng 2.8 Quan điểm của giáo viên về mục đích tích hợp giáo dục KNS cho HS qua dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) 59
Bảng 3.1 Ý kiến của giáo viên sau khi dự giờ dạy thực nghiệm 93
Bảng 3.2 Kết quả điều tra hứng thú học tập của học sinh qua giờ dạy thực nghiệm bài Viết quảng cáo 93
Bảng 3.3 Kết quả bài kiểm tra của học sinh ở Trường THPT Xuân Khanh 94
Bảng 3.4 Kết quả bài kiểm tra của học sinh ở Trung tâm GDTX Sơn Tây 94
Biểu đồ 3.1 Tổng hợp, thống kê kết quả bài kiểm tra của học sinh giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 95
Trang 8
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra những
yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ Một trong những định hướng
cơ bản của việc đổi mới giáo dục là phải có được những con người mới phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo có năng lực vận dụng kiến thức tổng hợp vào xử lí các tình huống thực tiễn Vì vậy, dạy học tích hợp trở thành một xu thế tất yếu đã mang lại hiệu quả tích cực Trong kế hoạch hoạt động của toàn ngành giáo dục nhằm thực hiện Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo đã tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của việc xây dựng chương trình, SGK và tổ chức các môn học mới theo định hướng tích hợp nhằm phát triển toàn diện năng lực người học Chương trình THPT môn Ngữ văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ghi rõ:
“Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” [3,
tr.27] “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc
văn, Tiếng việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong sách giáo khoa; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh” [3, tr.40]
Việc đi sâu nghiên cứu về dạy học tích hợp và ứng dụng thể nghiệm tính khả thi của nó trong thực tiễn dạy học của mỗi môn học, lớp học, bậc học sẽ góp phần hiện thực hóa và thực hiện thành công đề án đổi mới giáo dục sắp tới
1.2 Cùng với các môn học khác, môn Ngữ văn có một vị trí vô cùng quan
trọng trong hệ thống giáo dục Môn Ngữ văn là môn học về khoa học xã hội
và nhân văn, có nhiệm vụ cung cấp cho HS những kiến thức về tiếng Việt, văn học và làm văn, hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học Bên cạnh đó dạy học văn nói chung và phần làm văn nói riêng còn góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho
Trang 9HS bởi “Văn học là nhân học” Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học để nâng
cao chất lượng giảng dạy, nâng cao khả năng tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm văn học cho HS luôn được người làm công tác dạy Ngữ văn quan tâm
1.3 Ngày nay, rèn luyện KNS cho thế hệ trẻ trong đó có HS THPT là trách
nhiệm chung của gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó, người GV giữ vai trò quyết định Đây cũng là một trong những nội dung của phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và Đào
tạo đề ra Giáo dục KNS để giúp các em làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày;
mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực và tự tin, tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn và hơn hết dạy KNS là dạy những kĩ năng làm nên phẩm chất của con người.Với đặc thù được coi là môn học công cụ, người GV dạy văn có thể lồng ghép, tích hợp trong quá trình giảng dạy văn với giáo dục
và rèn KNS cho HS Từ giờ học văn đó HS có thể rèn rũa cho mình thêm
những KNS như thuyết trình; kỹ năng tham gia và tổ chức các hoạt động tập
thể; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng nói trước đám đông
1.4 Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học hiện nay việc tích hợp giáo dục KNS
vào trong bộ môn Ngữ văn vẫn còn những hạn chế nhất định Nguyên nhân là
do sự hạn chế về tài liệu hướng dẫn, từ chính tư duy, suy nghĩ của người dạy… Vậy làm thế nào để việc lồng ghép, tích hợp giáo dục KNS cho HS THPT đạt hiệu quả cao trong mỗi giờ dạy học văn là một băn khoăn trăn trở
đối với mỗi GV và đặc biệt là GV Ngữ văn
Xuất phát từ những lý do trên và thông qua thực tiễn dạy học ở trường
phổ thông, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tổ chức dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) theo hướng tích hợp giáo dục kĩ năng sống”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Giáo dục phổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột
của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận KNS, đó là: Học để
biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống
Trang 10KNS rất đa dạng và mang đặc trưng vùng miền Việc sử dụng phương pháp và KTDH cũng đa dạng, tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện dạy học cụ thể Trong đó có thể thấy dạy học tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới Để tích hợp giáo dục KNS trong dạy học là một vấn đề cần nghiên cứu nghiêm túc Tuy còn nhiều khó khăn trong tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu nước ngoài nhưng từ những tài liệu thu thập được có thể khái quát chung về tình hình nghiên cứu về KNS và tích hợp giáo dục KNS trong dạy học hiện nay như sau:
2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Kĩ năng sống” đã xuất
hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên hợp
quốc), trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị
cơ bản của giáo dục cho thế hệ trẻ Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này với mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa đến một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có Phần lớn các chương trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội Dự án do UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học) tiến hành tại một số nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu KNS nêu trên
Các tổ chức WHO (Tổ chức Y tế thế giới), UNICEF, UNESCO đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên Từ xuất phát điểm này, một số nhà nghiên cứu như J.H.Fichter (nhà xã hội học người Mỹ), P.Tugarinov (Liên Xô) hay Dramalier (Bungari) bắt đầu đề cập đến vấn
đề giá trị sống như những chuẩn mực trong giá trị đạo đức con người Từ đây, một số tài liệu nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS cho thanh thiếu niên ra đời
như: Tài liệu tập huấn về KNS của UNICEF (2004), Những hoạt động giá trị
Trang 11sống cho thiếu niên (8 đến 14 tuổi) của Diane Tiuman [43], Tài liệu tập huấn
kĩ năng cơ bản trong tham vấn, G.Bandzeladze (1985)
Năm 1996, Uỷ ban Quốc tế về Giáo dục cho thế kỉ XXI do Jaccque Delor làm chủ tịch đưa ra báo cáo nhằm khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc, nhân loại và xem giáo dục là “kho báu tiềm ẩn” với 4 vấn đề chính là mục tiêu hàng đầu của UNICEF, mà thực chất đó chính là cách tiếp cận kĩ năng sống (KNS):
đề là rèn luyện các kĩ năng như: kĩ năng ra quyết định, kĩ năng truyền thông
và tự diễn đạt, kĩ năng giao tiếp và hợp tác, khuyến khích lòng tự trọng, kĩ năng xử lý cảm xúc và kĩ năng tư vấn
Trang 12Tổ chức UNIDEF đã tiến hành dự án ở 5 nước Đông Nam Á nhằm vào các vấn đề khác nhau liên quan đến KNS Dự án này chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Xác định quan niệm của từng nước
- Giai đoạn 2: Đưa ra những chỉ dẫn đo đạc, đánh giá và xây dựng các
công cụ kiểm tra
Ở một số quốc gia khác, GD KNS được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung có liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc trên thực tế
Như vậy, việc giáo dục KNS cho HS là một vấn đề mà hiện nay được quan tâm và thực hiện rộng rãi và trở thành xu thế chung của nhiều quốc gia trên thế giới
KNS đã được giới nghiên cứu xã hội học trên thế giới quan tâm cách đây gần ba thập kỉ và giáo dục KNS được thể nghiệm như là một hệ quả tất yếu của quá trình nghiên cứu
Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học, đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội…) để thích ứng với những thay đổi chóng mặt của xã hội Theo đó, vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được
đông đảo các nước quan tâm Chương trình hành động DaKar về Giáo dục cho
mọi người (Senegal – 2000) đã đặt ra trách nhiệm của mỗi quốc gia phải đảm
bảo cho người học được tiếp cận với chương trình giáo dục KNS phù hợp và KNS được coi như một nội dung của chất lượng giáo dục
Tại nhiều nước trên thế giới, thanh thiếu niên đã được học kĩ năng về những tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống, cách đối diện và đương đầu với những khó khăn, và cách vượt qua những khó khăn đó cũng như cách tránh những mâu thuẫn, xung đột, bạo lực giữa người với người Ví dụ, HS tiểu học
ở Nhật Bản được học cách đối phó, thích ứng với các tai nạn như động đất,
Trang 13sóng thần, thiên tai, hỏa hoạn, đuối nước, giao thông Tại Mỹ, việc dạy KNS trở thành một phần tất yếu trong hầu hết các môn học, Ngữ văn cũng không phải là ngoại lệ Trong mỗi giờ học Văn, chương trình tích cực đưa Văn về với cuộc sống, gần gũi và thực tế
Mặc dù, giáo dục KNS cho HS đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của WHO hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung giáo dục kĩ năng ở các nước không giống nhau Ở một
số nước, nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội Quan niệm, nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù của từng quốc gia Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau Trong giáo dục chính quy ở một số nước, những kĩ năng như đọc, viết, nghe, nói được coi là những KNS cơ sở Trong khi đó, giáo dục chính quy ở một số nước các KNS cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân
Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện và sâu sắc Cho đến nay, chưa có quốc gia nào tìm ra được kinh
nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông Việt Nam từ những năm 1995–1996, thông qua dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” do UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam thực hiện Từ đó đến nay, nhiều cơ quan tổ chức trong nước và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn với các vấn đề xã hội như: Phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích học đường, bảo vệ môi
Trang 14trường…Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng
Cùng với việc triển khai các chương trình nêu trên, vấn đề KNS và giáo dục KNS cho HS đã được quan tâm nghiên cứu Những nghiên cứu về vấn đề trên ở giai đoạn này có xu hướng xác định những kĩ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành những kĩ năng này cho thanh thiếu niên (trong đó có HS THPT) Một số
chương trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Cẩm nang
tổng hợp kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên của tác giả Phạm Văn Nhân
(2003); Kĩ năng thanh niên tình nguyện của Trần Văn Thời (1998)
Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là Nguyễn Thanh Bình Với một loạt các bài báo, các đề tài khoa học cấp Bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo, tác giả đã đóng góp đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS
và giáo dục KNS, cách tiếp cận KNS, các con đường giáo dục KNS cho HS trong nhà trường
Hiện nay, vấn đề giáo dục KNS đang được cả xã hội quan tâm Mới chỉ trong khoảng một thập niên trở lại đây, đã có rất nhiều các trung tâm giáo dục KNS ra đời như Tâm Việt, TGM Corporation, Trung tâm KNS trực thuộc trung ương hội khoa học tâm lí – Giáo dục Việt Nam… thu hút đông đảo giới trẻ cũng như các bậc phụ huynh song tác dụng của các khóa học này có được bền lâu hay không còn phụ thuộc nhiều vào sự tự rèn luyện của bản thân người học Ngoài ra, rất nhiều Website, các diễn đàn về KNS trên internet cũng được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của giới trẻ
Đáp ứng nhu cầu thực tiễn về lí thuyết và phương pháp giáo dục KNS
cho HS, một số chương trình nghiên cứu đã ra đời như Giáo dục giá trị sống
và kĩ năng sống cho học sinh THCS (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim
Thoa, Đặng Hoàng Minh) [29] Trên cơ sở đặc điểm phát triển tâm lí HS THCS, các tác giả cuốn sách đã xác định những giá trị sống và KNS cần thiết
Trang 15cho lứa tuổi này Từ đó, chỉ ra vai trò của mỗi kĩ năng và đề xuất một số hoạt động giúp HS hình thành những KNS cho bản thân mình Cuốn sách cũng đưa
ra một số trò chơi có tác dụng giáo dục giá trị sống và KNS cho HS Tác giả
Bùi Ngọc Diệp với cuốn Cẩm nang giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT
đã nêu những vấn đề chung về KNS và các KNS cần giáo dục cho HS THPT, hướng dẫn tổ chức những hoạt động, kèm theo một số câu chuyện giáo dục
KNS cho HS Với cuốn sách Hướng dẫn và rèn luyện kĩ năng sống cho học
sinh THPT [35] đã tập trung tìm hiểu KNS, mục tiêu của việc giáo dục KNS
cho HS, phương pháp xây dựng bài giảng KNS Ngoài ra Nguyễn Công
Khanh, Nguyễn Thị Kim Liên với giáo trình Phương pháp giáo dục giá trị
sống, kĩ năng sống [25, 26] lại xây dựng các mô hình giáo dục giá trị sống,
KNS qua hoạt động sinh hoạt câu lạc bộ của HS Hai tác giả Lưu Thu Thủy và
Nguyễn Thị Hồng Vân cùng một số đồng tác giả cũng đã giới thiệu cuốn Giáo
dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông [41] là
một tài liệu dành cho GV gợi ý những KNS có thể tích hợp để dạy trong các bài học cụ thể của chương trình Ngữ văn 10, 11, 12 Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về việc giáo dục KNS cho HS có thể kể đến: Lê Kim
Anh (2011), Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ văn, Tích hợp rèn kĩ năng sống
cho học sinh trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở trường trung học
cơ sở Trường Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội Luận văn thạc
sĩ ngành Quản lí giáo dục của tác giả Nguyễn Hữu Đức (2010), Quản lí giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định trong giai đoạn hiện nay (Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp), Trường
Đại học Giáo Dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội Và luận án tiến sĩ Giáo dục
học của Phan Thanh Vân, Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông qua
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, Trường Đại học Thái Nguyên
Giáo dục phổ thông nước ta những năm vừa qua đã được đổi mới cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học Đặc biệt giáo dục KNS cho HS
đã được chú trọng Để giúp các nhà trường, GV thực hiện giáo dục KNS cho
Trang 16HS có kết quả, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo Viện khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức biên soạn nhiều bộ tài liệu về giáo dục KNS cho HS qua một số môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp Trong dạy học Ngữ Văn có
cuốn Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT [12] Hai
cuốn sách đã đề cập đến tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho HS, từ đó xây dựng những định hướng trong việc giáo dục KNS trong môn Ngữ văn và các phương pháp, KTDH tích cực có thể rèn KNS cho HS Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ đề cập đến giáo dục KNS cho học sinh THCS, THPT một cách khái quát, chung chung
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã tổ chức một số hội thảo về vấn đề giáo dục KNS cho HS, trong đó có chuyên đề dạy Văn gắn với thực tiễn cuộc sống, với việc dạy làm người Tại đây, các GV đã thảo luận sôi nổi về vai trò và sứ mệnh của văn chương trong việc bồi dưỡng nhân cách tâm hồn con người mà chưa đưa ra những phương pháp cụ thể để tích hợp giáo dục KNS cho HS trong dạy học tác phẩm văn chương
Về dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn đã có nhiều công trình nghiên cứu
về vấn đề này Tiêu biểu như “Những đổi mới của chương trình SGK và yêu
cầu dạy học Ngữ văn 10” (Nguyễn Thuý Hồng, Tạp chí Giáo dục, kỳ 2,
2006); “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn” (Nguyễn Thanh Hùng, Tạp chí
nghiên cứu khoa học Giáo dục, số 6 (3/2006); “Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn” (Nguyễn Trọng Hoàn, Tạp chí Giáo dục, số
Trang 17học, đề tài: “Tổ chức dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) theo hướng tích hợp giáo dục kỹ năng sống” mong muốn được đóng góp thêm
tiếng nói riêng của mình vào việc đổi mới phương pháp dạy học Làm văn tạo
HS, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu của xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về KNS, giáo dục KNS, tích hợp giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở THPT
- Khảo sát thực trạng tích hợp giáo dục KNS cho HS qua dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2 ) ở một số trường THPT
- Khái quát đặc trưng, vị trí của phần Làm văn trong chương trình Ngữ văn
- Đề xuất các biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho HS qua dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2)
- Thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của những đề xuất
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) cho HS lớp 10 theo
hướng tích hợp giáo dục KNS
Trang 184.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phần Làm văn trong chương trình Ngữ văn 10, tập 2
- Nghiên cứu một số KNS cơ bản có thể tích hợp giáo dục cho HS qua
dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) như: Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng
giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng nhận thức…
- Triển khai nghiên cứu thực tiễn và tổ chức thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Xuân Khanh, Trung tâm GDTX Sơn Tây - Thành phố Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và thực hiện được những mục tiêu mà luận văn
đã đặt ra, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết được tiến hành chủ yếu khi xác định
cơ sở lí luận cho đề tài Để giải quyết tốt các nhiệm vụ của luận văn cần nghiên cứu lí thuyết về khoa học tích hợp, nghiên cứu một số lí luận về KNS
và giáo dục KNS, lí luận về dạy học bộ môn, quan điểm tích hợp trong chương trình và SGK Ngữ văn 10 Do vậy, cần vận dụng kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau để có được sự phân tích đầy đủ về những cơ sở khoa học của đề tài, trên cơ sở đó xác định yêu cầu, tiêu chí và cách thức vận dụng tích hợp giáo dục KNS vào dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2)
5.2 Phương pháp điều tra khảo sát
Để có được bức tranh tổng thể về thực trạng KNS của HS và việc tích hợp giáo dục KNS trong dạy học phần Làm văn , luận văn tiến hành điều tra, khảo sát dựa trên những tài liệu thu thập được cũng như những kết quả thu nhận được qua hồi cứu tài liệu Trên cơ sở những dữ liệu có được, luận văn sử dụng các phương pháp như thống kê, phân loại, xử lí và nhận xét
Trang 195.3 Phương pháp thực nghiệm
Muốn khẳng định giá trị và khả năng thực thi của một công trình nghiên cứu lí luận, cần phải đưa những nghiên cứu đó vào thực tiễn để kiểm chứng hiệu quả Với một đề tài khoa học về giáo dục thì thực nghiệm là khâu rất quan trọng trong quy trình Do vậy, việc thực nghiệm trong luận văn này không phải chỉ như một phương pháp nghiên cứu mà còn là một nội dung nhất thiết phải có
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, phụ
lục, luận văn triển khai theo 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2 Thực trạng tích hợp giáo dục KNS và biện pháp tích hợp
giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10,
tập 2)
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 20Theo WHO (Tổ chức Y tế thế giới): KNS là những kĩ năng thiết thực
mà con người cần để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh Rộng hơn, KNS là những năng lực mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp để tương tác hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày [10, tr.7]
Theo UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc): KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng [10, tr.7]
Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) quan niệm: Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày, đồng thời coi KNS gắn với 4 trụ
cột của giáo dục, đó là: Học để biết (learning to know); Học để tự khẳng định
(Learning to be); Học để chung sống với người khác (Learning to live together); Học để làm (Learning to do) [10, tr.7]
Từ các quan niệm về KNS nêu trên, có thể rút ra nhận xét:
Trang 21- Có nhiều cách biểu đạt khái niệm KNS với quan niệm rộng hẹp khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề Khái niệm KNS được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những năng lực tâm lý xã hội (TLXH) Theo nghĩa rộng, KNS không chỉ bao gồm năng lực tâm lý xã hội mà còn bao gồm cả những kĩ năng tâm vận động
- Mặc dù cách biểu đạt khái niệm KNS có khác nhau (việc xác định nội hàm của khái niệm nông, sâu khác nhau dẫn đến phạm vi phản ánh của khái niệm rộng, hẹp khác nhau) nhưng điểm thống nhất trong các quan niệm về KNS là: khẳng định KNS thuộc về phạm trù năng lực (hiểu kĩ năng theo nghĩa rộng) chứ không thuộc phạm trù kĩ thuật của hành động, hành vi (hiểu kĩ năng theo nghĩa hẹp)
- Do tính chất phức tạp của KNS nên trong thực tế, các tài liệu về KNS
đề cập đến mọi lĩnh vực hoạt động từ học tập để chuẩn bị vào nghề, cách học ngoại ngữ, kỹ năng làm cha mẹ đến tổ chức trại hè Tuy nhiên cần phân biệt giữa những kỹ năng để sống còn (livelihood skills, survival skills) như học chữ, học nghề, làm toán, v.v tới bơi lội, v.v với khái niệm KNS đã được đề cập ở các định nghĩa nêu trên
Tóm lại, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu vực và từng quốc gia Ở một số nước, KNS được hướng vào giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh Một số nước khác KNS lại hướng vào giáo dục hành vi và cách ứng xử , giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay giáo dục lòng yêu hòa bình Theo đó, vấn đề phát triển KNS cho thanh thiếu niên ở các nước cũng khác nhau Có nước chỉ hạn chế những KNS cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội, nghĩa là KNS chỉ dành cho một số nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của xã hội, KNS không phải là cần cho mọi người Nhưng ở một số nước khác, sự nhận thức về KNS sâu sắc hơn, do đó, KNS được phát triển cho mọi đối tượng để với những KNS đó con người có thể vận dụng vào giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống khác nhau của
Trang 22từng loại đối tượng Tuy nhiên, xu hướng chung là sử dụng khái niệm KNS của UNESCO (sử dụng khái niệm KNS theo nghĩa rộng) để triển khai các hoạt động phát triển KNS cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên Điều này được lý giải bởi hai lý do: Thứ nhất, nếu hiểu KNS theo nghĩa hẹp là đồng nhất KNS với năng lực TLXH do đó làm giảm đi phạm vi ảnh hưởng cũng như tác dụng của KNS Năng lực TLXH đề cập tới khả năng của con người biểu hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó Nhưng, điều cần lưu ý là, con người không chỉ cần
có năng lực thích ứng với những thách thức của cuộc sống mà con người còn cần và phải biết cách thay đổi một cách phù hợp và mang tính tích cực; Thứ hai, khái niệm KNS theo nghĩa rộng đã bao hàm trong nó năng lực TLXH với
ý nghĩa là thành phần có vai trò chung trong việc hỗ trợ cho sức khỏe tinh thần
và sức khỏe thể chất, giúp cá nhân sống hạnh phúc với những người khác trong xã hội Bên cạnh đó, theo nghĩa rộng, khái niệm KNS còn đề cập đến khả năng con người quản lý được các tình huống rủi ro, không chỉ đối với bản thân mà còn có thể gây ảnh hưởng đến mọi người trong việc chấp nhận các biện pháp ngăn ngừa rủi ro Đây chính là khả năng con người quản lý một cách thích hợp bản thân, người khác và xã hội trong cuộc sống hàng ngày Với phân tích nêu trên, tác giả luận văn sử dụng khái niệm KNS trong nghiên cứu luận văn với nội hàm: “khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày” Do tiếp cận
kĩ năng sống tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách phân loại KNS Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình [8, tr.4], tồn tại các cách phân loại KNS như sau:
- Phân loại xuất phát từ lĩnh vực sức khỏe Theo cách phân loại này có
3 nhóm KN:
Trang 23Nhóm 1: nhóm kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng, cụ thể: tư duy
phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, tư duy phân tích, khả năng sáng tạo, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị
Nhóm 2: các kĩ năng đương đầu với xúc cảm, gồm các kĩ năng cụ thể: ý
thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế sự căng thẳng, kiềm chế được cảm xúc,
tự quản lí, tự giám sát và tự điều chỉnh
Nhóm 3: nhóm kĩ năng xã hội (hay kĩ năng tương tác) với các kĩ năng
thành phần: giao tiếp, quyết đoán, thương thuyết, từ chối, hợp tác, sự cảm thông chia sẻ, khả năng nhận thấy thiện cảm của người khác
- UNESCO cho rằng cách phân loại KNS theo 3 nhóm nêu trên mới chỉ dừng ở các KNS chung, trong khi đó, còn có những KNS thể hiện trong những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội Vì thế, UNESCO đề xuất thêm các KNS như: vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng; các vấn đề
về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản; ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS; phòng tránh rượu, thuốc lá và ma túy; phòng ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro; hòa bình và giải quyết xung đột; gia đình và cộng đồng; giáo dục công dân; bảo vệ thiên nhiên và môi trường; phòng chống buôn bán trẻ em và phụ nữ
- Với mục đích giúp người học ứng phó với các vấn đề của cuộc sống
và tự hoàn thiện mình, UNICEF phân loại KNS theo các mối quan hệ của cá nhân với các nhóm KNS:
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kĩ năng: kĩ năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, đương đầu với cảm xúc, đương đầu với căng thẳng
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, với các kĩ năng thành phần: kĩ năng quan hệ tương tác liên nhân cách, sự cảm thông, đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác, thương lượng, giao tiếp có hiệu quả
Trang 24+ Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả, gồm các kĩ năng: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề Những cách phân loại nêu trên đã đưa ra bảng danh mục các KNS có giá trị trong nghiên cứu phát triển lý luận về KNS và chỉ có tính chất tương đối Trên thực tế, các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham gia vào một tình huống
cụ thể, con người cần phải sử dụng rất nhiều kĩ năng khác nhau Ví dụ, khi cần quyết định một vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng những kĩ năng như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo và kĩ năng kiên định, …
Kết quả nghiên cứu về KNS của nhiều tác giả, đã khẳng định: “dù phân loại theo hình thức nào thì một số kĩ năng vẫn được coi là kĩ năng cốt lõi như:
kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực; kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng đặt mục tiêu ” [8, 9,10,11,25,42] Thống nhất với quan niệm này, tác giả luận văn đã giới hạn các KNS được nghiên cứu trong luận văn để giáo dục cho học sinh THPT thông qua tổ chức dạy
phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) gồm các kĩ năng: kĩ năng xác định giá trị,
kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng và kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực… Tác giả giới hạn các KNS này để nghiên
cứu nhằm giáo dục cho HS THPT thông qua các bài học Làm văn (Ngữ văn
10, tập 2) vì đây là một số KNS chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ về nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục cho HS nói chung, HS THPT nói riêng; mặt khác, tác giả luận văn đã tích lũy được một số kinh nghiệm (kể cả một số nghiên cứu đã có của tác giả luận văn) về các kĩ năng này Đây cũng là
một trong những lí do để tác giả lựa chọn đề tài luận văn
1.1.1.2 Giáo dục kĩ năng sống
Khái niệm giáo dục cũng được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau ở cấp độ xã hội và cấp độ nhà trường Ở cấp độ nhà trường, khái niệm giáo dục chỉ quá trình giáo dục tổng thể (dạy học và giáo dục theo nghĩa hẹp) được thực
Trang 25hiện thông qua các hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục là những hoạt động do các cơ sở giáo dục (trường học và các cơ sở khác) tổ chức thực hiện theo kế hoạch, chương tình giáo dục, trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm
về chúng Trong các hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học là nền tảng và chủ đạo không chỉ trong các môn học, mà ở tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường Nó là hoạt động giáo dục cơ bản nhất, có vị trí nền tảng và chức năng chủ đạo trong hệ thống các hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục được tổ chức có định hướng về mặt giá trị nhằm tạo ra những môi trường hoạt động và giao tiếp có định hướng của người học Khi tham gia các hoạt động giáo dục, người học tiến hành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc chung, những mục tiêu chung, những chuẩn mực giá trị chung và những biện pháp chung, nhờ vậy họ được giáo dục theo những tiêu chí chung (tuy hoạt động của mỗi người luôn diễn ra ở cấp độ cá nhân) KNS được hình thành thông qua quá trình xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng thích hợp Do vậy, KNS phải được hình thành cho HS thông qua con đường đặc trưng - hoạt động giáo dục Theo UNICEF, giáo dục dựa trên KNS cơ bản là sự thay đổi trong hành vi hay một sự phát triển hành
vi nhằm tạo sự cân bằng giữa kiến thức, thái độ, hành vi Từ nội hàm của khái niệm KNS (khái niệm KNS đã được tác giả luận văn lựa chọn) và quan niệm
về hoạt động giáo dục đã trình bày ở trên, tác giả luận văn quan niệm: Giáo dục KNS là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức,
điều khiển để HS biết cách chuyển dịch kiến thức (cái HS biết) và thái độ, giá trị (cái HS nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành hành động thực tế (làm gì và làm
cách nào) một cách tích cực và mang tính chất xây dựng Giáo dục KNS cho
HS là giáo dục cho các em có cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng hoặc thay đổi ở các em các hành vi theo hướng tích cực phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học dựa trên cơ sở giúp HS có tri thức, giá trị, thái độ và kỹ năng phù hợp
Trang 261.1.2 Phân loại kĩ năng sống
Có nhiều cách phân loại KNS, tùy theo quan niệm về KNS
Theo UNESCO, WHO, và UNICEF, có thể xem KNS gồm các kĩ năng cốt lõi sau:
- Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving);
- Kĩ năng suy nghĩ/ tư duy phê phán (critical thinking);
- Kĩ năng giao tiếp hiệu quả (effective communication skiil);
- Kĩ năng ra quyết định (decision – making);
- Kĩ năng tư duy sáng tạo (craetive thinking);
- Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân (interpersonal relationship skiil);
- Kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị (selfawareness building skiils, incl Self – awrenness, self-esteem and self-confidence, and values analysis);
- Kĩ năng thể hiện sự cảm thông (empathy);
- Kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc (coping with stress and emotions)
Trong giáo dục ở Vương quốc Anh, KNS được chia thành 6 nhóm chính là:
- Hợp tác nhóm;
- Tự quản;
- Tham gia hiệu quả;
- Suy nghĩ/ tư duy bình luận, phê phán;
- Suy nghĩ sáng tạo;
- Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
Trong giáo dục ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các
KNS cụ thể như: tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm
kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin,
Trang 27- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các
KNS cụ thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng,
từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,
- Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các
KNS cụ thể như: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,
ra quyết định, giải quyết vấn đề,
Trên đây chỉ là một số trong các cách phân loại KNS Tuy nhiên, mọi cách phân loại đều chỉ là tương đối Trên thực tế, các KNS thường không hoàn toàn tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ với nhau Ví dụ: khi cần ra quyết định một cách phù hợp thì các kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng xác định giá trị, thường được vận dụng Hay để có thể giao tiếp một cách có hiệu quả cần phối hợp những kĩ năng như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng thương lượng,
kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng cảm thông, chia sẻ, kĩ năng kiếm chế, đương đầu với cảm xúc, Hoặc để đạt được mục tiêu cần phối hợp các kĩ năng sau:
kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ,
Kết quả nghiên cứu về KNS của nhiều tác giả đã khẳng định dù phân loại theo hình thức nào thì một số kĩ năng vẫn được coi là kĩ năng cốt lõi như:
kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực, kĩ năng nhận thức, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng đặt mục tiêu Thống nhất với quan niệm này, đồng thời xem xét sự tương thích với tính chất, đặc điểm của dạy học Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2), chúng tôi giới hạn các KNS được nghiên cứu
trong luận văn để tích hợp chủ yếu là các kĩ năng như: kĩ năng giải quyết vấn
đề, kĩ năng giao tiếp, tư duy sáng tạo, lắng nghe tích cực, kĩ năng ra quyết định,
Trang 281.1.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
1.1.3.1 Giáo dục kĩ năng sống góp phần hình thành và hoàn thiện nhân cách cho học sinh THPT
Lý do cần phải giáo dục KNS cho HS THPT được lý giải qua các phương diện sau:
* Xét theo yêu cầu xã hội
Do đặc điểm của xã hội hiện nay nên sự hình thành và phát triển KNS trở thành một yêu cầu quan trọng đối với cá nhân và là tiêu chí về nhân cách con người hiện đại Hội nghị giáo dục thế giới họp tại Senegan tháng 4/2000 đã thông qua kế hoạch hành động giáo dục cho mọi người (Kế hoạch hành động Dakar) [43] gồm 6 mục tiêu lớn Trong đó, mục tiêu 3 đã vạch ra rằng: “Đảm bảo nhu cầu học tập của tất cả thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình KNS thích hợp” Mục tiêu này đã yêu cầu các quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận những chương trình KNS phù hợp Mục tiêu 6 của chương trình hành động Giáo dục cho mọi người (Dakar) cũng khẳng định: Nâng cao toàn bộ các mặt của chất lượng giáo dục và đảm bảo có thể nhận rõ và đo được những kết quả đó về các kĩ năng cơ bản của KNS UNESCO đã xác định những lĩnh vực cần được quan tâm đặc biệt về giáo dục KNS, bao gồm:
- Liên quan đến việc làm: Các chương trình giáo dục KNS trong giáo
dục nghề nghiệp không nên tiến hành một cách độc lập mà cần thực hiện theo hướng thường tích hợp vào các chương trình dạy kĩ năng nghề nghiệp (cả trong giáo dục chính quy hoặc không chính quy) Điều này cho phép đồng thời thực hiện 2 mục tiêu: một là, tăng cường cơ hội học tập, chuẩn bị cho cá nhân bước vào thế giới công việc bằng việc tạo cho họ đầu vào là các kĩ năng nghề nghiệp được đào tạo; hai là, tăng cường tính hiệu quả và sự phù hợp của cá nhân với các kĩ năng nghề được đào tạo (có đáp ứng nhu cầu thị trường không? Có đáp ứng đầy đủ mong muốn của cá nhân không? Có giúp nâng cao
Trang 29mức độ thu nhập của họ không? Có giảm những tổn thương/thiệt hai về kinh
tế, xã hội của họ không?)
- Liên quan đến sức khỏe, HIV/AIDS và lạm dụng ma túy: Hội nghị giáo
dục thế giới đã nhận thức được nhu cầu cấp bách hiện nay là đấu tranh với đại dịch HIV/AIDS (do một nửa những người nhiễm dịch mới ở lứa tuổi từ 15 đến 24) Giáo dục phòng tránh HIV/AIDS là một trong 15 nội dung của giáo dục
vì sự phát triển bền vững Một chương trình phòng tránh HIV tốt là nó có thể tạo ra sự thay đổi hành vi để làm giảm những nguy cơ của nhiễm HIV Điều này càng đúng khi những chương trình này cung cấp các thông tin cơ bản và giúp thanh thiếu niên phát triển những KNS cần thiết để ra quyết định và hành động theo những quyết định liên quan đến sức khỏe
- Liên quan đến xung đột và bạo lực: Giáo dục là trọng tâm của mọi
chiến lược xây dựng hòa bình Điều đó có nghĩa là thông qua giáo dục (chính quy và phi chính quy) những cá nhân có được kiến thức, giá trị, thái độ và các KNS cần thiết để xây dựng nền móng vững chắc cho lòng tôn trọng quyền con người, các nguyên tắc dân chủ và chống lại bạo lực, tội ác Tiếp cận KNS tạo
ra một mô hình mà mỗi người có thể phát triển các kĩ năng phân tích, tư duy phê phán, ra quyết định (học để biết); tự trọng, thiện chí, sáng tạo (học để tự khẳng định mình); giao tiếp, sống với người khác, giải quyết xung đột, hợp tác
và cam kết xã hội (học để chung sống với mọi người); giải quyết ổn thoả đối với mọi việc khác nhau (học để làm)
* Xét từ góc độ giáo dục
KNS của người học được xác định là một biểu hiện của chất lượng giáo dục Vì thế, trong mục tiêu 6 của kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người KNS được coi là một khía cạnh của chất lượng giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học
Tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho HS trong các nhà trường, xét cho cùng là
để nâng cao chất lượng giáo dục Giáo dục KNS là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một mặt đáp ứng nhu cầu của người học có năng lực để đáp
Trang 30ứng những thách thức của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân Mặt khác, thực hiện giáo dục KNS thông qua những phương pháp hướng đến người học (lấy HS làm trung tâm) và phương pháp dạy học tương tác, cùng tham gia, đề cao vai trò tham gia chủ động, tự giác của người học và vai trò chủ đạo của người dạy sẽ có những tác động tích cực đối với những mối quan hệ người dạy và người học, người học với người học Đồng thời, người học cảm thấy họ được tham gia vào các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của bản thân, họ sẽ thích thú và học tập tích cực hơn Như vậy giáo dục KNS cho người học, cụ thể là HS THPT đồng thời thể hiện tính khoa học
và nhân văn của giáo dục
* Xét từ góc độ văn hóa, chính trị
Giáo dục KNS giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong pháp luật Việt Nam và quốc tế Giáo dục KNS giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng trong một
xã hội hiện đại với văn hóa đa dạng và với nền kinh tế phát triển và thế giới được coi là một mái nhà chung
* Xét theo yêu cầu của sự phát triển bền vững
Trong số 15 nội dung cơ bản về giáo dục vì sự phát triển bền vững đã được UNESCO xác định thì có rất nhiều nội dung thống nhất với giáo dục KNS để giải quyết các vấn đề cụ thể như: quyền con người, hòa bình và an ninh, bình đẳng giới, đa dạng văn hóa và hiểu biết về giao lưu văn hóa, sức khỏe, HIV/AIDS, các nội dung về bảo vệ môi trường, giảm nghèo, tinh thần
và trách nhiệm tập thể Đồng thời hình thành được những KNS cốt lõi như kĩ năng đặt mục tiêu; kĩ năng xác định giá trị; kĩ năng ra quyết định, giải quyết vấn đề, kĩ năng kiên định giúp cho mỗi cá nhân có thể định hướng tới cuộc sống lành mạnh phù hợp với các giá trị sống của xã hội, để có chất lượng cuộc sống và có những hành vi tích cực trong giải quyết các vấn đề của cuộc sống giúp thúc đẩy phát triển bền vững của cả cá nhân và của tập thể Bên cạnh những kĩ năng sống cốt lõi trên, những KNS chung như tư duy phê phán, tư
Trang 31duy sáng tạo, thiện chí, suy nghĩ tích cực còn được áp dụng vào giải quyết các nội dung cụ thể để tạo ra sự phát triển bền vững
1.1.3.3 Giáo dục kĩ năng sống góp phần thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cần phải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng Nhiệm vụ đổi mới giáo dục đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, trong Luật Giáo dục năm 2005
Nghị quyết 40/2000/QH10 về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa (SGK) phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiến và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới
Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX (4 – 2001) đã đề ra nhiệm vụ: Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, PPDH
Luật Giáo dục năm 2005, Điều 2 đã xác định: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp; trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Như vậy, mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho HS sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã được đổi
mới theo hướng “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của
người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say
mê học tập và ý chí vươn lên.” (Luật Giáo dục năm 2005, Điều 5)
Trang 32Giáo dục KNS cho HS, với bản chất là hình thành và phát triển cho các
em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống rõ ràng là phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông
Phương pháp giáo KNS, với các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích
cực như: hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề, nghiên cứu trường hợp điển
hình, đóng vai, trò chơi, dự án, tranh luận, động não, hỏi chuyên gia, viết tích cực, cũng là phù hợp với định hướng về đổi mới PPDH ở trường phổ thông
là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
Như vậy, có thể nhận thấy việc giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông
1.2.3.4 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông
là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới
Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở Tiểu học và Trung học Việc giáo dục KNS cho học sinh ở các nước được thực hiện theo 3 hình thức:
- KNS là môn học riêng biệt
- KNS được tích hợp vào một số môn học chính
- KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình Tuy nhiên, chỉ có một số không đáng kể các nước đưa KNS thành một môn học riêng biệt Ví dụ như: Ma-la-wi, Căm-pu-chia Còn đa số các nước
để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp KNS vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn xã hội như: Giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường… Một số nước đã sử dụng
cách tiếp cận “Whole School Approach” trong đó hình thức xây dựng “Trường
học thân thiện” nhằm thúc đẩy việc giáo dục KNS trong nhà trường
Trang 33Từ những lí do đã trình bày ở trên có thể khẳng định: việc giáo dục KNS cho HS trong các trường phổ thông là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt
1.1.4 Những kĩ năng sống có thể tích hợp giáo dục cho học sinh qua dạy học Ngữ văn THPT
Trong chương trình Ngữ văn THPT bao gồm cả 3 phân môn Văn học, Tiếng việt, Làm văn hầu hết các nội dung bài học đều có khả năng giáo dục KNS khá rõ rệt về cả hai phương diện: nội dung giáo dục và PPDH Mỗi bài học lại có một số KNS cơ bản có thể triển khai tích hợp để giáo dục cho HS tuy nhiên theo giới hạn nghiên cứu của luận văn, chúng tôi tập trung vào một
số kĩ năng: kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giải quyết
vấn đề, kĩ năng giao tiếp,…
1.1.4.1 Kĩ năng tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề theo một cách mới, với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ chức mới; là khả năng khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc; độc lập trong suy nghĩ
Kĩ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều sáng kiến và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi, có tầm nhìn
và khả năng suy nghĩ rộng hơn những người khác, không bị bó hẹp vào kinh nghiệm trực tiếp đang trải qua; tư duy minh mẫn và khác biệt
Tư duy sáng tạo là một kĩ năng sống quan trọng bởi vì trong cuộc sống con người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh bất ngờ hoặc ngẫu nhiên xảy ra Khi gặp những hoàn cảnh như vậy đòi hỏi chúng ta phải có tư duy sáng tạo để có thể ứng phó một cách linh hoạt và phù hợp
Khi một người biết kết hợp tốt giữa kĩ năng tư duy phê phán và tư duy sáng tạo thì năng lực tư duy của người ấy càng được tăng cường và sẽ giúp ích rất nhiều cho bản thân trong việc giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và phù hợp nhất
Trang 341.1.4.2 Kĩ năng ra quyết định
Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với những tình huống, những vấn đề cần giải quyết buộc chúng ta phải lựa chọn, đưa ra quyết định hành động
Kĩ năng ra quyết định là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp thời
Mỗi cá nhân phải tự mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông chờ, phụ thuộc vào người khác; mặc dù có thể tham khảo ý kiến của những người tin cậy trước khi ra quyết định
Để đưa ra quyết định phù hợp, chúng ta cần:
- Xác định vấn đề hoặc tình huống mà chúng ta đang gặp phải
- Thu thập thông tin về vấn đề hoặc tình huống đó
- Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đã có
- Hình dung đầy đủ về kết quả sẽ xảy ra nếu chúng ta lựa chọn mỗi phương án giải quyết
- Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu giải quyết theo từng phương án đó
- So sánh giữa các phương án để quyết định lựa chọn phương án tối ưu
Kĩ năng ra quyết định rất cần thiết trong cuộc sống, giúp cho con người
có được sự lựa chọn phù hợp và kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống Ngược lại, nếu không có kĩ năng ra quyết định, con người ta có thể có những quyết định sai lầm hoặc chậm trễ, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan
hệ, đến công việc và tương lai cuộc sống của bản thân; đồng thời còn có thể làm ảnh hưởng đến gia đình, bạn bè và những người có liên quan
Để ra được quyết định một cách phù hợp, cần phối hợp với những KNS khác như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng thu thập thông tin, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo,…
Kĩ năng ra quyết định là phần rất quan trọng của kĩ năng giải quyết vấn đề
Trang 351.1.4.3 Kĩ năng giải quyết vấn đề
Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống Giải quyết vấn đề có liên quan tới kĩ năng ra quyết định và cần nhiều kĩ năng sống khác như: giao tiếp, xác định giá trị, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, tìm kiếm sự hỗ trợ, kiên định,…
Để giải quyết vấn đề có hiệu quả, chúng ta cần:
- Xác định rõ vấn đề hoặc tình huống đang gặp phải, kể cả tìm kiếm thêm thông tin cần thiết
- Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đã có
- Hình dung đầy đủ về kết quả xảy ra nếu ta lựa chọn phương án giải quyết nào đó
- Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu thực hiện phương
án giải quyết đó
- So sánh các phương án để đưa ra quyết định cuối cùng
- Hành động theo quyết định đã lựa chọn
- Kiểm định lại kết quả để rút kinh nghiệm cho những lần ra quyết định
và giải quyết vấn đề sau
Cũng như kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giải quyết vấn đề rất quan trọng, giúp con người có thể ứng phó tích cực và hiệu quả trước những vấn đề, tình huống của cuộc sống
1.1.4.4 Kĩ năng giao tiếp
Kĩ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay
cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết
Trang 36Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác Kĩ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác, bao gồm biết giữ gìn mối quan hệ tích cực với các thành viên trong gia đình – nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta; đồng thời biết cách xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây là yếu tố rất quan trọng đối với niềm vui cuộc sống Kĩ năng này cũng giúp kết thúc các mối quan hệ khi cần thiết một cách xây dựng
Kĩ năng giao tiếp là yếu tố cần thiết cho nhiều kĩ năng khác như bày tỏ
sự cảm thông, thương lượng, hợp tác, tìm kiếm sự giúp đỡ, giải quyết mâu thuẫn, kiểm soát cảm xúc Người có kĩ năng giao tiếp tốt biết dung hòa đối với mong đợi của những người khác; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng
và ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính đáng
Bên cạnh những kĩ năng nói trên cần chú ý đến các kĩ năng làm việc theo nhóm, tự trọng, kĩ năng đặt mục tiêu, kĩ năng quản lí thời gian, có trách nhiệm với xã hội, thể hiện sự cảm thông, kĩ năng kiên định… cũng có ý nghĩa rất quan trọng
1.2 Dạy học tích hợp
1.2.1 Khái niệm
1.2.1.1 Tích hợp: Theo từ điển tiếng Việt, tích hợp là “sự hợp nhất, sự hòa
nhận, sự kết hợp” Tích hợp (integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hoà nhập,
sự kết hợp
Theo Từ điển Giáo dục học, tích hợp là “hành động liên kết các đối
tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” [19, tr.15] Kế hoạch giảng
dạy ở đây cần được hiểu trong một phạm vi rộng, từ kế hoạch giảng dạy của một chương trình đến kế hoạch giảng dạy của một môn học, kế hoạch giảng
Trang 37dạy của bài học Cũng theo các tác giả của từ điển này thì có hai kiểu tích hợp
là tích hợp dọc và tích hợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau
Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là
sự hợp nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng Hiểu như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau đó là tính liên kết và tính toàn vẹn:
- Liên kết phải tạo thành một thực thể toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp
- Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau
Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác
động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống
Như vậy, trong dạy học, tích hợp có thể được xem như sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo
sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất [19, tr.33]
1.2.1.2 Dạy học tích hợp: Tích hợp là một trong những quan điểm đã trở
thành xu thế phát triển chương trình giáo dục phổ thông ở nhiều nước trên thế giới Ở nước ta, từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông ở các bậc học Thực tiễn đã chứng tỏ, việc thực hiện quan điểm tích hợp sẽ làm tăng hiệu quả của hoạt động giáo dục
Đây cũng là một trong những quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam sau 2015 Tuy nhiên vẫn còn có những nhầm tưởng tích hợp với phép cộng giản đơn nhiều môn khoa học
Trang 38Việc định nghĩa chương trình tích hợp đã là đề tài bàn bạc từ đầu thế kỉ XXI, theo Trần Trung Ninh (Trường ĐHSP Hà Nội), hơn một trăm năm qua,
các nhà lí thuyết đã đưa ra ba loại hoạt động tích hợp cơ bản: tích hợp đa môn,
tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn
Tiếp cận tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học Các môn liên quan với nhau có chung một nhận định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi môn lại có chương trình riêng Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chức các chuẩn kiến thức từ các môn học, xoay quanh một chủ đề, đề tài, dự án tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp các kiến thức của các môn học có liên quan
Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, GV tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm và kĩ năng liên ngành, liên môn Tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương án, trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với hệ thống những chủ đề nhất định, xuyên suốt qua nhiều cấp lớp Ví dụ: Địa lí, Lịch sử, Sinh học, Xã hội, Giáo dục công dân, Hóa học, Vật lí được tích hợp
thành môn “nghiên cứu xã hội và môi trường” Trong cách tiếp cận tích cực
xuyên môn, GV tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề và quan tâm của người học HS phát triển KNS khi áp dụng kĩ năng môn học và liên môn vào hoàn cảnh thực tế
Nhu cầu của xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường phải hướng tới hai quan điểm liên môn và xuyên môn trong dạy học Trong đó quan điểm liên môn phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết mọi tình huống, còn quan điểm xuyên môn lại tìm cách phát triển ở HS những kĩ năng
có thể áp dụng ở mọi nơi
Bên cạnh đó, các nhà giáo dục học phân chia tích hợp ra thành tích hợp dọc (Vertical Integration) và tích hợp ngang (Horizontal integration) Tích hợp dọc là “Tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau”, còn tích hợp ngang là “Tích hợp
Trang 39dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề” [20, tr 11, 12]
Để việc tích hợp có hiệu quả cao, theo tác giả Trần Trung Ninh, nên có
sự phối hợp đồng bộ giữa chương trình các môn học và vận dụng linh hoạt các phương pháp tích hợp với mỗi lĩnh vực kiến thức cần đạt được Bên cạnh đó, tăng cường các giờ học thực hành, hoạt động ngoại khóa theo chủ đề, giảm giờ dạy lý thuyết của giáo viên, tăng thời lượng học tập của HS Xây dựng hệ thống bài tập mở, bài tập gắn với thực tiễn, bài tập có nội dung vận dụng kiến thức liên môn từ đó bồi dưỡng năng lực khoa học và KNS cho HS, tạo hứng thú và động lực cho việc học
Vốn tri thức của mỗi người là sự tích hợp các lĩnh vực khoa học, Giáo
sư Đinh Quang Báo – bộ phận thường trực ban chỉ đạo đề án đổi mới chương
trình và SGK giáo dục phổ thông sau 2015 cho rằng: “dạy học tích hợp đã trở
thành nguyên lí cơ bản của giáo dục hiện đại, phần nội dung môn học trong
mô hình cấu trúc SGK không nên trình bày đơn vị bài học theo tiết học, mà nên theo chủ đề nội dung ứng với các tình huống thích hợp Cố gắng để các chủ đề này được sắp xếp làm sao không phá vỡ quá nhiều logic nội tại của nội dung khoa học mỗi môn học, phân môn trong sách giáo khoa”
Khẳng định tích hợp là yêu cầu chung của quá trình dạy học, thứ trưởng
Bộ Giáo dục – Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “Giáo dục tích hợp được
quán triệt khi thiết kế và thực hiện các yếu tố cấu thành quá trình với các mức
độ khác nhau dựa trên logic phát triển năng lực ở học sinh Tích hợp kết hợp với phân hóa sâu dần để có một chương trình giảm số môn học bắt buộc, tăng các môn học, chủ đề tự chọn, nhưng học sinh lại có được nguồn tri thức rộng, gắn với thực tiễn và được rèn luyện kĩ năng, chuẩn bị tâm thế hướng nghiệp, hướng nghề, hướng đến phát triển trình độ cao”
Tích hợp trong dạy học là một bước tiến quan trọng trong khoa học giáo dục, từ hướng tiếp cận nội dung chuyển sang hướng tiếp cận năng lực người
Trang 40học Xu hướng góp phần rèn luyện và phát triển kĩ năng tư duy, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa trong giáo dục
1.2.2 Các cách tích hợp
Trong quá trình học tập, HS có thể lần lượt học các môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng HS phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và vận dụng được kiến thức đã học trong các tình huống cụ thể của cuộc sống Vì thế cần phải thấy được vai trò của môn học và những tương tác của các môn học khác nhau Theo d’ Hainaut (1977) có 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học
Quan điểm “đơn môn”: Có thể xây dựng chương trình học tập theo hệ
thống nội dung của mỗi môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ
Quan điểm “đa môn”: Một chủ đề trong nội dung học tập có liên quan
với những kiến thức, kĩ năng thuộc một số môn học khác nhau Các môn học tiếp tục được tiếp cận một cách riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài, nội dung
Quan điểm “liên môn”: Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi
vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết HS phải huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhưng môn học khác nhau
Quan điểm “xuyên môn”: Nội dung học tập hướng vào phát triển các kĩ
năng, năng lực cơ bản mà HS có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giải quyết các tình huống khác nhau
Trong thời đại hiện nay, khi những vấn đề giao lưu, hội nhập khoa học, công nghệ hiện đại trên thế giới, khu vực cũng như trong nước đang phát triển hết sức nhanh chóng thì một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra đối với nhà trường là cần hướng tới việc phát triển các năng lực của người học, đặc