1. Tính cấp thiết của đề tài Bước sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là vấn đề có tính toàn cầu. Một bức tranh tổng thể là thế giới vời gần nửa dân số sống dưới 2USDngày. Vì vậy một phong tráo sôi nổi rộng khắp trên thế giới là phải làm như thế nào để đẩy lùi đói nghèo. Trong những năm gần đây, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có công tác xóa đói giảm nghèo tốt nhất, đi lên từ nền nông nghiệp lạc hậu, hơn nữa trải qua thời kỳ đấu tranh kéo dài. Tỉ lệ đói nghèo chủ yếu thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp. Mặt khác, hơn 70% dân số nước ta làm trong lĩnh vực nông nghiệp. Vì thế đòi hỏi một sự lãnh đạo, quan tâm đặc biệt từ phía Đảng và Nhà nươc đối với sản xuất nông nghiệp, đời sống nông dân. Giải quyết hiệu quả công tác” Xóa đói giảm nghèo” sẽ tạo đà cho bước chuyển mình vững chắc của nền kinh tế đất nước. Từ đó nâng xao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế cũng như đảm bảo vững chắc nền độc lập dân tộc trong tiến trình hội nhập và phát triển Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của vấn đề xóa đói giảm nghèo của cả nước nói chung, tỉnh Điện Biên nói riêng trong quá trình hội nhập và phát triển, tác giả chọn vấn đề “Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Hội nông dân trong thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghèo đói là một hiện trạng rất phổ biến trong phạm vi cả thế giới, cho nên vấn đề này đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau. Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận văn tốt nghiệp đã đề cập đến vấn đề xoá đói giảm nghèo (XĐGN), trong đó có các công trình như: Các công trình do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội làm chủ biên có: Đói nghèo ở Việt Nam (Hà Nội, 1993); Nhận diện đói nghèo ở nước ta (Hà Nội, 1993); Xoá đói giảm nghèo (Hà Nội, 1996); Xoá đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế (Nxb Lao động, 1997). Liên quan đến vấn đề xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên cũng đã có 2 đề tài: Khóa luận thạc sĩ của Đỗ Thế Hạnh: Thực trạng và những giải pháp kinh tế chủ yếu nhằm xoá đói giảm nghèo ở Điện Biên giai đoạn 20032008 Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khóa luận thạc sĩ của Tào Bằng Huy: Những giải pháp cơ bản nhằm xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005 2010 Đại học kinh tế Quốc dân Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến vấn đề đói nghèo dưới các góc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Hội nông dân trong thực hiện xóa đói giảm nghèo ở Điện Biên. Vì vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố.
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, đói nghèo vẫn là vấn đề có tính toàn cầu Mộtbức tranh tổng thể là thế giới vời gần nửa dân số sống dưới 2USD/ngày Vìvậy một phong tráo sôi nổi rộng khắp trên thế giới là phải làm như thế nào đểđẩy lùi đói nghèo Trong những năm gần đây, Việt Nam được đánh giá là mộttrong những nước có công tác xóa đói giảm nghèo tốt nhất, đi lên từ nền nôngnghiệp lạc hậu, hơn nữa trải qua thời kỳ đấu tranh kéo dài Tỉ lệ đói nghèochủ yếu thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp Mặt khác, hơn 70% dân số nước
ta làm trong lĩnh vực nông nghiệp Vì thế đòi hỏi một sự lãnh đạo, quan tâmđặc biệt từ phía Đảng và Nhà nươc đối với sản xuất nông nghiệp, đời sốngnông dân Giải quyết hiệu quả công tác” Xóa đói giảm nghèo” sẽ tạo đà chobước chuyển mình vững chắc của nền kinh tế đất nước Từ đó nâng xao vị thếViệt Nam trên trường quốc tế cũng như đảm bảo vững chắc nền độc lập dântộc trong tiến trình hội nhập và phát triển
Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của vấn đề xóa đóigiảm nghèo của cả nước nói chung, tỉnh Điện Biên nói riêng trong quá trình
hội nhập và phát triển, tác giả chọn vấn đề “Vai trò lãnh đạo của Đảng đối
với Hội nông dân trong thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghèo đói là một hiện trạng rất phổ biến trong phạm vi cả thế giới, chonên vấn đề này đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều khíacạnh khác nhau
Cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiềuluận văn tốt nghiệp đã đề cập đến vấn đề xoá đói giảm nghèo (XĐGN), trong
đó có các công trình như:
Trang 2Các công trình do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm chủ biên có:
- Đói nghèo ở Việt Nam (Hà Nội, 1993);
- Nhận diện đói nghèo ở nước ta (Hà Nội, 1993);
- Xoá đói giảm nghèo (Hà Nội, 1996);
- Xoá đói giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế (Nxb Lao động, 1997) Liên quan đến vấn đề xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên cũng đã có
2 đề tài:
Khóa luận thạc sĩ của Đỗ Thế Hạnh: "Thực trạng và những giải phápkinh tế chủ yếu nhằm xoá đói giảm nghèo ở Điện Biên giai đoạn 2003-2008"Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Khóa luận thạc sĩ của Tào Bằng Huy: "Những giải pháp cơ bản nhằmxoá đói giảm nghèo ở tỉnh Điện Biên giai đoạn 2005 - 2010" Đại học kinh tếQuốc dân
Các công trình nghiên cứu trên đề cập đến vấn đề đói nghèo dưới cácgóc độ khác nhau cả về lý luận và thực tiễn nhưng chưa có công trình nghiêncứu nào đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Hội nông dân trongthực hiện xóa đói giảm nghèo ở Điện Biên Vì vậy, đề tài mà tác giả lựa chọn
để nghiên cứu không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận
Trang 3- Tập trung phân tích thực trạng đói nghèo của tỉnh Điện Biên hiện nay
và chỉ ra những nguyên nhân cơ bản gây hạn chế yếu kém trong lãnh đạo củaĐảng đối với Hội nông dân
- Đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằmtừng bước nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng
4 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là xã nghèo, hộ nghèo đói thuộctỉnh Điện Biên thông qua việc điều tra khảo sát tình hình thực tiễn và các sốliệu hiện có trong các báo cáo tổng kết về xoá đói giảm nghèo và số liệuthống kê của địa phương
Khóa luận nghiên cứu vấn đề xoá đói giảm nghèo và tập trung nghiên cứuthực trạng tình hình đói nghèo của tỉnh Điện Biên giai đoạn từ 2009 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu của khóa luận
- Khóa luận dựa trên cơ sở lý luận kinh tế chính trị Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách về xoáđói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước để nghiên cứu
- Khóa luận vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử và khoa học kinh tế chính trị Mác-Lênin và kết hợpcác phương pháp khác để nghiên cứu như điều tra, khảo sát, phân tích thống
kê, so sánh, tổng hợp, khái quát, hệ thống và nghiên cứu báo cáo tổng kết xoáđói giảm nghèo của tỉnh Điện Biên
6 Những đóng góp của khóa luận
- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Hộinông dân thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Điên Biên, tìm ra nhữngnguyên nhân, các giải pháp chủ yếu nhằm góp phần giải quyết vấn đề đóinghèo của tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay
Trang 4- Khóa luận góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việchoạch định chính sách xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Điện Biên
- Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và chỉ đạothực tiễn công tác xoá đói giảm nghèo ở các địa bàn có đặc thù tương tự như tỉnhĐiện Biên; làm tư liệu giảng dạy và nghiên cứu môn kinh tế chính trị
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của khóa luận gồm 3 chương
Trang 5B NỘI DUNG CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỘI NÔNG DÂN TRONG THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1 Khái niệm Đảng Cộng Sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền tại Việt Nam hiện naytheo Hiến pháp (bản sửa đổi 2013), đồng thời cũng là đảng duy nhất đượcphép hoạt động Theo Cương lĩnh và Điều lệ chính thức được công bố, Đảngcộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, người laođộng và lấy chủ nghĩa Mar-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ namcho mọi hoạt động của Đảng Trên thực tế, một số yếu tố của chủ nghĩa tưbản, chủ nghĩa dân tộc và cả một vài yếu tố có tính truyền thống của ý thức hệphong kiến cũng có những ảnh hưởng nhất định
Đảng Cộng Sản Việt Nam (3.2.1930) là đội tiên phong của giai cấpcông nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân,nhân dân lao động và của dân tộc
Cương lĩnh của Đảng năm 1991 xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam làđội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi íchcủa giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Đảng lấy chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉnam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản
Nghị quyết của đảng cũng nêu rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉnam cho hành động, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của dân tộc và của nhân loại, nắmvững quy luật khách quan và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh
Trang 6chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, nguyện vọngcủa nhân dân.
Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnhtheo con đường xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là thực hiện lý tưởng cộng sảnchủ nghĩa
1.1.2 Khái niệm Hội nông dân
Hội Nông dân Việt Nam (tên cũ: Hội Liên hiệp Nông dân tập thể ViệtNam trước 1991) là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do ĐảngCộng sản Việt Nam lãnh đạo và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc ViệtNam; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hội nông dân tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, hội viên, nông dânhiểu biết đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghịquyết, chỉ thị của Hội, khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chícách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo của nông dân
Vận động, tập hợp và làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dânphát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh Chăm lo đời sống vàtinh thần của hội viên, nông dân
Các cấp Hội là thành viên tích cực trong hệ thống chính trị thực hiệncác chính sách, pháp luật, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhànước ở nông thôn Hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trongnông nghiệp Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề giúp
Trang 7Đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển vànâng cao chất lương hội viên Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt;đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ côngnghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh Thamgia giám sát và phản biện xã hội theo quy chế Kịp thời phản ánh tâm tưnguyện vọng của nông dân với Đảng và Nhà nước; bảo vệ các quyền và lợiích chính đáng, hợp pháp của hội viên, nông dân Thực hiện Pháp lệnh Dânchủ cơ sở, giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nông dân; góp phần xây dựng khốiđại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội;chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội
Mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng, tăngcường hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, tiến bộ kho học, kỹ thuật, quảng
bá hàng hoá nông sản, văn hoá Việt Nam với tổ chức nông dân, tổ chức quốc tế,các tổ chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ trong khu vực và trên thế giới
1.1.3 Khái niệm đói nghèo
Đói nghèo được hiểu là sự thiệt hại những điều tối thiểu để đảm bảomức sống của một các nhân hay một cộng đồng dân cư
Đói nghèo có hai khái niệm cơ bản:
- Nghèo tuyệt đối là tình trạng thiếu hụt những điều kiện tối thiểu để
duy trì cuộc sống, tiếp cận những nhu cầu, các vấn đề dinh dưỡng, giáo dục
và các dịch vụ y tế, việc xác định một đối tượng là nghèo hay không phải dựatrên các tiêu chuẩn nghèo của quốc gia và của thế giới
- Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ
các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầnglớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó
- Khái niệm xóa đói giảm nghèo:
Trang 8Giảm nghèo hay (xoá đói giảm nghèo) chính là làm cho bộ phận dân cưnghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Biểu hiện ở
tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống Nói một cách khác, xoáđói giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên mộtmức sống cao hơn ở khía cạnh khác, xoá đói giảm nghèo là chuyển từ tìnhtrạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn đểcải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người
Nói giảm nghèo trong đó luôn bao hàm xoá đói và cũng giống như kháiniệm nghèo, khái niệm giảm nghèo chỉ là tương đối Bởi nghèo có thể táisinh, hoặc khi khái niệm nghèo và chuẩn nghèo thay đổi Do đó, việc đánh giámức độ giảm nghèo phải được đánh giá trong một thời gian, không gian nhấtđịnh Giảm nghèo là một phạm trù cũng mang tính lịch sử, do đó chỉ có thểtừng bước giảm nghèo, chứ chưa thể xoá sạch được nghèo Chỉ khi nào xã hộiloài người đạt tới trình độ xã hội cộng sản như chủ nghĩa Mác- Lênin dự đoánthì hiện tượng nghèo sẽ không còn nữa và giảm nghèo cũng không cần
Do cách đánh giá và nhìn nhận nguồn gốc khác nhau nên cũng cónhiều quan niệm về giảm nghèo khác nhau: Nếu hiểu nghèo là dạng đình đốncủa phương thức sản xuất đã bị lạc hậu song vẫn còn tồn tại thì giảm nghèochính là quá trình chuyển đổi sang phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn.Nếu hiểu nghèo là do phân phối thặng dư trong xã hội một cách bất công đốivới người lao động, do chế độ sở hữu TBCN thì giảm nghèo chính là quátrình xoá bỏ chế độ sở hữu và chế độ phân phối này Nếu hiểu nghèo là hậuquả của tình trạng chủ nghĩa thực dân đế quốc kìm hãm sự phát triển ở cácnước thuộc địa, phụ thuộc thì giảm nghèo là quá trình các nước thuộc địa, phụthuộc giành lấy độc lập dân tộc để trên cơ sở đó phát triển kinh tế - xã hội.Nếu hiểu nghèo là do sự bùng nổ gia tăng dân số vượt quá tốc độ phát triển
Trang 9bằng cách của Malthus đã làm Còn nếu hiểu nghèo là do tình trạng thấtnghiệp gia tăng hoặc rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế thì giảm nghèochính là tạo việc làm, tạo xã hội ổn định và phát triển ở nước ta hiện naynghèo đói không phải là bóc lột của giai cấp tư sản và địa chủ đối với laođộng như trước đây mà do nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyểnđổi từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu kém phát triển sang nền kinh tế pháttriển hiện đại Trong nền kinh tế này tồn tại và đan xen nhiều trình độ sảnxuất khác nhau Có trình độ sản xuất cũ, lạc hậu vẫn còn trong khi đó trình độsản xuất mới, tiên tiến lại chưa đóng vai trò chủ đạo, thay thế các trình độ sảnxuất cũ Do đó, dẫn đến có sự khác nhau trong các tầng lớp dân cư
Như vậy, giảm nghèo (XĐGN) ở nước ta chính là từng bước thực hiệnquá trình chuyển đổi các trình độ sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn đọng trong xãhội sang trình độ sản xuất mới cao hơn ở góc độ người nghèo: Giảm nghèo(XĐGN) là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cậncác nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ cónhiều khả năng lựa chọn tốt hơn giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạngnghèo đói
- Tiêu chí xác định chuẩn nghèo:
Theo từ điển tiếng Việt thì tiêu chí và chuẩn có các nghĩa sau đây: Tiêu chí có nghĩa là: Tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếploại một sự vật, một khái niệm [30, tr.990] Như vậy, tiêu chí mang tính địnhtính Chuẩn có nghĩa là: cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướngtheo đó mà làm cho đúng, vật được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đolường, cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc đúng theo thói quentrong xã hội [30, tr.181] Như vậy, chuẩn mang tính định lượng Từ đó ta cóthể hiểu chuẩn nghĩa là mốc giới hạn do nhà nước hay tổ chức quốc tế quyđịnh về mức thu nhập mà nếu ai có thu nhập thấp hơn mức này gọi là nghèo,
Trang 10còn ai vượt qua giới hạn đó thì họ không phải là người nghèo Chuẩn là công
cụ để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo Giữa chuẩn nghèo
và tỉ lệ hộ nghèo có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, nếu chuẩn nghèo cao thì tỷ
lệ hộ nghèo cao và ngược lại
a Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của thế giới
Để đánh giá nghèo đói, UNDP dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phốithu nhập theo đầu người hay theo nhóm dân cư Thước đo này tính phân phốithu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhấtđịnh, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sốngcủa dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư Phương pháp tính là:
Đem chia dân số của một nước, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo
và rất nghèo Theo cách tính này, vào những năm 1990 thì 20% dân số giàunhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% nghèo nhất chỉ chiếm1,4% Như vậy nhóm giàu nhất gấp 59 lần nhóm nghèo nhất [32, tr.11]
Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức
độ giàu, nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quântính theo đầu người trong một năm với 2 cách tính đó là: Phương pháp Atlastức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD Phương pháp PPP(purchasing power parity), là phương pháp tính theo sức mua tương đương vàcũng tính bằng USD
Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân củacác nước trên toàn thế giới làm 6 loại
+ Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu
+ Từ 20.000 đến dưới 25.000 USD/người/năm là nước giàu
+ Từ 10.000 đến dưới 20.000 USD/người/năm là khá giàu
Trang 11+ Từ 500 đến 2.500 USD/người/năm là nước nghèo
+ Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo
Theo phương pháp thứ hai: WB muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đóichung cho toàn thế giới Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình
và giá cả hàng hoá, thực hiện phương pháp tính “rỗ hàng hoá” sức mua tươngđương để tính được mức thu nhập dân cư giữa các quốc gia có thể so sánh
WB đã tính mức năng lượng tối thiểu cần thiết cho một người để sống là2.100 calo/ngày
Với mức giá chung của thế giới để đảm bảo mức năng lượng đó cầnkhoảng 1 USD/người/ngày Từ đó, năm 1995 WB đã đưa ra chuẩn mựcnghèo khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình quân đầu người dưới370USD/người/năm Với mức trên WB ước tính có trên 1,2 tỷ người trên thếgiới đang sống trong nghèo đói Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiềunước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội Dođặc điểm của nền kinh tế - xã hội và sức mua của đồng tiền khác nhau,chuẩn nghèo đói theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốcgia ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là14USD/người/ngày Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia là28USD/người/tháng Srilanca là 17USD/người/tháng Bangladet là11USD/người/tháng ở Việt Nam, GDP bình quân đầu ngườihiện nay (năm2006) khoảng 720 USD/người/năm, nên trên bình diện chung của thế giớinước ta là nước nghèo khó, do đó không thể lấy chuẩn nghèo đói của WB đểxác định nghèo đói của Việt Nam
Chỉ tiêu thu nhập quốc dân tính theo đầu người là chỉ tiêu chính màhiện nay nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế đang dùng để xác định giàunghèo Nhưng cũng cần thấy rằng nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu
tố khác như văn hoá, chính trị, xã hội Trong thực tế nhiều nước phát triển có
Trang 12thu nhập bình quân theo đầu người cao nhưng vẫn chưa đạt được sự phát triểntoàn diện Tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, thiếu việc làm, ô nhiễm môitrường và những bất công khác vẫn còn phổ biến, khoảng cách nghèo ngàycàng tăng lên, xu hướng này không chỉ xảy ra ở những nước nghèo mà cònxảy ra ở những nước khá và giàu Qua đó có thể thấy rằng: Nghèo khổ trong
xã hội không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp hay cao mà còn là kết quảcủa phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội Vì vậy, để đánh giávấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc dân bình quân, UNDP cònđưa ra chỉ số phát triển con người (HDI) bao gồm hệ thống ba chỉ tiêu; tuổithọ, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân đầu người trongnăm Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển vàtrình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận các nước giàu nghèo tương đốichính xác và khách quan
b Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của Việt Nam
Đối với Việt Nam, Chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩnnghèo trong thời gian từ 1993 đến cuối năm 2005
Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005” như sau:
Khu vực nông thôn miền núi, hải đảo < 80.000 < 960.000
Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2011 như sau:
Đồng/người/tháng Đồng/người/năm
Trang 13Khu vực
Khu vực nông thôn miền núi, hải đảo < 160.000 < 1.920.00
Khu vực nông thôn miền núi, hải đảo < 320.000
Khu vực nông thôn đồng bằng < 400.000
Lãnh đạo xây dựng, củng cố về tổ chức bộ máy, cán bộ nhằm nâng caochất lượng hoạt động của cán bộ hội trong vấn đề xóa đói giảm nghèo
Tuyên truyền giáo dục nông dân tham gia các phong trào xóa đói giảmnghèo mà hội phát động
Lãnh đạo hội thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội nhữngvấn đề liên quan đến công tác xóa đói giảm nghèo
1.3 Ý NGHĨA VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI HỘI NÔNG DÂN TRONG THỰC HIÊN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Trang 14Điện Biên là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc tổ quốc, mới đượcphân tách từ tỉnh Lai Châu cũ, có toạ độ địa lý là: Từ 102010' đến 103036'kinh độ Đông và từ 20054' đến 22033' vĩ độ Bắc
Phía Bắc giáp với tỉnh Lai Châu, phía Đông và Đông Bắc giáp với tỉnhSơn La, phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
và giáp với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc tại khu vực xã Sín Thầu - huyệnMường Nhé
Trong những năm qua nền kinh tế đã có những bước phát triển quantrọng tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề xã hội Song do xuất phátthấp nên vời mức độ tăng trưởng kinh tế 9,1% (2008) vẫn chưa cân đối vớinhu cầu cuộc sống của nhân dân địa phương Với tỉ lệ hộ nghèo 50,01% ĐiệnBiên là tỉnh nhiều hộ nghèo nhất nước theo kết quả Tổng điều tra hộ nghèotoàn quốc được công bố 30/5/2011 Trong đó, đa số hộ nghèo thuộc về sảnxuất nông nghiệp tập trung chủ yếu ở miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số
Do đó, để thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo của Đảng ta là phát triển cân đối vàbền vững giữa các ngành nghề, vùng miền chúng ta cần nâng cao hơn nữa vaitrò lãnh đạo của Đảng ủy các cấp trong việc tổ chức xây dựng nền kinh tếvững mạnh Nông nghiệp là lĩnh vực cần được đặc biệt quan tâm nhằm pháthuy các lợi thế của địa phương đồng thời đáp ứng tốt hơn những nhu cầu củangười dân; đẩy lùi nghèo đói đưa Điện Biên trở thành một nền kinh tế vữngmạnh của cả nước
Chính bởi tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng ủy Điện Biên cần nỗlực hơn nữa trong việc đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo Hội nông dânphát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo Đây là một trong những nhiệm vụquan trọng mà Đảng ủy tỉnh cần thực hiện ngay và yêu cầu tổ chức thực hiện
có hiệu quả
Trang 15CHƯƠNG II NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT HUY VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỘI NÔNG DÂN TRONG THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY
2.1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỘI NÔNG DÂN TRONG THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY
2.1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên
* Vị trí địa lý: Điện Biên là một tỉnh nằm ở vùng Tây Bắc, miền Bắc
Việt Nam, giáp với các tỉnh Lai Châu và Sơn La của Việt Nam, Vân Nam củaTrung Quốc ở phía Bắc, Phongsali của Lào ở phía Tây
* Đặc điểm địa hình: Điện Biên là tỉnh miền núi biên giới thuộc vùng
Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội gần 500 km về phía Tây; phía Bắc giáp tỉnh LaiChâu, phía Đông và Đông bắc giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp tỉnh VânNam – Trung Quốc; phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà Dân chủNhân dân Lào
* Khí hậu: Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nùi cao, mùa đông
tương đối lạnh và ít mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến bấtthường, phân hoá đa dạng, ít chịu ảnh hưởng của bão, chịu ảnh hưởng của giótây khô và nóng Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21 – 230C, chất lượng mưatrung bình từ 1.700 – 2.500 mm, độ ẩm trung bình từ 83 – 85%
Do diện tích tự nhiên rộng, địa hình lại bị chia cắt nên khí hậu ở đây bịphân hoá thành 3 tiểu vùng rõ rệt: tiểu vùng khí hậu Mường Nhé, tiểu vùngkhí hậu Mường Lay và tiểu vùng khí hậu cao nguyên Sơn La và thượngnguồn sông Mã
Trang 16* Tài nguyên thiên nhiên:
Đất lâmnghiệp
Đất chưa
sử dụng
Đất chuyêndụng và đất ở
Điện Biên có các nhóm đất chính là: nhóm đất phù sa, nhóm đất đen,nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi Những loại đất này rất phù hợp để phát triểncác loại cây lương thực, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày, trồng vàkhoanh nuôi tái sinh rừng Mặt khác Điện Biên còn diện tích đất chưa sử dụng
là rất lớn chiếm 55,3% tổng diện tích đất tự nhiên
- Tài nguyên nước: Điện Biên nằm ở khu vực đầu nguồn 3 con sông lớn làsông Đà, sông Mã và sông Mê Kông Trong đó, riêng lưu vực sông Đà trên cáchuyện: Mường Nhé, Mường Chà, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Mường Lay códiện tích khoảng 5.300km2, chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Hiện nay,Điện Biên có khoảng 800 công trình thủy lợi lớn nhỏ đang hoạt động, đã phục
vụ công tác tươi tiêu cho 7.676 vụ chiêm xuân và 12.632 vụ mùa
- Tài nguyên rừng: Hiện nay, toàn tỉnh có 348.049 ha rừng, đạt tỷ lệ chephủ 37% Trong rừng có nhiều loại gỗ quý hiếm, giá trị kinh tế cao như: lát,trò chỉ, nghiến, táu, pơmu…ngoài ra còn có các loại cây đặc sản khác nhưcánh kiến đỏ, song mây… Không chỉ có nhiều loại thực vật quý hiếm, rừngĐiện Biên còn có 61 loài thú, 270 loài chim, 27 loài động vật lưỡng cư, 25loài bò sát, 50 loài cá đang sinh sống Trong những năm gần đây do nạn đốtrừng và săn bắt chim thú tự do nên lượng chim thú quý trong rừng ngày cànggiảm, một số loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng
Trang 17- Tài nguyên khoáng sản: Điện Biên không có nhiều loại khoáng sản,tuy nhiên qua điều tra sơ bộ trên địa bàn tỉnh vẫn có một số loại khoáng sảnchính như than đá, đá đen, vàng, cát, sỏi và các loại vật liệu xây dựng khác…Hiện, mỏ than mỡ Thanh An có trữ lượng khoảng 156.000 tấn; mỏ cao lanh ởHuổi Phạ trữ lượng khoảng 51.000 tấn; mỏ đá xây dựng ở Tây Trang; vàng sakhoáng ở thượng nguồn sông Đà; nước khoáng Mường Luân… Tuy các mỏnày có trữ lượng không lớn, nhưng đây là nguồn lực khá quan trọng để pháttriển các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở địa phương.
- Tài nguyên du lịch: Tỉnh Điện Biên có tiềm năng du lịch rất phongphú, đa dạng, bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịchnhân văn
Về tài nguyên du lịch tự nhiên: Với địa hình đa dạng, nhiều sông, hồ
và những cảnh quan đẹp, đã tạo cho Điện Biện có một tiềm năng phát triển
du lịch khá lớn Các tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng ở Điện Biên là:
hồ Pa Khoang, và rừng nguyên sinh Mường Phăng, rừng nguyên sinhMường Nhé, Mường Toong, động Pa Thơm, hang Thẩm Púa, đèo Pha Đin,cảnh quan dọc sông Đà, vườn chè Tuyết Shan cổ thụ ở Tủa Chùa, Đây lànhững điều kiện lý tưởng để Điện Biện phát triển các loại hình du lịch sinhthái đa dạng và hấp dẫn
Về tài nguyên du lịch nhân văn: Điện Biên có 21 dân tộc anh em chung
sống tạo nên một nền văn hóa đa dân tộc Có các di tích lịch sử, như: ThápMường Luân, thành Tam Vạn, thành Bản Phủ và đặc biệt là quần thể di tíchĐiện Biện Phủ (hầm Đờ-cát, cầu Mường Thanh, đồi A1, khu di tích MườngPhăng, ) đó là những tài sản vô cùng quý giá để khai thác phát triển du lịch
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Nhịp độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2004 – 2007 ước đạt 10,5%, cơcấu kinh tế chuyển dịch theo hướng xác định
Trang 18Năm 2007 GDP bình quân đầu người ước đạt 6,1 triệu đồng/năm,tương đương 365 USD.
Lương thực bình quân đầu người đạt 400 kg/người/năm Ngoài mụctiêu đáp ứng nhu cầu lương thực trên địa bàn, bước đầu đã tạo ra những sảnphẩm có chất lượng và giá trị cao như: gạo Điện Biên, ngô, đậu tương
Các ngành công nghiệp bước đầu đã được khai thác với các dự án đầu tưnhư: Nhà máy Xi măng Điện Biên, các công trình thủy điện Nà Lơi, Thác Trắng,Nậm Mức và các dự án khai thác chế biến khoáng sản chì kẽm, vàng, đồng
Du lịch dịch vụ và kinh tế cửa khẩu: Từng bước được đầu tư khai thác
đã bước đầu phát huy hiệu quả; khách du lịch đến Điện Biên tham quan ngàycàng tăng năm 2007 gần 200 ngàn lượt khách
* Cơ sở hạ tầng:
Đến hết năm 2007 toàn tỉnh đã có 104/106 xã, phường có đường ô tôđến trung tâm xã với 70/106 xã đi lại được quanh năm; 100% xã, phường cóđiện thoại và điểm bưu điện văn hoá xã ; trung tâm các khu đô thị, thị tứ đãđược phủ sóng điện thoại di động; 81/106 xã, phường có điện lưới quốc giađến trung tâm xã, 72% dân cư thành thị được sử dụng nước sạch và 61% dân
cư nông thôn được cấp nước sinh hoạt Các mặt đời sống văn hoá tinh thần,chăm sóc sức khoẻ của nhân dân được quan tâm, quốc phòng an ninh đượctăng cường và ổn định, quan hệ đối ngoại và hợp tác với các tỉnh Bắc Lào vàVân Nam – Trung Quốc được mở rộng và tăng cường
* Mạng lưới giao thông:
Hệ thống giao thông đường bộ, gồm:
Quốc lộ 6A: Từ Hà Nội đến thị xã Mường Lay dài 474 km, trong đóđoạn chạy qua tỉnh dài khoảng 120km
Quốc lộ 12: Từ thành phố Điện Biên Phủ đến cửa khẩu Ma Lu Thàng
Trang 19 Quốc lộ 279: Từ Tuần Giáo qua thành phố Điện Biên Phủ đến cửakhẩu Tây Trang dài 117 km.
Ngoài các tuyến đường quốc lộ, các cửa khẩu lối liền Điện Biên vớicác tỉnh và các nước Lào - Trung Quốc còn có hệ thống giao thông liên huyệnliên xã đáp ứng tốt nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của nhân dân
*Hệ thống giao thông đường không gồm:
Điện Biên có Cảng hàng không Điện Biên Phủ phục vụ tuyến Hà Nội Điện Biên Phủ với tần xuất lên xuống 2 lượt /ngày Tương lai không xa sẽ mởđường bay đến một số nước trong khu vực như: Lào, Myanma, Cam Pu Chia
-*Điện:
Nguồn điện:
Toàn tỉnh hiện có 6 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ với tổng công suấtphát là 18,14 MW Hiện đang tiến hành khởi công xây dựng thêm 3 nhà máythủy điện với tổng công suất phát là 55,4 MW
Mạng lưới điện:
Mạng lưới điện bao gồm:
+ Lưới truyền tải: đường dây 110 KV là 73,73 km; trạm 110KV là2/2/41 (trạm/máy/MVA)
+ Lưới phân phối: tổng số đường dây 35-22-10-6 KV là 899,91 km;trạm biến áp phân phối 35-22-10-6/0,4 KV là 336/336/36,2 (trạm/máy/MVA)
Đường dây hạ thế 0,4 KV là 662,3 km Toàn tỉnh có 9/9 huyện, thị,thành phố có điện đạt 100%; Số xã, phường, thị trấn có điện 82/106 xã,phường, thị trấn Số hộ được sử dụng điện đạt 58.773/89.697 hộ đạt 66% Một
số dự án thuộc Dự án năng lượng nông thôn II (REII), dự án đầu tư từ nguồnvốn ngân sách của tỉnh, dự án chương trình 135 của Chính phủ dự kiến sẽ
Trang 20hoàn thành và đóng điện vào cuối năm 2008 nâng tổng số xã được cấp điệnlưới quốc gia lên 100/106 xã, phường, thị trấn có điện đạt 94,34%.
*Hệ thống thông tin liên lạc:
Trên địa bàn tỉnh đã lắp đặt các tổng đài hoà mạng vào hệ thống truyềnthông quốc gia, từ tổng đài đã truyền dẫn thông tin đi toàn bộ các xã, huyệntrong tỉnh Toàn tỉnh có nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin liênlạc như: VNPT, Viettel, Mobiphone
*Hệ thống tín dụng ngân hàng:
Hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh phát triển cung cấp các dịch vụtín dụng đến cấp xã, về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu tiền mặt, tiền gửi, cho vayphục vụ nhu cầu của các thành phần kinh tế, phát triển các loại hình dịch vụtiền tệ
2.1.3 Đặc điểm về con người và trình độ dân trí
2.1.3.1 Con người
Theo niên giám thống kê tỉnh Điện Biên năm 2009, dân số toàn tỉnh là
615.620 người, chiếm 5,5% dân số vùng Trung du miền núi Bắc Bộ và chiếm0,7% dân số cả nước Tốc độ tăng trưởng dân số giai đoạn 2005-2009 là1,41%/năm, giảm 0,42%/năm so với giai đoạn 2000-2005 (1,83%/năm)
2.1.3.2 Dân trí
Năm học 2007-2008 toàn tỉnh có 372 trường với 6.220 lớp và136.384 học sinh Đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề: Qui mô học sinhđầu năm học 2007-2008 của 3 trường chuyện nghiệp là 3.645 học viên (chỉtính hệ chính quy)
Năm 2007 đã cấp bằng tốt nghiệp cho 1.470 sinh viên Đào tạo nghề: 3
cơ sở đào tạo nghề đã đào tạo được 4.424 học viên, trong đó đào tạo hệ dài
Trang 212.2 THỰC HIỆN VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI HỘI NÔNG DÂN TRONG THỰC HIỆN XÓA ĐÓI NGHÈO Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY
2.2.1 Những kết quả đã đạt được và nguyên nhân
2.2.1.1 Những kết quả đã đạt được
Đảng bộ Điện Biên luôn quan tâm đến Hội nông dân thông qua việc đề
ra đường lối, chủ trương, nghị quyết, chuyên đề: Đảng luôn chú trọng nângcao vai trò lãnh đạo, định hướng Trước hết đầu tư cho hạ tầng nông nghiệpnông thôn ở các huyện xã trong tỉnh như các công trình kênh mương, đường
xá, hồ chứa nước, ; Khắc phục sự manh mún trong sản xuất, xây dựng cácvùng chuyên canh rau quả…; Tập trung nâng cao chất lượng dạy nghề chonông dân, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp; Xâydựng phát triển mô hình nông thôn mới, văn minh, hiện đại
Đề ra chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn như là đadạng hóa hoạt động sản xuất nông thôn Bên cạnh sản xuất nông nghiệp làchính Đảng bộ chú trọng đến các lĩnh vực khác như thủ công nghiệp, dịchvụ…khuyến khích phát triển các ngành nghề truyền thống
- Đảng bộ tỉnh sát sao trong việc tổ chức Đại hội nông dân các cấp saocho đạt hiệu quả cao nhất: Đảng bộ tỉnh dự Đại hội nông dân các cấp đồngthời tham gia đóng góp ý kiến xây dựng phương hướng phát triển cho các giaiđoạn tiếp theo phù hợp với từng địa phương
- Cấp ủy Đảng chú trọng công tác cán bộ: đào tạo, quy hoach, bố trí, sửdụng đến việc thực hiện chính sách cán bộ ở tất cả các cấp
- Coi trọng phát huy vai trò của Hội nông dân trong việc tham gia ýkiến vào các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà Nước liên quan đếnnông dân, nông nghệp và nông thôn
Trang 22- Hướng dẫn Hội nông dân cấp cơ sở thực hiện tốt chức năng giám sát,phản biện xã hội đối với việc thực hiện các chính sách xã hội như: hỗ trợngười nghèo ăn tết, vấn đề bức xúc của nông dân trong các lĩnh vực đất đai,đền bù giải phóng mặt bằng; các khoản thu theo đầu sào, đầu khẩu; ô nhiễmmôi trường ở nông thôn; quản lý nhà nước về giá và chất lượng các mặt hàngcông nghiệp phục vụ nông nghiệp, về tiêu thụ nông sản phẩm thông qua hợpđồng của các doanh nghiệp với nông dân; về tình trạng thiếu việc làm, tệ nạn
xã hội xâm nhập cộng đồng các cấp Hội đã phản ánh và được các cấp, cácngành quan tâm giải quyết thấu tình, đạt lý đã làm tăng thêm niềm tin củanông dân vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền địa phương
- Tạo điều kiện phối hợp giữa Hội nông dân với các tổ chức chính trị xãhội khác hoạt động có hiệu quả Cấp Hội đã chủ động phối hợp với các ngànhchức năng tạo nguồn vốn cho nông dân vay phát triển sản xuất như vốn Ngânhàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội vớitổng số tiền trên 750 tỷ đồng giúp 71.024 lượt hộ vay; Hội đã liên kết với cácdoanh nghiệp để cung ứng hàng chục ngàn tấn giống, phân bón, vật tư nôngnghiệp theo phương thức chậm trả cho nông dân, theo một chu kỳ sản xuất,nông dân không phải chịu lãi suất, doanh nghiệp cam kết về chất lượng sảnphẩm, giá cả phù hợp; Tạo môi trường thi đua phát triển kinh tế với Hội phụ
nữ, thi đua thành tích với các ban ngành đoàn thể…
-Đảng chỉ đạo đẩy nhanh việc tuyên truyền phổ biến kiến thức nôngnghiệp, đưa khoa học kĩ thuật hiện đại vào sản xuất thông qua các bài giảngkiến thức trong lĩnh vực nông nghiệp
-Hội chủ động tổ chức cho nông dân thăm quan học tập các mô hình kinh
tế trong và ngoài tỉnh, tổng kết thực tiễn, nhân điển hình tiên tiến, biểu dương,tôn vinh những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi
Trang 23-Nhận thức và tổ chức thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng ởcác cấp ngành, trong những năm qua Hội nông dân Điện Biên đã thu đượcnhững thành tich nhất định, đổi mới diện mạo nông thôn và tiến những bước
đi mới trong việc nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho ngườinông dân
Hội nghị tổng kết 05 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch số05/2008/NQLT – HND - BNN giữa Hội nông dân Việt Nam và Bộ Nôngnghiệp &PTNT về việc hỗ trợ nông dân phát triển nông nghiệp và xây dựngnông thôn mới giai đoạn 2009 -2013 đưa kết quả như sau:
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được sau 5 năm thực hiện Nghị quyếtliên tịch giữa Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn giai đoạn 2009 - 2013 và Thông báo số 3717/TB-BNN-
VP ngày 21/7/2013 về ý kiến kết luận tại buổi làm việc của Bộ trưởng BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn với Chủ tịch Trung ương Hội Nông dânViệt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Trung ương Hội Nôngdân Việt Nam về việc hỗ trợ nông dân phát triển nông nghiệp và xây dựngnông thôn mới giai đoạn 2009 -2013 đưa kết quả như sau:
- Hội nông dân đã tổ chức khoảng 940 lớp chuyển giao Khoa học kỹthuật cho khoảng 46.800 lượt hội viên, nông dân;
- Phối hợp thực hiện có hiệu quả các Đề án hỗ trợ sản xuất nông nghiệphàng hóa giai đoạn 2009-2013; các chương trình mục tiêu quốc gia về giảmnghèo, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trên địa bàn tỉnh, vv…Cáchoạt động đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần đưa 4.421 hộ nông dânđạt thu nhập trên 50 triệu đồng/năm
- Công tác tuyên truyền và phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ
đã có những chuyển biến tích cực; trong 5 năm đã phối hợp tổ chức được 57lớp tập huấn kỹ thuật với khoảng 980 lượt người tham dự về nội dung hướng