1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang

123 506 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 785,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu

Trang 1

NGUYỄN VIỆT DŨNG

NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ VÀ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

NGUYỄN VIỆT DŨNG

NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA LÃNH ĐẠO CẤP CƠ SỞ VÀ NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

TẠI HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

Ngành: Phát triển nông thôn

Mã số: 60 62 01 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG VĂN SƠN

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ học hàm, học vị nào

Tôi xin cam đoan: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 30 tháng 8 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các tổ chức và các cá nhân Tôi xin bầy tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn này

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Quản lý và đào tạo sau đại học của nhà trường, khoa kinh

tế phát triển nông thôn cùng các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo, PGS.TS Dương Văn Sơn, người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo huyện Yên Sơn; Ban quản lý xây dựng nông thôn mới huyện; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, cùng các phòng, ban, ngành khác của huyện; lãnh đạo các xã Kim Phú, Chân Sơn, Trung Môn là xã tôi đang công tác thuộc huyện Yên Sơn đã giúp đỡ tôi

về thông tin, số liệu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn Nhân dịp này, tôi cũng xin được bày tỏ lời cám ơn đến 3 sinh viên lớp KTNN khóa 43 của Khoa Kinh tế & PTNT đã cùng tôi tham gia thu thập số liệu tại các xã nghiên cứu

Thái Nguyên, ngày 30 tháng 8 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Dũng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Ý nghĩa của đề tài 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.1.1 Khái niệm phát triển nông thôn 5

1.1.2 Mô hình phát triển nông thôn mới 6

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 8

1.2.1 Sự cần thiết của chương trình xây dựng nông thôn mới 8

1.2.2 Căn cứ pháp lý xây dựng nông thôn mới 9

1.2.3 Vai trò của lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới 11

1.3 Cơ sở thực tiễn 17

1.3.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới của một số nước điển hình trên thế giới 17

1.3.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng, địa điểm và phạm vi nghiên cứu 29

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 29

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 29

2.2 Nội dung nghiên cứu 30

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu 30

Trang 6

2.2.2 Vai trò, nhận thức, hiểu biết của lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng

nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 30

2.2.3 Khó khăn, thuận lợi và giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới huyện Yên Sơn 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 30

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 30

2.3.2 Phương pháp xử lý thông tin 33

2.3.3 Phương pháp phân tích 34

2.4 Hệ thống chỉ tiêu phân tích 34

2.4.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình chung 34

2.4.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh vai trò cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới 35

2.4.3 Các nhóm chỉ tiêu nghiên cứu sự huy động nguồn vốn (tiền, ngày công) 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Mô tả địa bàn nghiên cứu có liên quan đến xây dựng nông thôn mới 37

3.1.1 Huyện Yên Sơn 37

3.1.2 Khái quát chung 3 xã điểm nghiên cứu 38

3.2 Vai trò, nhận thức của lãnh đạo cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới 42

3.2.1 Vai trò lãnh đạo cơ sở trong xây dựng nông thôn mới 42

3.2.2 Vai trò và hiểu biết của người dân trong xây dựng nông thôn mới 45

3.2.3 Sự hiểu biết của người dân về chủ trương chính sách xây dựng nông thôn mới 50

3.2.4 Sự trao đổi thông tin của lãnh đạo cấp cơ sở với các hộ dân về chương trình xây dựng nông thôn mới 56

3.3 Vai trò đóng góp của người dân trong xây dựng nông thôn mới 60

3.3.1 Tuyên truyền vận động xây dựng nông thôn mới 60

3.3.2 Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới 63

3.3.3 Vai trò của người dân tham gia giám sát xây dựng nông thôn mới 68

3.3.4 Vai trò của người dân trong việc tham gia công tác quản lý tài sản chung của thôn 69

Trang 7

3.3.5 Vai trò của người dân được thể hiện qua đóng góp của họ trong xây dựng nông

thôn mới 71

3.3.6 Đánh giá của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới 76

3.4 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới 80

3.4.1 Thuận lợi 80

3.4.2 Khó khăn 81

3.4.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

1 Kết luận 90

2 Kiến nghị 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 8

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

BCH : Ban chấp hành HĐND : Hội đồng nhân dân LHPN : Liên hiệp phụ nữ MTQG : Mục tiêu quốc gia NTM : Nông thôn mới TNCS HCM : Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh UBMTTQ : Ủy ban mặt trận tổ quốc

XNTM : Xí nghiệp thương mại

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Hộ điều tra theo xã và phân loại kinh tế hộ 46

Bảng 3.2 Hộ điều tra theo nghề nghiệp 47

Bảng 3.3 Một số thông tin chung về hộ điều tra 48

Bảng 3.4 Hiểu biết của hộ về xây dựng nông thôn mới ở địa phương 52

Bảng 3.5 Hiểu biết của người dân về NTM qua các kênh thông tin 54

Bảng 3.6 Trao đổi thông tin của hộ về XD NTM với cán bộ lãnh đạo cơ sở 57

Bảng 3.7 Đánh giá của hộ dân về sự cần thiết trong xây dựng nông thôn mới 59

Bảng 3.8 Tuyên truyền vận động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới 61

Bảng 3.9 Các hình thức tuyên truyền xây dựng nông thôn mới 63

Bảng 3.10 Lý do tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới 64

Bảng 3.11 Mức độ tham gia ý kiến của người dân trong xây dựng nông thôn mới 66 Bảng 3.12 Ý thức của người dân tham gia xây dựng nông thôn mới 67

Bảng 3.13 Vai trò của người dân tham gia giám sát xây dựng nông thôn mới 68

Bảng 3.14 Vai trò của người dân trong quản lý tài sản chung của thôn 69

Bảng 3.15 Hình thức đóng góp trong xây dựng nông thôn mới 71

Bảng 3.16 Đóng góp bằng tiền mặt xây dựng nông thôn mới 72

Bảng 3.17 Đóng góp xây dựng nông thôn mới bằng tiền mặt theo nghề nghiệp của hộ 73

Bảng 3.18 Đóng góp bằng ngày công theo nghề nghiệp chủ hộ 74

Bảng 3.19 Đóng góp của các hộ dân trong xây dựng nông thôn mớibằng ngày công theo các xã nghiên cứu 75

Bảng 3.20 Đánh giá của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới 78

Bảng 3.21 Khó khăn khi xây dựng nông thôn mới 81

Bảng 3.22 Khó khăn về lao động 83

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp Nước ta hiện nay vẫn là một nước nông nghiệp với hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn Phát triển nông nghiệp nông thôn đã, đang

và sẽ là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế

xã hội đất nước Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác

định mục tiêu xây dựng nông thôn mới là: “Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”

Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung Ương lần thứ Bảy (khóa X)

ra Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách tổng quát

về mục tiêu, nhiệm vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước Quan điểm đó của Đảng là sự kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm lịch sử về phát huy sức mạnh toàn dân, huy động mọi nguồn lực để tạo ra sức mạnh tổng hợp xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới để thực hiện cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển

Trang 11

Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp;

cơ giới hoá chưa đồng bộ Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao

Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục…); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch

Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần 3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa

Thực hiện đường lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây dựng nông thôn mới đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trên cả nước, thu hút sự tham gia của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của cả xã hội Quá trình xây dựng nông thôn mới đã đạt được thành tựu khá toàn diện Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội cơ bản đảm bảo, tạo sự thuận lợi trong giao lưu buôn, bán và phát triển sản xuất Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề, đã xuất hiện nhiều mô hình kinh tế có hiệu quả gắn với xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập và đời sống vật chất tinh thần cho người dân Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường; Dân chủ cơ sở được phát huy; An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; Vị thế của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo

cơ sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Trang 12

Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng nông thôn mới còn bộc lộ nhiều khó khăn hạn chế, nhất là về công tác quy hoạch Quy hoạch nông thôn mới là một vấn đề mới, liên quan đến nhiều lĩnh vực và phải mang tính chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế về năng lực, nên trong quá trình triển khai còn nhiều lúng túng Bên cạnh đó chúng ta còn gặp khó khăn về huy động nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới Đời sống của người dân nông thôn còn nhiều khó khăn Mặt khác, trong nhận thức nhiều người còn cho rằng xây dựng nông thôn mới

là dự án do nhà nước đầu tư xây dựng nên còn có sự trông chờ và ỷ lại

Tại tỉnh Tuyên Quang, để thực hiện chương trình nông thôn mới, tỉnh Tuyên Quang đã thành lập các tổ chức quản lý, giúp việc thực hiện Chương trình từ tỉnh đến thôn, bản Từ tỉnh đến huyện và xã có Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới các cấp và bộ phận giúp việc; ở xã có Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới xã; ở thôn có tiểu Ban phát triển thôn Bộ máy quản lý, thực hiện Chương trình đã hoạt động tương đối tốt

Tỉnh đã tổ chức tập huấn cho cán bộ các cấp từ tỉnh đến thôn, bản về một số nội dung cơ bản của Chương trình trước khi đánh giá hiện trạng nông thôn, lập đề

án và quy hoạch nông thôn mới Phát động phong trào thi đua Tuyên Quang chung sức xây dựng nông thôn mới và ban hành kế hoạch thực hiện phong trào

Trong quá trình tổ chức thực hiện đến nay Tuyên Quang đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ Tuyên Quang là tỉnh trong nhóm đứng đầu cả nước về xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong công tác nghiên cứu, tổng kết, đánh giá để đưa ra những giải pháp tốt phục vụ cho công tác tổ chức, chỉ đạo và thực hiện do đó dẫn đến kết quả chưa cao Xuất phát từ những yêu cầu về phát triển nông thôn mới và tình hình trên,

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh

đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Yên Sơn,

tỉnh Tuyên Quang”

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá vai trò của cán bộ cấp cơ sở và người dân trong xây dụng nông thôn mới tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Trên cơ sở đó đề xuất biện pháp để nâng cao vai trò của lãnh đạo và người dân trong việc xây dựng nông thôn mới tại

huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá vai trò, nhận thức và hiểu biết của lãnh đạo cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới;

- Đánh giá vai trò và đóng góp của người dân trong xây dựng nông thôn mới

- Đánh giá khó khăn, thuận lợi và đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả trong xây dựng nông thôn mới

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập nghiên cứu khoa học

- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này

- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu

- Là tài liệu cho những độc giả quan tâm đến sự đánh giá vai trò lãnh đạo cấp

cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới

Kết quả đề tài làm cơ sở cho cấc cấp ủy, chính quyền địa phương, các nhà đầu tư ra quyết định mới, hướng đi mới để thực hiện thành công chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Nông thôn được coi là khu vực địa lý nơi đó là sinh kế cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp

Khi đưa khái niệm về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với thành thị Có quan điểm cho rằng khi xem xét nông thôn đúng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư ở nông thôn thấp hơn so với thành thị Ý kiến khác lại cho rằng, dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị Một quan điểm khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của dân cư nông thôn trong vùng là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp [5]

Hiện nay trên thế giới chưa thống nhất định nghĩa về nông thôn Có nhiều quan

điểm khác nhau Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam có thể hiểu: “ Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [2]

Còn theo một số tác giả: Nông thôn là một phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị của các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp quản lý hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã

1.1.1 Khái niệm phát triển nông thôn

Khác với phát triển kinh tế, phát triển nông thôn là chỉ sự phát triển ở khu vực nông thôn Cụ thể hiểu rằng phát triển nông thôn chỉ sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi hẹp hơn phát triển và phát triển kinh tế Sau đấy là một số quan điểm về phát triển nông thôn [5]

Phát triển nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững

về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của dân

Trang 15

cư nông thôn Phát triển nông thôn là những thay đổi cần thiết ở vùng nông thôn Tuy nhiên, những gì coi là cần thì lại khác nhau ở từng nước, từng vùng, từng địa phương; theo quan điểm thông thường, bản chất của phát triển là tăng trưởng và hiện đại hóa mang lại cho người nghèo chút lợi nho nhỏ Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm phát triển đời sống kinh tế và xã hội của một nhóm người riêng biệt, người nghèo ở nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong những người nghèo nhất, trong những người đang tìm

kế sinh nhai ở các vùng nông thôn Nhóm này gồm những tiểu nông, tá điền và những người không có đất Phát triển nông thôn bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững

và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn Sự phát triển đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên mà vẫn bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn Phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, không để lại hậu quả cho thế hệ tương lai

Từ các quan điểm trên có thể hiểu: Phát triển nông thôn là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời sống của người dân nông thôn một cách bền vững

về kinh tế - xã hội, văn hoá, môi trường và ổn định chính trị Quá trình này, trước hết là do nỗ lực từ chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác [8]

1.1.2 Mô hình phát triển nông thôn mới

Mô hình nông thôn mới gần đây không còn là tên gọi mới đối với nước ta Mô hình phát triển nông thôn mới đã góp phần quan trọng trong việc phát triển và cải thiện nông thôn nước ta Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao của người dân nông thôn, yêu cầu phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa theo tinh thần Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 49/2001/CT-BNN/CS ngày 27/4/2001 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về

việc “Xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới”, nhằm định hướng rõ trong chỉ

Trang 16

đạo thực hiện Việc xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới là một quá trình chuyển đổi căn bản chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam từ hướng cung sang hướng vào nhu cầu thị trường và xã hội Đồng thời đảm bảo sự tham gia tối đa

của người dân vào quá trình phát triển theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân đóng góp, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi” Đây là cơ sở để

phát huy nội lực, hướng vào xây dựng tính bền vững cho việc phát triển [1]

Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí

Theo các nhà nghiên cứu thì mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người dân Nhìn chung mô hình nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa Mô hình nông thôn mới là tập hợp các hoạt động qua lại để cụ thể hoá các chương trình phát triển nông thôn, mô hình nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm về tài chính, nhân lực, phương tiện, vật tư thiết bị để tạo

ra các sản phẩm hay dịch vụ trong một thời gian xác định và thỏa mãn các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất đáp ứng yêu cầu phát triển, đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường, đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tiến bộ hơn so với mô hình

cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước [5]

Từ các quan điểm trên có thể hiểu: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”

Trang 17

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài

1.2.1 Sự cần thiết của chương trình xây dựng nông thôn mới

Ngày nay việc phát triển nông thôn không còn là việc riêng của các nước đang phát triển mà còn sự quan tâm của cộng đồng thế giới Việt Nam là một nước

đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, nông thôn lại càng có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển đất nước Nông thôn là nơi sản xuất lương thực, thực phẩm cho nhu cầu cơ bản của nhân dân, cung cấp nông sản nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu

Nông thôn là nơi cung cấp nguồn nhân lực dồi dào cho xã hội, chiếm trên 70,3% lao động xã hội Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nông nghiệp chuyển dần sang làm công nghiệp, dịch vụ, chuyển dần lao động nông thôn vào các khu đô thị và các khu chế xuất công nghiệp Nông thôn chiếm 69,4% dân số

cả nước Đó là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, nông thôn phát triển cho phép nâng cao đời sống và thu nhập của dân cư, tạo ra điều kiện

mở rộng thị trường để phát triển sản xuất trong cả nước

Nông thôn Việt Nam có trên 50 dân tộc khác nhau sinh sống bao gồm nhiều thành phần, nhiều tầng lớp có các tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau, là nền tảng quan trọng để đảm bảo ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, để tăng cường sự đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn của đất nước có điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khác nhau Đó là tiềm lực to lớn

về tài nguyên đất đai, khoáng sản để phát triển bền vững

Mặt khác, do kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, ) còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ, nhiều hạng mục công trình

đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hóa thấp, giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư, hệ thống thủy lợi cần được đầu tư nâng cấp; Chất lượng lưới điện nông thôn chưa được sự an toàn; cơ sở về giáo dục, y tế, văn hóa còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở ủy ban nhân dân xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng đạt chuẩn Quốc gia rất khó khăn dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển

Trang 18

Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp;

cơ giới hóa chưa đồng bộ

Do thu nhập của người dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới ở địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo còn thấp; tỷ lệ

hộ nghèo còn cao

Do đời sống tinh thần của người dân còn hạn chế, nhiều nét văn hóa truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, tập quán, ); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chủ yếu tự phát, chưa theo quy hoạch

Do yêu cầu của sự công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần 3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kĩ thuật Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa

Tuy nhiên, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp

Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khổ, việc phát triển nông thôn là hết sức cần thiết cho nước ta hiện nay [10]

1.2.2 Căn cứ pháp lý xây dựng nông thôn mới

- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã đề ra nhiệm vụ: “Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh” [7]

- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã đề ra chủ trương xây dựng nông thôn mới vừa phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân nói

Trang 19

chung, phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân sống nông thôn nói riêng, đồng thời nhằm khắc phục những mặt yếu kém trên

Nghị quyết đã xác định rõ mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp

lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” [6]

Nội dung chính của xây dựng nông thôn mới được xác định là: (1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; (2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; (3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; (4) Giảm nghèo và an sinh xã hội; (5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; (6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn; (7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe của cư dân nông thôn; (8) Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; (9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; (10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; (11) Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

- Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới và Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới [11]

- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020

- Quyết định 193/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình rà soát xây dựng nông thôn mới

- Kế hoạch số 435/KH-BCDDNTM ngày 20/9/2010 của Ban chỉ đạo Trung ương chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới về triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020

Trang 20

- Nghị quyết 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

- Quyết định số 695/QĐ-TTg, ngày 8/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;

- Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày 16/7/2009 của UBND tỉnh về ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 08 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh;

- Thông báo số 06/TB/BCĐ ngày 18/3/2010 của Ban chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng thí điểm nông thôn mới tỉnh

- Căn cứ Quyết định số : 736/QĐ - UBND ngày 12/12/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Yên sơn; Quyết định về việc phê duyệt, quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới tại xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang;

- Căn cứ Quyết định số : 714/QĐ - UBND ngày 12/12/2011 của Ủy ban nhân dân huyện Yên sơn; Quyết định về việc phê duyệt, đề án quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Giai đoạn 2011-2020;

- Căn cứ vào việc triển khai đề án quy hoạch, xây dựng nông thôn mới tại xã giai đoạn 2011-2020 Kế hoạch xây dựng nông thôn mới xã Trung Môn đến năm

2015 Định hướng đến năm 2020;

- Nghị quyết số 10/2010/NQ-HĐND ngày 22/7/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh

về cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;

- Nghị quyết số 12/2014/NQ-HĐND ngày 22/7/2014 của Hội đồng nhân dân tỉnh về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất hàng hoá đối với một số cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;

1.2.3 Vai trò của lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong việc tham gia xây dựng

mô hình nông thôn mới

1.2.3.1 Vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới

Là cái đích của nhiều hoạt động, trong đó cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở là tác nhân quan trọng, nó là yếu tố hợp thành hoạt động phát triển nông thôn như: Văn

Trang 21

hóa, giáo dục, thị trường, tín dụng, chính sách, Đồng thời giúp nông dân “xóa đói giảm nghèo tiến lên khá và giàu” Phần lớn hộ nông dân nghèo là do thiếu kiến thức

kĩ thuật để áp dụng vào sản xuất mà người cán bộ có nhiệm vụ truyền bá kiến thức,

kỹ thuật, kinh nghiệm vào sản xuất, nâng cao dân trí từ đó thúc đẩy sản xuất

Các cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở là những tổ chức giúp Nhà nước thực hiện các chính sách, chiến lược về phát triển nông lâm nghiệp, nông thôn và nông dân Vận động nông dân tiếp thu và thực hiện các chính sách về nông, lâm nghiệp trực tiếp góp phần cung cấp thông tin về những nhu cầu, nguyện vọng của nông dân đến cơ quan nhà nước, trên cơ sở đó nhà nước hoạch định cải tiến đề ra được những chính sách phù hợp

Tổ chức các hoạt động tuyên truyền vận động để mọi người dân nhận thức sâu sắc về mục tiêu, quy mô, nội dung, phương pháp và cách làm để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, hiểu rõ vai trò của cộng đồng dân cư ở nông thôn là chủ thể xây dựng nông thôn mới tại địa phương Thông qua đó phát huy vai trò, tạo sức lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng lòng, chung sức xây dựng nông thôn mới

- Góp phần liên kết nông dân, thúc đẩy hợp tác nông dân với việc đổi mới quản lý trong nông nghiệp, giao đất, giao rừng cho từng hộ dân có ưu điểm cơ bản

là khắc phục được sự ỷ lại, dựa dẫm vào nhau hạn chế được tiêu cực khác phát sinh

ở nông thôn

1.2.3.2 Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng nông thôn mới

Trong chiến lược phát triển cộng đồng "sự tham gia của quần chúng" là yếu

tố chủ yếu, nó là một trong những thành tố chính của phát triển cộng đồng trong thời gian gần đây vì những lý do:

Một là: Sự tham gia của quần chúng là phương tiện hữu hiệu để huy động tài

nguyên địa phương, tổ chức và tận dụng năng lực sự khôn ngoan, tính sáng tạo của quần chúng vào các hoạt động phát triển

Hai là: Nó giúp xác định nhu cầu tiền khởi của cộng đồng và giúp tiến hành

những hoạt động phát triển để đáp ứng những nhu cầu này Quan trọng hơn cả là sự

Trang 22

tham gia của quần chúng cho dự án hay hoạt động được công nhận, khuyến khích người dân tham gia thực hiện và đảm bảo khả năng bền vững Kinh nghiệm gần đây trong những hoạt động phát triển cho thấy rằng có một mối liên hệ quan trọng giữa mức độ và cường độ tham gia của người dân với sự thành công của những hoạt động phát triển

Sự tham gia tích cực của người dân mặc dù được xem là một thành tố chủ yếu trong phát triển, vẫn bị chi phối bởi những điều kiện của bối cảnh diễn ra hoạt động phát triển Hơn nữa, mức độ tham gia khác nhau tuỳ theo tính chất của dự án phát triển Ở hầu hết các nước, sự tham gia của người dân vào phát triển diễn ra từ mức độ cao cho tới chỗ chỉ tham gia một cách hình thức Mức độ tham gia khác nhau tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình phát triển, phong cách quản lý, mức độ nâng cao quyền lực và bối cảnh văn hoá xã hội của đất nước hay cộng đồng Khả năng vận động người dân, các tổ chức xã hội tham gia và năng lực để tham gia của nhóm đối tượng cũng là những yếu tố quyết định [27]

Người dân tham gia vào các chương trình, dự án phát triển nông thôn qua một số hình thức sau:

- Có quyền được biết một cách tường tận, rõ ràng những gì có liên quan mật thiết và trực tiếp đến đời sống của họ

- Được tham dự các buổi họp, tự do phát biểu, trình bày ý kiến, quan điểm và thảo luận các vấn đề của cộng đồng

- Được cùng quyết định, chọn lựa các giải pháp hay xác định các vấn đề ưu tiên của cộng đồng

- Có trách nhiệm cùng mọi người đóng góp công sức, tiền của để thực hiện các hoạt động mang tính lợi ích chung

- Người dân cùng được lập kế hoạch dự án và quản lý, điều hành, kiểm tra giám sát, đánh giá các chương trình dự án phát triển cộng đồng

Sự quyết định và tự quản của người dân được đánh giá ở mức độ cao bởi lẽ

nó thể hiện tăng năng lực, quyền lực của người dân Mang tính bền vững vì người dân thể hiện vai trò làm chủ với trách nhiệm cao của mình [9]

Trang 23

Người dân thường tham gia các chương trình, dự án phát triển nông thôn với mức độ:

- Không có sự tham gia:

+ Cán bộ điều khiển: Người dân làm và thực hiện theo ý của cán bộ, không được hiểu rõ Như người dân bị gọi đi làm công ích, đóng góp tiền cho một hoạt động nào đó mà không được biết, không được thảo luận

+ Tham gia mang tính hình thức: Cán bộ cũng có gọi dân đến, cho dân phát biểu ý kiến nhưng chỉ có lệ, mọi việc cán bộ quyết theo ý mình

- Tham gia ít:

+ Người dân được thông báo và giao nhiệm vụ: Người dân được thông báo, hiểu rõ những việc mà cán bộ muốn họ tham gia, sau đó người dân đóng góp công sức hay tiền của theo khả năng của mình

+ Người dân được hỏi ý kiến: Kế hoạch công tác do cán bộ thiết kế và quản

lý, người dân được mời tham gia thảo luận, hỏi lấy ý kiến, cán bộ lắng nghe nghiêm

túc, sau đó cán bộ điều chỉnh kế hoạch (nếu cần thiết) cho phù hợp với dân rồi cùng

thực hiện

- Tham gia thực sự:

+ Cán bộ khởi xướng, người dân cùng tham gia lấy ý kiến quyết định: Cán bộ

là người khởi xướng, có ý tưởng Người dân chủ động tham gia cùng cán bộ trong các khâu lập kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện

+ Người dân khởi xướng và cùng cán bộ ra quyết định: Người dân khởi xướng, lập

kế hoạch, cán bộ cùng dân quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện

+ Người dân khởi xướng, quyết định chọn các phương án và có sự hỗ trợ của cán bộ: Người dân khởi xướng, lập kế hoạch, quyết định chọn các phương án và tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát Cán bộ đóng vai trò khi người dân cần

+ Người dân tự lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, cán bộ hỗ trợ khi cần thiết Các

mức độ tham gia này có thể minh hoạ phương thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm" với các bước dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra cộng thêm bước xuất

phát là dân nhận từ nhà nước và bước cuối cùng là dân tự quyết nên chọn nhận những gì [4], [26]

Trang 24

1.2.3.3 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới

Sự tham gia của người dân vào việc xây dựng mô hình nông thôn mới được coi như nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm mô hình Các nội dung trong vai trò của người dân vào việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu là:

Sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội tại địa phương vào việc xây dựng mô hình nông thôn mới được coi là nhân tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới Khi tham gia phát triển xóm, làng với sự hỗ trợ của Nhà nước, người dân tại các cộng đồng dân cư nông thôn sẽ từng bước được tăng cường kỹ năng, năng lực về quản lý nhằm tận dụng triệt

để các nguồn lực tại chỗ và bên ngoài Khi xem xét quá trình tham gia của người dân

và các tổ chức xã hội trong các hoạt động trong phát triển xóm làng, vai trò của người

dân ở đây được thể hiện: “Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi” [16]

Như vậy, vai trò của người dân vẫn theo một trật tự nhất định, các trật tự ở đây

hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Đảng ta “lấy dân làm gốc”

Các nội dung trong nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình nông thôn mới được hiểu:

- Dân biết: Quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân về những kiến

thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết

kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; Người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ cộng đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi

- Dân bàn: Sự tham gia ý kiến của người dân liên quan đến kế hoạch phát

triển sản xuất, liên quan đến các giải pháp, mọi hoạt động của nông dân trên địa bàn

Trang 25

như: bàn luận mở ra một hướng sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản lý tài chính,… trong nội bộ cộng đồng dân cư hưởng lợi

- Dân làm: Là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào các hoạt động

phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm và những công việc liên quan đến

tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đó đã tạo cơ hội cho người dân

có việc làm, tăng thu nhập cho người dân

- Dân đóng góp: Là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc, công

sức mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ

- Dân kiểm tra: Thông qua các chương trình, hoạt động có sự giám sát và đánh

giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trên các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính

- Dân quản lý: Các thành quả của các hoạt động mà người dân đã tham gia; các

công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc

tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ

và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình

Trang 26

- Dân hưởng lợi: Là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên cần chia

ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ, áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng,… Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động

đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập[15], [16]

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới của một số nước điển hình trên thế giới

Phát triển nông thôn với việc nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn m ớ i là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát Triển kinh tế, bình ổn xã hội, nhằm đạt đến sự phát triển bền vững cho mỗi quốc gia Tuy nhiên mỗi quốc gia có một quốc sách phát triển để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nước mình

1.3.1.1 Mô hình nông thôn mới ở Hàn Quốc

Hàn Quốc xây dựng nông thôn mới trên cơ sở về các ý tưởng trụ cột, mục tiêu và nguyên tắc của phong trào Cụ thể là: Ba ý tưởng trụ cột: Chăm chỉ-Tự lực vượt khó khăn - Hợp tác Bốn mục tiêu chính: (1) Tăng thu nhập cho nông dân, (2) Cải thiện môi trường sống, (3) Nâng cấp kết cấu hạ tầng, và (4) Khuyến khích phát triển đời sống tinh thần và quan hệ xã hội ở nông thôn Ba nguyên tắc: (1) Từ thấp đến cao, (2) Từ thí điểm trên diện hẹp đưa ra toàn quốc, và (3) Từ nông nghiệp lan sang các lĩnh vực khác

Từng làng quy hoạch khu dân cư, được sự tham gia góp ý của dân làng (Bầu

ra 1 Ban lãnh đạo, độc lập với chính quyền ở làng; trong đó có 1 nam, 1 nữ chỉ huy, những người này không hưởng 1 quyền lợi nào) và họ đổi công cho nhau để thực thi, có 1 ít hỗ trợ của chính quyền tùy kết quả tranh đua giữa những hộ trong làng và làng này với làng kia

Trang 27

(1) Phong trào được bắt đầu từ những việc dễ: Ban đầu phong trào đổi mới nông thôn Hàn Quốc đưa ra 10 nội dung như sau: Mở rộng,làm mới đường vào thôn xóm;

Mở rộng, làm mới đường trong thôn; Làm vệ sinh thôn xóm; Xây dựng khu giặt giũ chung; Đào giếng nước chung; Cải tạo mái nhà từ lợp rạ thành mái ngói, xi măng; Cải tạo hàng rào quanh nhà từ tường đất thành tường xây gạch, xi măng; Sửa cầu; Sửa hệ thống đập sông ngòi và xây dựng điểm thu gom phân bắc;

Kết quả là sau 1 năm, 16.600 xã được cải thiện rõ rệt do biết tranh thủ sự hỗ trợ của Chính phủ và vận động sự tham gia tích cực của người dân, làm nên thành công bước đầu;

Sang năm thứ 2, chỉ 16.600 xã có thành tích tốt được tôn vinh, khen thưởng

và được Chính phủ tiếp tục hỗ trợ 500 bao xi măng và 1 tấn thép cho mỗi xã Phấn khởi và tự tin, các xã này tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng và bắt đầu đi vào các dự

án tăng thu nhập Cách thức này tạo nên không khí cạnh tranh sôi nổi trong nông thôn cả nước,là yếu tố thúc đẩy đáng kể tới phong trào

(2) Lan rộng phong trào: Thành công của phong trào ở nông thôn đã lan tới các vùng không làm nông nghiệp như: các công sở, trường học, nhà máy với nhiều lĩnh vực khác nhau Các thành phố bắt đầu các dự án chống tham nhũng và xây dựng 1 đô thị hoàn hảo Ba chiến dịch được phát động là: Chiến dịch tinh thần, cư

xử và môi trường

- Chiến dịch tinh thần: Nhằm xây dựng mối quan hệ thân thiện với láng giềng, kế thừa và phát huy những truyền thống dân tộc dựa trên lòng hiếu thảo và nâng cao ý thức cộng đồng;

- Chiến dịch cư xử: Nhấn mạnh tới trật tự công cộng trên đường phố, cách ứng xử tích cực trong làng xóm và công sở, hành vi nơi công cộng và cấm say rượu dẫn tới cư xử không đúng đắn;

- Chiến dịch môi trường: Tập trung vào vấn đề giữ gìn vệ sinh khu vực sinh sống và làm việc, giữ gìn môi trường đô thị và phát triển màu xanh thành phố, làm sạch các con sông;

Ba chiến dịch này hướng tới mục tiêu là tạo sự thống nhất và kỷ cương, giúp cho sự phát triển của xã hội một cách hài hòa [3]

Trang 28

1.3.1.2 Mô hình nông thôn mới ở Nhật Bản

Giai đoạn 1: Từ năm 1956 đến năm 1962, giai đoạn đầu của quá trình xây dựng

nông thôn mới ở Nhật Bản, đất ruộng với quy mô nhỏ được sắp xếp và điều chỉnh lại, không những nâng cao được sản lượng nông nghiệp, mà còn đặt nền móng cho việc áp dụng cơ giới hóa trên quy mô lớn trong nông nghiệp Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản, trong 7 năm thúc đẩy công cuộc xây dựng nông thôn mới, tổng giá trị sản lượng của nông nghiệp Nhật Bản tăng từ 1.661,7 tỷ Yên năm 1955 lên 2.438,1 tỷ Yên năm 1962, biên độ tăng đạt 46,7%, trung bình lợi nhuận ròng của mỗi hộ nông dân cũng tăng 47%

Giai đoạn 2: Từ giữa thập kỷ 60 đến giữa thập kỷ 70 Nhờ có chính sách

đúng đắn và nguồn vốn đầu tư mạnh từ Chính phủ, giai đoạn 2 của công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Nhật Bản đã đạt được kết quả rõ rệt Tiến trình HĐH nông nghiệp và nông thôn được đẩy mạnh, năng suất nông nghiệp được nâng cao rõ rệt, thu nhập của người nông dân tăng nhanh Theo thống kê, trong giai đoạn 2 xây dựng nông thôn mới kéo dài 13 năm, tổng sản lượng nông nghiệp tăng từ 4.166,1 tỷ Yên năm 1967 lên 11.564 tỷ Yên, biên độ tăng đạt 177,6% Năm 1979, thu nhập bình quân của hộ nông dân đạt 5,333 triệu Yên, cao hơn 12,7% so với các gia đình làm công ăn lương ở thành phố

Giai đoạn 3: Từ giữa thập kỷ 70 đến cuối thập kỷ 80

Qua hơn 20 năm xây dựng, phong trào xây dựng làng xã của Nhật Bản đã khiến bộ mặt nông thôn của đất nước này thay đổi rõ rệt, thể hiện ở một số mặt sau:

Một là: Xóa bỏ khoảng cách giữa thành thị và nông thôn Xét về kết cấu hạ

tầng của hoạt động sản xuất và đời sống dân cư, nông thôn và thành thị không có gì khác biệt

Hai là: Tăng thu nhập cho người nông dân, thu nhập bình quân của hộ gia

đình đạt 5,5 triệu Yên, tương đương 44 nghìn USD, trong đó tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp chiếm 86%

Ba là: Mở ra thị trường nông thôn cho sản phẩm phi nông nghiệp, kích thích

hoạt động tiêu dùng ở nông thôn phát triển theo hướng đa dạng

Trang 29

Giai đoạn 4: Sau thập kỷ 90 Trong giai đoạn này, Chính phủ Nhật Bản tiếp

tục hạ thấp giá thành và tăng sức cạnh tranh quốc tế cho các sản phẩm nông nghiệp Chính phủ Nhật Bản lần lượt đưa ra các đạo luật hỗ trợ nông nghiệp Luật Lương thực mới thông qua năm 1995 và được sửa đổi cho phù hợp với những quy tắc của WTO và thị trường nông nghiệp thế giới [4]

1.3.1.3 Mô hình xây dựng nông thôn mới ở Thái Lan

Hiện nay người ta đang thực hiện các chính sách xây dựng và phát triển nông thôn một cách thiết thực như sau:

Thứ nhất là: Chính sách trợ giá nông sản Ở Thái Lan đang thực hiện trợ giá

cho nông dân trên các lĩnh vực nông sản.Thái Lan cũng có hỗ trợ về giá cho nông dân trồng 05 loại cây chủ lực là sầu riêng, nhãn, vải, măng cụt và chôm chôm Thực hiện tốt chính sách hổ trợ này chính phủ Thái Lan đưa các chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá

cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới

Thứ hai là: Chính sách công nghiệp nông thôn Thái Lan vốn là nước nông

nghiệp truyền thống với số dân nông thôn chiếm khoảng 80% Do vậy, công nghiệp nông thôn được coi là nhân tố quan trọng giúp cho Thái Lan nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân Công nghiệp chế biến thực phẩm Thái Lan phát triển mạnh nhờ một số chính sách sau:

- Chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp với mục đích nâng cao chất lượng các mặt hàng nông sản gạo, dứa, tôm sú, cà phê bằng một chương trình

“Mỗi làng một sản phẩm” (One tambon, One product - OTOP) tức là mỗi ngày làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao Bên cạnh chương trình trên chính phủ Thái Lan cũng thực hiện chương trình “Quỹ Làng” (Village Fund Progam) nghĩa là mỗi làng sẽ nhận được một triệu baht từ chính phủ để cho dân làng vay mượn Trên thực tế đã có trên 75.000 ngôi làng ở Thái Lan được nhận khoản vay này

- Chính sách đảm bảo vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm Để thực hiện chính sách chính phủ Thái Lan đã phát động chương trình: “Thái Lan là bếp ăn của thế

Trang 30

giới” với mục đích khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có những hành động thiết thực có hiệu quả để kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm đảm bảo cho xuất khẩu và người tiêu dùng

Thứ ba là: Mở cửa thị trường thích hợp để thu hút đầu tư mạnh mẽ của nước

ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm Ở đây chính phủ

Thái Lan đã có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ [5]

1.3.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm

1.3.2.1 Tình hình nông thôn mới ở Việt Nam

Sau 4 năm thực hiện, chương trình thí điểm mô hình nông thôn mới đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng Mô hình nông thôn mới theo 19 tiêu chí đã được hình thành, khẳng định việc lấy xã làm địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo Bộ tiêu chí nông thôn mới là phù hợp [13]

Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới được thực hiện tại

11 xã, gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường (Nam Định), Thuỵ Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam), Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hoà (Kiên Giang) Mục tiêu của chương trình nhằm thử nghiệm các nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế, chính sách, xác định trách nhiệm và mối quan hệ chỉ đạo giữa các cấp trong việc xây dựng nông thôn mới; hình thành các mô hình trên thực tiễn về nông thôn mới để rút kinh nghiệm triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới trên diện rộng

Theo kết quả đánh giá của các địa phương, đến nay đã có 9 xã Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường (Nam Định), Thuỵ Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam), Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) công bố đạt đủ 19 tiêu chí nông thôn mới, riêng 02 xã Thanh Chăn (Điện Biên), Định Hòa (Kiên Giang)

Trang 31

chưa đạt chuẩn Ban chỉ đạo tỉnh Kiên Giang đang nỗ lực chỉ đạo để các xã này về đích trong Quí I, năm 2015 Riêng xã Thanh Chăn thì chưa thể về đích năm 2015

do xuất phát điểm rất thấp và nhiều tiêu chí chưa đạt, nhất là tiêu chí về an ninh

trật tự Nếu căn cứ trên các tiêu chí sửa đổi ban hành theo Quyết định

342/QĐ-TTg thì số xã đạt 19/19 tiêu chí đạt khoảng 10/11 xã Xã còn lại đều đạt từ 16 - 18 tiêu chí Một số xã đạt được mô hình tốt ở một số mặt như: quy hoạch và thực hiện tốt quy hoạch ở Hải Đường; phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập ở Mỹ Long Nam; huy động nguồn lực ở Thanh Chăn và Định Hoà; phát triển sản xuất gắn với quy hoạch đồng ruộng và cơ sở hạ tầng ở Tam Phước; phong trào cải tạo điều kiện sống của các hộ dân cư ở Tân Thịnh; liên kết sản xuất giữa nông dân với doanh nghiệp ở Thụy Hương, Tân Hội; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn

ở Tân Thông Hội, Tân Lập [12], [21] Ngoài các xã điểm của Trung ương ra các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã xây dựng mô hình điển của địa phương

gồm 785 xã đạt chuẩn (8,8%), 1.285 xã (14,5 %) đạt từ 15 đến 18 tiêu chí, 2.836

xã (32,1 %) đạt từ 10 đến 14 tiêu chí, 2.964 xã (33,6 %) đạt từ 5 đến 9 tiêu chí,

945 xã (11%) đạt dưới 5 tiêu chí và không còn xã trắng tiêu chí Bình quân mỗi xã

đạt 10 tiêu chí, tăng 5,38 tiêu chí/xã so với năm 2010

Cấp huyện: Đã có 02 đơn vị cấp huyện (Xuân Lộc, Long Khánh) của tỉnh Đồng Nai được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới Đã có

05 huyện và 01 thành phố có tờ trình, đang chờ thẩm định là: huyện Đông Triều,

thành phố Uông Bí (tỉnh Quảng Ninh); huyện Củ Chi, Nhà Bè (Thành phố Hồ Chí Minh); huyện Đan Phượng (Thành phố Hà Nội); huyện Hải Hậu (tỉnh Nam Định)

Hiện các mô hình này là những điểm thực tiễn được các địa phương khác đến tham quan và học tập Phát triển sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ môi trường được xác định là nội dung trọng tâm đặc biệt quan trọng của chương trình và được đẩy mạnh triển khai Đến nay, mỗi xã đã có ít nhất

3 - 5 dự án, điểm trình diễn về sản xuất nông nghiệp được thực hiện Ngoài sản xuất tập trung theo các dự án, hầu hết các xã đã tăng nguồn vốn hỗ trợ nông dân thông qua chương trình khuyến nông, khuyến công, đặc biệt là vốn tín dụng để hình thành các mô

Trang 32

hình, dự án sản xuất có hiệu quả kinh tế Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong xây dựng nông thôn mới đã có nhiều hình thức đa dạng hơn, thu hút người dân tham gia nhiều hơn Xây dựng nông thôn mới đã được cán bộ, nhân dân ở cơ sở phấn khởi đón nhận, các xã điểm đã tổ chức để người dân đóng góp ý kiến vào đề án quy hoạch và bản kế hoạch xây dựng nông thôn mới của xã, tham gia bàn bạc, lựa chọn công trình xây dựng hoặc các công việc nào cần làm trước, làm sau Từ thực tiễn triển khai ở 11 xã điểm đã giúp cho Ban chỉ đạo Trung ương, các Bộ, ngành, địa phương rút ra những bài học về mô hình, phương thức, cách thức triển khai thực hiện Từ đó, tiến hành điều chỉnh Bộ tiêu chí Quốc gia Nông thôn mới, ban hành Thông tư hướng dẫn sử dụng ngân sách cấp xã, quy chế quản lý và lồng ghép các nguồn vốn, cơ chế đặc thù về quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển, làm cơ sở để thực hiện trên toàn quốc [22]

1.3.2.2 Khó khăn trong xây dựng nông thôn mới

Nguồn lực huy động từ Trung ương đến địa phương trong việc đầu tư nguồn kinh phí cho các xã tiến hành xây dựng nông thôn mới còn hạn hẹp, chủ yếu là huy động từ sự đóng góp của nhân dân nên tiến độ xây dựng nông thôn mới ở địa phương cơ sở các xã còn chậm và gặp khó khăn nhất định sau:

- Khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng xây dựng đường giao thông

bê tông nông thôn, do dự án mang tính vận động hiến đất có nơi công trình đã xây dựng không tháo rỡ được, có nơi người dân có nơi chưa thực sự nhiệt huyết với chương trình xây dựng nông thôn mới

- Huy động nguồn vốn nhiều khu vực điều kiện của người dân chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho việc đóng góp xây dựng

- Thu nhập và điều kiện sống của nhân dân còn thấp, gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện xây dựng nông thôn mới

- Nguồn vốn đầu tư từ trung ương đến địa phương còn hạn hẹp, chưa thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư của các tổ chức phi chính phủ, các nguồn vốn đầu tư

từ bên ngoài, các doanh nghiệp trên địa bàn

- Một số người dân chưa nhận thức rõ, chưa thực sự hiểu về chương trình xây dựng nông thôn mới

Trang 33

- Nhà văn hóa (Nhà cộng đồng) của các thôn, xóm xây dựng lâu đã xuống cấp chưa huy động được nguồn vốn xây dựng lại, có những thôn chưa có nhà văn hóa do chưa có quỹ đất để xây dựng

- Nguồn nước sạch có những khu vực chưa đảm bảo do ô nhiễm môi trường của nghĩa trang, nghĩa địa, kho thuốc DDT của y tế dự phòng do những năm chiến tranh để lại ngấm xuống lòng đất, khu vực này xã khu đô thị chưa đầu tư được nguồn nức máy

- Một số tuyến đường của các thôn chưa được cứng hóa do mật độ dân cư sống thưa thớt, tuyến đường dài, kinh phí đầu tư lớn nhân dân không đủ khả năng

để thực hiện xây dựng

- Một số tiêu chí chưa phù hợp ở địa phương như ba công trình vệ sinh và chuồng trại nhỏ lẻ của các hộ ở nông thôn khoảng cách giữa công trình với nhà ở quá xã diện tích của các hộ hẹp khó thực hiện

- Thu nhập đầu người còn thấp do cơ cấu ngành và lao động việc làm

- Việc sử lý rác thải ở khu vực nông thôn còn gặp khó khăn, chưa thu gom được rác thải rắn khó tiêu, gây ô nhiễm môi trường

1.3.2.3 Một số bài học kinh nghiệm trong xây dựng nông thôn mới

- Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động giáo dục, thuyết phục để đội ngũ cán bộ đảng viên và nhân dân tại địa phương nhận thức rõ và thấy được tầm quan trọng để xây dựng nông thôn mới, đây là một chương trình lớn mang tính tổng hợp về tinh kế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, do đó đòi hỏi phải có

sự vào cuộc đồng bộ, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị Từ đó hiểu rõ nội dung, cách làm, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng tổ chức và cá nhân trong xây dựng nông thôn mới Coi trọng và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân

cư, của người dân, tạo sự tin tưởng, phấn khởi, tích cực tham gia hưởng ứng của nhân dân Để xóa bỏ tư tưởng trông chờ Nhà nước, cần có sự phân công đăng ký nhiệm vụ đối với từng tổ chức, từng ngành, tăng cường kiểm tra đôn đốc, đánh giá phân loại vào thi đua khen thưởng

Trang 34

- Các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức đoàn thể phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, có trọng tâm, trọng điểm, chủ động, linh hoạt và động viên, khích lệ kịp thời

- Thực hiện nghiêm túc các hướng dẫn của trên thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo, Ban quản lý từ xã đến thôn Xây dựng nội quy, quy chế hoạt động, phân công rõ trách nhiệm cho từng bộ phận, từng thành viên, phân cấp, quản lý, cụ thể, rõ ràng, không để tình trạng né tránh, tập trung lãnh đạo với phương châm “dễ làm trước khó làm sau” không nóng vội, càng không để mất cơ hội

- Trong quá trình triển khai cần thực hiện biện pháp lồng ghép và đồng

bộ các chương trình, dự án lồng ghép giữa phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa xã hội và môi trường thực hiện theo qui hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới

- Phát huy tốt quy chế dân chủ công khai, minh bạch, thực hiện tốt công tác kiểm tra giám sát, kịp thời chấn chỉnh, điều chỉnh, uốn nắn những lệch lạc tạo niềm tin cho quần chúng nhân dân

- Thực hiện trước chủ trương xã hội hóa, huy động các nguồn lực trong cộng đồng dân cư, con em thành đạt xa quê và các doanh nghiệp có tiềm lực và tâm huyết với nông thôn, khai thác các nguồn thu tại địa phương “Lấy sức dân để lo cho dân” tạo nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng thuộc nhóm không có hỗ trợ của nhà nước

1.3.2.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi với 7 huyện, thành phố (Na Hang, Chiêm Hóa, Lâm Bình, Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương) và thành phố Tuyên Quang bao gồm 134 xã, 7 phường; địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều dẫy núi cao và sông suối, đặc biệt ở phía Bắc tỉnh, về địa hình thấp dần, ít bị chia cắt hơn, có nhiều đồi núi và thung lũng chạy dọc theo các sông ở phía Nam của tỉnh Với điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi như vậy, lãnh đạo tỉnh đã tập trung chỉ đạo công tác lập

Trang 35

quy hoạch, cố gắng triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, xây dựng và thực hiện các đề án, dự án, kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn, vận dụng sáng tạo các chính sách hỗ trợ của trung ương, đồng thời ban hành một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn,… Việc triển khai nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 7 đã mang lại kết quả khá khả quan trọng phát

triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh. Tỉnh ủy Tuyên Quang đã tập trung chỉ đạo các cấp, ngành, các địa phương trong tỉnh triển khai các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng về chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh phát triển đảng viên, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, tỉnh còn ban hành chính sách hỗ trợ thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao về hỗ trợ cán bộ công chức, viên chức đi đào tạo nâng cao trình độ; hàng năm tổ chức rà soát chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, lập kế hoạch

và cử đi đào tạo, bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu, chức trách, nhiệm vụ được giao

Tỉnh ủy cũng đã tập trung chỉ đạo xây dựng, thực hiện các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; chỉ đạo hoàn thành việc xây dựng, rà soát, bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch về nông, lâm nghiệp, giao thông, môi trường, đất đai Nhiều chính sách định hướng, hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn được tỉnh ban hành, như: Chính sách hỗ trợ các dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong vùng sản xuất hàng hóa tập trung; khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề;

hỗ trợ thu hút nguồn nhân lực; cơ chế, chính sách về bê tông hóa đường giao thông nông thôn; thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; làm nhà cho gia đình chính sách; hỗ trợ 3 công trình vệ sinh ở nông thôn; khuyến khích đầu tư, Các chính sách này không chỉ giúp các hộ nông dân nâng cao thu nhập, mà còn là bước đi trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh

Sau gần 5 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, với tổng nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên 3.880 tỷ đồng, tỉnh đã có 8/30 chỉ tiêu đạt và vượt mục tiêu đến năm 2020 Đó là các chỉ tiêu

Trang 36

về sản lượng lương thực, độ che phủ rừng, xã có điện lưới, xã phủ sóng điện thoại

di động, có điểm phục vụ bưu chính viễn thông,…

Hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn cũng được quan tâm đầu tư, nhất là về giao thông, thủy lợi, nước sạch, hệ thống lưới điện và hệ thống thông tin, khiến cho bộ mặt nông thôn ngày càng có nhiều đổi mới Hệ thống điện, đường, trường, trạm ngày một hoàn thiện, tỷ lệ thôn, bản có đường từ đến trung tâm đạt hơn 99%,

bê tông hóa được 1.500 km đường giao thông nông thôn, đạt hơn 70% so với kế hoạch giai đoạn 2011 - 2015 Với 324 công trình thủy lợi được tu sửa, nâng cấp và 162,6 km kênh mương được kiên cố hóa đã bảo đảm nước tưới cho hơn 80% diện tích gieo cấy, tăng 2,3% so năm 2010 Hạ tầng lưới điện, thông tin có bước phát triển, 100% xã có điện lưới, 96% thôn bản có điện lưới quốc gia và hơn 95% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% số xã trên địa bàn tỉnh được phủ sóng điện thoại di động và có điểm phục vụ bưu chính viễn thông, điểm kết nối in-tơ-nét Vấn

đề văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường cũng được quan tâm thích đáng, nhờ vậy, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân được nâng lên rõ rệt Cụ thể, việc quy hoạch, xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở đã được chính quyền các cấp quan tâm triển khai thực hiện

Hiện nay, toàn tỉnh có 111 nhà văn hóa xã, phường, thị trấn; có 1.669 nhà văn hóa thôn bản, tổ dân phố, phục vụ sinh hoạt văn hóa trong cộng đồng thôn bản Toàn tỉnh hiện có 79 chợ nông thôn (tăng 18 chợ so với năm 2010) và theo dự kiến, đến hết năm 2014 có 23 chợ đạt tiêu chí nông thôn mới Hệ thống trường học được đầu tư, nâng cấp Trong 5 năm, toàn tỉnh đã xây dựng 1.138 phòng học các cấp, 1.018 gian nhỏ công vụ, với tổng số vốn đầu tư là 468,974 tỷ đồng, đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc trong tỉnh

Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, nhân dân trong hầu hết các huyện đã tích cực đóng góp tiền, công lao động làm đường bê từng nông thôn, tích cực tham gia các phong trào, hoạt động thiết thực như xây dựng gia đình văn hóa, thôn, bản văn hóa; giữ gìn vệ sinh đường làng, ngõ xóm; thi đua lao động sản xuất, vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng Cho đến nay, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh

Trang 37

giảm xuống còn 22,63% Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc gắn với phát triển du lịch được chú trọng Đặc biệt, Lễ hội Lồng tồng và hát Then của người Tày Tuyên Quang được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đã góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân

Bên cạnh những kết quả trên, hệ thống chính trị ở các huyện, xã của tỉnh cũng được củng cố và tăng cường, dân chủ cơ sở được phát huy, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội nhìn chung được giữ vững Điều đáng mừng là từ các cấp ủy, đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân đã có những chuyển biến trong nhận thức về vai trò của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Để đạt được những kết quả này, công tác tuyên truyền được xem là bước khởi đầu mang tính quyết định đến thành công của chương trình, tỉnh đến hết tháng 6/2014, các cơ quan tuyên truyền đã xây dựng được 36 chuyên đề, 24 tạp chí, hơn 50 bài viết, gần 130 tin, ảnh tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới Các địa phương đã

tổ chức trên 500 hội nghị, dựng hơn 1.000 pa nô, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới; tổ chức biên tập và phát sóng hàng trăm tin, bài, chuyên mục và phát sóng định kỳ trên các đài truyền thanh địa phương

Cùng với công tác tuyên truyền vận động, công tác đào tạo, tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới từ tỉnh đến cơ sở được tỉnh quan tâm thực hiện Đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức được trên 170 lớp tập huấn nâng cao năng lực cho trên 14.500 lượt học viên là cán bộ các cấp Nội dung các chuyên đề tập huấn phù hợp với thực tiễn và yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở địa phương trong từng giai đoạn

Với những kết quả đã đạt được, tỉnh Tuyên Quang đặt mục tiêu đến năm

2015 phấn đấu có ít nhất 7 xã (mỗi huyện, thành phố có 1 xã) đạt chuẩn nông thôn mới

Trang 38

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự nhận thức cùng với động cơ, thái độ, hành vi của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở (gồm cán bộ lãnh đạo xã, thôn) và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại một số xã trên địa bàn nghiên cứu thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tại 3 xã Chân Sơn, xã Kim Phú và xã Trung Môn thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, 03 xã nằm giáp danh và cùng một cụm phía trung của huyện Yên Sơn

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu

* Về nội dung:

- Đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân, những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự hiểu biết, nhận thức, trách nhiệm về việc tham gia của người dân trong các hoạt động xây dựng mô hình nông thôn mới

- Đánh giá được sự tham gia, đóng góp phát huy quyền dân chủ của người dân trong các mô hình phát triển nông thôn mới tại ba xã trên huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang từ khi có mô hình nông thôn mới, thông qua đó, đề xuất giải pháp cho thời gian tới

* Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại ba xã Chân Sơn, Kim Phú và xã

Trung Môn thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

* Về thời gian: Đề tài nghiên cứu vai trò lãnh đạo cấp cơ sở và sự tham gia

của người dân trong việc xây dựng nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu từ khi có

mô hình nông thôn mới

Trang 39

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu

- Huyện Yên Sơn

- Các xã nghiên cứu: Chân Sơn, Kim Phú và Trung Môn

2.2.2 Vai trò, nhận thức, hiểu biết của lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

- Vai trò của lãnh đạo cấp xã trong xây dựng nông thôn mới

- Vai trò hiểu biết của người dân trong xây dựng nông thôn mới

- Sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch và công tác quy hoạch xây dựng mô hình nông thôn mới;

- Sự tham gia của người dân trong công tác huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới;

- Sự tham gia của người dân trong công tác giám sát xây dựng mô hình nông thôn mới;

- Đánh giá của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới

2.2.3 Khó khăn, thuận lợi và giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới huyện Yên Sơn

- Khó khăn và thuận lợi của lãnh đạo cấp sở trong chỉ đạo, lãnh đạo, tổ chức

thực hiện xây dựng nông thôn mới

- Giải pháp để nâng cao hiệu quả trong xây dựng nông thôn mới của huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin

2.3.1.1 Tiếp cận nghiên cứu

- Tiếp cận hệ thống: Sử dụng tiếp cận hệ thống để nghiên cứu một cách bài bản, đầy đủ và toàn diện các nội dung nghiên cứu

- Tiếp cận vĩ mô: Sử dụng tiếp cận vĩ mô để thu thập các thông tin số liệu ở tầm tổng thể, bao quát trên phạm vi huyện, xã, hoặc thu thập thông tin qua khảo sát

ở cấp sở, ban, ngành liên quan đến nông thôn mới

Trang 40

- Tiếp cận vi mô: Sử dụng tiếp cận này để nghiên cứu một cách chi tiết, chuyên sâu các thông tin số liệu thu thập ở cấp độ nông hộ liên quan đến nông

thôn mới

2.3.1.2 Thu thập thông tin thứ cấp

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng ta sử dụng hệ thống các phương pháp thống kê để tiến hành các hoạt động điều tra thu thập số liệu, các số liệu thu thập từ các tài liệu đó công bố như: niên giám thống kê của các cấp chính quyền, số liệu tổng hợp điều tra nông nghiệp, nông thôn, các tài liệu, báo cáo của các cơ quan Trung ương và các cấp chính quyền ở địa phương nơi nghiên cứu Ngoài ra, các báo cáo khoa học, tạp chí chuyên ngành nông nghiệp, nông thôn, mạng Internet, được

sử dụng làm nguồn tài liệu thu thập cho quá trình nghiên cứu

Thu thập số liệu đã công bố phải đảm bảo được độ tin cậy của số liệu, nguồn cung cấp số liệu phải có căn cứ pháp lý hoặc có cơ sở khoa học

Trong luận văn này, số liệu công bố cần thu thập các chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, của các xã thực hiện đề tài và của huyện Yên Sơn

Các số liệu có liên quan đến chương trình nông thôn mới của Trung ương và địa phương

Các báo cáo khoa học và kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả được công bố trên sách báo, tạp chí chuyên ngành được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo

Thu thập số liệu trong các báo cáo kết quả thực hiện hàng năm của các xã, của huyện Yên Sơn và tỉnh Tuyên Quang

2.3.1.3 Thu thập thông tin sơ cấp

Là phương pháp thu thập các thông tin, số liệu chưa từng được công bố ở bất

kỳ tài liệu nào, người thu thập có được thông qua tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp khác nhau như: Phương pháp quan sát trực tiếp, điều tra bảng hỏi

Trong phạm vi đề tài này, thu thập số liệu sơ cấp được thực hiện qua các phương pháp như:

Ngày đăng: 07/06/2016, 16:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hoàng Chí Bảo (2002) “Vai trò của cơ sở và sự cần thiết phải đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của cơ sở và sự cần thiết phải đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2002
7. Bộ NN & PTNT (2005), “Chương trình phát triển nông thôn làng xã mới giai đoạn 2006 - 2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triển nông thôn làng xã mới giai đoạn 2006 - 2010
Tác giả: Bộ NN & PTNT
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
8. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, Nguyễn Thị Tuyết Lan, Nguyễn Trọng Đắc (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển nông thôn
Tác giả: Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, Nguyễn Thị Tuyết Lan, Nguyễn Trọng Đắc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2005
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Hàn Quốc và một thập kỷ làm mới nông thôn http://danviet.vn/4420p1c34/han-quoc-va-mot-thap-ky-lam-moi-nong-thon.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Quốc và một thập kỷ làm mới nông thôn
13. Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Văn Tâm (2007), Bài giảng nguyên lý phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng nguyên lý phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Văn Tâm
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Năm: 2007
15. Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đồng, Phạm Bích Hợp (2009) Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn mới, kết hợp truyền thống làng xã Việt Nam với văn minh thời đại, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn mới, kết hợp truyền thống làng xã Việt Nam với văn minh thời đại
Tác giả: Vũ Trọng Khải, Đỗ Thái Đồng, Phạm Bích Hợp
Nhà XB: TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2009
16. Kinh nghiệm Việt Nam, Kinh nghiệm Trung Quốc (2009) “Về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
17. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới http://giongvtnncongnghecao.com.vn/Tin-Tuc/946_781/Kinh-nghiem-xay-dung-nong-thon-moi-o-mot-so-nuoc-tren-the-gioi.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
19. Nhìn lại mô hình “Nông thôn m ới” củ a Hàn Quốc http://blog.yume.vn/ xem-blog/nhin- lai-mo-hinh-nong-thon-moi-cua-han-quoc.manh4vn.35CB4FA5.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn mới
21. Thủ tướng Chính Phủ, Quyết định số 491/QĐ - TTg này 16/04/2009 của Thủ tướng Chính Phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới kèm theo B ộ tiêu chí qu ố c gia v ề nông thôn m ớ i g ồ m 19 tiêu chí áp d ụ ng riêng cho từng vùng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 491/QĐ - TTg
Tác giả: Thủ tướng Chính Phủ
Năm: 2009
22. Trung tâm thông tin NN&PTNT - Bộ Nông nghiệp và PTNT (2002), phát tri ể n nông nghi ệ p b ằ ng phong trào nông thôn m ớ i (Saemaul) ở Hàn Qu ố c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phát tri ể n nông nghi ệ p b ằ ng phong trào nông thôn m ớ i (Saemaul) ở Hàn Qu ố c
Tác giả: Trung tâm thông tin NN&PTNT - Bộ Nông nghiệp và PTNT
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
23. Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (2007) “Báo cáo tổng hợp về điều tra, nghiên cứu và đề xuất xây dựng mô hình PTNT cấp huyện ở từng vùng”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp về điều tra, nghiên cứu và đề xuất xây dựng mô hình PTNT cấp huyện ở từng vùng
Tác giả: Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
24. Viện Quy hoạch và KTNN (2007) Dự án “Chiến lược phát triển các điểm dân cư nông thôn tới năm 2020”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án “Chiến lược phát triển các điểm dân cư nông thôn tới năm 2020”
Tác giả: Viện Quy hoạch và KTNN
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
31. Mobilization Management Unit - Khushhalibank, Handbook of Social Mobilization Tools for KB Operations Manual Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of Social Mobilization Tools for KB Operations Manual
Tác giả: Mobilization Management Unit - Khushhalibank
11. Đời sống người dân ở xã nông thôn mới phải giàu có http://vovnews.vn/Home/Doi-song-nguoi-dan-o-xa-nong-thon-moi-phai-giau-co/20113/168568.vov Link
28. Xây dựng nông thôn mới: Sự tham gia của người dân đóng vai trò chủ đạo:http://www.baomoi.com/Home/ThoiSu/kinhtenongthon.com.vn/Xay-dung-nong-thon-moi-Su-tham-gia-cua-nguoi-dan-dong-vai-tro-chu-dao/4482812.epi Link
29. Xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=14350349&News_ID=17758384II. Tiếng Anh Link
1. B áo cáo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của ba xã Chân Sơn, Trung Môn và Kim Phú Khác
3. Báo cáo Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2013; phương hướng, nhiệm vụ năm 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Sơ đồ lãnh đạo cơ sở trong  xây dựng nông thôn mới - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Hình 3.1. Sơ đồ lãnh đạo cơ sở trong xây dựng nông thôn mới (Trang 54)
Bảng 3.4. Hiểu biết của hộ về xây dựng nông thôn mới ở địa phương - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.4. Hiểu biết của hộ về xây dựng nông thôn mới ở địa phương (Trang 61)
Bảng 3.5. Hiểu biết của người dân về NTM qua các kênh thông tin - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.5. Hiểu biết của người dân về NTM qua các kênh thông tin (Trang 63)
Bảng 3.10. Lý do tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.10. Lý do tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới (Trang 73)
Bảng 3.11. Mức độ tham gia ý kiến của người dân - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.11. Mức độ tham gia ý kiến của người dân (Trang 75)
Bảng 3.12. Ý thức của người dân tham gia xây dựng nông thôn mới - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.12. Ý thức của người dân tham gia xây dựng nông thôn mới (Trang 76)
Bảng 3.17. Đóng góp xây dựng nông thôn mới bằng tiền mặt - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.17. Đóng góp xây dựng nông thôn mới bằng tiền mặt (Trang 82)
Bảng 3.20. Đánh giá của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.20. Đánh giá của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới (Trang 87)
Bảng 3.21. Khó khăn khi xây dựng nông thôn mới - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.21. Khó khăn khi xây dựng nông thôn mới (Trang 90)
Bảng 3.22. Khó khăn về lao động - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.22. Khó khăn về lao động (Trang 92)
Bảng 3.9. Tuyên truyền vận động người dân tham gia  xây dựng nông thôn mới - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.9. Tuyên truyền vận động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới (Trang 113)
Bảng 3.13. Ý thức của người dân tham gia xây dựng nông thôn mới - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.13. Ý thức của người dân tham gia xây dựng nông thôn mới (Trang 114)
Bảng 3.14. Vai trò của người dân tham gia giám sát xây dựng nông thôn mới - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.14. Vai trò của người dân tham gia giám sát xây dựng nông thôn mới (Trang 114)
Bảng 3.21. Đánh giá của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.21. Đánh giá của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới (Trang 116)
Bảng 3.22. Khó khăn khi xây dựng nông thôn mới - Nghiên cứu, phân tích vai trò của cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở và người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang
Bảng 3.22. Khó khăn khi xây dựng nông thôn mới (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w