1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện yên sơn, tỉnh tuyên quang

105 356 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 735,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn * Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ và nam giới trong phát triển kinh tế hộ nông thôn, nghiên cứu vai trò giới trong hoạt động xã

Trang 1

NGUYỄN THU TRANG

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN SƠN,

TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

NGUYỄN THU TRANG

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA GIỚI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN SƠN,

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi, các số liệu và các kết quả

nghiên cứu được trình bầy trong luận văn này là trung thực và chưa được sử

dụng trong bất cứ Luận văn nào trước đây

Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đã được trích dẫn và

ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được

sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây: Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Ban chủ nhiệm Khoa KT&PTNT cùng các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện về mọi mặt để tôi thực hiện đề tài này Đặc biệt tôi xin cảm ơn TS Bùi Đình Hòa, đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan: Uỷ ban nhân dân huyện Yên Sơn, Ủy ban nhân dân xã Mỹ Bằng; xã Xuân Vân; xã Lực Hành đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực tập để đạt kết quả tốt tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

Cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn của mình Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi

Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, bản thân tôi cũng đã cố gắng, nỗ lực hết mình để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Song sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong được các thầy, cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến chỉ bảo để tôi có thêm cơ hội tiếp thu nâng cao kiến thức chuyên môn của bản thân

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Trang

Trang 5

4 CEDAW Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ

7 CRC Công ước về quyền trẻ em

11 GDI Gender Development Index - Chỉ số phát triển giới

12 HDI Chỉ số phát triển con người

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của luận văn 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lí luận 4

1.1.1 Giới tính và giới 4

1.1.2 Phát triển kinh tế hộ gia đình 11

1.1.3 Giới trong gia đình 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 12

1.2.1 Một số nhận thức và tình hình về bình đẳng giới trên thế giới ngày nay 12

1.2.2 Chủ trương, chính sách của Nhà nước với sự phát triển của bình đẳng giới và nhận thức giới 23

1.2.3 Thực trạng và vai trò của giới trong kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam 25

1.2.4 Vai trò và đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội 26

1.2.5 Giới trong tiếp cận một số vấn đề ở gia đình nông thôn 28

1.2.6 Vai trò giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của gia đình 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng nghiên cứu 32

Trang 7

2.2 Nội dung nghiên cứu 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 32

2.3.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 34

2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 35

2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ 35

2.4.2 Các chỉ tiêu biểu hiện sự đóng góp của hai giới trong kinh tế hộ 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Đặc điểm, tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Tên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 36

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 41

3.2 Giới thiệu sơ lược về 03 xã nghiên cứu 46

3.2.1 Xã Mỹ Bằng 46

3.2.2 Xã Xuân Vân 47

3.2.3 Xã Lực Hành 48

3.3 Đặc điểm của các hộ nghiên cứu 49

3.3.1 Tình hình chung của các hộ nghiên cứu 49

3.3.2 Các yếu tố sản xuất của hộ 52

3.3.3 Các yếu tố tự nhiên 54

3.3.4 Các yếu tố vật chất 56

3.3.5 Các yếu tố tài chính 59

3.3.6 Các yếu tố xã hội 62

3.4 Thực trạng vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang 63

3.4.1 Vai trò của giới trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập 63

3.4.2 Vai trò của giới trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng 66

Trang 8

3.4.3 Vai trò của giới đối với khoa học kỹ thuật và hoạt động xã hội 67

3.4.4 Vai trò của giới trong kiểm soát nguồn lực tài chính 69

3.4.5 Giới và vấn đề tiếp cận thông tin khoa học kỹ thuật 71

3.4.6 Quyền ra quyết định chính trong các hoạt động 72

3.4.7 Sử dụng quỹ thời gian của giới 76

3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình 78

3.5.1 Yếu tố chủ quan 78

3.5.2 Yếu tố khách quan 80

3.6 Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của mỗi giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Sơn 82

3.6.1 Nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề giới 82

3.6.2 Nâng cao trình độ cho giới 82

3.6.3 Lồng ghép giới vào các chính sách, chương trình hành động quốc gia, các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của các cấp, các ngành 83

3.6.4 Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ các cấp trong thực hiện bình đẳng giới 84

3.6.5 Tăng cường sự tham gia của giới trong hoạt động cộng đồng 84

3.6.6 Giải pháp hoạt động khuyến nông và thông tin nông nghiệp đối với nông thôn 85

3.6.7 Hỗ trợ vốn trong phát triển kinh tế hộ gia đình 86

3.6.8 Tăng cường khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực của giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

1 Kết luận 89

2 Kiến nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tình hình phân bố và sử dụng đất đai huyện Yên Sơn qua

3 năm 2012 - 2014 42

Bảng 3.2 Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển KT-XH 44

Bảng 3.3 Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Yên Sơn từ 2012 - 2014 45

Bảng 3.4 Cơ cấu nam, nữ làm chủ hộ tại các xã điều tra 49

Bảng 3.5 Tuổi của chủ hộ điều tra 50

Bảng 3.6 Cơ cấu nhóm hộ theo mức sống dân cư của 3 xã nghiên cứu 51

Bảng 3.7 Tỷ lệ nam, nữ trong các hộ điều tra 51

Bảng 3.8 Bình quân lao động và nhân khẩu của các hộ điều tra 52

Bảng 3.9 Trình độ học vấn của thành viên trong gia đình theo giới tính 53

Bảng 3.10 Bình quân đất đai của các hộ 54

Bảng 3.11 Nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của hộ gia đình 55

Bảng 3.12 Tài sản sinh hoạt của các hộ 56

Bảng 3.13 Phương tiện sản xuất của hộ (Tính bình quân/hộ) 59

Bảng 3.14 Cơ cấu thu nhập từ các hoạt động chính của các hộ 60

Bảng 3.15 Tỷ lệ các hộ có vay vốn 61

Bảng 3.16 Tình hình tham gia của chủ hộ vào các tổ chức, đoàn thể 62

Bảng 3.17 Sự phân công lao động trong hoạt động trồng trọt 64

Bảng 3.18 Đối tượng thực hiện chính trong hoạt động chăn nuôi 65

Bảng 3.19 Vai trò của giới trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng 66

Bảng 3.20 Giới và vấn đề tiếp cận các nguồn thông tin khoa học kỹ thuật 68

Bảng 3.21 Giới tham gia các hoạt động xã hội 69

Bảng 3.22 Tỷ trọng nam, nữ tham gia kiểm soát nguồn lực tài chính 70

Bảng 3.23 Giới và vấn đề tiếp cận các nguồn thông tin khoa học kỹ thuật 71

Bảng 3.24 Tình hình quản lý vốn vay của hộ 73

Bảng 3.25 Quyền ra quyết định chính trong các hoạt động 74

Bảng 3.26 Thời gian lao động sản xuất hàng ngày của giới 76

Bảng 3.27 Thời gian làm nội trợ và nghỉ ngơi hàng ngày phân theo giới 77

Bảng 3.28 Quan điểm của các hộ điều tra về các vấn đề liên quan đến giới 80

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Tỷ trọng phụ nữ là chủ hộ trong gia đình 50

Hình 3.2: Cơ cấu thu nhập từ các hoạt động chính của hộ 60

Hình 3.3: Tỷ lệ nam nữ tham gia các lớp tập huấn nâng cao trình độ,

kiến thức 68

Hình 3.4: Tỷ trọng nam, nữ tham gia quyết định sử dụng nguồn vốn 70

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Vấn đề giới ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Điều này đã được cụ thể hóa trong Luật Bình đẳng giới do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày

29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2007 Xác định đây là một động lực và mục tiêu phát triển của quốc gia nên ngày 24 tháng 12 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020

Nhờ những nỗ lực trên, khoảng cách giữa nam và nữ trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, chính trị, xã hội… đã có nhiều thay đổi và đang dần được thu hẹp Đối tượng là phụ nữ và trẻ em gái đang dần khẳng định vị thế, vai trò to lớn của mình trong đời sống kinh tế - xã hội Theo số liệu thống

kê, tỷ lệ nam giới và phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở mức gần bằng nhau, đối với nữ là 83%, nam là 85%

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc ghi nhận sự đóng góp của hai giới chưa thực sự xứng đáng và phụ nữ vẫn là đối tượng yếu thế hơn về cơ hội việc làm, tiền lương, thu nhập, cơ hội thăng tiến, Đặc biệt, phụ nữ và trẻ em gái nghèo, sống ở vùng sâu, vùng xa, người tàn tật hay dân tộc thiểu số tiếp tục là những đối tượng chịu thiệt thòi Những đóng góp của họ cho xã hội là không nhỏ, vì vậy cần có những chính sách bổ sung chú trọng để giải quyết những vấn đề bất bình đẳng giới đang tồn tại này Phát triển nông nghiệp, nông thôn chỉ có thể đạt được bền vững, công bằng, hiệu quả khi yếu tố giới được đảm bảo

Những câu hỏi lớn trong thực tiễn đã đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu về vai trò giới, nhất là vai trò giới trong phát triển kinh tế hộ đó là:Vai trò của từng giới trong phát triển kinh tế hộ được thể hiện như thế nào? Đâu là

Trang 12

yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của giới đối với sản xuất của hộ?Cần phải có giải pháp gì để thực hiện tốt chủ trương, chính sách bình đẳng giới của Đảng

và nhà nước Xuất phát từ những vấn đề trên tôi đã lựa chọn đề tài: "Nghiên cứu vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang" để làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

* Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ và nam giới trong phát triển kinh tế hộ nông thôn, nghiên cứu vai trò giới trong hoạt động xã hội, tiếp cận thông tin và áp dụng khoa học kỹ thuật mới, đưa ra giải pháp và đề xuất nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ và nam giới phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là vai trò cụ thể của nam giới và nữ giới trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang trong phát triển kinh tế hộ

Trang 13

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn giúp hệ thống lại một cách khoa học các kiến thức đã học, vận dụng linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời giúp tìm hiểu nâng cao kiến thức chuyên môn

Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, cung cấp thêm các cơ sở khoa học giúp cho huyện Yên Sơn xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giới trong các hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Giới tính và giới

1.1.1.1 Khái niệm giới tính và giới

Giới tính và giới thường bị nhầm lẫn với nhau Nhưng thực chất, hai khái niệm này lại khác nhau ở hai phương diện cơ bản đó là: sinh học và xã hội

Giới tính: Chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang

tính toàn cầu và không thay đổi Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền Ví dụ, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XX thì thuộc về nữ giới, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo

ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ; Nam giới có chức năng tạo ra sinh tinh trùng Về mặt sinh học, nữ giới khác với nam giới

Giới: Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, năm 2002 sự khác biệt về xã hội

và quan hệ (quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính

Đối với Việt Nam, Khoa học về Giới xuất hiện vào cuối những năm

1980 với nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về giới và các vấn đề của phụ

nữ Thuật ngữ “Giới” bắt nguồn từ môn nhân khẩu học, nó đề cập đến phân công lao động, vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam

và nữ

Yếu tố “Giới” là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt

sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ, do vậy nó luôn biến đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể

Trang 15

Giới là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, sự khác nhau do

xã hội quyết định, các mối quan hệ do xã hội xác lập Vai trò của giới được xác định bởi các đặc tính xã hội, văn hóa và kinh tế, được nhận thức bởi các thành viên trong xã hội đó Do vậy vai trò của giới có sự biến động và thay đổi qua không gian và thời gian

Giới và giới tính là hai yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau Giới tính là tiền đề sinh học của giới, là dấu hiệu đầu tiên và lâu dài để phân biệt nam, nữ Hiểu rõ vai trò của giới và giới tính trong mối quan hệ qua lại là điều cần thiết

để triển khai sự phân công lao động hợp lý

1.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới

* Đặc điểm về giới:

- Không tự nhiên mà có

- Học được từ gia đình và xã hội

- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)

- Có thể thay đổi được

* Nguồn gốc giới:

- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tùy theo nó

là trai hay gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính

của mình

- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt

về giới cho học sinh Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện

tử, các ngành cần có thể lực tốt Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ

* Sự khác biệt về giới:

Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình Thiên chức của phụ

Trang 16

nữ là làm vợ, làm mẹ nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đó mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới

Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ cứng rắn hơn

về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội

Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau

để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và

cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau

1.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới

* Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát

từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình [1] Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con người Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra từ

vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể

* Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của

phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ Những

Trang 17

lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng [1]

* Bình đẳng giới: là môi trường trong đó cả nữ giới và nam giới được hưởng vị trí ngang nhau, họ có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển quốc gia và được hưởng lợi

từ các kết quả đó [23]

Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:

- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng

- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển

- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống

Bên cạnh quy định về những quyền và nghĩa vụ chung, bình đẳng cho

cả nam và nữ, pháp luật còn xác định những đặc quyền chỉ áp dụng cho phụ

nữ nhằm bù đắp cho phụ nữ những thiệt thòi, đặt họ vào vị trí xuất phát ngang bằng với đàn ông trong các quan hệ xã hội, đảm bảo cho họ có thể tiếp nhận các cơ hội và thụ hưởng các quyền một cách bình đẳng như nam giới Đây là quan điểm bình đẳng giới thực chất [18]

Luật Bình đẳng giới (2007) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [17]

Với một xã hội hiện đại như ngày nay, bình đẳng giới cần phải gắn với quan điểm phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Điều này thể hiện ở việc tôn trọng giá trị nhân phẩm của nam giới cũng như nữ giới trong những đóng góp của họ đối với xã hội và gia đình Đồng thời, cả hai giới đều có trách nhiệm, chia sẻ với nhau trong thực hiện công việc gia đình

và công việc chung của xã hội

Trang 18

Trong xã hội, nếu cả phụ nữ và nam giới cùng được tạo điều kiện để phát huy hết khả năng thực hiện các mong muốn, được tham gia, đóng góp và hưởng thụ các nguồn lực và thành quả trong quá trình phát triển của xã hội, được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống như nhau thì xã hội đó đã đạt được bình đẳng giới Còn ngược lại, nếu những tiêu chí này chưa được xác lập thì chứng tỏ rằng xã hội đó đang tồn tại bất bình đẳng giới

1.1.1.4 Vai trò của giới

Trong cuộc sống, cả nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định Những công việc mà họ đảm nhận được gọi là vai trò giới Các vai trò giới đa dạng (tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh), thay đổi theo thời gian (tương ứng với

sự thay đổi của các điều kiện và hoàn cảnh) và thay đổi theo sự thay đổi trong quan niệm xã hội (tương ứng với việc chấp nhận hoặc không chấp nhận một hành vi ứng xử vai trò nào đó)

* Vai trò giới: Là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở

nam và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi

là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể nào đó Vai trò giới được quyết định bởi các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội

Phụ nữ và nam giới thường có 3 vai trò giới như sau: Vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng

- Vai trò sản xuất: Là các hoạt động mà cả phụ nữ và nam giới đều có

thể tham gia nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần để tạo ra thu nhập hoặc

để tự nuôi sống Đây là những hoạt động tạo ra thu nhập, được trả công Tuy nhiên do những định kiến trong xã hội nên mức độ tham gia của họ không như nhau và giá trị công việc họ làm cũng không được nhìn nhận như nhau

Xã hội coi trọng và đánh giá cao vai trò này

Trang 19

- Vai trò tái sản xuất: Bao gồm các hoạt động tái sản xuất dân số và sức

lao động như sinh con, các công việc chăm sóc gia đình, nuôi dạy và chăm sóc con, nấu ăn, dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc sức khoẻ gia đình… Những hoạt động này tiêu tốn nhiều thời gian nhưng không tạo ra thu nhập, vì vậy mà ít khi được coi là “công việc thực sự”, được làm miễn phí Hầu hết phụ nữ và trẻ gái đóng vai trò và trách nhiệm chính trong các công việc tái sản xuất

- Vai trò cộng đồng: Bao gồm một tổ hợp các sự kiện xã hội và dịch vụ,

các công việc nhằm đảm bảo và duy trì các nguồn lực để sử dụng chung nguồn nước, vệ sinh đường làng ngõ xóm, tham gia lễ hội của làng bản, tham

dự các đám hiếu hỉ… Công việc cộng đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển văn hoá tinh thần của cộng đồng Công việc này có lúc đòi hỏi sự tham gia tình nguyện, tiêu tốn thời gian và không nhìn thấy ngay được Có lúc lại được trả công và có thể nhìn thấy được như thăm hỏi động viên gia đình bị nạn trong thảm họa, thiên tai; giúp đỡ cho những gia đình bị mất nhà ở, huy động cộng đồng đóng góp lương thực, thực phẩm, quần áo để cứu trợ cho người bị nạn…

Cả nam và nữ đều có những đóng góp nhất định thông qua các vai trò trên Tuy nhiên, ở nhiều nơi, việc thể hiện vai trò giữa hai giới còn có sự khác biệt rõ rệt Phụ nữ hầu như đều phải đảm nhiệm vai trò tái sản xuất đồng thời cũng phải tham gia tương đối nhiều vào vai trò sản xuất Gánh nặng công việc gia đình của phụ nữ khiến họ ít có cơ hội tham gia vào các hoạt động cộng đồng Do vậy, nam giới có nhiều thời gian và cơ hội hơn để đảm nhận vai trò cộng đồng và rất ít khi tham gia vào các hoạt động tái sản xuất

Trên thực tế, đặc điểm giới tính là một trong những cơ sở để phân công lao động trong một xã hội nhất định Do đó, khi xem xét vai trò giới chính là xem xét phụ nữ và nam giới trong 3 vai trò: vai trò sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng [16]

Trang 20

1.1.1.5 Định kiến giới

Là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ Nhận thức là những suy nghĩ, những quan niệm về việc nam giới, phụ nữ được hoặc nên, không được hoặc không

nên làm cái gì đó (ví dụ: nội trợ không phải là việc của đàn ông)

Các định kiến giới thường là không đúng, không phản ánh đúng khả năng thực tế của từng người và thường giới hạn những gì mà xã hội cho phép hoặc mong đợi các cá nhân thực hiện

1.1.1.6 Nhạy cảm giới

Nhạy cảm giới là nhận thức được đầy đủ và đúng đắn về các nhu cầu, vai trò, trách nhiệm khác nhau mang tính xã hội của phụ nữ và nam giới nảy sinh từ những đặc điểm sinh học vốn có của họ Đồng thời hiểu được điều này dẫn đến khác biệt giới về khả năng tiếp cận, kiểm soát nguồn lực và mức độ

tham gia, hưởng lợi trong quá trình phát triển của nam và nữ

1.1.1.7 Trách nhiệm giới

Là việc nhận thức được các vấn đề giới, khác biệt giới và nguyên nhân của những khác biệt Từ đó, đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết và khắc phục bất bình đẳng trên cơ sở giới

1.1.1.8 Số liệu có tách biệt giới

Là những thông tin thống kê định lượng phản ánh sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ, trẻ em trai và trẻ em gái trong một vấn đề hoặc lĩnh vực

cụ thể (ở cấp độ cá nhân và được tách biệt theo giới tính)

Ví dụ: Số liệu về tuổi thọ trung bình, tỷ lệ nhập học, số người hút thuốc

lá được phân tách theo nam và nữ

Số liệu tách biệt theo giới tính cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa phụ

nữ và nam giới, trẻ em gái và trẻ em trai trong một hoàn cảnh cụ thể, nhưng không cho biết tại sao lại có sự khác biệt đó

Trang 21

1.1.2 Phát triển kinh tế hộ gia đình

1.1.2.1 Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế

* Phát triển: Là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự

tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống

* Phát triển kinh tế: Có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền

kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội

1.1.2.2 Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân

* Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế nông thôn

Hộ gia đình: có ba tiêu thức chính thường được nói đến khi định nghĩa

khái niệm gia đình:

- Có quan hệ huyết thống

- Cùng cư trú

- Có cơ sở kinh tế chung

* Kinh tế hộ nông dân:

Kinh tế hộ nông dân được phân biệt với các hình thức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường bởi các đặc điểm sau:

- Đất đai: Nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những người sản xuất

có tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai

- Lao động: Lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự đảm nhận

- Tiền vốn: Chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ

Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dư thừa mới bán ra thị trường

1.1.3 Giới trong gia đình

Gia đình là một hình thức tổ chức cơ bản, gắn kết với nhau bởi quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng và giáo dục Trong gia đình chắc chắn luôn tồn tại giới và giới tính, hai phương diện về thể chất và xã hội

Trang 22

Hộ có tư cách là một tế bào kinh tế xã hội, trong đó sự quản lý nguồn lực và ra quyết định là chủ hộ hay chủ gia đình Chủ gia đình thường là người lớn tuổi và là nam giới

Gia đình đóng vai trò cơ bản trong hình thành các mối quan hệ giới và chủ hộ đưa ra hầu hết các quyết định cơ bản trong phạm vi của hộ như có con, nuôi dạy, đi làm, nghỉ ngơi, đầu tư cho tương lai [30]

Sự phân công lao động rõ ràng được dựa vào giới Đàn ông tham gia chủ yếu vào việc ra quyết định và tiến hành các hoạt động sản xuất ở bên ngoài trong khi người phụ nữ chịu trách nhiệm sinh con và công việc nhà

Có thể nhận thấy nam giới có khả năng tập trung cao độ vào một vai trò sản xuất cụ thể cụ thể nào đó trong khi phụ nữ có thể có thể thực hiện tất cả các vai trò một cách đồng thời [6]

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Một số nhận thức và tình hình về bình đẳng giới trên thế giới ngày nay

1.2.1.1 Xu thế bình đẳng giới, vai trò ngày càng tăng của phụ nữ trong tiến trình phát triển

Trong những năm qua, nhất là trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, thế giới đã đạt được những tiến bộ đáng kể về bình đẳng giới Tuy nhiên, sự phân biệt về giới vẫn phổ biến trong mọi mặt của cuộc sống Theo một nhận định của Ngân hàng Thế giới, cho đến nay, không một khu vực nào của các nước đang phát triển, phụ nữ lại có quyền bình đẳng với nam giới về luật pháp, xã hội và kinh tế Khoảng cách về giới vẫn còn rất sâu rộng trong việc tiếp cận

và kiểm soát các nguồn lực, trong các cơ hội kinh tế, quyền lực và tiếng nói chính trị Chính vì những lý do đó, nên bình đẳng giới đã trở thành vấn đề trung tâm của sự phát triển

Trang 23

Có thể thấy rằng, bình đẳng giới- bản thân nó đã là một mục tiêu phát triển, đồng thời cũng là một yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng của một quốc gia Vì vậy, hầu hết các nước trên thế giới đã coi việc nâng cao bình đẳng giới là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển nhằm cho phép tất cả mọi người thoát khỏi cảnh đói nghèo và cải thiện các điều kiện sống Thực tế cho thấy, bất bình đẳng giới làm chậm bước tiến trình phát triển- do

đó, nâng cao bình đẳng giới cần trở thành một phần của bất cứ chiến lược nào

về phát triển bền vững Những bất bình đẳng về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói chính trị thường gây bất lợi cho phụ nữ, mặc dù chúng cũng tác động xấu tới các đối tượng khác trong xã hội và cản trở sự phát triển Theo nhận định của Ngân hàng Thế giới, ngay cả các chính sách phát triển trung tính về giới (hiểu theo nghĩa không có sự phân biệt giới) vẫn có thể tạo ra những kết cục phân biệt về giới Bởi vì những yếu tố như chuẩn mực và định kiến xã hội, cách thức phân công lao động trong gia đình, tiếp cận nguồn lực khác nhau đã cản trở phụ nữ và nam giới, khiến họ không thể tận dụng các cơ hội kinh tế như nhau, cũng như không thể khắc phục các rủi ro kinh tế giống nhau Nếu các chính phủ không nhận thức được sự khác biệt về giới khi thiết

kế các chính sách thì có thể có hại cho hiệu lực của chính sách đó, xét cả trên khía cạnh công bằng và hiệu quả

Trong chuyên đề này, khái niệm bình đẳng giới được hiểu theo nghĩa bình đẳng về luật pháp, về cơ hội- bao gồm sự bình đẳng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực, vốn và các nguồn lực sản xuất khác, bình đẳng trong việc được trả lương- và trong tiếng nói Cụ thể, phụ nữ và nam giới có vị thế bình đẳng như nhau và cùng: có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện vọng của mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội và thành quả phát triển; và được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình

Trang 24

1.2.1.2 Các mặt bình đẳng giới

* Trong lĩnh vực chính trị: Trong bình đẳng giới, quyền bình đẳng về chính trị là một vấn đề then chốt Cụ thể là cần phải tăng cường tiếng nói và

sự tham gia hoạt động chính trị của phụ nữ Sự thay đổi về thể chế nhằm tạo

ra sự bình đẳng giới trong các quyền cơ bản là nền tảng để đảm bảo sự bình đẳng giới lớn hơn trong tiếng nói và sự tham gia hoạt động chính trị Thực tế cho thấy rằng, các chính sách và chương trình nâng cao sự bình đẳng về giáo dục và tiếp cận thông tin có thể củng cố các tổ chức đại diện của phụ nữ và do

đó, tăng cường năng lực tham gia vào diễn đàn chính trị của phụ nữ Phụ nữ trong thế kỷ 20 đã giành được quyền bầu cử ở hầu hết tất cả các nước Khoảng cách giới trong bầu cử đã giảm xuống, nhất là ở những nước có tỷ lệ

cử tri đi bỏ phiếu cao

Ngoài những nỗ lực để thúc đẩy tiếng nói của phụ nữ trong việc hoạch định chính sách ở cấp chính quyền trung ương, việc lập kế hoạch phát triển với sự tham gia của quần chúng được khuyến khích như một phần trong những nỗ lực phân quyền trong các chính phủ ở Ấn Độ, Phillipines, Bolivia,

Ở Kerala, Ấn Độ, người ta đang cố gắng để trao cho phụ nữ nghèo quyền được theo dõi việc lựa chọn đối tượng thụ hưởng cho các chương trình xóa đói giảm nghèo và tăng cường sự tham gia của họ trong việc lập ra những kế hoạch đầu tư hàng năm của chính quyền địa phương Vào đầu thế kỷ 20, các nước Bắc Âu đã mở rộng quyền bầu cử của phụ nữ bình đẳng với nam giới Tại Trung Quốc, Luật Hôn nhân của chính phủ đã tạo ra các tiêu chuẩn về quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong vấn đề kết hôn, ly hôn và sinh con Tại Ai Cập, vào đầu năm 2000, một liên minh tạm thời giữa các nhà lãnh đạo cao nhất của chính phủ với các tổ chức xã hội dân sự đã mở rộng các quyền của phụ nữ trong luật gia đình

Trang 25

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, phụ nữ vẫn ít có khả năng tham gia bàn luận chính trị hơn nam giới, nhất là trong nhóm người lớn tuổi và nhóm có trình độ học vấn thấp Phụ nữ vẫn còn đại diện rất ít trong các cơ quan dân cử, và phân biệt giới vẫn còn tiếp tục tồn tại trong các hội đồng địa phương và quốc gia Bên cạnh đó, phụ nữ vẫn có rất ít đại diện trong bộ máy điều hành chính phủ Ở Trung Đông và Bắc Phi, phụ nữ chỉ chiếm 2% trong nội các chính phủ, trong khi ở Đông Á và Thái Bình Dương, con số đó là 4% Ở Châu Mỹ Latinh, Đông

Âu và Trung Á, phụ nữ chiếm 7-8% số ghế bộ trưởng Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới, kinh nghiệm gần đây của hơn 30 quốc gia, bao gồm Argentina,

Ấn Độ, và Philippines cho thấy việc “dành ghế” cho phụ nữ trong các tổ chức chính trị có thể chỉ là cách hữu hiệu để tăng mức độ tham gia và đại diện về mặt chính trị của phụ nữ trong các hội đồng địa phương và quốc gia trong những khoảng thời gian tương đối ngắn Từ thập kỷ 80 cho đến đầu những năm

90, bình đẳng giới về quyền chính trị và luật pháp dường như đã được cải thiện chút ít ở hầu hết các khu vực, trừ châu Âu và Trung Á là bị suy giảm, và ở Nam Á là nơi dường như không có sự thay đổi gì

* Trong lĩnh vực kinh tế: Phát triển kinh tế mở rộng các cơ hội việc làm

và tăng năng suất trong thị trường lao động, đồng thời dẫn đến sự hình thành các thị trường lao động mới, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế Nhiều nước trên thế giới đã sửa đổi luật lao động để quy định sự đối xử bình đẳng- và cơ hội bình đẳng- giữa nam và nữ trong vấn đề việc làm Tại Colombia và Coxta Rica, vào những năm 80, các biện pháp cải cách ruộng đất nhằm công khai giải quyết các bất bình đẳng giới trong tập quán thừa kế đã mở rộng đáng kể quyền sở hữu đất đai cho phụ nữ

Tăng trưởng kinh tế thường đi kèm với việc đầu tư nhiều hơn vào hạ tầng cơ sở Các khoản đầu tư này cùng với việc phát triển thị trường cho các lao động thay thế có thể làm giảm nhẹ các công việc phi thị trường của phụ

Trang 26

nữ và đem lại cho họ nhiều cơ hội làm công ăn lương cũng như thời gian rảnh rỗi, tạo điều kiện phá bỏ sự phân công lao động cứng nhắc Cùng với đó, việc giảm nhẹ gánh nặng công việc gia đình cũng có thể đem lại những lợi ích tiềm tàng cho sức khoẻ của người phụ nữ, cho thu nhập của hộ gia đình, và cho việc học tập của trẻ em gái

Tuy vậy, từ trước tới nay, nam giới có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cao hơn phụ nữ - và hình thái này vẫn đang tiếp diễn Bên cạnh đó, phụ nữ vẫn tiếp tục nhận được mức thù lao thấp hơn của nam giới Những nghiên cứu thực tiễn gần đây từ 71 nước đã cho thấy rằng, tính trung bình ở các nước phát triển, phụ nữ chỉ nhận được bằng 77% tiền lương của nam giới, và ở các nước đang phát triển thì con số này chỉ là 73%

* Phụ nữ và việc sử dụng máy tính trong công việc: Hai thập kỷ qua đã

chứng kiến sự tăng trưởng chưa từng có trong việc ứng dụng máy tính vào công việc Tại Mỹ, số lượng phụ nữ sử dụng máy vi tính trong công việc nhiều hơn nam giới Ví dụ, từ năm 1993 tại Mỹ, phụ nữ có xu hướng sử dụng máy vi tính nhiều hơn nam giới 33% Tại các nước đang phát triển, phụ nữ vẫn đang còn là nhóm thiểu số trong số những người dùng máy vi tính với tỷ

lệ từ 35-37% ở Trung Quốc và Braxin và chỉ là 6% tại Trung Đông Và mặc

dù tỷ lệ phụ nữ sử dụng công nghệ thông tin ngày càng tăng lên, song điều đó không nhất thiết là phụ nữ đang vươn tới việc tham gia một cách ngang bằng với nam giới trong thị trường lao động Ở Ấn độ và Malaysia, mặc dù công nghệ thông tin đã làm tăng tỷ lệ đi làm cho phụ nữ, một phần lớn trong số những lao động mới này đảm nhận các vị trí công chức đòi hỏi kỹ năng thấp Như vậy, với việc ngày càng nhiều người sử dụng công nghệ máy vi tính, sự khác biệt trong việc ứng dụng công nghệ, chứ không phải là tỷ lệ sử dụng, sẽ xác định phụ nữ hay nam giới là người hưởng lợi từ cuộc cách mạng công nghệ này

Trang 27

* Trong lĩnh vực giáo dục và y tế: Giáo dục là vấn đề cốt lõi để mỗi người có khả năng phản ứng lại trước những cơ hội mà sự phát triển đem lại Giáo dục cơ sở là nền tảng để phát triển các kỹ năng linh hoạt vốn rất cần thiết, nhất là khi thế giới đang chuyển sang thời đại thông tin và các sản phẩm

có hàm lượng chất xám cao Những ai không có điều kiện tiếp cận đến giáo dục cơ sở có nguy cơ bị loại khỏi những cơ hội mới, và ở những nơi mà khoảng cách về giới vẫn còn rộng và tồn tại dai dẳng trong giáo dục thì phụ

nữ sẽ có nguy cơ ngày càng cao là bị tụt hậu đằng sau nam giới trong khả năng tham gia vào quá trình phát triển Ở Ấn Độ, các nhà nghiên cứu đã quan sát 5 thế hệ liên tiếp của một gia tộc và khám phá ra giáo dục đã thay đổi đời sống của người phụ nữ Kết quả là họ kết hôn muộn hơn, có ít con hơn, kiến thức của họ về sự chăm sóc sức khoẻ con cái dồi dào, kể cả những phương thức ngừa thai Giáo dục cũng gia tăng vị trí và tiếng nói của người phụ nữ trong một gia đình Phụ nữ có cắp sách tới trường khoảng từ 6 tới 10 năm có

47 % cơ hội được quyết định mọi việc trong nhà hơn là phụ nữ ít hay không được đi học

Từ đó có thể thấy rằng, một trong những điểm tiến bộ trong bình đẳng giới là việc tham gia vào các hoạt động giáo dục ngày càng tăng ở hầu hết các nước trên thế giới Trong những năm gần đây, tỷ lệ số nữ sinh tiểu học và trung học đã tăng lên theo thời gian Ở nhiều nơi trên thế giới, tỷ lệ tiểu học

ổn định ở mức cao- như khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, châu Mỹ Latinh và vùng Caribe, Châu Âu và Trung Á Ở những vùng này, tỷ lệ tổng

nữ sinh tiểu học đạt hoặc gần đạt 100% Theo khảo sát của Ngân hàng Thế giới, Đông Á, châu Mỹ Latinh, châu Âu và Trung Á đạt mức độ bình đẳng giới cao nhất trong giáo dục Ở các vùng này, tỷ lệ nữ sinh trung học bình quân hiện nay đã cao hơn của nam giới, và xét trung bình, số năm đi học của phụ nữ đã bằng khoảng 90% của nam giới Tại các nước Arap, trong vòng 20

Trang 28

năm qua, tỷ lệ phụ nữ được xóa mù chữ đã tăng 68% Nhìn chung, hoàn cảnh của phụ nữ đã được cải thiện rất nhiều trong phần lớn các nước này, như: ở cấp đại học, cứ 3 sinh viên thì có 2 sinh viên nữ, trong khi cách đây 20 năm, 3 sinh viên nam mới có 1 sinh viên nữ Có tới 32 quốc gia có số sinh viên nữ nhiều hơn sinh viên nam Tỷ lệ thoát nạn mù chữ của phụ nữ tại 3 nước: Urugoay, Jamaica và Nicaragoa cao hơn so với nam giới Không những tỷ lệ xóa nạn mù chữ trong nữ giới đã tăng, mà nhiều người trong số họ còn đạt được những học vị cao hơn trước kia

Về y tế, sức khoẻ tốt là điều kiện thiết yếu đối với phúc lợi, và cũng như giáo dục, là một nguồn lực quan trọng cho phép người dân tham gia và hưởng thụ thành quả của quá trình phát triển Ở những nước đang phát triển như SriLanka, tỷ lệ theo giới tính (nam so nữ) đã giảm mạnh trong vòng ba thập kỷ qua, nhờ việc nhà nước cung cấp dịch vụ y tế, và thực phẩm Tuy nhiên, ở Trung Quốc, do nhà nước giảm bao cấp cho ngành y tế và chính sách chỉ có một con, đã khiến các bậc cha mẹ, vốn thích có con trai hơn, quyết định bỏ rơi hoặc chọn các hình thức phá thai khi biết sẽ sinh con gái Ở Ấn

Độ, sự khác biệt giới trong chế độ ăn uống của trẻ em là một nguyên nhân gây

ra tỷ lệ tử vong cao ở phụ nữ Một ví dụ là, tình trạng ít được chăm sóc sức khoẻ hơn- nhất là với những bé gái là con thứ trong gia đình hay được sinh ra trong các gia đình nông thôn- là một nguyên nhân khác giải thích tại sao sinh mạng giới nữ bị đe doạ Theo Ngân hàng thế giới, xét trên toàn cầu, số sinh mạng phụ nữ mất đi sẽ tăng nếu xu thế hiện nay trong tỷ lệ tử vong cao quá mức ở phụ nữ- nhất là ở Trung Quốc- vẫn còn tiếp tục Như vậy, có thể thấy rằng sự khác biệt giới cả trong tuổi thọ bình quân lẫn gánh nặng bệnh tật một phần phản ánh sự khác biệt sinh học Nhưng rõ ràng rằng, chúng cũng đồng thời phản ánh sự khác biệt trong vai trò theo giới và trong cách đối xử của xã hội đối với phụ nữ và nam giới

Trang 29

Tóm lại, có thể thấy rõ rằng, trên thế giới đã hình thành rõ ràng một xu thế chung theo hướng vươn tới sự bình đẳng giới về quyền lớn hơn trong hầu hết các lĩnh vực kể từ thập kỷ 80 cho đến nay Tuy vậy, phụ nữ vẫn tiếp tục chịu bất lợi hơn so với nam giới về các quyền cơ bản và địa vị đi kèm - cả trong luật định lẫn thực tế Như vậy, những phân biệt giới về quyền này đã hạn chế rất nhiều khả năng lựa chọn của người phụ nữ trong mọi khía cạnh cuộc sống Hiện nay, phụ nữ trên khắp thế giới tham gia ở một khối lượng phù hợp, vào các hoạt động thị trường để được trả lương, nhưng họ vẫn phải tiếp tục đảm nhận hầu hết các công việc nhà Vì vậy, họ bị vắt kiệt về thời gian, phải bỏ nhiều thời gian để làm việc, cả việc nhà lẫn ngoài thị trường, hơn so với nam giới Điều đó dẫn đến những trói buộc rất lớn khả năng của họ trong việc tham gia vào quá trình phát triển và làm giảm chất lượng cuộc sống của họ

1.2.1.3 Vai trò của phụ nữ trong xã hội hiện đại

Tại Hội nghị thượng đỉnh phụ nữ toàn cầu, Bản Báo cáo đầu tiên về hoàn cảnh của phụ nữ tại 5 lục địa của Liên Hiệp Quốc cho thấy: sự tiến bộ của xã hội và kinh tế sẽ mau chóng hơn nếu người ta ưu tiên đầu tư vào phụ

nữ Vấn đề này không chỉ thể hiện sự công bằng mà còn nhằm đem lại sự quản lý tốt Sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, sẽ cho phép xã hội thay đổi cách nhìn và có những lựa chọn hữu ích hơn Theo Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki Mun, đầu tư cho phụ nữ và các em gái sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển tiến bộ trên thế giới Ông nêu rõ: đầu tư cho phụ nữ không chỉ là một hành động đúng đắn, mà còn là một việc làm thông minh Đầu tư cho phụ nữ sẽ giúp thế giới đương đầu với các thách thức của thời đại- đó là tình trạng nghèo đói, thất học, các hiểm họa môi trường và dịch bệnh

Trang 30

Trong những năm gần đây, các hội nghị lớn trên thế giới đều nhấn mạnh cần bảo đảm quyền của phụ nữ, coi đây là một nhân tố trụ cột của phát triển kinh tế, đồng thời kêu gọi các nước chú trọng đến mục tiêu bình đẳng giới Trong cuộc sống gia đình, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe và giáo dục con cái Các nghiên cứu về kinh tế lượng khẳng định rằng, nâng cao giá trị tương đối của phụ nữ và tăng thêm các lựa chọn nắm giữ tài sản của họ có ảnh hưởng đến hình thái tiêu dùng trong gia đình Khảo sát cho thấy, sức khỏe của trẻ em Braxin được cải thiện khi phụ

nữ nắm trong tay phần thu nhập tăng thêm ngoài lao động Ở Anh, khi luật pháp quy định rằng, các khoản trợ cấp để hỗ trợ trẻ em được trao trực tiếp cho người mẹ, thì chi mua sắm quần áo cho con cái có xu hướng tăng lên Ở Bănglađesh và Nam Phi, phụ nữ được mang theo nhiều tài sản khi kết hôn làm tăng chi tiêu của hộ gia đình cho giáo dục của trẻ em

Ngày nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thấy sự đóng góp vô cùng quan trọng của phụ nữ trong đời sống xã hội Dù đó là sự kiện phụ nữ ở Afganistan đi bỏ phiếu bầu cử tổng thống hay việc phụ nữ bắt đầu mở những

cơ sở kinh doanh siêu nhỏ tại Etiopia, thì xu thế hướng tới quyền bình đẳng hơn nữa của phụ nữ trên toàn thế giới đã trở nên rõ ràng Theo thống kê, từ khi có giải Nobel năm 1901 đến nay, đã có 4,4% giải Nobel về hòa bình được trao cho phụ nữ Nếu tính tất cả các lĩnh vực, số phụ nữ đoạt giải Nobel lên đến 28 người Trong 192 đại diện thường trực ở Liên Hiệp Quốc có 14 phụ

nữ 11% nhân viên cấp cao tại cơ quan của Liên Hiệp Quốc là phụ nữ Có 50% phụ nữ trong Chính phủ Thụy Điển- Đây là chính phủ đầu tiên trên thế giới đạt được sự cân bằng giữa nam và nữ Kỷ lục thế giới về phụ nữ là dân biểu thuộc về Phần Lan với 39% Tiếp theo là NaUy 35%, Thụy Điển 34% Hiện có 12 quốc gia trong đó phụ nữ là tổng thống hay thủ tướng 10 quốc gia đứng đầu về số phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế và chính trị được

Trang 31

Liên Hiệp Quốc bình chọn là: Thụy Điển, Nauy, Phần Lan, Đan Mạch, NiuDilan, Hà Lan, Mỹ, Áo và Italia

1.2.1.4 Thực trạng và vai trò của giới ở một số quốc gia

Na Uy là đất nước dân số ít (4,5 triệu người) nhưng chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) xếp thứ nhất thế giới Na Uy

có một hệ thống luật pháp đồng bộ hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi cho người phụ nữ Chính phủ Na Uy rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới

và coi đó là một trong bốn vấn đề trọng tâm phát triển Là quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép phụ nữ được tham gia bầu cử vào năm 1913 và có quyền ứng cử Quốc hội từ năm 1930 Na Uy cũng có Luật bình đẳng giới ban hành từ năm 1979 với các điều khoản bảo đảm cho cả phụ nữ và nam giới được bình đẳng trong phát triển

Trong luật Bình đẳng giới, Na Uy quy định: Việc phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp với phụ nữ và nam giới đều không được phép

Với lĩnh vực lao động và việc làm, luật quy định: tuyển dụng không được hạn chế tuyển một giới Khi đề bạt, cách chức hoặc sa thải người lao động cũng không được phân biệt nam nữ Lao động nam và nữ trong cùng một doanh nghiệp phải được trả lương như nhau cho cùng một công việc như nhau hoặc công việc có giá trị như nhau

Trong giáo dục, Luật bình đẳng giới đề ra phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ

Đặc biệt Luật bình đẳng giới có 1 mục quy định: “Khi thành lập và bổ nhiệm, bầu cử các thành viên của một cơ quan nhà nước, uỷ ban, hội đồng, ban… có từ 4 thành viên trở lên thì mỗi giới phải có đại diện với tỷ lệ ít nhất

là 40%” Nếu cơ quan, đơn vị nào không đạt tỷ lệ đã quy định thì Chính phủ không cho phép thành lập Do vậy, đến nay cơ quan các cấp ở Na Uy đã đạt được tỷ lệ trung bình 43% nữ Bên cạnh đó, một Cơ quan thanh tra về bình

Trang 32

đẳng giới và chống phân biệt đối xử trực thuộc Bộ Gia đình và Bình đẳng giới cũng ra đời giúp Chính phủ nhận đơn khiếu nại hoặc phát hiện những vấn đề bất bình đẳng giới trình lên trên để cùng giải quyết

Chế độ nghỉ thai sản và chăm sóc con cái cũng được Luật đề ra rất tốt Khi mang thai, nếu người phụ nữ đã đi làm ít nhất là 6 tháng trong vòng 10 tháng thai nghén sẽ được nghỉ chế độ và hưởng lương với số tiền không quá 6 lần số tiền bảo hiểm quốc gia cơ bản Khi sinh nở, người mẹ được nghỉ 52 tuần hưởng 80% hoặc nghỉ 42 tuần hưởng 100% lương Trong thời gian này,

mẹ phải nghỉ 3 tuần trước khi sinh, bố phải nghỉ bốn tuần theo chế độ người cha Ngoài ra, bố và mẹ được nghỉ từ 10 đến 20 ngày/năm chăm con ốm (kể

cả với con nuôi) Quỹ thời gian này người bố và mẹ tuỳ ý sử dụng trong thời gian 2 năm Nếu người phụ nữ không đi làm và không được hưởng chế độ nghỉ đẻ thì được hưởng 32.138 NOK khi sinh con (tương đương 80.500.000 đồng Việt Nam) Từ năm 1992, bố mẹ không đi làm mà phải nuôi con dưới 7 tuổi đều được hưởng ba khoản trợ cấp một năm của Chính phủ

Tuy nhiên, Luật bình đẳng giới tiến bộ nhưng chỉ nhằm tăng cường quyền lực của phụ nữ ngoài xã hội chứ không bênh vực họ trong gia đình vì không áp dụng trong gia đình Trong lĩnh vực công việc nhà không được trả lương phụ nữ vẫn làm việc nhiều hơn nam giới; trong lĩnh vực quản lý nhà nước, nam giới vẫn chiếm 86% và trong chính quyền địa phương lãnh đạo nam vẫn trên 70% ; nạn bạo lực vẫn xảy ra; mại dâm được phép hoạt động nhưng vẫn nhiều tình trạng xâm hại tình dục … [35]

Tại Kenya, Zambia và Nigieria, gia đình nào có chủ hộ là nam giới thì khuyến nông thường xuyên ghé thăm hơn

Khoảng 40% phụ nữ Trinidad và Tobago chỉ biết đến các thông tin hay những lời khuyên trong sản xuất cũng như các thông tin khác thông qua người chồng của mình Còn ở một số nước như Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia thì

Trang 33

những thông tin đó được lấy tự họ hàng, bạn bè và hàng xóm Rất ít thông tin được trực tiếp chuyển đến người phụ nữ

1.2.2 Chủ trương, chính sách của Nhà nước với sự phát triển của bình đẳng giới và nhận thức giới

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi mới ra đời năm 1930 đã đề ra một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam là "Nam nữ bình quyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh -Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nhân dân, đát nước và luôn đánh giá cao vai trò của phụ nữ trên thế giới nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng Cảm nhận sâu sắc nỗi khổ nhục của phụ nữ dưới chế độ thực dân phong kiến, Hồ Chí Minh càng nhận rõ phụ nữ chính là lực lượng to lớn, rất cần được giác ngộ, thu hút tham gia vào phong trào Cách mạng Người bày tỏ sự tâm đắc sâu sắc với nhận thức đúng đắn của Các Mác

và Lênin- những nhà lý luận Mácxít, lãnh tụ của giai cấp vô sản - về vai trò to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng Người chỉ rõ:“Ông Các Mác nói rằng:“Ai đã viết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội mà không có phụ

nữ giúp vào thì chắc không làm nổi Xem tư tưởng của đàn bà, con gái, thì biết xã hội tiến bộ ra sao” Ông Lênin nói “Đảng cách mệnh phải làm sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước” Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào”1 Người khẳng định “An Nam cách mệnh cũng phải có

nữ giới tham gia mới thành công”

Với cách nhìn toàn diện, Người nhấn mạnh: Phụ nữ là một nửa nhân

loại, Người chỉ rõ:“Phụ nữ là một lực lượng lao động rất quan trọng” Hồ

Chí Minh luôn tự hào và đánh giá vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Người luôn nhấn mạnh tầm quan trọng

của lực lượng phụ nữ, Người chỉ rõ:“Phụ nữ ta là một lực lượng lớn trong

1 Hồ Chí Minh (2000) Toàn tập, tập 2 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.288

Trang 34

công cuộc xây dựng Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội” Người đã tặng phụ

nữ Việt Nam 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”

Sự đóng góp của phụ nữ Việt Nam được Hồ Chí Minh khái quát một

cách hình tượng “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già,

ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” Đó cũng là lời khẳng định vị trí, vai

trò của phụ nữ là rất to lớn trong sự nghiệp xây dựng đất nước

Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn “Đảng

và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp

đỡ để ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi việc lãnh đạo”

Trong suốt quá trình cách mạng, Ðảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương của Ðảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong Nghị quyết Ðại hội Ðảng, các nghị quyết và chỉ thị của Trung ương Ðảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng, công tác vận động phụ nữ và công tác cán bộ nữ Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể

nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới

Hiến pháp năm 1946, điều 9 quy định rõ: “Đàn bà ngang quyền với

đàn ông về mọi phương diện” Nguyên tắc này cũng đã được thể hiện trong

các Hiến pháp năm 1959, Điều 14 “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

có quyền bình đẳng với nam giới về mọi mặt sinh hoạt, chính trị, kinh tế, văn hóa và gia đình”; Hiến pháp năm 1992, Điều 63 nhấn mạnh rõ hơn “Công dân nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và gia đình Nghiêm cấm mọi thành viên phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”; Hiến Pháp 2013, Điều 26 xác định:

"1) Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt, Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới

2) Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội

Trang 35

3) Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.”

Như vậy có thể nói, các văn bản pháp luật và chính sách của Nhà nước Việt Nam trên mọi lĩnh vực đã hoàn toàn tuân thủ và thể hiện rõ nguyên tắc bình đẳng nam, nữ không có bất cứ sự phân biệt nào Vì vậy, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới đạt những thành tích quan trọng nhất định trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới

Luật bình đẳng giới được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua tại kỳ họp ngày 29/11/2006 Ngày 2/12/2006, lệnh công bố được Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký và

có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007

Ngày 15/7/2010, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức Hội thảo Dự thảo chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới Tại hội thảo Bộ LĐ - TB &XH đã tổng kết Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới nhưng các đại biểu cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề bạo lực trong gia đình, buôn bán phụ nữ trẻ em,… và Chính phủ

đã giao cho Bộ LĐ - TB & XH chủ trì xây dựng Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020

Việt Nam tham gia một số công ước như công ước về quyền trẻ em (CRC), công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), hay các mục tiêu thiên niên kỷ,…

1.2.3 Thực trạng và vai trò của giới trong kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam

Việt Nam là một nước có nền công nghiệp chưa phát triển, hiện có khoảng 80% số người trong độ tuổi lao động sống ở nông thôn, trong đó phụ

nữ chiếm trên 50%, nhưng họ là nhóm người yếu thế và thiệt thòi nhất trong

xã hội, không được như đội ngũ công nhân, trí thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức Nhưng họ lại là lực lượng chính tham gia vào hầu

Trang 36

hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp như: Cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, gạo,

Hiện tượng tăng tương đối của lực lượng lao động nữ nông thôn những năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:

- Do sự gia tăng tự nhiên số người trong độ tuổi lao động, hiện nay hàng năm nước ta có khoảng 80 - 90 vạn người bước vào tuổi lao động, trong đó: lao động nữ chiếm 55%

- Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp

bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc

- Do sự tan rã của thị trường Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90 khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn tiêu thụ hàng hóa, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông nghiệp

Ngoài ra, trong cơ chế thị trường do sức cạnh tranh yếu nên nhiều hợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng phá sản Kết (hậu quả ?) quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã thủ công này phải trở về nghề nông

1.2.4 Vai trò và đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh tế -

xã hội

Thời kỳ chuyển đổi kinh tế của Việt Nam từ kinh tế quản lý tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là giai đoạn đất nước có những chuyển biến quan trọng trên tất cả các bình diện kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể: Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, liên tục và có dấu hiệu ổn định Điều này là tiền đề cho những cải thiện thêm nhiều mặt về đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, đem lại lợi ích cho hầu hết các tầng lớp dân cư ở thành thị cũng như nông thôn, ở miền xuôi cũng như miền ngược

Trang 37

Trong các gia đình Việt Nam thì phụ nữ tham gia trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và bán sản phẩm nhiều hơn so với nam giới Trong công việc sản xuất lúa thì nam giới là người làm đất còn phụ nữ đóng vai trò gieo cấy, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Ở khu vực nông thôn, 84% số gia đình làm chăn nuôi thì phụ nữ dành đến 30% trong tổng sức lao động cho sản xuất nông nghiệp để sử dụng cho chăn nuôi, trong khi đó nam giới chỉ dành 10% trong tổng sức lao động cho sản xuất này

Gia đình là một trong những thiết chế xã hội cơ bản nhất, có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội Gia đình vừa là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân, cầu nối giữa cá nhân và

xã hội, vừa là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đồng thời là động lực phát triển của xã hội Hoạt động của gia đình có tác động đến các hệ thống, các quá trình và mối quan hệ xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất xã hội Vai trò quan trọng của gia đình chính là ở chỗ: Gia đình đảm nhiệm trách nhiệm hết sức nặng nề trong việc tái sản xuất ra của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội, nó đảm nhiệm chức năng tái sản xuất ra sức lao động qua việc chăm lo, khôi phục sức khỏe cho các thành viên của mình sau những giờ lao động mệt nhọc, bảo đảm cuộc sống cho các thành viên, đồng thời gia đình còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lưu giữ, truyền thụ văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống quý báu của con người Do vậy, vai trò của giới trong gia đình là hết sức quan trọng, giúp từng bước ổn định, củng cố, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế

Ở Việt Nam hiện nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy

Trang 38

Nhà nước Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong Quốc hội (cao nhất ở Châu Á)

là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới); tỷ lệ

nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69% Nghĩa vụ công dân và chức năng làm vợ (không phải thiên chức làm vợ?), thiên chức làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội

1.2.5 Giới trong tiếp cận một số vấn đề ở gia đình nông thôn

Bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình là một trong các mục tiêu quan trọng đã và đang được thúc đẩy thực hiện ở Việt Nam Một trong những điểm dễ nhận biết nhất trong kết quả thực hiện bình đẳng giới, đó chính là việc phân công, sắp xếp lại công việc trong gia đình một cách hài hòa, hợp lý giữa người vợ và người chồng Trong gia đình hiện nay, người chồng đã biết chia sẻ với vợ về công việc nhà, chăm sóc con; người vợ cũng

đã chủ động chia sẻ với chồng gánh nặng kinh tế gia đình Năm 2011, cả nước

có 12.727.903 gia đình được công nhận đạt Danh hiệu “Gia đình văn hóa” trong tổng số 17.312.198 gia đình (chiếm tỷ lệ 73.5%)

Trong gia đình, người phụ nữ được tôn trọng và được tham gia nhiều hơn vào các quyết định quan trọng vào hoạt động sản xuất nâng cao mức thu nhập về kinh tế Phụ nữ có nhiều điều kiện hơn để tham gia học tập và các hoạt động xã hội, đặc biệt là phụ nữ ở thành thị

Phòng, chống bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới đang nhận được

sự quan tâm của xã hội Nhiều cơ quan, tổ chức xã hội và các chương trình dự

án phát triển đã triển khai các hoạt động tuyên truyền, phòng, chống và hỗ trợ nạn nhân của bạo lực gia đình

Trang 39

Công tác tư vấn, hỗ trợ hôn nhân, gia đình được đẩy mạnh Nhiều mô hình được duy trì và nhân rộng, thu hút các nhóm phụ nữ tham gia, trong đó nổi bật là mô hình câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc, câu lạc bộ gia đình không có tệ nạn xã hội, nhóm tín dụng tiết kiệm lồng ghép truyền thông dân số/sức khỏe sinh sản gắn với bình đẳng giới, mô hình phụ nữ tham gia bảo vệ môi trường gắn với cuộc vận động “Phụ nữ cả nước thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khỏe gia đình và cộng đồng”, mô hình câu lạc bộ liên thế hệ

tự giúp nhau… Các mô hình mới trong tư vấn, hỗ trợ hôn nhân gia đình, hôn nhân có yếu tố nước ngoài, phòng, chống bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ - trẻ em và các tệ nạn xã hội khác đã được triển khai thực hiện, như Trung tâm

hỗ trợ kết hôn; Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng; Ngôi nhà bình yên, đường dây nóng… bước đầu đáp ứng nhu cầu của các nhóm phụ nữ Các mô hình nhóm trẻ gia đình, dịch vụ đưa đón con đi học, chăm sóc người cao tuổi, dịch vụ giúp việc gia đình đã được một số cấp hội thí điểm, góp phần hỗ trợ phụ nữ giảm bớt công việc gia đình để có điều kiện tham gia công tác xã hội nhiều hơn

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, bất bình đẳng giới trên các lĩnh vực vẫn còn tồn tại mà sự thiệt thòi chủ yếu vẫn thuộc về phụ nữ; hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới được coi là khá hoàn chỉnh nhưng chưa được thực hiện hiệu quả trên thực tế; bộ máy các cấp về bình đẳng giới

và tiến bộ phụ nữ đã được hình thành nhưng chưa ổn định và hiệu quả hoạt động còn thấp [37] Những chính sách cải cách nhằm củng cố kinh tế hộ gia đình như phân bổ quyền sử dụng đất, xác định vị thế và quy định pháp lý của các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của hộ gia đinh, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ khuyến nông cho hộ gia đình nhưng đối tượng chính tiếp nhận thông tin lại là nam giới, thường là với tư cách chủ hộ Trong gia đình thì phụ nữ ít có kiến thức và kỹ năng sản xuất tốt Nam giới thì thường hưởng thụ nhiều thành quả từ sự cải cách kinh tế hơn là phụ nữ Phụ nữ luôn

Trang 40

phải tỏ ra kính trọng với nam giới Thái độ xã hội về vai trò của người phụ nữ trong gia đình đã làm cho việc xử lý những vấn đề như ngược đãi, ly hôn và phụ nữ nuôi con trở nên khó khăn Phụ nữ thiếu những kỹ năng lao động và thiếu tự tin ngay cả trong gia đình của mình Điều này lại càng củng cố thêm định kiến về phụ nữ Tuy những định kiến giới tác động với cả hai giới nhưng nhìn chung phụ nữ vẫn chịu ảnh hưởng nhiều hơn

1.2.6 Vai trò giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của gia đình

Thời kỳ chuyển đổi kinh tế của Việt Nam từ kinh tế quản lý tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là giai đoạn đất nước có những chuyển biến quan trọng trên tất cả các bình diện kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể: Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, liên tục và có dấu hiệu ổn định Điều này là tiền đề cho những cải thiện thêm nhiều mặt về đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, đem lại lợi ích cho hầu hết các tầng lớp dân cư ở thành thị cũng như nông thôn, ở miền xuôi cũng như miền ngược

Trong bối cảnh đời sống của ngày hôm nay, vai trò gia đình càng nổi bật lên môi trường giáo dục cá biệt, toàn diện có hiệu ích nhất Gia đình là hình ảnh một mái nhà chở che, nơi con người trú ngụ, chống trả mọi phong ba bão táp,chống lại nỗi cô đơn căn bệnh phổ biến của thế giới hiện đại; nơi cân bằng lại mọi xô lệch của đời sống con người Gia đình là sáng tạo tự nhiên kỳ diệu của con người Gia đình một tổ hẹp, xinh xắn hài hoà và mạnh mẽ Nói đến gia đình chúng ta phải nhắc đến vai trò của người phụ nữ, nếu không có người phụ nữ thì chưa thật sự là gia đình Phụ nữ là một nửa của nhân loại Theo tổng kết của Liên Hiệp Quốc năm 1980, phụ nữ chiếm ½ dân số thế giới, thực hiện gần 2/3 tổng số giờ lao động của thế giới, sản xuất ½ sản lượng nông nghiệp của thế giới Nhưng lại chiếm 2/3 dân số mù chữ trên thế giới và chỉ nhận được 1/10 tổng thu nhập, sở hữu 1/100 tổng số của cải trên thế giới

Ngày đăng: 07/06/2016, 16:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Nông Quốc Bình (2008), “Suy nghĩ về bình đẳng giới”, Tạp chí Luật học, số 3, tr 3-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về bình đẳng giới”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nông Quốc Bình
Năm: 2008
8. Phạm Thị Huệ, Viện gia đình và giới, “Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện gia đình và giới," “Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam
9. Vũ Tuấn Huy và Deborah S.Carr (2000), “Phân công lao động nội trợ trong gia đình”, Xã hội học, số 4 (72) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân công lao động nội trợ trong gia đình”, "Xã hội học
Tác giả: Vũ Tuấn Huy và Deborah S.Carr
Năm: 2000
12. Đại học Kinh tế quốc dân, Kinh tế phát triển, NXB Thống kê, Hà Nội, năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Nhà XB: NXB Thống kê
14. Trần Thị Quế (1999), Những khái niệm cơ bản về giới và vấn đề giới ở Việt Nam, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về giới và vấn đề giới ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Quế
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1999
15. Lê Thị Quý (2004), “Vấn đề giới trong các dân tộc ít người ở Sơn La - Lai Châu hiện nay”, Xã hội học, số 1(85) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giới trong các dân tộc ít người ở Sơn La - Lai Châu hiện nay”, "Xã hội học
Tác giả: Lê Thị Quý
Năm: 2004
16. Lê Thị Quý (2009), Xã hội học giới, NXB GDVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học giới
Tác giả: Lê Thị Quý
Nhà XB: NXB GDVN
Năm: 2009
18. Nguyễn Thanh Tâm, “Quan niệm về bình đẳng giới”, Tạp chí luật học, số 3/2006, tr. 59 - 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về bình đẳng giới”, "Tạp chí luật học
19. Lê Đình Thắng (1993), Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá
Tác giả: Lê Đình Thắng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
20. Nguyễn Thanh Thụy (2002-2003), Nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới trong tổ chức cuộc sống gia đ ình ở Bình Định - Thực trạng và giải pháp, Hội Liên hiệp Phụ nữ Bình Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu vấn đề bình đẳng giới trong tổ chức cuộc sống gia đình ở Bình Định - Thực trạng và giải pháp
22. Ủy ban Quốc gia VSTBPNVN (2004), Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và thực thi chính sách
Tác giả: Ủy ban Quốc gia VSTBPNVN
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2004
25. Nguyễn Thị Uyên, Vấn đề bình đẳng giới của gia đình nông thôn ven đô thành phố Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Đại học Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề bình đẳng giới của gia đình nông thôn ven đô thành phố Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang trong bối cảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa
27. Đỗ Văn Viện, Đỗ Văn Tiến, Kinh tế hộ nông dân, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ nông dân
28. Trần Đức Viên (1995), Nông nghiệp trên đất dốc, thách thức và tiềm năng, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiệp trên đất dốc, thách thức và tiềm năng
Tác giả: Trần Đức Viên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
29. Trần Thị Kim Xuyến (2001), Gia đình và những vấn đề của gia đ ình hiện đại, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại
Tác giả: Trần Thị Kim Xuyến
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2001
31. Ngân hàng thế Giới (2000), Đưa Vấn Đề Giới Vào Phát Triển - Thông qua Bình đẳng giới về Quyền, Nguồn lực và Tiếng nói, Washington, D.C. 20433 USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa Vấn Đề Giới Vào Phát Triển - Thông qua Bình đẳng giới về Quyền
Tác giả: Ngân hàng thế Giới
Năm: 2000
32. Parpart J. L. và CTV (2000), Lý Thuyết về Giới và Phát Triển, Trung Tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc Tế Canada.III. Tài liệu Internet 33. hoilhpn.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Thuyết về Giới và Phát Triển, Trung Tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc Tế Canada
Tác giả: Parpart J. L. và CTV
Năm: 2000
1. Trần Thị Vân Anh, Giới và phát triển nông thôn - Tài liệu cho lớp tập huấn phát triển bền vững nông thôn của chương trình VNRP Khác
3. Báo cáo Phát triển Con người của Việt Nam, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, 2012 Khác
5. Nguyễn Sinh Cúc (2000), Phân tích điều tra nông thôn năm 2000 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm