Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để từng bước tiến tới sự bình đẳng giữa nam và nữ, phát huy hết khả năng của nữ giới trong các hoạt động xã hội cũng như các hoạt động phát triển ki
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN MẠNH HÀ
CHỮ KÝ PHÒNG ĐÀO TẠO CHỮ KÝ KHOA CHUYÊN MÔN CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài “ Nghiên cứu vai trò giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn” đều được thu thập điều tra, khảo sát thực tế một cách trung thực, đánh
giá thự trạng của địa phương nơi nghiên cứu
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện nghiên cứu đã được cảm ơn, các thông tin tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn và chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 2 tháng 10 năm 2015
Học viên
Lý Anh Trí
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tôi đã hoàn thành xong luận văn tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, ban quản lý đào tạo sau đại học cùng toàn thể các thầy cô đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Mạnh
Hà đã tận tình giúp đã, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận
văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cấp ủy, chính quyền cán bộ các ban, cán bộ phòng Thống kê, phòng Nông nghiệp, phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Lộc Bình, các xã Đồng Bục, Hữu Khánh, Quan Bản đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập
Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng như hạn chế về mặt thời gian cho nên tôi không tránh khỏi sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 2 tháng 10 năm 2015
Học viên
Lý Anh Trí
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Giới tính và giới 4
1.2 Đặc điểm, nguồn gốc 5
1.3 Vai trò của giới 6
1.3.1 Nhu cầu giới và bình đẳng giới 7
1.3.2 Định kiến giới 8
1.3.3 Nhạy cảm giới 9
1.3.4 Trách nhiệm giới 9
1.3.5 Số liệu có tách biệt giới 9
1.4 Phát triển kinh tế hộ gia đình 9
1.4.1 Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế 9
1.4.2 Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân 10
1.4.3 Giới trong gia đình 13
1.5 Cơ sở thực tiễn 14
1.5.1 Thực trạng và vai trò của giới ở một số quốc gia 14
1.5.2 Chủ trương, chính sách của Nhà nước với sự phát triển của bình đẳng giới và nhận thức giới 14
1.5.3 Thực trạng và vai trò của giới trong kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam 16
1.5.4 Một số nghiên cứu về giới trong gia đình ở một số địa phương của nước ta 19
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tương, phạm vi và nội dung nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 22
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 24
2.3.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 25
2.3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 27
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.1.3 Thực trạng chung của các hộ điều tra trên địa bàn huyện Lộc Bình 35
3.1.3.1 Tình hình chung của các hộ nghiên cứu 35
3.2 Thực trạng vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Lộc Bình 49
3.2.1 Vai trò của giới trong hoạt động sản xuất 49
3.2.2 Vai trò của giới trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng 52
3.2.3 Giới và vấn đề tiếp cận thông tin khoa học kỹ thuật 55
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của giới trong phát triển kinh tế
hộ gia đình 62
3.3.1 Yếu tố chủ quan 62
3.4 Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của mỗi giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Lộc Bình 64
3.4.1 Nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề giới 64
3.4.2 Nâng cao trình độ cho giới 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Kiến nghị 71
2.1 Đối với chính quyền, đoàn thể địa phương 71
2.2 Đối với người phụ nữ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CCB : Cựu chiến binh
CNH : Công nghiệp hóa
CNVC : Công nhân viên chức
NCT : Người cao tuổi
NN & PTNT : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất của huyện Lộc Bình giai đoạn 2012 - 2014 29
Bảng 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng 1 số cây trồng chính
của huyện năm 2014 31
Bảng 3.3: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện Lộc Bìnhgiai đoạn 2012-2014 32
Bảng 3.4: Tình hình dân số và lao động huyện Lộc Bình năm 2014 34
Bảng 3.5: Tình hình chung của các hộ điều tra 36
Bảng 3.6: Bình quân lao động và nhân khẩu của các hộ điều tra năm 38
Bảng 3.7: Tỷ lệ dân số theo tuổi và theo giới tính 38
Bảng 3.8: Trình độ học vấn của các thành viên trong gia đình theo giới tính 39
Bảng 3.9: Bình quân đất đai của các hộ 41
Bảng 3.10: Nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của hộ gia đình 42
Bảng 3.11: Tài sản sinh hoạt của hộ gia đình 43
Bảng 3.12: Phương tiện sản xuất của hộ 45
Bảng 3.13: Nguồn thu nhập của các hộ 45
Bảng 3.14: Mức độ đóng góp thu nhập của nam giới so với nữ giới 46
Bảng 3.15: Tỷ lệ các hộ vay vốn 47
Bảng 3.16: Tình hình tham gia của chủ hộ vào các tổ chức, đoàn thể 48
Bảng 3.17: Sự phân công lao động trong hoạt động trồng trọt 50
Bảng 3.18: Đối tượng thực hiện chính trong hoạt động chăn nuôi 52
Bảng 3.19: Đối tượng thực hiện chính trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng 53
Bảng 3.20: Sự phân công lao động trong các hoạt động khác 54
Bảng 3.21: Giới và vấn đề tiếp cận các nguồn thông tin khoa học kỹ thuật 56
Bảng 3.22: Tỷ lệ tham gia các lớp tập huấn của hộ theo giới 57
Bảng 3.23: Tình hình quản lý vốn vay của hộ 59
Bảng 3.24: Quyền ra quyết định chính trong các hoạt động 61
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ tính bình đẳng trong thừa kế tài sản của giới trong
hộ gia đình 37
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ các hộ vay vốn 47
Hình 3.3 Biều đồ tỷ lệ các lớp tập huấn của hộ theo giới 58
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn bao đời nay, phụ nữ bao giờ cũng là bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu xã hội làm phong phú cuộc sống con người, phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ tái sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ
Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50 dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và càng ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng,
họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người m , người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình
Nhưng ở khu vực nông thôn, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu vào nếp nghĩ của nhiều người dân dẫn đến tỷ lệ con gái ít được đi học, ít được va chạm nên phụ nữ còn rụt rè, e th n khi tiếp xúc, họ chỉ làm việc nhà mà nhiều khi không được tham gia vào công tác xã hội
Do vậy, để nâng cao tác động của quan điểm giới, thiết thực góp phần tạo lập
sự bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ trong đời sống xã hội, cần thực hiện một loạt những giải pháp vừa tổng thể vừa cụ thể, vấn đề quan trọng cần xem xét giải quyết
đó là sự bình đẳng giới thực sự Vậy làm thế nào để tạo ra sự tham gia của giới,
Trang 11nâng cao vai trò của họ đặc biệt là của phụ nữ nhằm khai thác khả năng và thế mạnh của họ vào các hoạt động kinh tế xã hội (KTXH)
Lộc Bình là một huyện miền núi biên giới phía Bắc của Việt Nam thuộc tỉnh Lạng Sơn Huyện có diện tích 100.095,64km2
và dân số là 78.955 người Huyện có
27 xã , 02 thị trấn Lộc Bình và Na Dương, huyện lỵ là thị trấn Lộc Bình nằm trên Quốc lộ 4 (4B), cách thành phố Lạng Sơn 20 km về hướng Đông Nam và cách biên giới Việt - Trung 15 km về hướng Đông Bắc Lộc Bình vẫn là một huyện phát triển dựa chủ yếu vào nông nghiệp, nhưng đồng thời cũng có những thuận lợi nhất định
để phát triển và có cơ hội thực hiện thành công xây dựng nông thôn mới Vấn đề đặt
ra hiện nay là làm thế nào để từng bước tiến tới sự bình đẳng giữa nam và nữ, phát huy hết khả năng của nữ giới trong các hoạt động xã hội cũng như các hoạt động phát triển kinh tế xã hội tại địa phương Chính vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và sự tham gia của nữ giới trong các hoạt động xã hội cũng như trong phát triển kinh tế xã hội là rất quan trọng
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “N n
u v tr tron p t tr n n t ộ đìn tr n đị bàn uyện Lộ Bìn , tỉn Lạn Sơn”
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mụ t u un
Đánh giá được thực trạng hoạt động của phụ nữ và nam giới trong phát triển kinh tế hộ nông thôn và đưa ra giải pháp và kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội huyện huyện Lộc Bình
Trang 12- Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi trên địa bàn Lộc Bình
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài giúp hệ thống lại một cách khoa học các kiến thức đã học, vận dụng linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời giúp tìm hiểu nâng cao kiến thức chuyên môn
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, cung cấp thêm các cơ sở khoa học giúp cho huyện Lộc Bình xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giới trong các hoạt động phát triển kinh tế hộ gia đình
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 G tín và
1.1.1.1 Khái niệm giới tính và giới
Giới tính và giới thường bị nhầm lẫn với nhau Nhưng thực chất, hai khái niệm này lại khác nhau ở hai phương diện cơ bản đó là: sinh học và xã hội (Bùi Thị Minh Hà, 2010) [9]
* Giới tính: Là một thuật ngữ được các ngành khoa học xã hội và các nhà
sinh học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau
về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: Nam giới và nữ giới (Bùi Thị Minh Hà, 2010) [9]
- Theo Tổ chức lao động quốc tế: sự khác biệt về xã hội và quan hệ (quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn, thuận lợi của các giới tính (Tổ chức lao động quốc tế, 2002) [14]
* Giới: Giới trước hết không phải là phụ nữ Giới liên hệ đến vai trò của nam
và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên Giới có thể khác nhau giữa nơi này và nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian (Bùi Thị Minh Hà, 2010) [9]
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến vấn đề phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể.( Nông Quốc Bình, 2008) [2]
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của
nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể "Giới là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ Đây là cơ sở
để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội
Trang 14- Theo Luật bình đẳng giới: Giới tính là một thuật ngữ chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới xét về mặt sinh học, sự khác biệt căn bản về hình dáng bên ngoài của cơ thể, sự khác nhau về chức năng sinh học tạo nên vai trò của giới tính như: phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa m Về mặt sinh học, nam
và nữ không giống nhau trên nhiều phương diện nhưng chủ yếu nhất là hình dáng, giọng nói và chức năng sinh sản (Quốc hội nước CHXHCNVN, Luật bình đẳng giới,2007) [13]
1.2 Đặc điểm, nguồn gốc
* Đặc điểm về giới
- Không tự nhiên mà có
- Học được từ gia đình và xã hội
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi được
* Nguồn gốc giới:
- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là trai hay gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố m , anh chị Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt về giới cho học sinh Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các ngành cần có thể lực tốt Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ
* Sự khác biệt về giới:
Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là
thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm m , nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới (Vương Thị Vân, 2009) [24]
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái
và gia đình Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và
Trang 15nam giới trong xã hội Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau (Vương Thị Vân, 2009) [24]
1.3 Vai trò của giới
- Vai trò sản xuất: Là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện để làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng Ví dụ: Trồng lúa, nuôi gà, dạy học, (Bùi Thị Minh Hà, 2010) [9]
- Vai trò tái sản xuất (còn gọi là công việc gia đình): Bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: Nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…Vai trò này hầu như của người phụ nữ (Bùi Thị Minh
Hà, 2010) [9]
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng Những hoạt động tự nguyện mang lại phúc lợi cho cộng đồng như: Dọn đường sạch sẽ, bảo vệ nguồn nước sạch, hoạt động từ thiện,… Hoạt động lãnh đạo ra quyết định như: Tham gia cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo đoàn thể (Bùi Thị Minh Hà, 2010) [9]
Tuy phụ nữ và nam giới thực hiện ba vai trò, xong lại được phân công lao động khác nhau Phụ nữ thường làm những việc đơn giản, ít kỹ thuật nên thu nhập thấp và giá trị công việc bị đánh giá thấp
Phân công lao động theo giới truyền thống đã tạo ra bất bình đẳng giới, hạn chế sự phát huy tiềm năng của phụ nữ và ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ vào
Trang 16quá trình phát triển của đất nước và xây dựng hạnh phúc gia đình Vì vậy, một trong những yếu tố tạo nên bình đẳng giới là thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống
1.3.1 N u ầu và bìn đẳn
* Nhu cầu giới thực tế
Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới cần được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò được xã hội công nhận Nhu cầu này nảy sinh từ đời sống hàng ngày, là những thứ nhìn thấy được, thiết thực, cụ thể Có liên quan đến các trách nhiệm và nhiệm vụ gắn với các vai trò giới truyền thống Các nhu cầu giới thực tế có thể được đáp ứng mà không thay đổi vị trí xã hội và địa vị của những người yếu thế, thường liên quan đến điều kiện sống và làm việc khó khăn của phụ nữ, được hình thành từ những điều kiện cụ thể mà mỗi giới trải qua (Trần Thị Vân Anh) [1]
* Nhu cầu giới chiến lược
Là những nhu cầu thường xảy ra từ vị thế thấp hơn của mỗi giới trong xã hội Các nhu cầu này liên quan đến phân công lao động, quyền lực, sự kiểm soát và có thể bao hàm cả những vấn đề như quyền pháp lý, bạo lực gia đình, công bằng xã hội hoặc sự kiểm soát thân thể,…Việc đáp ứng các nhu cầu chiến lược sẽ làm thay đổi
sự phân công lao động, thay đổi vai trò vị và vị thế của giới (Bùi Thị Minh Hà, 2010) [9]
* Bình đẳng giới
Có nghĩa là phụ nữ và nam giới có được địa vị như nhau, có cơ hội như nhau
để phát triển tiềm năng và được hưởng thụ bình đẳng và công bằng những lợi ích của sự phát triển (Bùi Thị Minh Hà, 2010) [9]
- Theo Trần Thị Vân Anh: nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng (Trần Thị Vân Anh) [1]
- Khái niệm Bình đẳng giới: là môi trường trong đó cả nữ giới và nam giới được hưởng vị trí ngang nhau, họ có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm cống hiến cho sự phát triển quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả đó (UBND Lộc Bình, 2012,2013,2014) [19]
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
Trang 17- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống
Bên cạnh quy định về những quyền và nghĩa vụ chung, bình đẳng cho cả nam
và nữ, pháp luật còn xác định những đặc quyền chỉ áp dụng cho phụ nữ nhằm bù đắp cho phụ nữ những thiệt thòi, đặt họ vào vị trí xuất phát ngang bằng với đàn ông trong các quan hệ xã hội, đảm bảo cho họ có thể tiếp nhận các cơ hội và thụ hưởng các quyền một cách bình đẳng như nam giới Đây là quan điểm bình đẳng giới thực chất (Nguyễn Thanh Tâm, 2006) [17]
Luật Bình đẳng giới (2007) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ
có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó (Quốc Hội, 2007) [13]
Với một xã hội hiện đại như ngày nay, bình đẳng giới cần phải gắn với quan điểm phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Điều này thể hiện ở việc tôn trọng giá trị nhân phẩm của nam giới cũng như nữ giới trong những đóng góp của họ đối với xã hội và gia đình Đồng thời, cả hai giới đều có trách nhiệm, chia sẻ với nhau trong thực hiện công việc gia đình và công việc chung của xã hội
Trong xã hội, nếu cả phụ nữ và nam giới cùng được tạo điều kiện để phát huy hết khả năng thực hiện các mong muốn, được tham gia, đóng góp và hưởng thụ các nguồn lực và thành quả trong quá trình phát triển của xã hội, được hưởng tự do
và chất lượng cuộc sống như nhau thì xã hội đó đã đạt được bình đẳng giới Còn ngược lại, nếu những tiêu chí này chưa được xác lập thì chứng tỏ rằng xã hội đó đang tồn tại bất bình đẳng giới
Định kiến giới là suy nghĩ của mọi người về những gì mà phụ nữ và nam giới
có khả năng làm và loại công việc mà họ có thể làm và nên làm; là tập hợp các đặc
Trang 18điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho là thuộc tính của nam giới hay nữ giới (www.xaydungdang.org.vn) [ 27].
Ngày nay, định kiến giới đã có sự tiến bộ song vẫn còn tồn tại khiến cho giới nam và giới nữ chịu nhiều áp lực trong việc thực hiện vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của mình trong cuộc sống
1.3.3 N ạy ảm
Nhạy cảm giới là nhận thức được đầy đủ và đúng đắn về các nhu cầu, vai trò, trách nhiệm khác nhau mang tính xã hội của phụ nữ và nam giới nảy sinh từ những đặc điểm sinh học vốn có của họ Đồng thời hiểu được điều này dẫn đến khác biệt giới về khả năng tiếp cận, kiểm soát nguồn lực và mức độ tham gia, hưởng lợi trong quá trình phát triển của nam và nữ (Bùi Thị Minh Hà, 2010) [9]
1.3.4 Tr n ệm
Trách nhiệm giới là có nhạy cảm giới và có những biện pháp hoặc hành động thường xuyên, tích cực và nhất quán trong công việc để loại trừ nguyên nhân bất bình đẳng giới nhằm đạt được bình đẳng giới (Bùi Thị Minh Hà, 2010) [9]
Hay nói cách khác, đó là việc nhận thức được các vấn đề giới, sự khác biệt giới và nguyên nhân của nó, từ đó đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết và
khắc phục mọi bất bình đẳng trên cơ sở giới
1.3.5 Số l ệu ó t b ệt
Số liệu giới là số liệu tách biệt nam, nữ trong các chỉ tiêu, các lĩnh vực cụ thể Các số liệu này cho thấy mức độ của các khoảng cách giới và được thể hiện dưới nhiều dạng bảng biểu khác nhau Số liệu giới chỉ cho thấy sự khác biệt giữa nam và nữ mang tính định lượng bằng con số hoặc tỷ lệ cụ thể mà không cho biết tại sao lại tồn tại những khác biệt đó.(Bùi Thị Minh Hà, 2010) [9]
1.4 Phát triển kinh tế hộ gia đình
1.4.1 K n ệm về p t tr n và p t tr n n t
* Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng
thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống (Kinh tế Mac- Lênin, 2006) [11]
Trang 19- Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng: Phát triển không chỉ bao gồm tăng trưởng kinh tế mà còn phải bao gồm cả thu h p sự bất bình đẳng, xoá bỏ đói nghèo, cải cách cơ cấu xã hội và thể chế quốc gia để đảm bảo quyền lợi của đa số dân cư tham gia hoạt động chính trị - kinh tế - xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và trình độ văn hoá của đa số nông dân Trọng tâm phát triển là sự phát triển con người, tức là đảm bảo đời sống con người, tôn trọng con người, tạo điều kiện để hộ tham gia hoạt động về các mặt văn hoá - kinh tế - chính trị - xã hội (Kinh tế phát triển, 1997) [6]
* Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội (Kinh tế phát triển, 1997) [6]
- Giáo sư Mc Gê (1989) - Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng:
“Hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc
ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm
- Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”
- Nhóm “hệ thống thế giới” (các đại biểu Wallerstan (1982), Wood (1981, 1982), Smith (1985), Martin và BellHel (1987) cho rằng: “Hộ là một nhóm người
có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ là một đơn vị kinh tế giống như các công ty, xí nghiệp khác”
- Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì hộ được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người có cùng huyết tộc và những người làm công (Đỗ Văn Viện- Đỗ Văn Tiến) [23]
Trang 20- Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng: hộ
là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ (Đỗ Văn Viện- Đỗ Văn Tiến) [23]
Từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau:
- Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy nhiên cũng có thể trường hợp thành viên của hộ không cùng chung huyết thống như con nuôi, người tình nguyện và được sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt ðộng kinh tế lâu dài
- Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động và phân công lao động chung, có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được phân phối lợi ích theo thoả thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần kinh
tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành
phần kinh tế cá thể, tư nhân, tập thể, Nhà nước
- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dầu cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế (ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau
* Hộ nông dân
Theo Frank Ellis cho rằng: "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" (Lê Đình Thắng (1993) [16]
Nhà khoa học Traianốp đưa ra định nghĩa: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định" và ông coi "hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp".( Trần Đức Viên, 1995) [22]
Tác giả Mats Lundahl và Tommy Bengtsson bổ sung thêm vào quan điểm của
Traianốp: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất cơ bản".( Trần Đức Viên, 1995) [22]
Trang 21Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" (Lê Đình Thắng,
1993) [16]
Đào Thế Tuấn (1997) chỉ ra: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” (Đào Thế Tuấn, 1997) [20]
Đối với nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001) thì: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của
hộ dựa vào nông nghiệp".( Nguyễn Sinh Cúc (2001) [5]
Xuất phát từ những khái niệm trên, có thể chỉ ra một số đặc điểm chung của
hộ nông dân như sau:
- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính
là nông nghiệp Hộ có nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông Ngoài ra, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, chẳng hạn tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các mức độ khác nhau
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Hộ nông dân phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng
mở rộng và đi vào chiều sâu
* Kinh tế hộ nông dân:
Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua các hoạt động của hộ nông dân
Theo Frank Ellis (1988): Các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất,
sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh
Trang 22tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường, hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao.(Lê Đình Thắng (1993) [16]
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993): "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn".(Lê Đình Thắng
- Tiền vốn: chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ
Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dư thừa mới bán ra thị trường
1.4.3 G tron đìn
Gia đình là một hình thức tổ chức cơ bản, gắn kết với nhau bởi quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng và giáo dục Trong gia đình chắc chắn luôn tồn tại giới
và giới tính, hai phương diện về thể chất và xã hội
Hộ có tư cách là một tế bào kinh tế xã hội, trong đó sự quản lý nguồn lực và
ra quyết định là chủ hộ hay chủ gia đình Chủ gia đình thường là người lớn tuổi và
là nam giới
Gia đình đóng vai trò cơ bản trong hình thành các mối quan hệ giới và chủ
hộ đưa ra hầu hết các quyết định cơ bản trong phạm vi vủa hộ như có con, nuôi dạy,
đi làm, nghỉ ngơi, đầu tư cho tương lai (Carorine Moser, 1996, 2000) [4]
Sự phân công lao động rõ ràng được dựa vào giới Đàn ông tham gia chủ yếu vào việc ra quyết định và tiến hành các hoạt động sản xuất ở bên ngoài trong khi người phụ nữ chịu trách nhiệm sinh con và công việc nhà
Trang 23Có thể nhận thấy nam giới có khả năng tập trung cao độ vào một vai trò sản xuất cụ thể cụ thể nào đó trong khi phụ nữ có thể thực hiện tất cả các vai trò một
cách đồng thời (Giới trong phát triển nông thôn, 2009) [7]
1.5 Cơ sở thực tiễn
1.5.1 T ự trạn và v tr ủ ở một số quố
Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùng một loại công việc Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50 - 90% thu nhập của nam giới
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động
Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao Một số tài liệu thống kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó:
- Bangladesh: có 67,3 phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động so với 82,5 nam giới Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9 ) Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30-
49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54 Đáng chú ý rằng, gần 61 phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36 tham gia lực lượng lao động (Vương Thị Vân (2009) [24]
- Trung Quốc: Nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất
từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60-64 vẫn còn 32,53 tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi (Vương Thị Vân (2009) [24]
1.5.2 C ủ trươn , ín s ủ N à nư v sự p t tr n ủ bìn đẳn
và n ận t
Quan điểm “Nam nữ bình quyền” của Đảng và Bác Hồ đã được xác định ngay từ trong cương lĩnh của Đảng năm 1930
Ngày 10/01/1967, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành nghị quyết số 152
- NQ/TW về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ nữ: “Tư tưởng phong
Trang 24kiến đối với phụ với phụ nữ còn tồn tại khá sâu sắc trong một số cán bộ, Đảng viên
kể cả cán bộ lãnh đạo Thể hiện rõ nhất tư tưởng h p hòi, trọng nam khinh nữ, chưa tin vào khả năng lãnh đạo và khả năng quản lý kinh tế của phụ nữ, chưa thấy hết khó khăn trở ngại của phụ nữ”
Chỉ thị số 44 - CT/TW ngày 07/06/1984 của Ban bí thư chỉ ra rằng “Nhiều cấp ủy Đảng và lãnh đạo các ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ…vẫn còn tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằng với chị em”
Ngày 12/07/1993, Ban chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 04 - NQ/TW đổi mới tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới
Ngày 25/12/2001, quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến 2010, với mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho phụ nữ Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ “ Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng đào tạo nghề, nâng cao học vấn, có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia nhiều vào các cơ quan lãnh đạo quản lý ở các cấp, các ngành; bảo vệ sức khỏe bà m trẻ em tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người m , xây dựng gia đình no ấm , bình đẳng, độc lập, hạnh phúc” (http://hoilhpn.org.vn, 2012) [30]
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định thêm chủ trương trên
Báo cáo của chính phủ khóa XI kỳ họp lần 9 (2006) chỉ ra nhiều tồn tại trong tiếp cận các dịch vụ cơ bản, tảo hôn, phân biệt đối xử, ngược đãi…Mục tiêu về tiến
bộ phụ nữ và bình đẳng giới chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên
Luật bình đẳng giới được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua tại kỳ họp ngày 29/11/2006 Ngày 2/12/2006, lệnh công bố được Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký và có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007
Trang 25Ngày 15/07/2010, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội tổ chức Hội thảo Dự thảo chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 - 2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới Tại hội thảo Bộ
LĐ - TB &XH đã tổng kết Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới nhưng các đại biểu cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề bạo lực trong gia đình, buôn bán phụ nữ trẻ em…Và Chính phủ đã giao cho Bộ LĐ - TB & XH chủ trì xây dựng Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020
Việt Nam tham gia một số công ước như công ước về quyền trẻ em (CRC), công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), hay các mục tiêu thiên niên kỷ…
1.5.3 T ự trạn và v tr ủ tron n t ộ đìn ở V ệt N m
1.5.3.1 Giới trong tiếp cận một số vấn đề ở gia đình nông thôn
Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới, coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp phát triển đất nước Trong những năm qua, với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, của hội Liên hiệp Phụ Nữ Việt Nam, phụ nữ nước ta đã có nhiều sự tiến bộ vượt bậc Các Bộ, Ngành và địa phương đã có nhiều hoạt động tích cực để phát huy vai trò của phụ nữ, xây dựng và triển khai thực hiện các kế hoạch và chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Xây dựng và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành pháp luật, chính sách có liên quan đến sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra tình hình thực hiện pháp luật, chính sách đối với phụ nữ (Nguyễn Hữu Giang, 2012) [8]
Việt Nam vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ là một trong những mục tiêu to lớn của Đảng và nhà nước ta đã được khẳng định trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, trong hiến pháp qua các thời kỳ và đã được thể chế hóa trong hầu hết các văn bản pháp luật, tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Đặc biệt, ngày 29/11/2006 Luật bình đẳng giới đã được Quốc hội thông qua
và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị
Trang 26số 10/2007/CT - TTg ngày 3/5/2007 về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới (www.dostbinhdinh.org.vn) [26]
Nghị định số: 70/2008/NĐ-CP ngày 4/6/2008 quy định chi tiết thi hành một
số điều của Luật Bình đẳng giới (www.chinhphu.vn) [29]
Nghị định số: 48/NĐ-CP ngày 19/5/2009 quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới Trong đó quy định cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới là
Bộ Lao động thương binh xã hội (www.chinhphu.vn) [29]
Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2015: Mục tiêu của Chương trình: Tạo bước chuyển biến mạnh
mẽ về nhận thức nhằm thúc đẩy toàn xã hội thay đổi hành vi thực hiện bình đẳng giới Từng bước thu h p khoảng cách giới và nâng vị thế của phụ nữ trong một số lĩnh vực còn bất bình đẳng hoặc nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 - 2020
Một số đề tài nghiên cứu về giới tại Thái Nguyên:
Nguyễn Vân Chi, “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò lao động nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, năm 2007
Đàm Thị Minh Thu, “Lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thực trạng và giải pháp”, năm 2005
Vương Thị Vân, “Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”, năm 2009
1.5.3.2 Vai trò giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của gia đình
Thời kỳ chuyển đổi kinh tế của Việt Nam từ kinh tế quản lý tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là giai đoạn đất nước có những chuyển biến quan trọng trên tất cả các bình diện kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể: Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, liên tục và có dấu hiệu
ổn định Điều này là tiền đề cho những cải thiện thêm nhiều mặt về đời sống kinh tế
- xã hội của đất nước, đem lại lợi ích cho hầu hết các tầng lớp dân cư ở thành thị cũng như nông thôn, ở miền xuôi cũng như miền ngược
Trang 27Trong bối cảnh đời sống của ngày hôm nay, vai trò gia đình càng nổi bật lên môi trường giáo dục cá biệt, toàn diện có hiệu ích nhất Gia đình là hình ảnh một mái nhà chở che, nơi con người trú ngụ, chống trả mọi phong ba bão táp, chống lại nỗi cô đơn căn bệnh phổ biến của thế giới hiện đại; nơi cân bằng lại mọi xô lệch của đời sống con người Gia đình là sáng tạo tự nhiên kỳ diệu của con người Gia đình
là một tổ hợp, xinh xắn hài hoà và mạnh mẽ Nói đến gia đình chúng ta phải nhắc đến vai trò của người phụ nữ, nếu không có người phụ nữ thì chưa thật sự là gia đình
Phụ nữ là một nửa của nhân loại Theo tổng kết của Liên Hiệp Quốc năm
1980, phụ nữ chiếm ½ dân số thế giới, thực hiện gần 2/3 tổng số giờ lao động của thế giới, sản xuất ½ sản lượng nông nghiệp của thế giới Nhưng lại chiếm 2/3 dân số
mù chữ trên thế giới và chỉ nhận được 1/10 tổng thu nhập, sở hữu 1/100 tổng số của cải trên thế giới
Trong các gia đình Việt Nam thì phụ nữ tham gia trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và bán sản phẩm nhiều hơn so với nam giới Trong công việc sản xuất lúa thì nam giới là người làm đất còn phụ nữ đóng vai trò gieo cấy, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ sản phẩm khu vực nông thôn, 84 số gia đình làm chăn nuôi thì phụ nữ dành đến 30 trong tổng sức lao động cho sản xuất nông nghiệp để sử dụng cho chăn nuôi, trong khi đó nam giới chỉ dành 10 trong tổng sức lao động cho sản xuất này.(FAO & UNDP, 2002) [3]
Gia đình là một trong những thiết chế xã hội cơ bản nhất, có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội Gia đình vừa là
tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân, cầu nối giữa cá nhân và xã hội, vừa là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đồng thời là động lực phát triển của xã hội Hoạt động của gia đình có tác động đến các hệ thống, các quá trình và các quan hệ xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất xã hội Vai trò quan trọng của gia đình chính là ở chỗ nó đảm nhiệm chức năng tái sản xuất ra sức lao động qua việc chăm lo, khôi phục sức khỏe cho các thành viên của mình sau những giờ lao động mệt nhọc Gia đình cũng đảm nhiệm trách
Trang 28nhiệm hết sức nặng nề trong việc tái sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, bảo đảm cuộc sống cho các thành viên, đồng thời gia đình còn có vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc lưu giữ, truyền thụ văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ
khác, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống quý báu của con người Do vậy, vai trò của giới trong gia đình là hết sức quan trọng, giúp từng bước ổn định, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.(www.xaydungdang.org.vn) [28]
1.5.4 Một số n n u về tron đìn ở một số đị p ươn ủ nư t
Bằng phương pháp điều tra thống kê xã hội học, thông qua hệ thống câu hỏi phỏng vấn trên 15 xã, 06 huyện, 15 cơ quan, 500 hộ nông nghiệp, 350 hộ gia đình
CNVC-LĐ và 150 hộ tiểu thương ở tỉnh Bình Định, đề tài “ T ự trạn và ả
p p N n u vấn đề bìn đẳn tron tổ uộ sốn đìn ở Bìn Địn ” của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Thụy, đã đưa ra 16 nhận xét phản ánh thực trạng
chung (cho cả ba đối tượng gia đình) về bình đẳng giới Trong đó, tập trung các nhận xét sau: người đứng tên giấy sử dụng đất canh tác, nhà ở chủ yếu là nam giới;
cả phụ nữ và nam giới đều đóng góp công sức vào các hoạt động tạo thu nhập của
hộ gia đình nhưng nữ đóng góp nhiều hơn nam; phụ nữ đóng góp công sức vào hoạt động tạo thu nhập nhiều hơn nam giới, nhưng đóng góp bằng tiền mặt thấp hơn; phụ
nữ là người đảm nhiệm chính công việc nội trợ; sự chia sẻ của nam giới nổi bật trong việc giáo dục con; phụ nữ trong các gia đình là người thực hiện chính các biện pháp kế hoạch hóa gia đình; phụ nữ tham gia các hoạt động cộng đồng, các lớp tập huấn không nhiều; phụ nữ là người quản lý tiền mặt của gia đình nhưng quyền quyết định những khoản chi tiêu lớn lại thuộc về nam giới; quyền quyết định những vấn đề quan trọng trong gia đình vẫn thuộc về nam giới; trong các hộ gia đình, phụ
nữ có thời gian nghỉ ngơi ít hơn nam giới.( Nguyễn Thanh Thụy, 2002-2003) [18]
Nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng giới trong tổ chức cuộc sống gia đình theo nghiên cứu là do vẫn còn ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến gia trưởng cùng
sự biến đổi chậm chạp của ý thức xã hội, các thiên kiến về giới bám rễ lâu đời trong một số tầng lớp nhân dân, do việc xem trọng gia đình của người phụ nữ và hầu như nam giới chưa thay đổi quan niệm trụ cột của mình với gia đình Chính họ đã tự đặt
Trang 29cho mình trọng trách lớn, phụ nữ còn tự ti luôn nghĩ mình là người hỗ trợ cho vai trò trụ cột của chồng Đối với những gia đình nông thôn, sự chuyển dịch nhân công lao động từ nông thôn ra thành thị (thường diễn ra với nam) đã làm cho những người phụ nữ ở lại địa phương thêm gánh nặng: đảm nhận cả lao động sản xuất lẫn việc nội trợ Trình độ học vấn cũng góp phần quan trọng trong việc tạo quyền quyết định cho nam hay nữ Nếu trong gia đình cả hai vợ chồng có học vấn cao thì sự bàn bạc, thỏa thuận chiếm tỷ lệ lớn, ngược lại người vợ có trình độ thấp thì quyền quyết định mọi mặt chủ yếu vẫn là chồng
Đề tài cũng đã đưa ra giải pháp nhằm thực hiện bình đẳng giới trong tổ chức cuộc sống gia đình Trong đó nhấn mạnh đến vai trò công tác tuyên truyền làm chuyển biến nhận thức và nâng cao ý thức thực hiện bình đẳng giới và vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể trong việc thúc đẩy quá trình bình đẳng giới Thực hiện bình đẳng giới là một công việc lâu dài và cần sự phối hợp đồng bộ của toàn xã hội So với trước kia, mối quan hệ nam nữ, vợ chồng hiện nay đã phần nào được cải thiện Những dấu hiệu ban đầu như chia sẻ công việc nhà, chia sẻ việc buôn bán (gia đình tiểu thương), tạo điều kiện cho vợ học tập, thăng tiến trong công tác, công việc đã được nhiều ông chồng, đặc biệt là những đôi vợ chồng trẻ thực hiện Trong hoàn cảnh hiện tại, bản thân chị em phụ nữ trước hết ý thức được sự tự phấn đấu vươn lên, tự giải phóng mình trước tiên Không ngừng cố gắng để khẳng định vai trò của mình trong gia đình và ngoài xã hội Phụ nữ cũng nên tận dụng sự ngọt ngào, dịu dàng vốn có của mình để thuyết phục, kêu gọi sự cảm thông, trách nhiệm của người chồng trong công việc gia đình, thay vì “đấu tranh trực diện” Vấn đề giáo dục kiến thức gia đình cho nam và nữ trước khi lập gia đình cần được chú trọng hơn. (www.dostbinhdinh.org.vn) [26]
Theo PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến, biến đổi xã hội tác động đến vai trò của giới trong gia đình cư dân ven đô Đó là trong sản xuất, đóng góp kinh tế, công việc gia đình, quyền lực trong gia đình và ảnh hưởng cơ chế thị trường đến vai trò kép
của phụ nữ (Trần Thị Kim Xuyến, 2001) [25]
Người phụ nữ gắn liền với vai trò người vợ, người m , người nội trợ trong gia đình Người phự nữ phải chịu gánh nặng kép Đây là một lĩnh vực của đời sống
Trang 30gia đình thể hiện sự bất bình đẳng giới Nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu yếu tố tác động đến vai trò nội trợ của người phụ nữ trong gia đình và những hậu quả của sự tác động đó
Theo tác giả Lê Thị Quý thì người phụ nữ là người phải lo toan quán xuyến gia đình, phải vâng lời đàn ông và không được tham gia gia vào các công việc xã hội Nho giáo buộc người phụ nữ phải tuân theo các quy tắc về “tam tòng” và “tứ đức” Người phụ nữ phải tham gia vào lĩnh vực sản xuất và tái sản xuất là những việc không được trả công hoặc trả công thấp Sự phân công lao động bất hợp lý như vậy nên vai trò của nam và nữ trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực cũng như lợi ích có một khoảng cách rất xa Phụ nữ là người tiếp cận nguồn lực nhiều hơn nam giới nhưng lại ít quyền kiểm soát nguồn lực đó Việc hưởng thu nhập từ công việc cũng không công bằng vì phụ nữ thường hy sinh những lợi ích vì chồng con (Lê Thị Quý, 2004) [12]
Qua cuộc khảo sát ở thành phố Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang cho thấy trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa thì bình đẳng giới đã có sự biến đổi ở gia đình nông thôn ven đô thông qua sự phân công lao động theo giới, cách tiếp cận các nguồn lực giữa nam và nữ, vấn đề quyền lực trong gia đình, mức đóng góp và thụ hưởng giữa vợ và chồng Ngày nay vai trò, vị thế của người phụ nữ ngày càng được nâng lên và đánh giá cao hơn trong gia đình cũng như ngoài xã hội Tuy nhiên vẫn còn tồn tại khá nhiều sự bất bình đẳng, điều đó gây ra sự thiếu công bằng cho người phụ nữ Bình đẳng giới là sự bình đẳng về luật pháp, về cơ hội bao gồm sự bình đẳng trong thù lao cho công việc và tiếp cận đến nguồn vốn con người và các nguồn lực sản xuất khác cho phép mở ra cơ hội này, và bình đẳng về “tiếng nói” là khả năng tác động và đóp góp cho quá trình phát triển Để đạt được sự bình đẳng giới thì trước hết người phụ nữ phải xác định mình phải có không gian tự do sáng tạo của mình Và hiểu chỉ khi mình phát triển về mặt trình độ ngang bằng với chồng thì mình mới hy vọng có bình đẳng thực sự Và mình cũng phải làm thế nào thuyết phục được người thân của mình chia sẻ các công việc, hỗ trợ mình trong cuộc sống hàng ngày Chỉ khi đó người phụ nữ mới có bình đẳng thực sự (Đỗ Văn Viện - Đỗ
Văn Tiến ) [23]
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tương, phạm vi và nội dung nghiên cứu
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đ ều ện tự n n, n t , xã ộ uyện uyện Lộ Bìn , tỉn Lạn Sơn 2.2.2 T ự trạn v tr ủ tron p t tr n n t ộ đìn tr n đị bàn uyện Lộ Bìn
2.2.3 Một số y u tố ản ưởn đ n v tr ủ tron p t tr n n t ộ đìn
2.2.4 Đề xuất ả p p ủ y u n ằm p t uy v tr ủ mỗ tron
p t tr n n t ộ đìn tr n đị bàn uyện Lộ Bìn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 P ươn p p ọn mẫu n n u
* Chọn vùng nghiên cứu:.Theo vị trí địa lý, tổng địa bàn huyện gồm có 27
xã, đề tài chọn ra 3 xã đại diện để nghiên cứu và dựa vào tình hình phát triển kinh tế giữa các xã, tiến hành phân chia vùng nghiên cứu thành 3 khu vực, khu 1: trung tâm, khu 2: giáp ranh giữa hai khu và khu 3: xa trung tâm huyện Cụ thể như sau:
- Khu 1 (trung tâm): lựa chọn xã đại diện là: Đồng Bục, là xã ở phía nam của huyện, chạy dọc theo tuyến đường 4B, dân cư sống tập trung và đông đúc, địa hình bằng phẳng, bao quanh trung tâm huyện, giao thông thuận tiện, có nhiều khu buôn bán tập trung
Trang 32- Khu 2 (giáp ranh giữa 2 khu): lựa chọn xã đại diện là xã Quan Bản: đất đai ở vùng này khá tốt, cùng với mạng lưới sông, suối, ao, hồ khá dày, phân bố đều với nguồn nước dồi dào…, đồng đất màu mỡ, phì nhiêu, cây trái xanh tươi
- Khu 3 (xa trung tâm): lựa chọn xã đại diện là: Hữu Khánh, nằm xa khu trung tâm xã Là vùng có tiền năng về cây công nghiệp ngắn ngày là cây thuốc lá
- Chọn hộ nghiên cứu: chọn 90 hộ đại diện cho huyên Lộc Bình
Từ danh sách các hộ gia đình, chọn ngẫu nhiên với số hộ tương ứng là:
+ Hộ trung bình: là những hộ gia đình có nhà cấp bốn lợp ngói, diện tích đất không lớn và sử dụng chưa hiệu quả Đồ dùng trong gia đình: tivi, xe máy, xe đạp ở mức bình thường Lượng gia súc, gia cầm ít hơn hộ khá Nguồn nhân lực ít, vốn đầu
tư cho sản xuất không nhiều Thu nhập bình quân từ 521.000 - 600.000đ/ người/ tháng (Lê Đình Thắng (1993) [16]
+ Hộ nghèo: là những hộ có nhà bằng đất hoặc xây nhưng đã xuống cấp Đồ dùng trong gia đình: tivi, xe đạp còn thiếu hoặc ít có giá trị, thu nhập không ổn định Thiếu lao động, đất sản xuất và vốn đầu tư, thiếu kinh nghiệm làm ăn hoặc
Trang 33trong gia đình có người nghiện ma túy Thu nhập bình quân dưới 400.000đ/ người/ tháng (Lê Đình Thắng (1993) [16]
2.3.2 P ươn p p t u t ập số l ệu
2.3.2.1 Số liệu thứ cấp
* Nguồn số liệu
- Số liệu thống kê của các bộ, ngành có liên quan
- Sở Lao động - TBXH, Sở NN & PTNT tỉnh Lạng Sơn
- Báo cáo tổng kết của UBND huyện, Phòng LĐ & TBXH, Báo cáo tổng kết các hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ, của huyện Lộc Bình
- Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn
đề về vai trò giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình
* Phương pháp thu thập: qua việc ghi chép, thống kê các dữ liệu cần thiết
cho đề tài với một số chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn
2.3.2.2 Số liệu sơ cấp
* Nguồn số liệu: trên cơ sở các mẫu điều tra 90 hộ đã chọn, thu thập thông
tin bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp
* Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi: thu thập các số
liệu bằng hệ thống các câu hỏi đã được soạn thảo trước
Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở
Nội dung các câu hỏi phục vụ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế theo các nhóm thông tin sau:
1 Nhóm thông tin chung về hộ gia đình
2 Nhóm thông tin về điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ
3 Nhóm thông tin về các nguồn thu nhập, nguồn vốn vay của hộ
4 Nhóm thông tin về vai trò giới trong hoạt động sản xuất
5 Nhóm thông tin về vai trò giới trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng
6 Nhóm thông tin về tiếp cận thông tin của giới
7 Nhóm thông tin về người ra quyết định chính trong các hoạt động
8 Nhóm thông tin về sử dụng quỹ thời gian, sức khỏe của giới
Trang 349 Nhóm thông tin về một số ý kiến về quan điểm giới
2.3.3 P ươn p p tổn ợp và p ân tí số l ệu
2.3.3.1 Phương pháp xử lý số liệu
Thông tin và các số liệu sau khi thu thập được sẽ được cập nhật và tính toán trên chương trình Excel của Microsoft
2.3.3.2 Phương pháp phân tổ thống kê
Được sử dụng để phân loại theo các mức độ khác nhau, phân loại giới theo tuổi, ngành nghề, văn hoá
2.3.3.3 Phương pháp thống kê so sánh
Có được các chỉ tiêu nghiên cứu tổng hợp thành các bảng số liệu, chúng tôi
so sánh, phân tích bằng các chỉ số khác nhau để thấy được có sự khác nhau về tài sản sinh hoạt, tư liệu sản xuất, thu nhập, tiêu dùng, vai trò giữa giới nam và nữ trong các hộ gia đình
2.3.3.4 Phương pháp phân tích giới
Cơ sở phân tích giới gồm sự khác biệt giữa nam và nữ về địa vị kinh tế - XH - chính trị; tác động của sự khác biệt này đối với công việc, khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực và mức độ tham gia vào quá trình ra quyết định của nam và nữ
2.3.4 Hệ t ốn ỉ t u n n u
2.3.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ
Là các số bình quân về nguồn lực đất đai, lao động, vốn, tài sản sản xuất của hộ
- Tỷ lệ lao động nam và nữ tham gia lực lượng lao động phân theo nhóm tuổi: Là tỷ số phần trăm giữa lao động nam, nữ trong các nhóm tuổi trên tổng số lao động nữ đủ 15 tuổi đến 55 tuổi và lao động nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi tính tại thời điểm đó
- Trình độ văn hóa, phân theo giời ở các nhóm hộ điều tra: tỷ lệ nam nữ trong các hộ điều tra ở trình độ cụ thể: chưa đi học, mù chữ, tiểu học, THCS, THPT, TC,
CĐ đại học
2.3.4.2 Các chỉ tiêu biểu hiện sự đóng góp của hai giới trong kinh tế hộ
- Ra quyết định và thực hiện các hoạt động trong sản xuất nông nghiệp tại
Trang 35các hộ điều tra: là tỷ lệ số lần ra quyết định hay thực hiện các quyết định đó đối với một hoạt động sản xuất nông nghiệp cụ thể của vợ, chồng hoặc của cả hai vợ chồng trên tổng số ghi nhận trong các hộ điều tra
- Phân chia công việc hàng ngày trong gia đình: tỷ lệ số lần làm các công việc như: nội trợ, chăm sóc con cái, dạy con học hành, quản lý tài chính, mua sắm tài sản, vay vốn, đi họp thôn - xóm, ma chay - cưới hỏi đối với chồng, vợ, cả hai
vợ chồng hoặc các con trong gia đình trên tổng số các ghi nhận về từng công việc
cụ thể trong nhóm hộ điều tra
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
3.1.1 Đ ều ện tự n n
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Lộc Bình nằm ở phía Đông Nam tỉnh Lạng Sơn, cách thành phố Lạng Sơn 23 km theo Quốc lộ 4B từ Lạng Sơn đi Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp huyện Cao Lộc, phía Tây giáp huyện Chi Lăng và Tây Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông Nam giáp huyện Đình Lập, phía Đông Bắc giáp Quảng Tây (Trung Quốc) Có
vị trí toạ độ địa lý: Từ 21029’37” đến 21051’46” vĩ độ Bắc và từ 106045’4” đến
107040’42” kinh độ Đông
Lộc Bình là huyện biên giới của tỉnh Lạng Sơn với chiều dài đường biên giới với Trung Quốc là 31,69 km Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 100.094,98 ha,
Trang 37chiếm 12,02 tổng diện tích cả tỉnh, huyện có 29 đơn vị hành chính gồm hai thị trấn là thị trấn Lộc Bình và thị trấn Na Dương, 27 xã và 290 thôn, khu phố
3.1.1.2 Địa hình
Huyện Lộc Bình nằm trong lưu vực sông Kỳ Cùng, độ cao trung bình so với mặt nước biển 352 m, cao nhất là đỉnh núi Mẫu Sơn (1.541 m) Địa hình của huyện nghiêng từ bắc xuống Tây Nam, chia thành 3 vùng rõ rệt
+ Vùng núi cao: Chạy bao quanh huyện theo hình cánh cung, có độ cao trung bình từ 700 - 900 m gồm các xã: Mẫu Sơn, Tam Gia, Lợi Bác, Ái Quốc, Minh Phát, Hữu Lân Phần lớn đất có độ dốc > 20o
+ Vùng đồi núi thấp: Có độ dốc từ 8 - 150, bao gồm các xã: Yên Khoái, Khuất Xá, Tú Đoạn, Hiệp Hạ, Xuân Tình
+ Vùng thung lũng bằng: Gồm các xã chạy theo dọc Quốc lộ 4B, một phần chạy theo dọc theo sông Kỳ Cùng, bao gồm các xã: Vân Mộng, Quan Bản, Tú Mịch, Bằng Khánh, Xuân Lễ, Lục Thôn, Như Khuê
3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
* Khí hậu: Do đặc điểm của địa lý, địa hình nên có thể chiaLộc Bình thành 2
vùng tiểu khí hậu khác nhau:
- Vùng khí hậu núi cao Mẫu Sơn;
- Vùng khí hậu thung lũng sông Kỳ Cùng;
Đặc điểm khí hậu của Lộc Bình là nằm trong vùng có mùa đông lạnh, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của gió mùa Đông Bắc Khí hậu phân mùa rõ rệt, ở các mùa khác nhau nhiệt độ phân bố không đồng đều do sự phức tạp của địa hình miền núi và sự biến tính nhanh chóng của không khí lạnh trong quá trình di chuyển ở vùng nội chí tuyến đã gây nên những chênh lệch đáng kể trong chế độ nhiệt giữa các tiểu vùng
- Nhiệt độ: Về cơ bản, khí hậu Lộc Bình vẫn là khí hậu nhiệt đới với tổng nhiệt độ năm >75600C, số giờ nắng 1400-1450 giờ, bức xạ tổng cộng 110-120kcal/cm2/năm, nhiệt độ TB năm 210C, thấp hơn các nơi khác ở miền Bắc
Trang 38Nhưng nhiệt độ cao nhất tuyệt đối có thể lên 370C và nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối có thể xuống -20
C
- Chế độ mưa: Lộc Bình là huyện có lượng mưa khá của tỉnh Lạng Sơn, lượng mưa trung bình 1349mm (Riêng vùng núi Mẫu Sơn có lượng mưa khá cao 2000-2400mm/năm)
3.1.1.4 ài nguyên rừng
Hiện tại huyện Lộc Bình có 59.558,96 ha đất rừng sản xuất (đất có rừng tự nhiên sản xuất: 9.159,22 ha; đất có rừng trồng sản xuất: 31.480,55 ha; đất khoanh nuôi phục hồi sản xuất: 3.656,00 ha; đất trồng rừng sản xuất: 15.099,12 ha); 12.282,95 ha đất rừng phòng hộ đây là một điều kiện và là tiềm năng lớn để phát triển nghề rừng Đất rừng phòng hộ 12.282,95 ha (đất có rừng tự nhiên phòng hộ 3.419,53 ha; đất có rừng trồng phòng hộ 4.161,46 ha; đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ 1.900,27 ha; đất trồng rừng phòng hộ 2.801,69 ha)
Diện tích đất rừng đã giao 54.509,53 ha, trong đó: giao cho hộ gia đình 40.580,63 ha; giao cho tổ chức 6.950,6 ha; giao cho tập thể thôn 6.978,3 ha Diện tích chưa giao 17.168,31 ha, hiện nay đang trình UBND tỉnh xem xét, giao cho UBND các xã trên địa bàn huyện quản lý diện tích này
SL (ha)
Cơ cấu (%)
SL (ha)
Cơ cấu (%)
Đất nông nghiệp 32.462,12 32,43 32.462,12 32,43 29.269,45 29,24 Đất lâm nghiệp 53.418.76 53,37 54.198,36 54,15 55.361,12 55.31
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lộc Bình, 2012 -2014)
Trang 39Lộc Bình có 100.094,98 km2
ha đất tự nhiên, năm 2010 có 32.462,12 ha đất nông nghiệp, chiếm 32,43 tổng số đất nông nghiệp, 53.418.76 ha đất lâm nghiệp, chiếm 53,37% tổng số đất lâm nghiệp, 6.817,73 ha chuyên dùng, chiếm 6,81 đất chuyên dùng và 7.397,10 ha đất chưa sử dụng, chiếm 7,39
Nhìn chung, tiềm năng đất đai của huyện là rất lớn, đặc biệt là đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên, đây chính là một thế mạnh của huyện Lộc Bình để phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
3.1.1.6 ài nguyên du lịch, nhân văn
Khu du lịch mẫu sơn: Khu du lịch Mẫu Sơn đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh
Lạng Sơn quy hoạch thành Khu du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái, leo núi thám hiểm và
du lịch văn hoá Khu du lịch có diện tích trên 20ha ở độ cao trung bình từ 800 - 1200m so với mặt nước biển, có hệ thống nhà nghỉ, nhà hàng, khách sạn, bãi cắm
trại đạt tiêu chuẩn phục vụ du khách du lịch
3.1.2 Đ ều ện n t - xã ộ
3.1.2.1 ình hình phát triển kinh tế
Được Ban chấp hành Đảng bộ huyện, BTV Huyện ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các chương trình, đề án, do vậy tình hình kinh tế - xã hội của huyện Lộc Bình tiếp tục được duy trì ổn định và có chiều hướng phát triển tốt
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt gần 65 tỷ đồng, tăng
18 so với năm 2013
Tổng thu ngân sách trên địa bàn khoảng 21.159 tỷ đồng
Tỷ lệ hộ nghèo giảm 6,56 , bằng 72.32 kế hoạch Giải quyết việc làm cho
826 lao động, đạt 71.5 KH Giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 0,6 , đạt 52 kế hoạch
- ình hình phát triển ngành trồng trọt:
Ngành nông nghiệp là ngành sản xuất quan trọng hàng đầu của huyện Trong thời gian qua, huyện Lộc Bình thực hiện đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tập trung thâm canh, tăng vụ, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất; sử dụng các loại giống mới có năng suất cao, mở
Trang 40rộng diện tích các cây trồng chính như: Lúa, ngô, khoai tây, dưa hấu, thuốc lá, sản xuất phân theo vùng, tạo ra sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao Hướng tập trung chuyển dịch của huyện là đưa những cây có giá trị kinh tế cao vào canh tác để tăng hiệu quả kinh tế trên cùng một đơn vị diện tích, tiến tới xóa hẳn nền kinh tế tự cung,
tự cấp Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện từ 2002 - 2014 được thể hiện
ở bảng 3.2 cho thấy:
Bảng 3.2: Diện tích, năng suất, sản lƣợng 1 số cây trồng chính
của huyện năm 2014
(Nguồn: UBND huyện Lộc Bình )
Kinh tế chậm phát triển do bà con còn chưa có nhiều kĩ thuật canh tác và thâm canh, sản xuất vụ 3 tương đối thấp, do khí hậu vụ này không được thuận lợi dẫn tới năng xuất của vụ này không cao, do vậy bà con thường bỏ vụ này và xuống các vùng đồng bằng để làm thuê Giá cả vật tư phân bón tăng cao, giá sản phẩm nông nghiệp thấp, sản xuất nông nghiệp mang tính tự túc, tự cấp chưa trở thành hàng hóa Nông sản sản xuất ra chưa có cơ sở chế biến, chủ yếu là bán hàng thô nên giá thành thấp, nhiều sâu bệnh hại vì vậy so với sản xuất công nghiệp và dịch vụ thì thu nhập của nông dân nông nghiệp thấp và nghèo hơn
- ình hình phát triển ngành lâm nghiệp:
Diện tích rừng của huyện Lộc Bình những năm trước đây bị khai thác, chặt phá bừa bãi dẫn đến rừng bị nghèo kiệt, các loại gỗ quý hiếm còn lại không đáng
kể Những năm gần đây được sự quan tâm của các cấp, ngành, rừng được bảo vệ và chăm sóc, diện tích rừng ngày một tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Cơ cấu cây trồng rất đa dạng và phong phú, môi trường ngày càng được bảo vệ tốt, hạn chế được nhiều quá trình xói mòn đất trong khi mưa lũ