Tại quyết định này, mục tiêu chung của Chương trình được xác định là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ c
Trang 1-
LƯƠNG VĂN KHANH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐỀ THÁM,
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên - 2015
Trang 2-
LƯƠNG VĂN KHANH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN
MỚI TRÊN ĐỊA BÀN XÃ ĐỀ THÁM,
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn:PGS TS NGUYỄN HỮU HỒNG
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi
lời cảm ơn đến Thầy giáo PGS-TS Nguyễn Hữu Hồng - Người trực tiếp hướng
dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các Thầy Cô thuộc phòng Đào tạo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn UBND xã Đề Thám, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và các hộ gia đình ở 3 thôn Kéo Lày, Bản Quyền, Nà căm đã cung cấp số liệu thực tế
và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đồng nghiệp, bạn bè, cùng toàn thể gia đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu đề tài
Đề Thám, ngày 22 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận văn
Lương Văn Khanh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Khái niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 4
1.1.1.1 Khái niệm nông thôn mới 4
1.1.1.2 Khái niệm xây dựng nông thôn mới: 4
1.1.2 Đơn vị nông thôn mới 5
1.1.3 Chức năng của nông thôn mới 5
1.1.3.1 Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại 5
1.1.3.2 Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống 5
1.1.3.3 Chức năng sinh thái 6
1.1.4 Chủ thể xây dựng nông thôn mới 6
1.1.5 Nguồn gốc động lực xây dựng nông thôn mới 7
1.1.5.1 Động lực từ đô thị hóa 7
1.1.5.2 Động lực từ công nghiệp hóa 7
1.1.5.3 Động lực từ các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và các tổ chức hợp tác 8
1.2 Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới 8
1.2.1 Quan điểm của Đảng về xây dựng NTM từ Đại hội X đến nay 8
1.2.2 Nguyên tắc thực hiện xây dựng nông thôn mới 11
Trang 61.2.3 Nội dung xây dựng nông thôn mới 12
1.2.3.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bao gồm 12
1.2.3.2 Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội 13
1.2.3.3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập 15
1.2.3.4 Giảm nghèo và an sinh xã hội 15
1.2.3.5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở
nông thôn 16
1.2.3.6 Phát triển giáo dục đào tạo 16
1.2.3.7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân 16
1.2.3.8 Xây dựng đời sống văn hóa, thôn tin và truyền thông 16
1.2.3.9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 17
1.2.3.10 Nâng cao chất lượng tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn 17
1.2.3.11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội ở nông thôn 18
1.2.4 Các bước xây dựng nông thôn mới 18
1.3 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới 19
1.3.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới 19
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 19
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc 25
1.3.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 31
1.3.2.1 Thành lập bộ máy chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở 31
1.3.2.2 Tổ chức quán triệt, tuyên truyền, chọn điểm chỉ đạo 32
1.3.2.3 Ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo 33
1.3.2.4 Chỉ đạo cơ sở tập trung thực hiện một số nội dung 33
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 35
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 35
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 35
Trang 72.2.2 Thời gian nghiên cứu 35
2.3 Nội dung nghiên cứu 35
2.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 35
2.3.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.4 Phương pháp nghiên cứu 36
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội xã Đề Thám 38
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
3.1.1.1 Vị trí địa lý 38
3.1.1.2 Địa hình 38
3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết, thủy văn 38
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 39
3.1.2.1 Tài nguyên đất 39
3.1.2.2 Tài nguyên nước 42
3.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản 42
3.1.3 Thực trạng về kinh tế - xã hội 42
3.1.3.1 Khái quát thực trạng phát triển kinh tế 42
3.1.3.2 Thực trạng về dân số, lao động và việc làm 45
3.1.3.3 Thực trạng phát triển kết cấu hạ tầng xã hội 46
3.1.3.4 Những khó khăn 50
3.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới ở xã Đề Thám, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn 51
3.2.1 Thành lập bộ máy chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp xã 51
3.2.2 Xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 52
3.2.3 Kết quả bước đầu tổ chức thực hiện Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 52
3.2.3.1 Quy hoạch và thực trạng quy hoạch tại xã 52
3.2.3.2 Hạ tầng kinh tế - xã hội 53
3.2.3.3 Kinh tế và tổ chức sản xuất 57
3.2.3.4 Văn hóa - Xã hội - Môi trường 60
Trang 83.2.3.5 Hệ thống chính trị 62
3.2.4 Những nguyên nhân chính dẫn các tiêu chí khác chưa được hoàn thành 67
3.2.5 Người dân với vấn đề xây dựng nông thôn mới 69
3.2.5.1 Đặc điểm về hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu 69
3.2.5.2 Đánh giá của người dân về việc xây dựng mô hình nông thôn mới 71
3.3 Phân tích thuận lợi, khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa bàn nghiên cứu 76
3.3.1 Thuận lợi 76
3.3.2 Khó khăn 77
3.4 Các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương trong những năm tới 78
3.4.1 Một số giải pháp chung 78
3.4.1.1 Về tuyên truyền, vận động 78
3.4.1.2 Về chính sách 79
3.4.1.3 Huy động các nguồn lực cho thực hiện Đề án xây dựng nông thôn mới 79
3.4.1.4 Giải pháp huy động vốn, quản lý vốn 80
3.4.2 Một số giải pháp cụ thể 80
3.4.2.1 Giải pháp thúc đẩy hoàn thiện nhóm hạ tầng kinh tế xã hội 81
3.4.2.2 Giải pháp thúc đẩy hoàn thiện nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất 83
3.4.2.3 Giải pháp thúc đẩy hoàn thiện nhóm văn hóa - xã hội - môi trường 85
3.4.2.4 Giải pháp thúc đẩy hoàn thiện nhóm hệ thống chính trị 86
3.4.3 Giải pháp ngắn hạn 89
3.4.4 Giải pháp dài hạn 91
3.5 Phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Kiến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả hoạt động đào tạo trong phong trào Saemaul Udong 24
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Đề Thám trong 3 năm 2012 - 2014 40
Bảng 3.2 Hiệu quả kinh tế của các ngành trên địa bàn xã Đề Thám 42
Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động của xã Đề Thám qua 3 năm (2012 - 2014) 45
Bảng 3.4 Tình hình thực hiện tiêu chí giao thông 53
Bảng 3.5 Tình hình thực hiện tiêu chí nhà ở dân cư 56
Bảng 3.6 Tình hình nghèo đói của các xóm trong xã năm 2014 58
Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả thực hiện các tiêu chí trên toàn xã 63
Bảng 3.8 Diện tích các loại đất của hộ gia đình tại 3 thôn điều tra năm 2014 69
Bảng 3.9 Đặc điểm của hộ gia đình tại 3 thôn điều tra năm 2014 70
Bảng 3.10 Cơ cấu ngành nghề của hộ gia đình năm 2014 70
Bảng 3.11 Các kênh tiếp cận thông tin của người dânvề mô hình
nông thôn mới 72
Bảng 3.12 Ý kiến của người dân về chương trình XDNT mới tại xã Đề Thám 72
Bảng 3.13 Những công việc người dân tham gia vào xây dựng nông thôn mới tại địa phương mình 73
Bảng 3.14 Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong triển khai xây dựng nông thôn mới (n = 20) 74
Bảng 3.15 Ý kiến của người dân về chất lượng điều kiện cơ sở hạ tầng tại địa phương mình 75
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1 Biểu đồ cơ cấu lao động của xã Đề Thám năm 2014 59
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới, nền kinh tế được vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và ngày càng hội nhập sâu hơn với kinh tế Thế giới Nền kinh thế thị trường và hội nhập có nhiều ưu điểm như giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng, tạo điều kiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tuy vậy, bên cạnh những ưu điểm thì nền kinh tế thị trường cũng đã bộc lộ nhiều khuyết điểm Do việc phân bổ nguồn lực kinh tế tuân theo quy luật vận động của hệ thống thị trường cho nên những vùng, địa phương khó khăn, ít tài nguyên khoáng sản và không có vị trí địa lý thuận lợi thì vẫn phát triển chậm, đời sống của nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, phân cực giàu nghèo ngày càng sâu sắc, nhất là ở nông thôn vùng sâu, vùng xa Một thực tế đang diễn ra là do nông thôn chậm phát triển nên áp lực di dân từ nông thôn ra thành thị ngày càng lớn làm ảnh hưởng đến quá trình ổn định và phát triển của các đô thị
Trước thực trạng trên, Đảng và Nhà nước đã đưa ra Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn”; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới” (Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009) và “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới” tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 06/4/2010 nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng nông thôn mới trên cả nước
Đây là một Chương trình về một mô hình phát triển cả nông nghiệp và nông thôn nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời phải giải quyết các mối quan hệ với các chính sách
và các lĩnh vực khác trong sự tính toán cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng tùy tiện, rời rạc, ngẫu hứng hoặc duy ý chí trong các chính sách nói chung và chính sách PTNNNT ở nước ta nói riêng từ trước đến nay, nhằm mục đích xây dựng
Trang 12được mô hình nông thôn mới đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
Tuy thời gian triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới chưa lâu nhưng các địa phương, nhất là cấp cơ sở đã bộc lộ nhiều lúng túng, vướng mắc trong quá trình chỉ đạo thực hiện
Để nghiên cứu đặc thù nông thôn, từ đó tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong việc áp dụng bộ tiêu chí nông thôn mới vào tỉnh Lạng Sơn, chúng tôi đã
chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn xã Đề Thám, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài
cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và mô hình nông thôn mới ở xã Đề Thám thời gian qua tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương thời gian tới
3 Ý nghĩa của đề tài
a Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Nâng cao nhận thức, sự hiểu biết về mô hình nông thôn mới và những chính sách liên quan đến phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay
- Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn luyện
kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân
Trang 13- Góp phần hoàn thiện những lý luận và phương pháp nhằm đẩy mạnh và phát triển và xây dựng điều kiện kinh tế xã hội ở nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn hiện nay
- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các cơ quan trong ngành và học viên các khóa tiếp theo
b Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để các nhà quản lý, các cấp lãnh đạo của huyện, xã đưa ra những chính sách phát triển mô hình xây dựng nông thôn mới tại xã Đề Thám, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn và các địa phương khác có điều kiện tương đồng
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Khái niệm về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
1.1.1.1 Khái niệm nông thôn mới
Đã có một số diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn mới Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ; đó là nông thôn mới chứ không phải nông thôn truyền thống Nếu so sánh giữa nông thôn mới và nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới
Ngày 04 tháng 6 năm 2010 Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800/Qđ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Tại quyết định này, mục tiêu chung của Chương trình được xác định là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững
1.1.1.2 Khái niệm xây dựng nông thôn mới:
Từ Quyết định số 491 và Quyết định 800/Qđ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì “Xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” (Nguyễn Văn Tâm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam - Luận văn Thạc sĩ khoa học Kinh tế, tr.8)
Trang 151.1.2 Đơn vị nông thôn mới
Khoản 3 điều 23 Thông tư 54/2009/TT-BNN&PTNT ngày 21 tháng 8 năm
2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới quy định: Ban chỉ đạo nông thôn mới Trung Ương kiểm tra việc công nhận xã nông thôn mới ở các tỉnh để xét công nhận huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới cho các huyện có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới và tỉnh có 75% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới
Như vậy đơn vị nông thôn mới có 3 cấp:
- Xã nông thôn mới (đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới);
- Huyện nông thôn mới (khi có 75% số xã nông thôn mới);
- Tỉnh nông thôn mới (khi có 75% số huyện nông thôn mới)
1.1.3 Chức năng của nông thôn mới
1.1.3.1 Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Sản xuất nông nghiệp cần diện tích lớn, nhất là ngành trồng trọt như sản xuất lương thực, cây công nghiệp và trồng rừng Do đó, nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các quốc gia Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn Chức năng cơ bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại
1.1.3.2 Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống
Trải qua lịch sử phát triển hàng ngàn năm, các làng xóm ở nông thôn thường được hình thành dựa trên những cộng đồng có cùng phong tục, tập quán, họ tộc Người dân trong các làng xóm thường cư xử với nhau dựa trên quan hệ huyết thống và phong tục, tập quán Cũng chính văn hoá quê hương đã sản sinh ra những sản phẩm văn hoá tinh thần quý báu như lòng kính lão yêu trẻ, giúp nhau canh gác bảo vệ, giản dị tiết kiệm, thật thà đáng tin, yêu quý quê hương.vv , tất cả được sản sinh trong hoàn cảnh xã hội nông thôn đặc thù Các truyền thống văn hoá quý
Trang 16báu này đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù Môi trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao, vì thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục Do vậy, chỉ có nông thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc, dòng tộc mới là môi trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương Ngoài ra, các cảnh quan nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu sắc văn hoá làng
xã đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời đất giao hoà, thuận theo tự nhiên với sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát triển hài hoà cũng như chú trọng
sự kế tục phát triển của các dân tộc
1.1.3.3 Chức năng sinh thái
Nói đến nông nghiệp là nói đến cây trồng Cây trồng, một mặt cung cấp cho con người những nông sản cần thiết, một mặt có tác dụng cải tạo môi trường, làm đẹp cảnh quan… do đó, nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung có chức năng sinh thái
“Thuộc tính sản xuất nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức năng phục vụ hệ thống sinh thái đất đai canh tác nông nghiệp,
hệ thống thuỷ lợi, các khu rừng, thảo nguyên vv phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất vv
1.1.4 Chủ thể xây dựng nông thôn mới
Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, người dân phải tham gia từ khâu quy hoạch, đồng thời góp công, góp của và phần lớn trực tiếp lao động sản xuất trong quá trình làm ra của cải vật chất, giữ gì bản sắc văn hóa dân tộc… đồng thời, cũng là người hưởng lợi từ thành quả của nông thôn mới, chính vì vậy, người dân là chủ thể xây dựng nông thôn mới
Có người cho rằng chủ thể xây dựng nông thôn phải là chính quyền Tuy nhiên, trên thực tế, người nông dân mới thực sự là chủ thể xây dựng nông thôn Đó không phải là do Nhà nước không có đủ tiềm lực kinh tế để đóng vai trò chủ thể này, mà cho dù tiềm lực kinh tế của Nhà nước có mạnh đi chăng nữa thì cũng
Trang 17không thể thiếu sự tham gia đóng góp tích cực của chính tầng lớp nông dân Hiển nhiên nói người nông dân ở đây không phải chỉ đơn thuần là cá thể nông dân,
mà phải được hiểu là các tổ chức nông dân
1.1.5 Nguồn gốc động lực xây dựng nông thôn mới
1.1.5.1 Động lực từ đô thị hóa
Nông thôn là một phần của các quốc gia, do đó, không thể giải quyết các vấn đề của nông thôn nếu như tách riêng nó với các khu vực khác của quốc gia Trong các hoạt động kinh tế - xã hội của nông thôn bao giờ cũng có mối liên hệ mật thiết với đô thị và ngược lại Chính vì vậy, “xây dựng nông thôn mới nếu chỉ dựa vào nguồn đầu tư từ Nhà nước hay chỉ tiến hành trong nội bộ nông thôn sẽ không tạo ra được động lực cũng như tính linh hoạt, mà cần phải đặt nó trong bối cảnh phát triển thành thị và nông thôn đồng hành với nhau, dựa trên những quan điểm hệ thống Thực tế, các vấn đề về nông nghiệp cần phải được giải quyết thông qua phát triển công nghiệp, các vấn đề về nông dân phải giải quyết thông qua phi nông hóa, phát triển nông thôn phải song hành cùng phát triển thành thị”
1.1.5.2 Động lực từ công nghiệp hóa
Quá trình đi lên hiện đại hóa của một quốc gia cũng chính là quá trình chuyển dịch từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, đồng thời cũng là quá trình người nông dân tự do chuyển đổi thân phận của mình Trong quá trình này, nguồn lực lao động sẽ chuyển dịch không ngừng từ nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp, từ nông thôn sang thành thị, đó cũng chính là quá trình phi nông hóa người nông dân Giải phóng thân phận phi nông hóa của nông dân là yêu cầu để phát triển nông thôn, đồng thời cũng là nhu cầu tất yếu của chính bản thân người nông dân
Việc lao động nông nghiệp chuyển dịch sang các lĩnh vực phi nông nghiệp sẽ tạo điều kiện cho nông nghiệp ở nông thôn chuyển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa Mặt khác, quá trình này sẽ giúp cho những người nông dân
ở lại sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có điều kiện tích tụ ruộng đất, từ đó phát triển kinh tế theo hướng trang trại, chuyên canh, đưa cơ giới, khoa học kỹ thuật cao áp dụng vào sản xuất, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sản xuất nông nghiệp
Trang 18Như vậy, sự nghiệp công nghiệp hóa là động lực to lớn để thúc đẩy nhanh quá trinh xây dựng nông thôn mới
1.1.5.3 Động lực từ các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và các tổ chức hợp tác
Sản xuất nông nghiệp tất yếu sẽ từng bước xóa bỏ sản xuất đơn lẻ của các hộ nông dân, tiến tới hình thành sự liên kết giữa các hộ và phát triển các doanh nghiệp, hợp tác xã… Một trong những nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới là phát triển hiện đại hóa nông nghiệp Hiện đại hóa nông nghiệp ở đây phải được hiểu là ngoài các điều kiện sản xuất hiện đại như thủy lợi, làm đất, đường
sá giao thông, viễn thông thông tin vv., nó còn bao hàm chuyên nghiệp hóa trong các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp Một khi đã thực hiện kinh doanh gia đình và phát triển kinh tế thị trường trong nông nghiệp, thì nhất định cũng phải thực hiện chuyên nghiệp hóa các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp Đây còn là cơ
sở để gia tăng sức cạnh tranh quốc tế cho nông nghiệp Ngoài ra, trong điều kiện thị trường, thì chỉ có sự tham gia của các tổ chức nông dân mới có thể nâng cao giá trị nông sản phẩm, đây cũng chính là chức năng cũng như trách nhiệm của các tổ chức hợp tác nông dân Trong quá trình đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông thôn hay tổ chức các hệ thống dịch vụ xã hội hóa cũng như tham gia vào gia công sản xuất nông sản phẩm, tổ chức đào tạo xã viên để nâng cao tố chất cho người nông dân vv trong tất cả các quá trình này, tổ chức hợp tác nông dân phát huy vai trò không thể thay thế
1.2 Quan điểm của Đảng về xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Quan điểm của Đảng về xây dựng NTM từ Đại hội X đến nay
Nghị quyết đại hội X đã xác định: “Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội”
Ngày 5 tháng 8 năm 2008, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Trang 19Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã đánh giá thành tựu và hạn chế trong vấn
đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn sau hơn 20 năm đổi mới, đồng thời nêu 4 quan điểm về các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn, đó là:
+ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước
+ Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng
bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt
+ Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng ; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội
+ Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết phải khơi dậy tình thần yêu nước, tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nhân dân”
Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đã đề ra các giải pháp để đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới:
+ Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
Trang 20+ Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát triển các
+ Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân
+ Tăng cường sự lãnh đạo của đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân
Thực hiện Nghị quyết trung ương 7 (khóa X), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới tại Quyết định 491/Qđ-TTg, ngày 16/4/2009 và Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020 tại Quyết định 800/Qđ-TTg, ngày 04/6/2020
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của đảng: đại hội XI đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó đã xác định những định hướng lớn về phát triển kinh
tế - văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là: Coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tàng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,
2011 tr 75)
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 đã xác định rõ định hướng trong xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với phát triển đô thị và bố trí các điểm dân cư Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường Triển khai chương trình nông thôn mới phù hợp với đặc điểm
Trang 21từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động Triển khai có hiệu quả Chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm Thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách, chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ;
bố trí hợp lý dân cư, bảo đảm an toàn ở những vùng ngập lũ, sạt lở núi, ven sông, ven biển (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia -
Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 123)
Như vậy, kể từ sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, quan điểm, chủ trương, biện pháp về xây dựng nông thôn mới của đảng ta ngày càng rõ và đến đại hội X thì hoàn chỉnh và thống nhất chỉ đạo trên phạm vi toàn quốc
1.2.2 Nguyên tắc thực hiện xây dựng nông thôn mới
Điều 2 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNN&PTNT-BKH&đT- BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 (liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính) về hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/Qđ -TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020” đã đề ra 6 nguyên tắc trong xây dựng nông thôn mới như sau:
(1) Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/Qđ -TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ
(2) Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế
hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
Trang 22(3) Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
(4) Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền xây dựng
(5) Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân
và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá
(6) Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch, và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
1.2.3 Nội dung xây dựng nông thôn mới
1.2.3.1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới, bao gồm
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu:
+ Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo Thông tư 07/2010/TT-BNNPTNT, ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
+ Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ theo Thông tư số 31/2009/TT-BXD, ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng
- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã theo Thông tư
số 09/2010/TT-BXD, ngày 04/8/2010 và Sổ tay hướng dẫn lập quy hoạch nông thôn mới của Bộ Xây dựng
Yêu cầu: đạt tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Trang 231.2.3.2 Phát triển hạ tầng kinh tế xã hội
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn:
+ Xây dựng, hoàn thiện trung tâm văn hóa, thể thao xã (gồm nhà văn hóa đa năng và sân thể thao phổ thông) đảm bảo theo Quy chuẩn trung tâm văn hóa, thể thao xã của Bộ văn hóa, thể thao và Du lịch (ban hành kèm theo Quyết định 2448/Qđ -BVHTTDL, ngày 07/7/2009);
+ Xây dựng, hoàn thiện nhà văn hóa và khu thể thao thôn
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn theo Quyết định 370/2002/Qđ -BYT, ngày 07/2/2002 của Bộ Y tế
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn
+ Hoàn thiện trường mầm non, nhà trẻ có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 262:2002 và đảm bảo quy định theo Quyết định số 36/2008/Qđ -BGD&đT, ngày 16/7/2008 của Bộ Giáo dục về ban hành Quy chế công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia;
Trang 24+ Hoàn thiện trường tiểu học có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCVN 3978-1984 và đảm bảo quy định theo Quyết định
số 32/2005/Qđ -BGD&đT, ngày 24/10/2005 của Bộ Giáo dục về ban hành Quy chế chuẩn công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia;
+ Hoàn thiện trường trung học cơ sở có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCVN 3978-1984 và đảm bảo quy định theo Quyết định số 27/2001/Qđ-BGD&đT, ngày 05/7/2001 của Bộ
Giáo dục về ban hành Quy chế công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia
- Xây dựng, hoàn thiện chợ nông thôn đạt chuẩn TCXDVN 361: 2000 của
Bộ xây dựng
- Về bưu điện:
+ Xây dựng điểm phục vụ bưu chính viễn thông (đại lý bưu điện hoặc ki
ốt, bưu cục hoặc điểm bưu điện - văn hóa, thùng thư công cộng, điểm truy nhập
+ Xây dựng điểm cung cấp dịch vụ truy nhập Internet ở thôn (đối với Internet băng rộng (ADSL) theo tiêu chuẩn TCN 68-227:2006 ban hành tại Quyết định định số 55/2006/Qđ-BBCVT ngày 25/12/2006 của Bộ Bưu chính viễn thông)
- Cải tạo, xây mới xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn:
+ Xây dựng đê hoặc bờ bao chống lũ theo tiêu chuẩn hoàn chỉnh mặt cắt thiết
kế, cứng hóa mặt đê và đường hành lang chân đê, trồng cỏ mái đê, trồng cây chân
đê phía sông, phía biển; cống dưới đê vững chắc, đồng bộ với mặt cắt đê; xử lý sạt
lở đảm bảo ổn định; đảm bảo môi trường xanh sạch đẹp; có ban chỉ huy phòng chống lụt bão xã, có đội quản lý đê nhân dân, đội tuần tra, canh gác đê trong mùa mưa lũ theo quy định, hoạt động có hiệu quả;
+ Hoàn thiện các công trình tưới tiêu, cấp nước công nghiệp, cấp nước sinh hoạt đảm bảo theo tiêu chuẩn thiết kế Việt Nam đối với từng loại, phát huy trên 75% năng lực thiết kế, 100% công trình có chủ quản lý đích thực;
+ Kiên cố hóa kênh mương (kể cả mương nội đồng);
- Hoàn chỉnh trụ sở xã: Trụ sở xã xây dựng ở nơi trung tâm, thuận tiện
Trang 25đối nội, đối ngoại, diện tích khuôn viên tối thiểu 1000m2
, diện tích sử dụng của
; mật độ xây dựng dưới 50%, mật độ cây xanh trên 30%
- Nhà ở nông thôn: Chỉnh trang các khu dân cư hiện có; xóa nhà tạm, dột nát, xây dựng, hoàn thành nhà ở nông thôn đạt tiêu chuẩn của Bộ xây dựng, phù hợp với Quy hoạch theo Thông tư số 31/2009/TT-BXD, ngày
- Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu, ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - nghiệp
- Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp
- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển làng nghề theo thế mạnh của địa phương
- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
Yêu cầu: đạt tiêu chí 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
1.2.3.4 Giảm nghèo và an sinh xã hội
Nội dung:
- Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của chính Phủ
- Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo
- Thực hiện an sinh xã hội
Yêu cầu: đạt tiêu chí 11 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Trang 261.2.3.5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
Nội dung:
- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn Yêu cầu: đạt tiêu chí 13 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
1.2.3.6 Phát triển giáo dục đào tạo
Nội dung:
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo:
+ Đạt và duy trì chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học, chống mù chữ Đảm bảo huy động trẻ 6 tuổi học lớp 1 đạt 90% (xã đặc biệt khó khăn đạt 80%) trở lên Ít nhất 80% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70 %) số trẻ nhóm tuổi 11-14 tốt nghiệp tiểu học, số còn lại đang học tiểu học
+ Phổ cập giáo dục trung học đảm bảo tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm từ 90% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70%) trở lên Tỷ lệ thanh thiếu niên 15-18 tuổi
có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở từ 80% (xã đặc biệt khó khăn đạt 70%) trở lên
+ Nâng cao tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học phổ thông
+ Đẩy mạnh đào tạo nghề
Yêu cầu: đạt tiêu chí 5, 14 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
1.2.3.7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Nội dung:
- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về y tế (theo Quyết định 108/2007/Qđ-Tg, ngày 17/7/2007 của Thủ Tướng Chính Phủ)
- Nâng cao tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế
Yêu cầu: đạt tiêu chí 5 và 15 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
1.2.3.8 Xây dựng đời sống văn hóa, thôn tin và truyền thông
Nội dung:
- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về văn hóa Phấn đấu
Trang 27xã có trên 70% số thôn, bản đạt tiêu chuẩn “Làng văn hóa” theo Quyết định 62/2006/Qđ-BVHTT ngày 23/6/2006 (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch)
- Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn Xã có đài truyền thanh xã hoạt động có hiệu quả
Yêu cầu: đạt tiêu chí 6 và 16 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
1.2.3.9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
+ Chỉ đạo nhân dân xây dựng hố xí đảm bảo vệ sinh
- Thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường trên địa bàn xã:
+ Xây dựng, cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn xóm Các thôn đều có tổ vệ sinh, phát quang, khơi thông cống rãnh
+ Xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải đạt yêu cầu chung theo TCVN 6696-2000 Bãi chôn lấp chất thải rắn xây dựng mới theo tiêu chuẩn thiết kế TCXDXN 261-2001
+ Chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang Nghĩa trang có khu hung táng, cát táng, nơi trồng cây xanh, lối đi thuận lợi, có quy chế quản lý nghĩa trang, mộ đặt theo hàng và xây đúng diện tích, chiều cao theo quy định đảm bảo theo tiêu chuẩn TCVN 7956:2008
+ Cải tạo, xây dựng các hồ sinh thái trong khu dân cư
+ Trồng cây xanh ở các công trình công cộng
Mục tiêu: đạt tiêu chí 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
1.2.3.10 Nâng cao chất lượng tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
Nội dung:
- Thành lập, duy trì đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị; đảm bảo không
có trình trạng “trắng” các tổ chức này ở các thôn bản
Trang 28- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ
- Thu hút cán bộ trẻ về công tác tại xã
- Xây dựng ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới
- Nâng cao chất lượng của các tổ chức trong hệ thống chính trị, phấn đấu hàng năm, tổ chức đảng, Chính quyền đạt “trong sạch vững mạnh”, các tổ chức khác đạt danh hiệu tiên tiến trở lên theo quy định của từng tổ chức
Yêu cầu: đạt tiêu chí 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
1.2.3.11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội ở nông thôn
Nội dung:
- Ban hành, thực hiện nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu
- Hàng năm đảng ủy có nghị quyết, UBND có kế hoạch về công tác an ninh,
xã đạt đơn vị khá trở lên trong “Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, Công
an xã đạt danh hiện “đơn vị tiên tiến” trở lên
- Đảm bảo cho lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới
- Không để xẩy ra các hoạt động chống đối; không để xẩy ra mâu thuẫn, tranh chấp trong nhân dân, các loại tội phạm, tai nạn giao thông giảm
Yêu cầu: đạt tiêu chí số 19 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
1.2.4 Các bước xây dựng nông thôn mới
Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHđT-BTC ngày
13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp PTNT, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính quy định các bước xây dựng nông thôn mới như sau:
Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện
Bước 2: Tổ chức thông tin tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới
Trang 29Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã
Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã
Bước 6: Tổ chức thực hiện đề án
Bước 7: Giám sát đánh giá và báo cáo về tình hình thực hiện Chương trình
1.3 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
1.3.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn ở một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Sau trận lụt năm 1969, Chính phủ Hàn Quốc đã phát động phong trào xây dựng nông thôn mới (Saemaul Udong) trên phạm vi toàn quốc Từ sự thành công trong xây dựng nông thôn mới của Hàn Quốc, chúng tôi rút ra những kinh nghiệm sau đây:
(1) đoàn kết nhân nhân, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường trong nhân dân
để xây dựng nông thôn mới:
Phong trào Saemaul Udong không đơn thuần là một kế hoạch hành động mà còn là cả một cuộc cải tổ về ý thức dựa trên tinh thần Ngay từ đầu, Chính phủ đã truyền cho người dân ý thức “nhất định phải làm”, “đã làm là được”, “tất cả đều có thể làm được”
Nhờ được tuyên truyền tốt, người dân nhận thức được rằng phong trào Saemaul Udong là một cuộc cải tổ vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho cả cộng đồng chứ không chỉ đối với từng cá nhân đơn lẻ Sự thịnh vượng ở đây không chỉ bó hẹp
ở ý nghĩa vật chất, nó còn bao hàm cả ý nghĩa tinh thần, không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả con cháu mai sau Mục tiêu của phong trào Saemaul Udong là xây dựng nền tảng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi gia đình, làng xã góp phần vào sự tiến bộ chung của cả quốc gia
Để đoàn kết, tập hợp nhân dân trong sự nghiệp chung, Phong trào Saemaul Udong đề cao ba phẩm chất chính, đó là “Sự cần cù, tự lực và hợp tác” Cần cù mang lại tính chân thật, không cho phép sự giả tạo và thói kiêu căng ngạo mạn Tính tự lực
Trang 30giúp cho con người tự quyết định vận mệnh của chính mình, không phải nhờ cậy đến bất kỳ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài Hợp tác dựa trên mong muốn phát triển chung cả cộng đồng để nỗ lực vì mục tiêu chung
Chính vì vậy ba nguyên tắc chủ yếu của phong trào Saemaul cũng chính là hạt nhân của công cuộc xây dựng một xã hội tiên tiến và một quốc gia thịnh vượng
Lee Sang Mu, Cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về Nông - lâm - ngư nghiệp đã phát biểu: “Phong trào Samuel Udong thực chất là cuộc cách mạng tinh thần, đánh thức khát vọng của nông dân”
(2) Kích thích sự tham gia bằng những lợi ích thiết thực:
Năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc đưa ra thử nghiệm 10 dự án lớn trong phát triển nông thôn, bao gồm mở rộng và nắn thẳng đường sá, làm lại mái nhà bếp
và hàng rào, xây dựng giếng nước công cộng và khu giặt giũ công cộng… vv Kinh phí để thực hiện các dự án này phần lớn dựa vào quỹ của xã và lực lượng lao động sẵn có, Chính phủ chỉ cấp miễn phí cho mỗi xã trung bình 355 bao xi măng Tới năm thứ hai, Chính phủ quyết định tiếp tục giúp đỡ những xã đã tự biết đứng lên bằng cách cấp thêm cho mỗi xã 500 bao xi măng và một tấn thép
Năm thứ 3, Chính Phủ Hàn Quốc đã đề ra chủ trương những làng tích cực thì được hỗ trợ nhiều Chính phủ đã chia tổng số 33.267 xã của cả nước thành 3 nhóm, trong đó, nhóm làng tích cực chiếm 6,7%, nhóm làng trung bình chiếm 40,2%, nhóm làng cơ bản chiếm 53,1% Chính phủ quy định, những làng thăng hạng sẽ được thưởng 2000 USD Do đó, chỉ sau 3 năm (năm 1976), tỷ lệ nhóm làng cơ bản chỉ còn có 0,9%
Kết quả sau 8 năm (1971-1978), cả nước Hàn Quốc đã làm được 43.631 km đường giao thông liên làng, 42.220 km đường giao thông ngõ xóm (nhựa và
vê tông); 68.797 cầu nông thôn (bê tông, cốt thép); 7.839 km đê được cứng hóa; 24.140
hồ chứa nước được xây dựng; 98% hộ được dùng điện
Nhờ khơi dậy nội lực của nông dân mà nông thôn Hàn Quốc đã có những biến đổi to lớn Cuối những năm 80, nông thôn Hàn Quốc đã biển hiện có những dấu hiệu của sự phát triển và đô thị hóa
Trang 31(3) Phát triển kinh tế hộ và các loại hình kinh tế có sức cạnh tranh cao:
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ “Quan điểm của Hàn Quốc là không kêu gọi đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp vì lo ngại lợi nhuận các công ty nước ngoài hưởng còn nông dân suốt đời làm thuê” (Lee Sang Mu, Cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về Nông - lâm - ngư nghiệp) Chính vì vậy, Chính phủ Hàn Quốc chủ trương hỗ trợ để nông dân tự mình đứng lên trở thành người chủ đích thực
- Thành lập các khu liên hiệp nông nghiệp trồng các sản phẩm đem lại lợi nhuận cao như nấm, thuốc lá để gia tăng tổng thu nhập Các khu liên hiệp này trồng cây trong nhà kính, sản phẩm rau sạch có thể thu hoạch ngay giữa mùa Đông Khi làm việc tập thể, người nông dân cũng giảm được các chi phí không cần thiết so với làm việc đơn lẻ nên làm tăng hiệu quả sản xuất
- Chính phủ cho xây dựng các nhà máy ở nông thôn để gia tăng thu nhập Các nhà máy đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhiều phụ nữ Kết quả là thu nhập ở nông thôn tăng đều đặn Năm 1977, có 98% các xã đã có thể độc lập về kinh tế
(4) Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân:
Chính phủ luôn đóng vai trò cốt yếu trong việc gia tăng thu nhập cho người dân nông thôn đi kèm với việc phát triển hạ tầng và tăng cường các cơ sở đào tạo nghề nông, đưa tiến bộ KHKT, các loại giống mới được đưa vào sản xuất Các làng xã và xí nghiệp đều được trang bị thư viện Saemaul và các phương tiện vui chơi giải trí khác đặc biệt, thư viện ở nông thôn đều có sách về các phương pháp canh tác mới đây là bước đột phá lớn ở nông thôn và là nguyên nhân chính gia tăng thu nhập Phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác
Khi đất nước đã giàu có, Chính phủ Hàn Quốc có thêm nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn Năm 1995, Trung tâm Nghiên cứu và Xúc tiến Phát triển nông nghiệp (ARPC) được thành lập Trung tâm này đảm nhận hỗ trợ nghiên cứu và triển khai (R&D) trong nông nghiệp với kinh phí hoạt động lên tới 358 triệu USD và hàng năm lại tăng thêm 6,4% (trong khi thu ngân sách chỉ tăng 4,1%/năm)
Trang 32Ngoài ra, Chính phủ còn đầu tư vào Chương trình Hỗ trợ phát triển cụm nông nghiệp với kinh phí rất lớn (năm 2005 là 12,6 triệu USD, năm 2006 là 20,9 triệu USD) nhằm mục đích phát triển hệ thống liên vùng kết nối giữa các nhà nghiên cứu, các viện nghiên cứu, các ngành công nghiệp và chính quyền địa phương nhằm giúp nông dân tiếp cận nhanh nhất với dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và marketing
(5) Xây dựng trật tự, kỷ cương và nếp sống lành mạnh trong xã hội:
Thành công của phong trào Seamaul ở nông thôn lan tới các vùng không làm nông nghiệp như trường học, công sở, thành phố, nhà máy với nhiều lĩnh vực khác nhau Các thành phố bắt đầu các dự án chống tham nhũng và xây dựng một đô thị hoàn hảo Ba chiến dịch Seamaul Udong đã được phát động là chiến dịch tinh thần, cư xử và môi trường
Chiến dịch tinh thần bao gồm mối quan hệ thân thiện hơn với láng giềng, kế thừa và phát huy những truyền thống dân tộc dựa trên lòng hiếu thảo
và nâng cao ý thức cộng đồng Chiến dịch cư xử nhấn mạnh tới trật tự công cộng trên đường phố, những cách ứng xử tích cực, hành vi nơi công cộng và cấm say rượu dẫn tới cư xử không đúng đắn Chiến dịch môi trường nhấn mạnh vấn đề vệ sinh khu vực đang sống và làm việc, gìn giữ môi trường đường phố và phát triển màu xanh ở thành phố cũng như các con sông
Tại nơi làm việc, các chiến dịch tập trung chủ yếu vào việc tạo ra các giá trị
và niềm tin lành mạnh cùng với cung cách ứng xử xã hội đúng mực giữa những người đồng nghiệp Mục tiêu chính là tạo ra sự thống nhất và kỷ cương, giúp phát triển nông thôn và giúp những người vô gia cư
Tại nhà máy, phong trào Seamaul hướng tới khôi phục niềm tin và nâng cao khẩu hiệu “mọi công nhân trong nhà máy đều là thành viên trong một gia đình, việc của nhà máy là việc của bản thân”, đoàn kết, đồng lòng cùng xây dựng nhà máy phát triển vững mạnh
(6) Phân cấp phân quyền và thực hiện dân chủ trong quản lý và thực hiện dự án:
Trong thời kỳ đầu, phong trào Saemaul bắt đầu bằng việc Chính phủ giao quyền tự quản rộng rãi cho chính quyền xã Một số các cơ quan ban ngành
Trang 33khác của Chính phủ cũng tham gia hỗ trợ thực thi công cuộc này trong đó có cả chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp huyện
Hội đồng xã và thị trấn thành lập Ủy ban điều hành để đảm bảo kế hoạch được thực thi suôn sẻ Các làng đều có một người lãnh đạo (nam hoặc nữ) song hành cùng với ban phát triển tự quản
Ban phát triển tự quản có hai phân ban chính của phụ nữ và thanh niên cùng với một số tiểu ban khác Họ có nhiệm vụ lập kế hoạch và điều hành các tiểu ban để tăng được thu nhập xã và thúc đẩy những giá trị và tư tưởng tiến bộ
Các dự án Saemaul do hội đồng cấp huyện quyết định và phải có sự nhất trí của Chánh án Tiêu chí chọn dự án mới là sự cần thiết đối với người dân, điều kiện sống được cải thiện cho tất cả người dân trong vùng và lợi ích lâu dài của dự án
(7) Tăng cường năng lực của lãnh đạo địa phương:
Sau một năm thực hiện kế hoạch, Chính phủ đã nhận ra tầm quan trọng của người lãnh đạo Những nơi có người lãnh đạo đã triển khai dự án rất tốt, theo đúng đường lối của nhà nước còn những nơi không có người lãnh đạo thường tiêu phí tài nguyên vô ích Chính vì vậy, phải có người lãnh đạo tận tâm
Nhận ra được tầm quan trọng của người cầm đầu dự án, năm 1972, Chính phủ đã thành lập Học viện Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo Saemaul Mỗi xã được phép cử một cán bộ (nam hoặc nữ) đi học Khoá học bồi dưỡng lãnh đạo nhấn mạnh vào sự cống hiến quên mình và nêu gương cho quần chúng Họ học trong một lán trại chung, do đó hiểu được cách làm việc theo nhóm trên tinh thần hợp tác Chính những học viên này sẽ là những người lãnh đạo và hướng dẫn cho dân làng Tại thời điểm bấy giờ, khi vai trò của phụ nữ còn chưa được coi trọng thì sự tham gia của một bộ phận nữ giới trong khoá học đã tạo ra sự khác biệt căn bản
Phương pháp đào tạo cán bộ cho các dự án Saemaul đã có ảnh hưởng nhất định đến các chính trị gia, lãnh đạo các tôn giáo, giới báo chí và cả người nước ngoài Những chính trị gia trước kia vẫn không mấy mặn mà lắm với phong trào Saemaul cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phương pháp đào tạo Saemaul
Trang 34Bảng 1.1 Kết quả hoạt động đào tạo trong phong trào Saemaul Udong Phân loại Số lượng (lượt người) Tổng số (lượt người)
(Nguồn SUCTI, 1999 trang 124)
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thực sự là tiền đề để phong trào Saemaul phát triển trên khắp đất nước Hàn Quốc
(8) Thực hiện các chính sách hỗ trợ cho nông dân:
Để nông thôn có đủ nguồn lực và liên tục phát triển, Hàn Quốc đã tìm mọi cách Cụ thể là:
- Áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy nông nghiệp, điện giá rẻ cho chế biến nông sản;
- Cho nông dân thuê máy nông nghiệp;
- Giảm lãi suất tiền vay 2% so với các ngành nghề khác cho những dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
- Ban hành đạo Luật “Các ngành phải trợ giúp nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân và ngư dân”
Khi lao động làm việc ở nông thôn ngày càng ít đi (năm 2007 dân số ở nông thôn chỉ còn 6,7%) và thu nhập giữa nông thôn và thành phố chênh lệch lớn, Chính
Trang 35phủ đã cho triển khai Dự án Khám phá làng nông thôn truyền thống Cơ quan phát triển nông thôn Hàn Quốc được giao triển khai dự án này Có
141 làng nằm trong dự án, mỗi làng được nhận khoản tiền đầu tư 200.000 USD Mục đích của Dự án là kéo người dân thành phố về với nông thôn
Đồng thời, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia mô hình
du lịch làng với chiến dịch “Mỗi công ty - Một làng nông nghiệp” Thường thì mỗi doanh nghiệp đăng ký “đỡ đầu” cho một làng, mức tiền đầu tư mà nhà nước khuyến khích là tối thiểu 300.000 USD/làng Tập đoàn Hyundai hiện đang giúp đỡ 66 làng trên toàn quốc
- Áp dụng chính sách chỉ bán đất sản xuất nông nghiệp cho những người đăng
ký là nông dân
- Thực hiện chính sách người từ thành phố về sinh sống ở nông thôn được trợ cấp lần đầu 50.000 USD và nhiều ưu đãi khác (Thanh Huyền, 2011)
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, có dân số trên 1,3 tỷ người, dân số của Trung Quốc chiếm 21% dân số thế giới, trong khi đó, diện tích đất canh tác chỉ chiếm có 9% Lại xuất phát điểm là một nước nghèo nhưng nhờ có công cuộc cải cách mở cửa, Trung Quốc đã trỗi dậy như một hiện tượng thần kỳ của khu vực Châu Á và trên T hế giới Có được thành công đó, một phần nhờ chính sách Tam nông mà nhiều người gọi là “Quốc sách”
Thành công của Trung Quốc cho phép chúng ta rút ra những bài học sau đây:
Trang 36(1) Cải tổ việc quản lý trong nông nghiệp:
Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc, trong đó những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh 2 tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân
Nổi bật trong việc cải tổ quản lý trong nông nghiệp là:
- Xóa bỏ công xã nhân dân Công xã nhân dân được hình thành từ thời “đại nhảy vọt” (1958), vốn là cấp bậc cao nhất trong ba cấp bậc hành chánh ở nông thôn Trung Quốc Nó là đơn vị tập thể hóa lớn nhất, được chia thành những đội và đoàn sản xuất Các công xã nhân dân vừa có chức năng kinh tế, chức năng chính trị và chức năng chính quyền Bước vào thời kỳ cải cách mở cửa, hình thức Công xã nhân dân
đã bộc lộ nhiều khuyết tật, trở thành lực cản của sự phát triển Vì vậy, đến năm 1985 Trung Quốc đã quyết định xóa bỏ công xã nhân dân và thay thế chúng bằng bằng các Hương Làng Xóa bỏ Công xã nhân dân đã đặt các thành phần kinh tế cùng bình đẳng trong cơ chế thị trường
- Đổi mới cơ chế quản lý như thực hiện cơ chế “hai mở một điều chỉnh” Hai
mở là mở cửa giá thu mua theo cơ chế thị trường, mở cửa thị trường mua bán lương thực Một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân như trợ cấp giống, phân bón, vật tư, máy móc Việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp đã thực sự cởi trói cho nông dân, thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển mạnh trong những năm vừa qua
(2) Nguồn lực của Nhà nước tập trung cho kết cấu hạ tầng
Để thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện đời sống dân sinh ở nông thôn, Chính phủ Trung Quốc đã huy động nhiều nguồn lực cho xây dựng kết cấu hạ tầng
ở nông thôn Ngân sách nhà nước chủ yếu được sử dụng cho làm đường giao thông, xây dựng công trình thủy lợi, trường học, cơ sở y tế chỉ một phần nhỏ dùng để xây nhà cho người dân Nhờ đó, đến năm 2010, nông thôn Trung Quốc có kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh
Trang 37Nhờ tập trung nguồn lực của Nhà nước vào xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn nên hạ tầng của nông thôn Trung Quốc khá đồng bộ theo quy hoạch thống nhất, dần thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn với thành thị
(3) Phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn để tạo việc làm tại chỗ, nâng cao nhu nhập cho người dân:
Song song với việc thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển mạnh mẽ để đảm bảo an ninh lương thực, ổn định đời sống nhân dân, Trung Quốc tìm cách để phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn để giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân
Hiện nay, cơ cấu lao động nông thôn Trung Quốc cũng chuyển dịch rất mạnh,
226 triệu lao động nông thôn chuyển sang chế độ làm thuê trong các xí nghiệp hoặc các ngành dịch vụ khác đạt được thành tựu đó là nhờ Trung Quốc đã phát triển mạnh các doanh nghiệp ở nông thôn
Chính phủ Trung Quốc đặc biệt chú trong phát triển các doanh nghiệp hương trấn (town village enterprises, TVEs) Về hình thức, phần lớn TVEs do chính quyền hương trấn ở địa phương sở hữu, một loại sở hữu tập thể giống như hợp tác xã, nhưng trên thực tế, các loại doanh nghiệp này hoạt động như doanh nghiệp tư nhân Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, TVEs là một trong hai đầu máy kéo lực lượng sản xuất của Trung Quốc theo hướng hiệu suất hoá và tăng năng lực cạnh tranh Từ năm 1986 đến năm 1997, tỷ lệ của TVEs trong tổng xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng từ 9% lên đến 46% (Trần Văn Thọ, 2004), tr.147) Vào những năm đầu trong quá trình cải cách của Trung Quốc, TVEs chỉ chiếm dưới 10% lực lượng lao động có việc làm ở nông thôn, nhưng đến giữa thập niên 1990 tỷ lệ đó đã tăng lên gần 30% Tỷ lệ của TVEs trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đã tăng từ 10% năm 1980 lên tới 58% năm 1997 (Trần Văn Thọ, 2004)
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, nhanh chóng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; phát triển các ngành sản xuất cần nhiều lao
Trang 38động; mở rộng các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn là chìa khóa giúp Trung Quốc thành công trong chính sách “Ly nông, bất ly hương” Việc thực thi chính sách “cho nhiều, thu ít, tạo nhiều việc làm” đã mở rộng con đường giúp nông dân tăng thu nhập
(4) Có nhiều chính sách hỗ trợ nông dân, đảm bảo an sinh xã hội:
Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn Trung Quốc đã đạt 5000 nhân dân tệ Theo Giáo sư - Tiến sỹ Lý Ninh Huy thì kết quả đó là nhờ Trung Quốc đã áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ nông dân, đảm bảo an sinh xã hôi Những chính sách cụ thể là:
- Xóa bỏ thuế nông nghiệp (gồm cả thuế chăn nuôi, thuế đặc sản) Việc giảm thuế nông nghiệp đã đã thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh hơn, riêng sản lượng lương thực tăng liên tục sau 4 năm, đến năm 2007, lần đầu tiên Trung Quốc đạt trên 500 triệu tấn (sản lượng cây có hạt) Việc xóa bỏ thuế nông nghiệp đã làm giảm gánh nặng đóng góp cho nông dân mỗi năm 133,5 tỷ nhân dân tệ
- Thực hiện giáo dục nghĩa vụ (9 năm) miễn phí Chính sách “lưỡng miễn nhất bổ” (bao gồm miễn sách vở, các khoản tạp phí và trợ cấp tiền sinh hoạt phí cho học sinh nội trú thuộc gia đình khó khăn Hàng năm có khoảng 150 triệu gia đình có con học tiểu học và trung học được hưởng chính sách này, làm giảm một gánh nặng đáng kể cho nông dân
- Hỗ trợ học nghề cho các tầng lớp thu nhập thấp Trung bình mỗi năm Chính phủ Trung Quốc đã giúp cho khoảng 8 triệu người, chủ yếu là con em nông thôn có việc làm Riêng 5 năm 2005-2010, Chính phủ Trung Quốc đã chi cho lĩnh vực này khoảng 66, 6 tỷ nhân dân tệ
- Thành lập chế độ bảo đảm mức sinh hoạt thấp nhất ở nông thôn Chính sách này được thực thi từ năm 2007 đã có 35,5 triệu nông dân được đưa vào chính sách bảo hiểm này
- Thực hiện chế độ y tế hợp tác kiểu mới, 730 triệu nông dân được hưởng chính sách này
Trang 39- Hỗ trợ về giá mua giống, mua thiết bị, máy móc và vốn cho nông dân; hỗ trợ thu mua lương thực cho nông dân không thấp hơn giá thị trường
- Trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hóa khi nông dân mua sản phẩm đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã (do nhà nước định hướng)
Bên cạnh việc áp dụng các chính sách trên, Chính phủ Trung Quốc đã xử
lý nghiêm nạn loạn thu phí và công bố công khai, minh bạch về giá và phí nông nghiệp, chính sách trợ cấp, đền bù và việc chuyển đổi thành tiền mặt đối với trợ cấp lương thực Nhờ đó, cả đời sống vật chất lẫn tinh thần cũng như các thể chế về chính trị, văn minh tinh thần không ngừng mở rộng
Ông Triệu Vân Kỳ, chuyên gia nghiên cứu Viện nghiên cứu khoa học tài chính (Bộ Tài chính Trung Quốc) cho biết: Chính sách hỗ trợ tài chính cho Tam nông tập trung 3 mục tiêu là nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông thôn phát triển, nông dân tăng thu nhập định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa, nông dân chuyên nghiệp hóa
(5) Phát triển nền nông nghiệp hiệu quả cao:
Trước năm 2000, ngành nông nghiệp Trung Quốc chủ yếu làm sao cho đảm bảo ổn định đời sống nhân dân nhưng sau ngày gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ngành nông nghiệp của Trung Quốc đã nhìn thấy bất lợi của nông dân Vào thời điểm năm 2001, giá cả các mặt hàng lúa mì, đậu nành, ngô, vải sợi, dầu thực phẩm và đường cao hơn mức giá thế giới từ 10 đến 70%, trong khi đó, thịt, rau quả, hải sản lại thấp hơn mức giá thế giới 40-80%
Từ đó, Trung Quốc đã tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng cố gắng khai thác lợi thế, nâng cao năng suất, chất lượng, đồng thời căn cứ vào nhu cầu của thị trường, đưa ra các biện pháp thích hợp cho từng khu vực để điều chỉnh và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Theo đó, Trung Quốc đã thực hiện kế hoạch sản xuất lương thực trên quy
mô lớn để đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu rau quả là những sản phẩm có tỷ trọng lao động cao, tập trung làm vườn, nuôi trồng thủy sản, sản xuất đậu nành, chăn nuôi bò sữa
Trang 40Căn cứ điều kiện tự nhiên, Trung Quốc quy hoạch nhiệm vụ chính cho từng vùng như sản xuất lúa gạo chất lượng cao ở sông Hoàng Hà, Huaihai, sản xuất đậu nành và ngô ở khu vực Đông Bắc và phía Đông khu vực Nội Mông, sản xuất bông ở Thiên Tân, sản xuất thịt cừu và thịt bò ở đồng bằng trung tâm, chăn nuôi bò sữa ở miền Bắc, trồng cam và hạt cải dầu ở đồng bằng sông Dương Tử
Để giúp nông dân sản xuất ổn định, Trung Quốc khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh nông sản Tính đến cuối năm 2007, Trung Quốc có khoảng 154.842 doanh nghiệp kinh doanh nông sản, kéo theo sự phát triển của hơn 90,9 triệu hộ sản xuất
Cùng với việc đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, việc tái
cơ cấu lại ngành nông nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh nông sản
đã đảm bảo cho Trung Quốc có một nền nông nghiệp hiệu quả cao, góp phần vào
sự tăng trưởng thần kỳ trong những năm vừa qua Đến nay, Trung Quốc có nhiều sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn của thế giới như thịt lợn (chiếm 46% sản lượng Thế giới), bông sợi (24%), trà (23%) Sản xuất thủy, hải sản tăng gấp 3 lần trong 10 năm qua Trung Quốc đứng thứ 8 thế giới trong xuất khẩu nông sản
(6) Trừng trị tham nhũng, xây dựng chính trị mạnh ở nông thôn
Để cho nông thôn phát triển nhanh và lành mạnh, Trung Quốc quan tâm việc xây dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng hủ bại, đồng thời xây dựng đảng liêm chính ở nông thôn
Ngày 12 tháng 10 năm 2008, Hội nghị toàn thể lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương đ ảng Cộng sản Trung Quốc đã xác định: Phải tăng cường xây dựng tác phong đảng liêm chính ở nông thôn, xây dựng hệ thống trừng trị và phòng ngừa tham nhũng hủ bại ở nông thôn, nâng cao tác phong thực tế thiết thực, nghiêm túc, công tâm, gian khổ phấn đấu, lấy việc bảo vệ quyền lợi nông dân làm trong điểm, tăng cường giám sát kiểm tra tình hình thực hiện chính sách nông thôn, thiết thực uốn nắn những điều nổi bật làm tổn hại lợi ích nông dân, nghiêm túc tra xét các
vụ việc phạm pháp liên quan đến nông dân