1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận kinh tế môi trường huỳnh thị phúc

26 476 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 508 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biểu hiện cụ thể là, đa dạng sinh học, các nguồn động,thực vật đều bị suy giảm; đất đai bị xói mòn; nguồn nước sạch cho sản xuất và sinhhoạt bị ô nhiễm và ngày một cạn kiệt; không khí ở

Trang 1

I Lý luận chung về kinh tế môi trường 2

1 Khái niệm 2

2 Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường 2

3 Tiêu chí, nguyên tắc và mục tiêu của các chính sách môi trường 4

3.1 Các tiêu chí đánh giá chính sách môi trường 4

3.2 Các nguyên tắc áp dụng phổ biến trong chính sách môi trường 5

II Các công cụ quản lý môi trường 7

1 Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát (Command and Control - CAC) 7

1.1 Quy định pháp lý và tiêu chuẩn môi trường 8

2 Công cụ kinh tế 9

2.1 Thuế tài nguyên và thuế môi trường 9

2.2 Phí môi trường 10

2.3 Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường 12

2.4 Hệ thống đặt cọc - hoàn trả 13

2.5 Ký quỹ môi trường 13

2.6 Trợ cấp môi trường 14

2.7 Quỹ môi trường 14

III Giải pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý cho các công cụ ở Việt Nam 15 1 Ví dụ điển hình về áp dụng các công cụ quản lý môi trường tại Singapore 15

2 Tình hình áp dụng các công cụ quản lý môi trường tại Việt Nam 18

2.1 Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát 19

2.2 Các công cụ kinh tế 20

3 Giải pháp nâng cao hiệu quả và hiệu lực cho các công cụ quản lý môi trường trong điều kiện Việt Nam hiện nay 21

IV Kết luận 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

MỞ ĐẦU

Trang 2

Với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, định hướng

xã hội chủ nghĩa cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế nước ta đã

có sự phát triển nhanh chóng và tương đối toàn diện trên mọi lĩnh vực công nghiệp,nông nghiệp, thương mại và dịch vụ Trong hơn một thập kỷ qua, nền kinh tế ViệtNam luôn đạt mức tăng trưởng cao đã tạo nhiều thuận lợi cho quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao đời sống nhândân và thu hẹp khoảng cách kinh tế với các nước trong khu vực Tuy nhiên cùng vớinhững lợi ích mang lại, phát triển kinh tế cũng đã gây ra sức ép rất lớn lên chất lượngmôi trường của đất nước, đặc biệt là ở các đô thị lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.Các vấn đề môi trường như ô nhiễm nước, không khí và chất thải rắn đang ngày càngtrở thành vấn đề bức xúc của xã hội Đây cũng là thực tế đã và đang diễn ra ở các nướcphát triển và đang phát triển Biểu hiện cụ thể là, đa dạng sinh học, các nguồn động,thực vật đều bị suy giảm; đất đai bị xói mòn; nguồn nước sạch cho sản xuất và sinhhoạt bị ô nhiễm và ngày một cạn kiệt; không khí ở nhiều đô thị, thậm chí cả với vùngnông thôn, các khu dân cư bị ô nhiễm; chất thải độc hại, rác thải hầu hết không được

xử lý đúng quy trình; quá trình đô thị hóa cùng với dân số tăng nhanh đã và đang gây

áp lực lớn đối với vấn đề lương thực, việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên Toàn

bộ thực trạng nói trên càng cho thấy mối quan hệ rất chặt chẽ giữa phát triển kinh tếvới bảo vệ môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích kinh tế với lợi ích của việc bảo vệ môitrường

Mặt khác, một bộ phận nhân dân không phải không nhận thức được tác hại củaviệc gây ô nhiễm môi trường, song do phải lo cái ăn, cái mặc bảo đảm cuộc sống mưusinh hàng ngày đã vô hình chung bỏ qua, thậm chí bất chấp cả pháp luật bảo vệ môitrường Nói cách khác, trong những điều kiện nhất định người dân đã lựa chọn lợi íchkinh tế thuần tuý trước mắt thay cho lựa chọn bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa lợiích kinh tế và lợi ích của việc bảo vệ môi trường

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp, công cụ quản lý môitrường phù hợp đảm bảo cân bằng lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường là một vấn đềcấp thiết mà Đảng và Nhà nước ta cần quan tâm

Học viên xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của cô giáo giảng dạy môn Kinh

tế Môi trường – TS Lê Thị Kim Oanh và sự giúp đỡ của bạn bè, và rất mong nhậnđược sự xem xét góp ý của giáo viên giảng dạy để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn

Trang 3

I Lý luận chung về kinh tế môi trường

1 Khái niệm

"Kinh tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để nghiên cứu môi trường

và điều đó cũng có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môitrường"

Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tư nhiên nên rất phức tạp, do đó cóthể coi kinh tế môi trường là một ngành phụ trung gian giữa các ngành khoa học tựnhiên và khoa học xã hội Những điểm cần ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường:

Kinh tế môi trường nghiên cứu các vấn đề môi trường với cách nhìn và phươngpháp phân tích của kinh tế học Kinh tế học được chia thành kinh tế vi mô – nghiêncứu hành vi của các cá nhân hay các nhóm nhỏ và kinh tế vĩ mô – nghiên cứu hoạtđộng kinh tế của toàn bộ nền kinh tế Kinh tế môi trường có nguồn gốc từ cả haichuyên ngành này, nhưng chủ yếu vẫn từ kinh tế vi mô Nghiên cứu kinh tế môitrường quan tâm đến vấn đề cơ bản là phân phối các nguồn tài nguyên khan hiếm chocác mục đích sử dụng có tính cạnh tranh Các khái niệm về sự khan hiếm, chi phí cơhội, sự đánh đổi, lợi ích biên và chi phí biên là chìa khóa để hiểu các vấn đề môitrường và cách thức giải quyết các vấn đề đó

Kinh tế môi trường tập trung nghiên cứu xem các hoạt động kinh tế ảnh hưởngnhư thế nào đến môi trường tự nhiên – không khí, nước, đất và vô số các giống loàisinh vật Các quyết định kinh tế của con người, các nhà sản xuất và chính phủ có thểgây ra những ảnh hưởng có hại tới môi trường tự nhiên Việc chôn lấp chất thải rắnvào môi trường tự nhiên đã tạo ra ô nhiễm và suy thoái các hệ sinh thái Điều đó dẫnđến việc sử dụng các nguồn tài nguyên không tối ưu Điều quan trọng không kém làkinh tế môi trường nghiên cứu và đánh giá các phương cách khác nhau để đạt đượcmục đích sử dụng tối ưu xã hội tất cả các nguồn tài nguyên, trong đó có tài nguyênmôi trường

Các nhà kinh tế học tin rằng: "Con người gây ô nhiễm bởi vì đó là phương cách

rẻ nhất để giải quyết một vấn đề rất thực tế là làm thế nào để thải bỏ chất thải sinh rasau khi sản xuất và tiêu dùng hàng hóa."

2 Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường

Hoạt động kinh tế và môi trường tuân theo 2 định luật nhiệt động học:

– Định luật nhiệt động lực học thứ nhất: Vật chất và năng lượng không thể tựtạo ra hoặc không thể mất đi mà chúng chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác

Trang 4

– Định luật nhiệt động lực học thứ hai: khả năng chuyển đổi vật chất và nănglượng của môi trường là có giới hạn

Môi trường ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng, gây tổn thương cho con ngườiđang sống ở hiện tại và các thế hệ tương lai, điều này buộc chúng ta phải xem xét lạithước đo của sự phát triển Cần phải tính đến lợi ích của những cộng đồng không đượchưởng lợi hoặc hưởng lợi quá ít từ sự tăng trưởng, đến lợi ích của thế hệ mai sau, đếnchi phí cần phải sử dụng để đền bù thiệt hại về môi trường hoặc để cải thiện môitrường Việc tính toán chi phí môi trường gộp vào chi phí phát triển đã dẫn đến mộtkhái niệm mới, đó là phát triển bền vững

Hình 1 Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường

Trang 5

Hình 2 Mô hình cân bằng vật chất – Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường tự

nhiên

3 Tiêu chí, nguyên tắc và mục tiêu của các chính sách môi trường

3.1 Các tiêu chí đánh giá chính sách môi trường

Chính sách môi trường phải thỏa mãn được nhu cầu và mong đợi của nhiều bên liênquan Có 03 tiêu chí quan trọng là hiệu lực, hiệu quả và công bằng

3.1.1 Hiệu lực

Đây là mối quan tâm của các nhà môi trường và công dân quan tâm tới môitrường Các chính sách môi trường phải giải quyết được vấn đề đặt ra Vấn đề hiệulực không đề cập tới chi phí cũng như các vấn đề xã hội nảy sinh do việc thực hiệnchính sách

3.1.2 Hiệu quả

Các nhà kinh tế thường quan tâm đến hiệu quả kinh tế của chính sách Hiệu quả

có nghĩa là sự cân bằng giữa chi phí xử lý ô nhiễm và thiệt hại do ô nhiễm gây ra Mộtchính sách được coi là hiệu quả nếu như nó có thể tối đa hoá phần chênh lệch giữa lợiích và chi phí: Lợi ích – chi phí > 0 và có khả năng đạt giá trị tối đa

Thông thường chúng ta không thể đo lường một cách chính xác thiệt hại do suy thoáimôi trường gây nên Chính vì vậy khi đó hiệu quả chi phí trở thành tiêu chí đánh giáchính sách chủ yếu Một chính sách là hiệu quả chi phí nếu nó tạo nên sự cải thiện môitrường tối đa với nguồn lực bỏ ra, tức đạt được một mức cải thiện môi trường nào đóvới chi phí tối thiểu

Trang 6

3.1.3 Công bằng

Một chính sách công bằng có nghĩa là cân bằng được chi phí và lợi ích giữa cácbên liên quan bằng cách phân phối tương xứng lợi ích hoặc để người hưởng lợi chi trảphần chi phí tương xứng

3.2 Các nguyên tắc áp dụng phổ biến trong chính sách môi trường

3.2.1 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả (PPP – Polluter Pays Principle)

Theo định nghĩa chính thức khởi xướng đầu tiên bởi khối OECD, nguyên tắc

“người gây ô nhiễm phải trả” là “nguyên tắc được dùng để phân bổ chi phí cho cácbiện pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nhằm khuyến khích việc sử dụng hợp lýnguồn tài nguyên môi trường khan hiếm và tránh làm ảnh hưởng tới đầu tư và thươngmại quốc tế” (OECD, 1975) Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” được hiểu lànhững người gây ô nhiễm phải chịu các chi phí thực hiện các biện pháp kiểm soát vàngăn ngừa ô nhiễm được quyết định bởi cơ quan có chức trách của chính quyền nhằmđảm bảo môi trường trong trạng thái chấp nhận được Trong phạm vi hẹp của địnhnghĩa này, PPP đòi hỏi người gây ra ô nhiễm phải chịu trách nhiệm về tài chính đốivới việc tuân thủ bất kỳ yêu cầu xử lý ô nhiễm nào phù hợp với quy định luật pháp.Nói một cách khác, theo OECD (1975), PPP có thể được hiểu như là một “nguyên tắckhông trợ cấp” khi các quốc gia trong khối này nhất trí cho rằng các khoản trợ cấp chongười gây ô nhiễm có thể trở thành vật cản trở đối với hoạt động đầu tư và thương mạiquốc tế

PPP giao quyền về môi trường cho những người hưởng lợi từ việc cải thiện môitrường do đó bất cứ ai gây ô nhiễm đều phải chi trả Ví dụ như đối với vấn đề ô nhiễmnước thải công nghiệp thì chính các cơ sở sản xuất phải chịu trách nhiệm với ô nhiễm

do chính cơ sở của họ gây nên Tuy vậy, việc quyết định ai là người gây ô nhiễm lại làmột vấn đề gây tranh cãi khi áp dụng PPP trong một số trường hợp khác, mà trong đónguyên nhân gây ô nhiễm và trách nhiệm kinh tế không thể đặt với nhau đơn giản lênmột thực thể nào đó Ví dụ như người nông dân với tập quán canh tác nông nghiệpkhông an toàn, và người sản xuất thuốc trừ sâu chứa các chất gây ô nhiễm môi trường,mỗi bên đều có một phần trách nhiệm đối với ô nhiễm đất

Một vấn đề khác nữa là phạm vi và mức độ chi phí mà người gây ô nhiễm phảitrả khi áp dụng PPP Dường như là có lý khi PPP được mong đợi là sẽ yêu cầu ngườigây ô nhiễm phải chi trả đầy đủ chi phí cho những tổn hại mà họ gây ra cho môitrường, vì trên khía cạnh kinh tế, chi phí cho những thiệt hại về môi trường cần phảiđược phải được phản ảnh đầy đủ trong giá cả của hàng hóa và dịch vụ, tuy nhiên

Trang 7

điều này sẽ không phải dễ dàng vì khó có thể xác định được hàm số thiệt hại Do vậy,tài liệu của OECD cũng khẳng định rằng bản thân PPP không phải là một nguyên tắcnhằm nội hóa một cách đầy đủ các chi phí ô nhiễm (OECD, 1975) Nguyên tắc này chỉđơn giản yêu cầu người gây ô nhiễm phải chi trả các chi phí cho các biện pháp kiểmsoát và ngăn ngừa ô nhiễm đưa ra bởi nhà chức trách PPP không yêu cầu người gây ônhiễm phải chịu trách nhiệm tài chính đối với các thiệt hại tồn dư, vì thế nguyên tắcnày không dành cho việc bồi hoàn nạn nhân hay khôi phục thiệt hại

PPP cũng không phải là nguyên tắc đảm bảo hiệu quả về mặt chi phí, vì PPP chỉ xácđịnh ai sẽ chi trả cho kiểm soát ô nhiễm, nhưng không chỉ ra làm thế nào xử lý ônhiễm hay ai sẽ xử lý ô nhiễm mà nhờ vậy các mục tiêu kiểm soát ô nhiễm có thể đạtđược với chi phí nhỏ nhất có thể cho xã hội Một lần nữa, cơ quan quản lý môi trườngcủa nhà nước sẽ phải xác định cho được điều này bằng việc thiết kế một tập hợp cáckhuyến khích phù hợp, nghĩa là lựa chọn tập hợp các công cụ chính sách phù hợp

Khi đề cập đến việc chia sẻ gánh nặng chi phí, điều cần thiết là sự chia sẻ nàyphải đảm bảo công bằng Sự công bằng được đề cấp thông qua PPP với hàm ý là chiphí sẽ phải chi trả bởi phía có trách nhiệm Thực sự, PPP không quan tâm tới việc cuốicùng ai sẽ là người phải chịu chi phí xử lý ô nhiễm Vì chi phí này sẽ được tính vào giá

cả hàng hóa bao nhiêu (tác động tới người tiêu dùng) phụ thuộc vào cấu trúc thị trường(độc quyền, thiểu quyền, hay cạnh tranh tự do) và phụ thuộc vào độ co giãn của cầutheo giá Từ khía cạnh này, có thể nhận ra rằng PPP không phải là nguyên tắc thúc đẩy

sự công bằng Và khi nói rằng người gây ô nhiễm là người chi trả có nghĩa là anh ta làđiểm phù hợp nhất để tính toán chi phí môi trường vào đó, hay là giai đoạn/điểm phùhợp nhất để can thiệp vào bằng quy định luật pháp (OECD, 1975; Zylicz, 2000)

Theo nghĩa của PPP, người ô nhiễm phải trả cũng hàm ý là không chỉ cóphương tiện thuế và phí được sử dụng để thực hiện PPP Sự chi trả bởi người gây ônhiễm có thể được diễn đạt như bất cứ trách nhiệm tài chính nào của người gây ônhiễm với các biện pháp xử lý ô nhiễm Ngay khi người gây ô nhiễm buộc phải thựchiện các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và do đó gây ô nhiễm ít hơn, thì cũng có thể nóirằng PPP là có hiệu lực Do vậy, trong tập hợp các công cụ chính sách môi trườngcũng có một số công cụ có thể giúp đạt được mục đích này Kết quả là PPP có thểđược áp dụng bằng nhiều công cụ từ các quy định luật pháp trực tiếp đến thuế và phí(xem OECD, 1975) Trong các trường hợp được áp dụng, những công cụ này khôngtương đương nhau khi xét trên khía cạnh tính hiệu lực và tính hiệu quả do vậy mức độđáp ứng các yêu cầu của PPP của những công cụ này cũng khác nhau

Trang 8

3.2.2 Nguyên tắc người sử dụng phải trả ( UPP – User Pays Principle)

Thường áp dụng trong trường hợp việc bảo vệ môi trường sẽ đạt được thôngqua hoạt động của cơ sở xử lý nào đó Nếu cơ sở này được cung cấp tài chính đầy đủthong qua sự chi trả của người sử dụng

Ví dụ: Hoạt động của nhà máy xử lý nước thải, việc vận động chôn lấp rác,…Điều đó có nghĩa người sử dụng sẽ chi trả cho việc vận hành các cơ sở này Đâycũng là nguyên tắc hàm ý không có trợ cấp cho các hoạt động và hành vi gây ô nhiễmmôi trường

3.2.3 Nguyên tắc cảnh cáo

Người ta cố gắng đưa ra chiến lược để tối thiểu hóa những hậu quả thiệt hại,bằng cách đưa ra những tiêu chuẩn, tối thiểu để giải quyết vấn đề ô nhiễm nào đó

3.2.4 Phi tập trung hoá

Nguyên tắc này xuất phát từ mối quan hệ về chính trị và xã hội Chính sách môitrường nên được hình thành từ cấp thấp nhất chứ không phải từ trên xuống Cấp thấpnhất ngày phù hợp với mỗi một vấn đề nào đó

II Các công cụ quản lý môi trường

Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động nhằm thực hiện côngtác quản lý môi trường của Nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất Mỗi công cụ

có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, chúng liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Trong đó, công cụ mệnh lệnh – kiểm soát và công cụ kinh tế được đánh giá cao về tínhhiệu quả và hiệu lực trong công tác quản lý môi trường

1 Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát (Command and Control - CAC)

Công cụ mệnh lệnh và kiểm soát là công cụ truyền thống, được sử dụng kháphổ biến và được sự ủng hộ của các nhà quản lý Công cụ CAC bao gồm 02 khía cạnhchỉ huy và kiểm soát, theo nguyên tắc là một bên đưa ra yêu cầu mệnh lệnh hay chỉhuy đồng thời họ cũng có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành hay tuân thủcác yêu cầu đã được đặt ra CAC thực hiện dựa trên pháp luật và các tiêu chuẩn môitrường ban hành

Đặc điểm: Sử dụng các luật lệ, quy định, tiêu chuẩn, giấy phép môi trường đểkiểm soát ô nhiễm Trong đó giám sát và cưỡng chế thực hiện là 02 yếu tố quan trọngmang tính quyết định cho sự hiện hữu công cụ này

Trang 9

1.1 Quy định pháp lý và tiêu chuẩn môi trường

CAC được xây dựng dựa trên các quy định mang tính chất pháp lý trong đó đưa

ra các mục tiêu, tiêu chuẩn và công nghệ mà những người gây ô nhiễm phải tuân thủ.Trong khuôn khổ các quy định pháp lý này, những quy tắc cụ thể sẽ được đặt ra dướihình thức của các tiêu chuẩn Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạncho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường

a Các dạng tiêu chuẩn môi trường

- Tiêu chuẩn môi trường xung quanh: quy định đặc tính của môi trường tiếpnhận, từ đó hình thành các mục tiêu môi trường cần đạt được bằng các công cụchính sách khác nhau

- Tiêu chuẩn phát thải: là mức tối đa được phép xả thải các chất ô nhiễm ra môitrường Một hình thức đặc biệt của tiêu chuẩn phát thải là việc cấm không sửdụng hay thải ra một chất nào đó, thông thường là một chất độc

- Tiêu chuẩn quy trình: quy định hình thức của các quá trình sản xuất hoặc thiết

bị giảm thiểu ô nhiễm mà các cơ sở gây ô nhiễm phải lắp đặt (ví dụ như mộtthiết bị lọc không khí hay một dụng cụ lọc nước nào đó)

- Tiêu chuẩn sản phẩm: xác định đặc tính của các sản phẩm có tiềm năng gây ônhiễm

b Tiêu chí xác định các tiêu chuẩn môi trường

- Tiêu chí về môi trường: xác định mức ngưỡng của môi trường tự nhiên nhằmđảm bảo lợi ích hoặc bảo vệ các hoạt động kinh tế khỏi ảnh hưởng có hại

- Tiêu chí về công nghệ: Tiêu chuẩn có thể dựa trên công nghệ đã có và đangđược áp dụng trong một số nhà máy và dễ dàng được chuyển giao – " Côngnghệ đang có hiện thời" hay " công nghệ tốt nhất đang có"

- Tiêu chí về kinh tế: một tiêu chuẩn lý tưởng là tiêu chuẩn mà doanh nghiệp cóthể đạt được với chi phí thấp nhất

- Tiêu chí về chính trị: khi xác lập công cụ chính sách, người đưa ra quyết địnhphải đối mặt với một số ràng buộc "chính trị": tính công bằng, khả năng cảnhbáo, đảm bảo khả năng chấp nhận được và đơn giản

c Ưu, nhược điểm

Tiêu chuẩn môi trường có nhiều ưu điểm trong việc giải quyết vấn đề môitrường Tiêu chuẩn môi trường phải:

- Đơn giản và trực tiếp;

- Đặt mục tiêu cụ thể rõ ràng;

Trang 10

- Làm cho người ta cảm ô nhiễm môi trường được giảm ngay tức thì;

- Nhất quán với nhận thức đạo đức cho rằng ô nhiễm môi trường là nguy hiểm vàbất hợp pháp;

- Phù hợp với hoạt động của hệ thống luật pháp, tức xác định và ngăn chặn hànhđộng bất hợp pháp

Tuy nhiên, công cụ tiêu chuẩn có thể phức tạp hơn nhiều so với ấn tượng banđầu của nó Thực ra, một lý do thực tế giải thích sự phổ biến của tiêu chuẩn là nó linhhoạt hơn nhiều khi thực hiện Ấn tượng về tính chất trực tiếp và tính rõ ràng của tiêuchuẩn trở nên phức tạp hơn nhiều khi chúng ta xem xét sâu hơn

Chính sách bảo vệ môi trường giải quyết những vấn đề chung nhất về quanđiểm quản lý môi trường, về các mục tiêu bảo vệ môi trường cơ bản cần giải quyếttrong một giai đoạn dài 10 - 15 năm và các định hướng lớn thực hiện mục tiêu, chútrọng việc huy động các nguồn lực cân đối với các mục tiêu về bảo vệ môi trường

2 Công cụ kinh tế

2.1 Thuế tài nguyên và thuế môi trường

Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanhnghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất Mụcđích của thuế tài nguyên là:

- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên;

- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng;

- Tạo nguồn thu cho Ngân sách và điều hoà quyền lợi của các tầng lớp dân cư

về việc sử dụng tài nguyên

Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như thuế sử dụng đất, thuế sửdụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoángsản Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệcủa doanh nghiệp, phương thức quản lý của Nhà nước và điều kiện địa chất kỹ thuậtcủa khu vực khai thác tài nguyên để bảo đảm có sự phân biệt đối với các doanh nghiệphoặc hoạt động gây ra các tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường ở các mức độkhác nhau; nguyên tắc chung là: hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suythoái môi trường thì càng phải chịu thuế cao hơn

Thuế môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá sảnphẩm theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" Thuế môi trường nhằm haimục đích chủ yếu: khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ramôi trường và tăng nguồn thu cho Ngân sách Trên thực tế, thuế môi trường được áp

Trang 11

dụng dưới nhiều dạng khác nhau tuỳ thuộc mục tiêu và đối tượng ô nhiễm như:thuế/phí đánh vào nguồn ô nhiễm, thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm, phí đánh vàongười sử dụng

Ưu điểm của thuế môi trường là phát ra những tín hiệu đúng đắn thông qua giá

cả cho người sản xuất và người tiêu dùng Do đó, khuyến khích họ chuyển sang sửdụng các hàng hoá ít gây ô nhiễm cho môi trường hơn Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nếucung cầu co giãn quá mạnh, thuế môi trường có thể gây ra những tổn thất lớn cho quátrình tăng trưởng kinh tế Trong khi đó, nếu hàng hoá hầu như không co dãn, thuế môitrường sẽ không phát huy được tác dụng Do đó, để khắc phục nhược điểm nàyRamsey đề nghị rằng nên đánh thuế cao các hàng hoá kém co dãn để bù đắp cho việcgiảm thuế đối với những hàng hoá có độ co dãn cao

2.2 Phí môi trường

Phí môi trường là các nguồn thu vào ngân sách do các tổ chức và cá nhân sửdụng môi trường đóng góp Phần thu về từ phí môi trường thường chỉ dùng để chi chocác hoạt động bảo vệ môi trường Theo lý thuyết, phí ô nhiễm đánh trên một đơn vị ônhiễm được xác định ở mức bằng đúng với chi phí của ngoại ứng gây ra bởi đơn vị ônhiễm đó Nếu định ra được một mức phí như vậy, nó sẽ tạo ra hiệu ứng riêng biệtcủa mỗi doanh nghiệp/cơ sở gây ô nhiễm một cách cụ thể và thích hợp Thường thìmức phí này được tính bằng với chi phí giảm thải cận biên (MAC) của doanh nghiệp

có mức chi phí xử lý ô nhiễm trung bình (mức trung bình có thể tính theo từng vùng)

Phí ô nhiễm được hiểu như là giá cả mà những người gây ô nhiễm phải chi trảcho mỗi đơn vị ô nhiễm mà họ thải ra môi trường; điều đó có nghĩa là người gây ônhiễm phải trả cho các yêu cầu về các “dịch vụ môi trường” tuy không đươc biểu hiệnnhưng lẽ ra cũng phải được đưa vào một khoản mục trong tính toán chi phí – lợi íchcủa cá nhân người gây ô nhiễm (OECD, 1989) Theo OECD (1989) and World Bank(1998) các hình thức phí được sử dụng như là công cụ chính sách trong kiểm soát ônhiễm bao gồm phí xả thải, phí sử dụng, phí sản phẩm, và các khoản lệ phí mang tínhchất hành chính

(1) Phí phát thải là khoản phí thu trên lượng chất ô nhiễm phát thải trực tiếp vàomôi trường nước, không khí, hoặc đất; mức phí thường được tính dựa trên số lượnghoặc chất lượng (độc tính) của các chất ô nhiễm thải ra môi trường

(2) Phí sử dụng là phí trả cho việc sử dụng hệ thống thu gom hoặc xử lý chungcho các loại chất thải, thường là chất thải rắn và nước thải

Trang 12

(3) Phí sản phẩm là phí thu trên các sản phẩm có gây hại cho môi trường khichúng được sử dụng trong quá trình sản xuất, được tiêu thụ, hoặc sau đó là thải bỏ,như các loại dầu nhớt là một ví dụ

(4) Lệ phí hành chính là các khoản lệ phí chi trả cho cơ quan quản lý cho việcthực hiện các dịch vụ quản lý như đăng ký, cấp giấy phép, hay kiểm soát thực thi cácquy định đã ban hành

Trên thực tế, các loại phí sản phẩm hay phí hành chính có liên quan trực tiếp tớicác chất hay sản phẩm gây ô nhiễm môi trường được sử dụng không nhiều Phí phátthải ô nhiễm là loại phí được thu dựa trên số lượng và thành phần chất ô nhiễm do một

cơ sở công nghiệp thải vào môi trường Người xả thải sẽ phải trả một khoản tiền nhấtđịnh cho mỗi đơn vị chất ô nhiễm thải vào nguồn nước hay bầu khí quyển Phí phátthải thường được sử dụng kết hợp với các tiêu chuẩn, giấy phép và cho phép các tiêuchuẩn này có thể thực hiện được với mức chi phí thấp nhất có thể

Để đảm bảo thực thi hữu hiệu hệ thống phí xả thải cần phải có sẵn hoặc tạo ramột số điều kiện về thể chế chính trị và kỹ thuật Thứ nhất, cơ quan quản lý có tráchnhiệm cần phải bao quát được các ranh giới phân thủy, phân không và có quyền lựcpháp lý để áp đặt và buộc người gây ô nhiễm phải nộp các khoản lệ phí Cơ quan nàycũng phải có đủ năng lực (phương pháp phân tích, dữ liệu) để xác lập giá trị bằng tiềncủa những tổn thất gây ra bởi các chất ô nhiễm khác nhau hoặc phải có phương pháp

để được tính mức lệ phí cần thiết đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng môi trường,

có nguồn lực đủ để giám sát sự xả thải của từng nguồn ô nhiễm, có khả năng giám sát,kiểm tra và cưỡng chế thực thi định kỳ, đồng thời có quyền lực pháp lý đối với việc sửdụng các khoản thu phí

Về lý thuyết, phí xả thải có một số ưu điểm:

- Khuyến khích các cơ sở sản xuất giảm ô nhiễm liên tục với chi phí thấp hơn

so với chi phí cho CAC;

- Kích thích cơ sở sản xuất đầu tư vào công nghệ kiểm soát ô nhiễm mới;

- Tạo ra nguồn thu nhập để tài trợ và nâng cao các hoạt động giám sát và cưỡngchế thực hiện;

- Ngoài ra, các phí xả thải có thể bù đắp, ít nhất là một phần cho các phí tổnkhông được thanh toán như chi phí môi trường phát sinh từ những chất ô nhiễm trongmức thải cho phép tuy nhiên vẫn gây tổn hại cho môi trường xung quanh

Phí phát thải cũng có một số hạn chế:

Trang 13

- Doanh nghiệp có thiên hướng ưa thích kiểm soát ô nhiễm thông qua các tiêuchuẩn hơn là thông qua hệ thống lệ phí vì việc trả phí sẽ làm cho chi phí sản xuất củadoanh nghiệp tăng lên;

- Phí được doanh nghiệp tính vào giá thành sản phẩm, điều này có thể dẫn đếnđiều mà các nhà kinh tế học gọi là phân phối thụt lùi;

- Việc quy giá trị bằng tiền cho các tổn thất gây ra bởi ô nhiễm thường khóđược chấp nhận;

- Việc định ra mức phí bằng đúng với chi phí biên thiệt hại do ô nhiễm gây ra

sẽ rất phức tạp vì mức độ gây tổn thất của mỗi nguồn ô nhiễm đối với môi trường xungquanh không đồng nhất như nhau Điều này lại có thể dẫn đến việc cạnh tranh giảmphí giữa các khu vực vì mục tiêu phát triển kinh tế và vì vậy làm tổn hại đến nỗ lực cảithiệm môi trường tại một số vùng;

- Cơ quan quản lý của chính quyền địa phương thường không đủ mạnh để xử

lý việc quy hoạch, phân tích, cũng như giám sát cưỡng chế thi hành hay giải quyết cáctranh chấp thương lượng liên vùng phức tạp có liên quan đến hệ thống phí Chế độ phíđược thiết kế để tăng nguồn thu ngân sách sử dụng vào mục đíchcung cấp tài chínhcho hoạt động bảo vệ và năng cao chất lượng môi trường Do vậy, phần thu nhập từphí phần lớn được dành cho các mục đích bảo vệ môi trường cụ thểhơn là đóng gópchung vào tổng nguồn thu ngân sách nhà nước

2.3 Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường

Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên môi trường khó

có thể quy định quyền sở hữu và vì thế thường bị sử dụng bừa bãi như không khí, đạidương Để thực hiện công cụ này, trước hết Nhà nước phải xác định mức sử dụng môitrường chấp nhận được để trên cơ sở đó phát hành giấy phép Việc này không đơn giản

và cũng đòi hỏi chi phí thực hiện khá lớn Sau khi quy định mức thải tối đa trong vùng,

có thể phát không giấy phép cho các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn dựa trên một

số căn cứ nào đó hoặc tổ chức bán đấu giá Cách thực hiện được nhiều người tán thànhnhất là phân phối giấy phép dựa vào mức độ ô nhiễm hoặc hiện trạng tác động môitrường của từng doanh nghiệp, nói cách khác là thừa kế quyền được thải quá khứ Khi

đã có giấy phép, các doanh nghiệp tự do giao dịch, mua đi bán lại số giấy phép đó; giágiấy phép trên thị trường sẽ điều tiết nhu cầu trong phạm vi tổng hạn mức

Ưu điểm đáng kể nhất của loại công cụ này là sự kết hợp giữa tín hiệu giá cả vàhạn mức ô nhiễm So với các loại thuế môi trường hay phí ô nhiễm thì thị trường giấyphép tính chắc chắn, bảo đảm hơn về kết quả đạt mục tiêu môi trường vì dù giao dịch

Ngày đăng: 07/06/2016, 14:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường. - Tiểu luận kinh tế môi trường huỳnh thị phúc
Hình 1. Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường (Trang 4)
Hình 2. Mô hình cân bằng vật chất – Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường tự - Tiểu luận kinh tế môi trường huỳnh thị phúc
Hình 2. Mô hình cân bằng vật chất – Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường tự (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w