Ngoài ra, nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường cũng được đề cập trong cácvăn bản pháp luật khác gọi là luật về các thành phần môi trường: Luật khoángsản; Luật phát triển và bảo vệ rừng; Luậ
Trang 1[Type text] Page 1
Đề bài: Nêu đặc điểm, nội dung bản chất của loại công cụ mệnh lệnh –
kiểm soát, công cụ kinh tế trong công tác quản lý môi trường Nhận xét điểm mạnh, điểm yếu của mỗi hình thức công cụ và đề xuất những biện pháp để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý cho các công cụ này trong điều kiện Việt Nam hiện nay
GV HƯỚNG DẪN : TS LÊ THỊ KIM OANH
HV THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ MỸ LINH LỚP : CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG K23
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
PHẦN 2 CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 2
2.1 CÔNG CỤ MỆNH LỆNH – KIỂM SOÁT 2
2.1.1 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG BẢN CHẤT CỦA CÔNG CỤ MỆNH LỆNH - KIỂM SOÁT 2
2.1.2 ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÔNG CỤ MỆN LỆNH- KIỂM SOÁT 6
2.2 CÔNG CỤ KINH TẾ 7
2.2.1 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG BẢN CHẤT CỦA CÔNG CỤ KINH TẾ 7
2.2.1.1 Thuế tài nguyên 7
2.2.1.2 Thuế và phí môi trường 8
2.2.1.3 Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường (cota ô nhiễm) 9
2.2.1.4 Hệ thống đặt cọc hoàn trả 10
2.2.1.5 Ký quỹ môi trường 11
2.2.1.6 Trợ cấp môi trường 12
2.2.1.7 Nhãn sinh thái 13
2.2.1.8 Quỹ môi trường 14
2.2.2 ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÔNG CỤ KINH TẾ 15
PHẦN 3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG 16
3.1 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 16
3.1.1 CÔNG CỤ MỆNH LỆNH – KIỂM SOÁT 16
3.1.2 CÔNG CỤ KINH TẾ 16
3.2 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ, HIỆU LỰC QUẢN LÝ CHO CÁC CÔNG CỤ MỆNH LỆNH – KIỂM SOÁT VÀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM HIỆN NAY 21
3.2.1 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công cụ mệnh lệnh – kiểm soát 21
3.2.2 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công cụ kinh tế 22
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3và bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường được xem là nội dung quan trọng,không thể tách rời trong quá trình phát triển kinh tế Một câu hỏi đặt ra cho cácnhà quản lý môi trường là cần tiến hành quản lý môi trường như thế nào để đảmbảo kinh tế vẫn tăng trưởng cao Một trong những cách tiếp cận đúng đắn nhằmhạn chế ô nhiễm đó là việc áp dụng công cụ trong quản lý môi trường nhằm hạnchế ô nhiễm và suy thoái môi trường tại Việt Nam Công cụ kinh tế, công cụmệnh lệnh kiểm soát và các biện pháp giáo dục môi trường nằm trong hệ thốngcông cụ của quản lý môi trường Mỗi công cụ có một chức năng và phạm vi tácđộng nhất định, chúng liên kết và hỗ trợ lẫn nhau Trong phạm vi tiểu luận sau
sẽ trình bày đặc điểm, nội dung bản chất của loại công cụ mệnh lệnh – kiểmsoát, công cụ kinh tế trong công tác quản lý môi trường Nhận xét điểm mạnh,điểm yếu của mỗi hình thức công cụ và đề xuất những biện pháp để nâng caohiệu quả, hiệu lực quản lý cho các công cụ này trong điều kiện Việt Nam hiệnnay
Trang 4PHẦN 1 CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Quản lý môi trường là một lĩnh vực quản lý xã hội, nhằm bảo vệ môitrường và các thành phần môi trường, phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững và
sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và xã hội Để quản lý môi trường cầncông cụ quản lý môi trường Công cụ quản lý môi trường là tổng hợp các biệnpháp hoạt động về luật pháp, chính sách, kinh tế - kỹ thuật và xã hội hướng tớiviệc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế - xã hội
Công cụ quản lý môi trường là vũ khí hoạt động của Nhà nước, của các tổchức nghiên cứu khoa học và sản xuất thực hiện công tác quản lý môi trườngquốc gia và địa phương
Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng; không có một công cụ nào có giátrị tuyệt đối trong quản lý môi trường Mỗi công cụ có chức năng và phạm vi tácđộng nhất định, chúng tạo ra một tập hợp các biện pháp hỗ trợ nhau
Theo bản chất có thể chia công cụ quản lý môi trường thành các loại cơbản như sau:
Trong phạm vi bài tiểu luận chỉ nêu công cụ mệnh lệnh – kiểm soát vàcông cụ kinh tế
1.1 Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát
1.1.1 Đặc điểm nội dung bản chất của công cụ mệnh lệnh – kiểm soát
Công cụ mệnh lệnh - kiểm soát hay còn gọi là công cụ pháp lý Đây làcông cụ quản lý trực tiếp và được sử dụng phổ biến từ lâu ở nhiều quốc gia trênthế giới và là công cụ được nhiều nhà quản lý hành chính ủng hộ
Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát gồm 2 khía cạnh: Khía cạnh chỉ huy vàkiểm soát, theo nguyên tắc là một bên đưa ra yêu cầu mệnh lệnh hay chỉ huyđồng thời họ cũng có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành hay tuânthủ các yêu cầu đã được đặt ra
Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luậtquốc gia, các văn bản khác dưới luật (pháp lệnh, nghị định, qui định, các tiêuchuẩn môi trường, giấy phép môi trường ), các kế hoạch, chiến lược và chínhsách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế và các địa phương
Trang 5Công cụ mệnh lệnh kiểm soát bao gồm :
- Luật quốc tế về môi trường: tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm cơ bản
và đặc thù của luật quốc tế điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong phòngngừa, giảm bớt và xoá bỏ, khắc phục những thiệt hại các loại, do các nguồn gây
ra đối với môi trường tự nhiên của các nước và môi trường ngoài phạm vi quyềntài phán quốc gia Khái niệm “ môi trường” bao gồm những yếu tố gắn với điềukiện tồn tại của con người trong đó có những yếu tố vật chất của thiên nhiên(những khách thể tự nhiên) và những yếu tố do con người tạo ra trong quá trìnhtác động qua lại với thiên nhiên Ở cấp độ pháp luật quốc tế, các yếu tố của môitrường (vd bầu khí quyển, môi trường biển, nguồn nước ngọt ) lần đầu tiênđược nêu ra trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc tế các vấn đề môi trường
1972 Sự bảo vệ môi trường bằng luật quốc tế được tiến hành ở cấp toàn cầu,khu vực và hợp tác hai bên Năm 1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thôngqua nghị quyết " Về trách nhiệm lịch sử của các quốc gia về bảo vệ thiên nhiênTrái Đất cho các thế hệ hiện nay và mai sau" Năm 1982, Khoá họp 37 - Đại hộiđồng Liên hợp quốc đã thông báo qua "Chiến lược toàn cầu về bảo vệ thiênnhiên", Cho đến nay đã có hàng nghìn văn bản luật quốc tế về môi trường màViệt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn bản trong số đó Pháp luật quốc tế vềbảo vệ môi trường do nhiều nước ký kết hoặc tham gia không có hiệu lực trựctiếp trên lãnh thổ quốc gia cụ thể Muốn thi hành trên lãnh thổ nào đó, các quiphạm của Luật quốc tế về bảo vệ môi trường cần phải được chuyển hóa thànhquy phạm pháp luật quốc gia, nghĩa là Nhà nước phải phê chuẩn các văn bảnnày
- Luật môi trường quốc gia: là tổng hợp các quy phạm pháp luật, cácnguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quátrình các chủ thể sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môitrường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệmột cách có hiệu quả môi trường sống của con người Hệ thống luật bảo vệ môitrường của một quốc gia thường gồm luật chung và luật sử dụng hợp lý cácthành phần môi trường hoặc bảo vệ môi trường cụ thể ở một địa phương, mộtngành
Ngoài ra, nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường cũng được đề cập trong cácvăn bản pháp luật khác gọi là luật về các thành phần môi trường: Luật khoángsản; Luật phát triển và bảo vệ rừng; Luật dầu khí; Luật hàng hải; Luật lao động;Luật đất đai; Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân; Luật tài nguyên nước; Pháp lệnh
đê điều; Pháp lệnh về bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Pháp lệnh về bảo vệ các côngtrình giao thông
Các văn bản Luật quốc tế về môi trường Việt Nam đã ký kết :
+ Công ước về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt
như là nơi cư trú của loài chim nước (RAMSAR)
+ Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên
Trang 6+ Công ước về buôn bán các giống loài động thực vật có nguy cơ diệtchủng (CITES).
+ Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển (MARPOL)
+ Công ước của Liên Hiệp Quốc về sự biến đổi môi trường
+ Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển
+ Công ước Viên về bảo vệ tầng Ôzon
+ Công ước về sự thông báo sớm sự cố hạt nhân
+ Công ước về sự trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứuphóng xạ
+ Nghị định thư Montrean về các chất làm suy giảm tầng Ôzon
+ Công ước Balơ về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thảiđộc hại và loại bỏ chúng
+ Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu
+ Công ước về đa dạng sinh học
- Quy định là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hóa hoặc hướng dẫnthực hiện các nội dung của luật Quy định có thể do Chính phủ trung ương hayđịa phương, do cơ quan hành pháp hay lập pháp ban hành
- Quy chế là các quy định về thể lệ tổ chức quản lý bảo vệ môi trường,chẳng hạn như quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, Bộ,
Sở khoa học công nghệ, Sở tài nguyên môi trường
- Tiêu chuẩn môi trường là các chuẩn mực giới hạn cho phép được quyđịnh làm căn cứ để quản lý môi trường Tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mậtthiết với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Việc xây dựng tiêu chuẩn môitrường một mặt dựa trên các quy định đã được kiểm nghiệm thực tế, mặt khácphải có nhiều căn cứ khoa học, nhằm đảm bảo cho tiêu chuẩn môi trường phùhợp với nhu cầu bảo vệ sinh thái, đồng thời khả thi về mặt kinh tế, xã hội Hệthống tiêu chuẩn môi trường phản ánh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chứcquản lý và tiềm lực kinh tế xã hội có tính đến dự báo phát triển Các dạng tiêuchuẩn môi trường:
+ Tiêu chuẩn môi trường xung quanh: Qui định đặc tính của môi trườngtiếp nhận, ví dụ như nồng độ tối đa của hợp chất nitrat trong nước uống, hay SO2
trong bầu không khí, hoặc mức độ tối đa trong khu dân cư Các tiêu chuẩn nàyhình thành các mục tiêu môi trường cần đạt được bằng các công cụ chính sáchkhác nhau;
+ Tiêu chuẩn phát thải: Là mức tối đa cho phép xả thải các chất ô nhiễm
được thải vào không khí của một cơ sở sản xuất công nghiệp Một hình thức đặcbiệt của tiêu chuẩn phát thải đó là việc cấm không được sử dụng hay thải ra một
Trang 7chất nào đó, thông thường là chất độc;
+ Tiêu chuẩn quy trình: Qui định hình thức của quá trình sản xuất hoặcthiết bị giảm thiểu ô nhiễm mà các cơ sở ô nhiễm phải lắp đặt (ví dụ như thiết bịlọc không khí hay một dụng cụ lọc nước nào đó);
+ Tiêu chuẩn sản phẩm: Xác định đặc tính của các sản phẩm có tiềm nănggây ô nhiễm ví dụ như hóa chất, bột giặt, phân bón hóa học, ôtô và moto, cácloại nhiên liệu…
Có 4 tiêu chí xác định các tiêu chuẩn môi trường đó là tiêu chí môitrường, tiêu chí công nghệ, tiêu chí kinh tế, tiêu chí chính trị
+ Tiêu chí môi trường: Xác định mức ngưỡng của môi trường tự nhiênnhằm đảm bảo lợi ích hoặc bảo vệ các hoạt động kinh tế khỏi tác động có hại;
+ Tiêu chí về công nghệ: Tiêu chuẩn có thể dựa trên công nghệ đã có vàđang được áp dụng trong một số nhà máy và dễ dàng được chuyển giao côngnghệ đang có hiện thời; tiêu chuẩn dựa trên cơ sở công nghệ tốt nhất đang có;
+ Tiêu chí về kinh tế: Làm thế nào chi phí bỏ ra là nhỏ nhất trong điềukiện có thể; một tiêu chuẩn lý tưởng là tiêu chuẩn mà doanh nghiệp có thể đạtđược với chi phí thấp nhất;
+ Tiêu chí về chính trị: Khi xác lập công cụ chính sách, người ta đưa raquyết định phải đối mặt với một số ràng buộc về chính trị như: tính công bằng,khả năng cảnh báo, đảm bảo khả năng chấp nhận được và đơn giản
- Chính sách bảo vệ môi trường là những chủ trương, biện pháp mang tínhchiến lược, có thời hạn nhằm giải quyết nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể nào
đó trong một giai đoạn nhất định Chính sách bảo vệ môi trường giải quyếtnhững vấn đề chung nhất về quan điểm quản lý môi trường, về các mục tiêu môitrường cơ bản cần giải quyết trong một giai đoạn dài 10 - 15 năm và các địnhhướng lớn thực hiện mục tiêu, chú trọng việc huy động nguồn lực cân đối vớimục tiêu về bảo vệ môi trường
Chính sách bảo vệ môi trường phải được xây dựng đồng thời với chínhsách phát triển kinh tế - xã hội Chức năng quan trọng nhất của chính sách môitrường là tạo điều kiện gắn kết các mục tiêu phát triển bền vững vào hoạt độngphát triển của từng ngành, từng vùng tạo liên kết giữa các ngành và các cấptrong việc thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường
- Chiến lược bảo vệ môi trường cụ thể hóa chính sách ở một mức độ nhấtđịnh Chiến lược xem xét chi tiết hơn mối quan hệ giữa các mục tiêu do chínhsách xác định và các nguồn lực để thực hiện chúng; trên cơ sở lựa chọn các mụctiêu khả thi, xác định phương hướng, biện pháp thực hiện mục tiêu
- Công cụ đánh giá tác động môi trường: Đánh giá tác động môi trườngđược sử dụng để phòng ngừa và giảm thiểu những tác động tiêu cực, phát huycác tác động tích cực và đồng thời hỗ trợ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên
Trang 8thiên nhiên qua đó làm tăng tối đa lợi ích của các dự án phát triển kinh tế - xãhội góp phần vào phát triển bền vững của quốc gia.
Đánh giá tác động môi trường được tiến hành khi ra quyết định về dự
án, tại nhiều nước đây là điều bắt buộc và đưa vào văn bản luật Việc đánh giánày có liên quan đến mục tiêu kinh tế của dự án và từ đó đưa ra các quyết địnhđúng đắn Giám sát và cưỡng chế là hai yếu tố quan trọng của công cụ này.
1.1.2 Ưu điểm và nhược điểm của công cụ mệnh lệnh – kiểm soát
- Trước pháp luật, mỗi cá nhân đều bình đẳng, công cụ tạo ra được sựcông bằng và liêm minh đối với tất cả mọi cá nhân, doanh nghiệp
- Công cụ mang tính thống nhất và rõ ràng nên có thể hướng dẫn cácdoanh nghiệp thực hiện đúng yêu cầu đối với môi trường cũng như con ngườixung quanh
- Quản lý chặt chẽ các loại chất độc hại và các tài nguyên quý hiếm thôngqua các quy định mang tính cưỡng chế cao trong thực
Các doanh nghiệp cũng có thể dựa vào các bộ luật, tiêu chuẩn để có thểkiểm tra lại việc làm của các tổ chức môi trường, xem họ đã thực hiện đúngchức năng, nhiệm vụ của mình hay chưa
- Công cụ thiếu tính năng động và thiếu khuyến khích về mặt kinh tế;
- Để có thể thực hiện công cụ này một cách hiệu quả, đòi hỏi phải có mộtnguồn kinh phí rất lớn trong công tác quản lý, thiết lập các cơ sở cũng như độingũ nguồn nhân lực
- Phải xây dựng một hệ thống luật môi trường thống nhất, đầy đủ là mộtđiều không phải dễ dàng thực hiện
- Xét trên phương diện chi phí, công cụ này thường bị chỉ trích là thiếuhiệu quả
Trang 91.2 Công cụ kinh tế
1.2.1 Đặc điểm nội dung bản chất của công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế được coi là một công cụ bổ sung cho công cụ pháp lý vàhiện nay được sử dụng rộng rãi Công cụ kinh tế là phương tiện chính sách cótác dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế thườngxuyên tác động tới môi trường, nhằm mục đích tăng cường ý thức trách nhiệmtrước việc gây ra sự hủy hoại môi trường Công cụ kinh tế có thể tác động trựctiếp đến các nhà sản xuất dưới dạng thuế môi trường, lệ phí xả thải hoặc trựctiếp vào người tiêu thụ dưới dạng phí sử dụng Trong tất cả các trường hợp đó,công cụ kinh tế đều có mục đích chung là hạn chế số lượng chất thải phát sinh,giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ tài nguyên và năng lượng
Công cụ kinh tế rất đa dạng gồm thuế môi trường, phí và lệ phí môitrường, quỹ môi trường, cota môi trường, ký quỹ môi trường, trợ cấp tài chính,nhãn sinh thái Mỗi công cụ kinh tế có những ưu điểm trong từng nội dung quản
lý cụ thể
1.2.1.1 Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với cácdoanh nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trìnhsản xuất
Mục đích của thuế tài nguyên là:
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên;
- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng;
- Tạo nguồn thu cho ngân sách và điều hòa quyền lợi của tầng lớp dân cư
về việc sử dụng tài nguyên
Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như thuế sử dụng đất,thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tàinguyên khoáng sản
Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năngcông nghệ của doanh nghiệp, phương thức quản lý của nhà nước và điều kiệnđịa chất kỹ thuật của khu vực khai thác tài nguyên để đảm bảo có sự phân biệtđối với các doanh nghiệp hoặc hoạt động gây ra các tổn thất tài nguyên và suythoái môi trường ở các mức độ khác nhau; nguyên tắc chung là hoạt động cànggây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường thì càng phải chịu thuếcao hơn Việc xác định đúng đắn phương pháp tính thuế tài nguyên là rất quantrọng sẽ góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư công nghệ, kỹ thuật nănglực quản lý nhằm làm giảm tổn thất tài nguyên, đặc biệt các tài nguyên không táitạo
Trang 10Trong thực tế khi áp dụng thuế tài nguyên người ta thường phân biệt tàinguyên thành 2 loại theo mức độ xác định trữ lượng:
- Loại tài nguyên đã xác định trữ lượng: thuế được tính sẽ dựa trên trữlượng địa chất (hoặc trữ lượng công nghiệp) của loại tài nguyên mà doanhnghiệp được phép khai thác;
- Loại tài nguyên chưa xác định trữ lượng hoặc xác định chưa chính xáctrữ lượng: Có thể sử dụng sản lượng khai thác làm cơ sở tính thuế trong khi chờcác thăm dò địa chất về trữ lượng bổ sung
Ngoài ra, thuế tài nguyên cũng phải được áp dụng từ từ từng bước đểtránh làm mất cân bằng kinh tế nên công bố thời hạn áp dụng
1.2.1.2 Thuế và phí môi trường
* Thuế môi trường
Thuế môi trường (Environmental Tax) là một công cụ kinh tế để giảiquyết các vấn đề môi trường Đây là khoản thu cho Ngân sách nhà nước(NSNN) từ những đối tượng gây ô nhiễm, làm thiệt hại cho môi trường Nó gópphần hạn chế, giảm thiểu các tác nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường,khuyến khích các hoạt động bảo vệ môi trường Thuế môi trường được thiết
kế để nội hóa chi phí môi trường và tạo ra động lực kinh tế cho cá nhân, tổchức thúc đẩy các hoạt động sinh thái bền vững Thuế môi trường thôngthường đánh chủ yếu vào các chất gây ô nhiễm môi trường hay các sản phẩmhàng hóa mà việc sản xuất, sử dụng chúng có tác động tiêu cực đến môitrường, gây ô nhiễm môi trường như: thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm(thuế Sunfua, thuế CFCs, thuế CO2…) và thuế đánh vào các sản phẩm gây ônhiễm môi trường (thuế xăng dầu, than, thuốc bảo vệ thực vật, )
* Phí môi trường
Phí môi trường là khoản thu của NSNN dành cho hoạt động bảo vệmôi trường như để thu gom và xử lý phế thải, nước thải, khắc phục ô nhiễmmôi trường Mục đích chính của việc thu phí môi trường là hạn chế các tácnhân gây ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa việc xả các chất thải ra môi trường,
mà các chất thải này có khả năng xử lý được Phí môi trường buộc những ngườigây ô nhiễm môi trường phải xử lý các chất thải trước khi thải ra môi trườnghay hạn chế sử dụng các nguồn nguyên liệu có nguy cơ gây ra ô nhiễm, vìvậy công cụ này khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh, những ngườigây ô nhiễm phải xử lý các chất ô nhiễm trong nguồn thải trước khi thải ra môitrường Phí môi trường được tính toán dựa trên lượng phát thải của chất ônhiễm và chi phí xử lý ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm
Một số loại thuế/phí ô nhiễm môi trường phổ biến bao gồm: phí nướcthải, phí gây ô nhiễm không khí, thuế cacbon, thuế sulphur, phí gây suy thoáitầng ôzôn, thuế chôn lấp rác, thuế xăng dầu, thuế sử dụng khí gas, thuế môitrường, gần đây là việc áp dụng mới các loại thuế liên quan đến chất thải rắn
Trang 11(CTR), và tăng thuế suất đối với thuế CTR Đối với thuế đánh vào nguồn gây ônhiễm: có 2 loại thuế chủ yếu được áp dụng ở các nước trên thế giới đó làthuế sulphur và thuế CO2.
1.2.1.3 Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường (cota ô nhiễm)
- Khái niệm 1: Cota ô nhiễm là hạn ngạch sử dụng môi trường hoặc giớihạn trần cho mức ô nhiễm
- Khái niệm 2: Cota ô nhiễm là “Quyền gây ô nhiễm” của các doanhnghiệp sẽ được ghi nhận bằng “ giấy phép xả thải” hay còn gọi là Cota ô nhiễm
Trên thế giới dùng cota ô nhiễm là biện pháp can thiệp của nhà nướcnhằm điều chỉnh mức độ ô nhiễm Ai muốn có quyền thải phải mua cota ônhiễm và người đó có quyền bán lại cota ô nhiễm này cho người khác Từ đâyhình thành thị trường cota ô nhiễm
Nguyên lý cơ bản của thị trường cota ô nhiễm là việc đặt ra giới hạn tối đa
về lượng chất thải nào đó ở mức thống nhất với chỉ tiêu môi trường ở một vùnghoặc khu vực cụ thể Khi tổng lượng chất thải cho phép thấp hơn lượng chất thải
mà các đơn vị trong vùng muốn thải thì sẽ tạo nên sự khan hiếm về quyền đượcthải và làm cho cota có giá trên thị trường Vì vậy, xuất hiện nhu cầu mua bán,trao đổi, chuyển nhượng giấy phép xả thải giữa các đơn vị, cơ sở sản xuất kinhdoanh trong đó, người mua là các đơn vị cần giấy phép xả thải còn người bán làcác đơn vị sở hữu giấy phép xả thải và hình thành thị trường mua bán giấyphép xả thải Thị trường này vận hành theo quy luật cung cầu như các thịtrường thông thường khác, tuy nhiên hàng hóa giao dịch trên thị trường nàyđặc biệt hơn các thị trường khác, đó là việc mua bán các chứng chỉ hay giấyphép mang một giá trị nhất định với giá cả được định đoạt theo chủ quan, kỳvọng và dự báo của các bên tham gia giao dịch, hay nói cách khác, giá cả củagiấy phép xả thải được quyết định trên quan hệ cung cầu của thị trường
Với quy định số lượng cota, giá cota được thải, nhà sản xuất sẽ lựa chọnmột trong hai giải pháp:
- Mua cota ô nhiễm để được thải với mức thải quy định
- Tăng chi phí làm giảm ô nhiễm theo yêu cầu của kiểm soát ô nhiễm
Công cụ này được áp dụng ở một số nước, ví dụ giấy phép (quota) khaithác cá ngừ và sử dụng nước ở Australia, giấy phép ô nhiễm không khí ở Mỹ,Anh và một số thành viên của OECD như Canada, Đức, Thụy Điển
Ưu điểm đáng kể nhất của loại công cụ này là sự kết hợp giữa tín hiệu giá
cả và hạn mức ô nhiễm So với các loại thuế môi trường hay phí ô nhiễm thịtrường giấy phép mang tính chắc chắn, đảm bảo hơn về kết quả đạt mục tiêumôi trường vì dù giao dịch mua bán như thế nào thì tổng lượng giấy phép vẫnnằm trong phạm vi kiểm soát ở số phát hành ban đầu Mặt khác, công cụ giấyphép linh hoạt ở chỗ nó cho phép các doanh nghiệp lựa chọn các phương án mua
Trang 12thêm giấy phép để tiếp tục thải hay tìm cách cải thiện hiện trạng, giảm thảixuống mức cho phép Hơn nữa, quyền được bán giấy phép với giá được xácđịnh bởi cầu của thị trường còn tạo ra động cơ khuyến khích các doanh nghiệpgiảm thải nhiều hơn để có thể bán các giấy phép thừa ra đó Đây là xuất phátđiểm cho các cải tiến về công nghệ, kỹ thuật có lợi cho môi trường.
Các khó khăn chính cho việc thực hiện côta ô nhiễm là:
+ Để xác định chính xác giá trị côta ô nhiễm và cấp côta cho một khu vực,một lưu vực hay một vùng cần phải có các nghiên cứu về khả năng tự làm sạchcủa môi trường Điều này thường đòi hỏi nhiều kinh phí và kinh nghiệm chuyênmôn cao;
+ Hoạt động phát triển kinh tế và chất lượng môi trường khu vực liên tụcthay đổi theo thời gian, do vậy các giá trị của côta ô nhiễm cũng rất dễ thay đổitrước sức ép nói trên Hiện tại chúng ta xác định các mức côta ô nhiễm là khôngnguy hiểm đối với môi trường, nhưng trong tương lai điều đó không thể chấpnhận được Vì vậy, cần nhiều công sức để điều chỉnh côta dẫn đến chỗ các giảipháp mua hoặc bán côta rất khó thực hiện hoặc hiệu quả thực tế nhỏ;
+ Hoạt động mua và bán côta chỉ có thể diễn ra một cách bình thườngtrong nền kinh tế mở, hoạt động theo cơ chế thị trường, với một hệ thống pháp
lý hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ cũng như khả năng quản lý môi trường tốt.Trong trường hợp khác đi, việc trao đổi mua bán chỉ còn là hình thức hoặc kémhiệu lực, do đó có gian lận trong việc xác định côta và kiểm soát ô nhiễm
1.2.1.4 Hệ thống đặt cọc hoàn trả
Đặt cọc – hoàn trả được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trường bằngcách quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễmmôi trường phải trả một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng, nhằm đảm bảo camkết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó)trả lại cho các đơn vị thu gom phế thải hoặc tới những địa điểm đã quy định đểtái chế, tái sử dụng hoặc tiêu hủy theo cách an toàn đối với môi trường Nếuthực hiện đúng người tiêu dùng sẽ nhận lại khoản đặt cọc do các tổ chức thugom hoàn trả lại Mục đích của hệ thống đặt cọc – hoàn trả là thu gom nhữngthứ mà người tiêu thụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụngmột cách an toàn đối với môi trường
Đặt cọc – hoàn trả được coi là một trong những ứng cử viên sáng giá chocác chính sách nhằm giúp nền kinh tế thoát khỏi chu trình sản xuất tuyến tính(khai khoáng → nguyên liệu thô → sản phẩm → phế thải) và hướng tới chutrình tuần hoàn trong đó các tài nguyên được tái chế, tái sử dụng tới mức tối đa
có thể được
Phạm vi sử dụng của hệ thống đặt cọc – hoàn trả bao gồm:
Trang 13- Các sản phẩm mà khi sử dụng có khả năng gây ô nhiễm môi trườngnhưng có thể tái chế hoặc tái sử dụng;
- Các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần các bãi thải có quy mô lớnhoặc tốn nhiều chi phí tiêu hủy;
- Các sản phẩm chứa chất độc, gây khó khăn đặc biệt cho việc xử lý; nếutiêu hủy không đúng cách sẽ gây nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môitrường và sức khỏe con người
Hệ thống đặt cọc – hoàn trả tỏ ra đặc biệt thích hợp với việc quản lý chấtthải rắn Các quốc gia thuộc tổ chức OECD đã áp dụng khá thành công hệ thốngđặt cọc – hoàn trả đối với các sản phẩm đồ uống, bia, rượu (đựng trong vỏ chainhựa hoặc thủy tinh) mang lại hiệu quả cao cho việc thu gom các phế thải Hiệnnay các nước này đã và đang mở rộng việc áp dụng hệ thống đặt cọc – hoàn trảsang các lĩnh vực khác như vỏ tàu, ô tô cũ, dầu nhớt, ắc quy có chứa chì, thủyngân, Cd, vỏ chai đựng thuốc trừ sâu, các đồ điện gia dụng như máy thu hình, tủlạnh, điều hòa không khí
Nhiều nước trong khu vực Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan cũng đã cóthành công nhất định trong việc áp dụng hệ thống đặt cọc – hoàn trả đối với vỏlon, vỏ chai nhựa, thủy tinh, nhôm, sắt, thép, phế liệu, ắc quy, xăm lốp, dầunhớt, giấy loại
Theo kinh nghiệm của các nước, mức đặt cọc là một trong những yếu tốquan trọng tác động đến hiệu quả của hệ thống đặt cọc – hoàn trả Các mức đặtcọc thấp sẽ không tạo ra động lực kinh tế đủ mạnh cho việc thu gom và tái chếphế thải Ngoài ra các yếu tố như nhận thức và ý thức của người sản xuất và tiêudùng đối với vấn đề thu gom phế thải, khả năng tổ chức và quản lý hệ thống thugom cũng như vấn đề công nghệ tái chế đều có ảnh hưởng không nhỏ đến sựhoạt động và thành công của hệ thống
1.2.1.5 Ký quỹ môi trường
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các hoạt động kinh tế
có tiềm năng gây ô nhiễm và tổn thất môi trường Nguyên lý hoạt động của hệthống ký quỹ môi trường cũng tương tự như hệ thống đặt cọc – hoàn trả Nộidung chính của ký quỹ môi trường là yêu cầu các doanh nghiệp các cơ sở sảnxuất kinh doanh trước khi tiến hành hoạt động đầu tư phải ký gửi một khoản tiền(hoặc kim loại quý, đá quý, hoặc các giấy tờ có giá trị như tiền) tại ngân hànghay tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm sự cam kết về thực hiện các biện pháp đểhạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường
Mục đích chính của việc ký quỹ là làm cho người có khả năng gây ônhiễm, suy thoái môi trường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ từ đó tìm
ra các biện pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái môi trường
Trang 14Trong quá trình thực hiện đầu tư và sản xuất, nếu các doanh nghiệp/cơ sở
có các biện pháp chủ động ngăn chặn khắc phục không để xảy ra ô nhiễm hoặcsuy thoái môi trường, hoàn nguyên hiện trạng môi trường đúng như cam kết thì
họ sẽ được nhận lại số tiền đã ký quỹ đó Ngược lại nếu bên ký quỹ không thựchiện đúng cam kết hoặc phá sản thì số tiền đã ký quỹ sẽ được rút ra từ tài khoảnngân hàng/tổ chức tín dụng để chi cho công tác khắc phục sự cố, suy thoái môitrường
Ký quỹ môi trường tạo ra lợi ích cho Nhà nước vì không phải đầu tư kinhphí khắc phục môi trường từ ngân sách Ký quỹ môi trường cũng khuyến khíchcác doanh nghiệp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường Các doanh nghiệp
sẽ có lợi ích do lấy lại được vốn khi không để xảy ra ô nhiễm hoặc suy thoái môitrường
Với mục đích và nguyên lý hoạt động như vậy, rõ ràng số tiền phải ký quỹphải lớn hơn hoặc xấp xỉ kinh phí cần thiết để khắc phục môi trường nếu doanhnghiệp gây ô nhiễm và suy thoái môi trường Nếu số tiền ký quỹ quá nhỏ so vớichi phí bảo vệ môi trường, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng từ bỏ nhận lại sốtiền ký quỹ đó và không thực hiện các cam kết bảo vệ môi trường của mình
Công cụ ký quỹ môi trường đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới,đặc biệt với các hoạt động công nghiệp như khai thác mỏ, khai thác rừng hoặcđại dương
- Các khoản cho vay ưu đãi
- Cho phép khấu hao nhanh
- Ưu đãi thuế (miễn, giảm thuế)
Chức năng chính của trợ cấp môi trường là giúp đỡ các ngành công –nông nghiệp các ngành khác khắc phục ô nhiễm trong điều kiện khi tình trạng ônhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp khôngchịu đựng được đối với việc xử lý ô nhiễm Trợ cấp cũng còn nhằm khuyếnkhích các cơ quan nghiên cứu và triển khai các công nghệ sản xuất có lợi chomôi trường hoặc các công nghệ xử lý ô nhiễm
Tuy nhiên, trợ cấp có thể gây ra sự không hiệu quả Các nhà sản xuất
có thể đầu tư quá mức vào kiểm soát và xử lý ô nhiễm (làm giảm ô nhiễm nhiềuhơn so với mức tối ưu cũng là không hiệu quả)