1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm, nội dung bản chất của công cụ mệnh lệnh – kiểm soát kinh tế trong công tác quản lý môi trường

31 374 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 401 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Q UY ĐỊNH CÓ THỂ DO C HÍNH PHỦ TRUNG ƯƠNG HAY ĐỊA PHƯƠNG , DO CƠ QUAN HÀNH PHÁP HAY LẬP PHÁP BAN HÀNH ...9 Q UY CHẾ LÀ CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỂ LỆ TỔ CHỨC QUẢN LÝ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG , CHẲNG H

Trang 1

HVTH: Phạm Văn Thọ - Công nghệ môi trường K23 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG KHOA MÔI TRƯỜNG



BÀI TẬP

Đặc điểm, nội dung bản chất của công cụ mệnh lệnh – kiểm soát, kinh tế trong công tác quản lý môi trường; nhận xét điểm mạnh, điểm yếu của mỗi hình thức công cụ và đề xuất những biện pháp để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý cho các công cụ này trong điều

kiện Việt Nam hiện nay.

GV HƯỚNG DẪN : TS LÊ THỊ KIM OANH

HV THỰC HIỆN : PHẠM VĂN THỌ LỚP : CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG K23

Đà Nẵng, tháng 7 năm 2012

Trang 2

MỤC LỤC

GV HƯỚNG DẪN : TS LÊ THỊ KIM OANH 1

HV THỰC HIỆN : PHẠM VĂN THỌ 1

LỚP : CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG K23 1

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I 4

KHÁI NIỆM VỀ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG 4

1 K HÁI NIỆM KINH TẾ MÔI TRƯỜNG 4

2 Q UẢN LÝ MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 4

Q UY ĐỊNH LÀ NHỮNG VĂN BẢN DƯỚI LUẬT NHẰM CỤ THỂ HÓA HOẶC HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CÁC NỘI DUNG CỦA LUẬT Q UY ĐỊNH CÓ THỂ DO C HÍNH PHỦ TRUNG ƯƠNG HAY ĐỊA PHƯƠNG , DO CƠ QUAN HÀNH PHÁP HAY LẬP PHÁP BAN HÀNH 9

Q UY CHẾ LÀ CÁC QUY ĐỊNH VỀ THỂ LỆ TỔ CHỨC QUẢN LÝ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG , CHẲNG HẠN NHƯ QUY ĐỊNH CHỨC NĂNG , NHIỆM VỤ , QUYỀN HẠN CỦA CÁC CƠ QUAN , B Ộ , S Ở KHOA HỌC CÔNG NGHỆ , S Ở TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG 9

T IÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG LÀ CÁC CHUẨN MỰC GIỚI HẠN CHO PHÉP ĐƯỢC QUY ĐỊNH LÀM CĂN CỨ ĐỂ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG T IÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG CÓ QUAN HỆ MẬT THIẾT VỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA MỖI QUỐC GIA V IỆC XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG MỘT MẶT DỰA TRÊN CÁC QUY ĐỊNH ĐÃ ĐƯỢC KIỂM NGHIỆM THỰC TẾ , MẶT KHÁC PHẢI CÓ NHIỀU CĂN CỨ KHOA HỌC , NHẰM ĐẢM BẢO CHO TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG PHÙ HỢP VỚI NHU CẦU BẢO VỆ SINH THÁI , ĐỒNG THỜI KHẢ THI VỀ MẶT KINH TẾ , XÃ HỘI H Ệ THỐNG TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG PHẢN ẢNH TRÌNH ĐỘ KHOA HỌC , CÔNG NGHỆ , TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ TIỀM LỰC KINH TẾ XÃ HỘI CÓ TÍNH ĐẾN DỰ BÁO PHÁT TRIỂN C ÁC DẠNG TIÊU CHUẨN MÔI TRƯỜNG : 9

C HÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LÀ NHỮNG CHỦ TRƯƠNG , BIỆN PHÁP MANG TÍNH CHIẾN LƯỢC , CÓ THỜI HẠN NHẰM GIẢI QUYẾT NHIỆM VỤ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỤ THỂ NÀO ĐÓ TRONG MỘT GIAI ĐOẠN NHẤT ĐỊNH C HÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG GIẢI QUYẾT NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG NHẤT VỀ QUAN ĐIỂM QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG , VỀ CÁC MỤC TIÊU MÔI TRƯỜNG CƠ BẢN CẦN GIẢI QUYẾT TRONG MỘT GIAI ĐOẠN DÀI 10 - 15 NĂM VÀ CÁC ĐỊNH HƯỚNG LỚN THỰC HIỆN MỤC TIÊU , CHÚ TRỌNG VIỆC HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC CÂN ĐỐI VỚI MỤC TIÊU VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 9

C HÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG PHẢI ĐƯỢC XÂY DỰNG ĐỒNG THỜI VỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI C HỨC NĂNG QUAN TRỌNG NHẤT CỦA CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG LÀ TẠO ĐIỀU KIỆN GẮN KẾT CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀO HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN CỦA TỪNG NGÀNH , TỪNG VÙNG TẠO LIÊN KẾT GIỮA CÁC NGÀNH VÀ CÁC CẤP TRONG VIỆC THỰC HIỆN MỤC TIÊU BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 9

C HIẾN LƯỢC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỤ THỂ HÓA CHÍNH SÁCH Ở MỘT MỨC ĐỘ NHẤT ĐỊNH C HIẾN LƯỢC XEM XÉT CHI TIẾT HƠN MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC MỤC TIÊU DO CHÍNH SÁCH XÁC ĐỊNH VÀ CÁC NGUỒN LỰC ĐỂ THỰC HIỆN CHÚNG ; TRÊN CƠ SỞ LỰA CHỌN CÁC MỤC TIÊU KHẢ THI , XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG , BIỆN PHÁP THỰC HIỆN MỤC TIÊU 9

C ÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG : Đ ÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ PHÒNG NGỪA VÀ GIẢM THIỂU NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC , PHÁT HUY CÁC TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ ĐỒNG THỜI HỖ TRỢ CHO VIỆC SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN QUA ĐÓ LÀM TĂNG TỐI ĐA LỢI ÍCH CỦA CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GÓP PHẦN VÀO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA QUỐC GIA 9

CHƯƠNG II 22

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG & BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG 22

1 T ÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 22

2 Đ ÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CÔNG CỤ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG HIỆN NAY 23

PHẦN 3 26

ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ, HIỆU LỰC QUẢN LÝ CHO CÔNG CỤ MỆNH LỆNH – KIỂM SOÁT VÀ CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 26

3 C ÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÔNG CỤ 26

KẾT LUẬN 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nền kinh tế ngày càng phát triển, gia tăng tổng sản phẩm quốc nội đồng nghĩa với việc khai thác và tiêu thụ nhiều nguyên nhiên liệu hơn và hoạt động sản xuất ngày càng thải chất ô nhiễm ra môi trường nhiều hơn Nếu không có biện pháp

xử lý thích hợp, chất thải từ hoạt động của con người sẽ làm ô nhiễm môi trường và phá vỡ cân bằng sinh thái Vì vậy, để phát triển bền vững cần có những chính sách phù hợp nhằm đảm bảo và duy trì chất lượng môi trường

Trên thực tế, những năm gần đây đã có nhiều công ty, nhà máy xả thải chất thải chưa qua xử lý ra môi trường làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường, hủy hoại tài sản và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người Một trong những nguyên nhân xảy ra tình trạng trên là chúng ta chưa có chính sách quản lý hợp lý, vì vậy môi trường liên tục phải chịu những hậu quả nặng nền do chính con người gây ra Khi xảy ra ô nhiễm, suy thoái môi trường, chúng ta cần phải tốn rất nhiều công sức, tiền bạc và phải mất rất nhiều năm để cải thiện và phục hồi chất lượng môi trường

Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã qua tâm và ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm quản lý môi trường như Luật bảo vệ môi trường, Luật tài nguyên nước, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, các văn bản pháp luật này đã góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tuy nhiên hệ thống pháp luật về môi trường của nước ta còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ từ trên xuống dưới, chưa đáp ứng được tình hình thực tế của địa phương cho nên hiện nay vẫn có nhiều công ty tuy biết luật bảo vệ môi trường nhưng vẫn nhập chất thải từ nước ngoài về Việt Nam nhằm kinh doanh bất chấp những tác hại của những chất thải đó mang lại, hoặc có những công ty vẫn xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường làm thiệt hại hàng tỷ đồng của người dân nuôi trồng thủy sản, đó là chưa nói đến ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước cung cấp cho con người

Để đảm bảo chất lượng môi trường, Đảng và chính quyền đã áp dụng công

cụ kinh tế quản lý môi trường như thuế, phí môi trường, ký quỹ môi trường, tuy mới được áp dụng tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây nhưng biện pháp này đã

có nhiều đóng góp trong việc cải thiện chất lượng môi trường Tuy nhiên, để hạn chế tối đa nguy cơ ô nhiễm môi trường, cần có những giải pháp quản lý thích hợp hơn nữa đặc biệt là công cụ kinh tế nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp và người dân, ngăn chặn ngay từ đầu việc xả thải ô nhiễm, đảm bảo chất lượng môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững

Trang 4

CHƯƠNG I KHÁI NIỆM VỀ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG

Kinh tế môi trường là một khoa học kinh tế, ứng dụng các lý thuyết và những kỹ thuật phân tích kinh tế để lý giải và giải quyết những vấn đề môi trường theo chiều hướng đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội trong các hệ ràng buộc của môi trường, hoặc hẹp hơn, trong khả năng của các hệ sinh thái

2.1 Quản lý môi trường:

Quản lý môi trường là một lĩnh vực quản lý xã hội, nhằm bảo vệ môi trường

và các thành phần môi trường, phục vụ sự nghiệp phát triển bình vững và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và xã hội Để quản lý môi trường cần công cụ quản lý môi trường Công cụ quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp hoạt động về luật pháp, chính sách, kinh tế - kỹ thuật và xã hội hướng tới việc bảo vệ môi trường

và phát triển bền vững kinh tế - xã hội

Quản lý môi trường gồm quản lý nhà nước về môi trường và quản lý của các

doanh nghiệp, khu vực dân cư về môi trường, trong đó ý nghĩa thứ hai có mục tiêu chủ yếu là tăng cường hiệu quả của sản xuất (hệ thống quản lý môi trường theo ISO 14.000) và bảo vệ sức khoẻ của người lao động, dân cư sống trong khu vực có các hoạt động sản xuất, hay ” quản lý môi trường là một lĩnh vực quản lý xã hội, nhằm bảo vệ môi trường và các thành phần của môi trường, phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và xã hội

Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, kỷ thuật, công nghệ, xã hội, văn hoá, giáo dục, v.v Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra

Việc quản lý môi trường được thực hiện ở mọi qui mô: toàn cầu, khu vực, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình, v.v

Ở Việt Nam ta công tác nghiên cứu và quản lý môi trường được hình thành

từ nhiều cách như: Bộ chính trị đảng CSVN và Quốc hội nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam là cơ quan cao nhất của đất nước thực hiện trách nhiệm hoạch định chính sách Quốc hội có một Ủy ban: “Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường tư vấn về vấn đề môi trường” Thủ tướng chính phủ - Văn phòng chính phủ

và Vụ khoa học giáo dục văn hóa xã hội có cố vấn cao cấp về các vấn đề môi

Trang 5

trường Hai bộ liên nghành - Bộ kế hoạch đầu tư (MPI ) có trách nhiệm lập kế hoạch phát triển quốc gia và phân bổ ngân sách cho các nghành Trong bộ có Vụ khoa học công nghệ và môi trường chịu trách nhiệm về các vấn đề môi trường Bộ Công nghệ và Môi trường (MOSTE) và Cục Môi trường của bộ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường Chức năng của cục môi trường được qui định trong Luật Bảo vệ môi trường 1993 Điều 4 khoản 2 Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 đã ghi: “Cục môi trường có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước.” Tổ chức và hoạt động của Cục Môi trường được xác định trong quyết định số 545 QĐ/TCCB ngày 7/10/1993 của Bộ trưởng Bộ MOSTE Các Bộ đều có vụ Khoa học công nghệ và môi trường chịu trách nhiệm nội dung bảo vệ môi trường các địa phương (cấp tỉnh) có phòng quản lý môi trường Nhiều tỉnh có trung tâm môi trường hoặc chi cục môi trường Riêng thành phố Hồ Chí Minh có Uỷ ban môi trường do chủ tịch thành phố là chủ tịch Uỷ ban

Sở Khoa học công nghệ và môi trường là Ủy viên thường trực Mối quan hệ giữa

Bộ khoa học công nghệ và môi trường với các cơ quan chức năng khác trong các

Bộ, các ngành nước ta hiện nay được trình bày trong các sơ đồ Như vậy, hình thức

tổ chức cơ quan bảo vệ môi trường quốc gia ở mỗi nước khác nhau tùy vào điều kiện tự nhiên, mức độ phát triển kinh tế

Trong công tác quản lý môi trường có 3 nội dung quan trọng nhất bao gồm: Xây dựng cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp cho việc thi hành công tác quản lý môi trường, thiết lập các công cụ quản lý môi trường, tổ chức các công tác bảo vệ và quản lý môi trường

2.2 Công cụ quản lý môi trường:

Công cụ quản lý môi trường là vũ khí hoạt động của Nhà nước, của các tổ chức nghiên cứu khoa học và sản xuất thực hiện công tác quản lý môi trường quốc gia và địa phương

Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng; không có một công cụ nào có giá trị tuyệt đối trong quản lý môi trường Mỗi công cụ có chức năng và phạm vi tác động nhất định, chúng tạo ra một tập hợp các biện pháp hỗ trợ nhau

Công cụ quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp hoạt động về luật pháp, chính sách, kinh tế - kỹ thuật và xã hội hướng tới việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế - xã hội

Công cụ quản lý môi trường là vũ khí hoạt động của Nhà nước, của các tổ chức nghiên cứu khoa học và sản xuất thực hiện công tác quản lý môi trường quốc gia và địa phương

Trang 6

Theo bản chất có thể chia công cụ quản lý môi trường thành các loại cơ bản như sau:

 Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát

 Công cụ kinh tế

 Công cụ giáo dục nâng cao nhận thức

Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng; không có một công cụ nào có giá trị tuyệt đối trong quản lý môi trường Mỗi công cụ có chức năng và phạm vi tác động nhất định, chúng tạo ra một tập hợp các biện pháp hỗ trợ nhau

Theo bản chất có thể chia công cụ quản lý môi trường thành các loại cơ bản như sau:

 Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát

 Công cụ kinh tế

 Công cụ giáo dục nâng cao nhận thức

2.2.1 Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát

2.2.1.1 Đặc điểm nội dung bản chất của công cụ mệnh lệnh – kiểm soát

Công cụ mệnh lệnh - kiểm soát hay còn gọi là công cụ pháp lý Đây là công

cụ quản lý trực tiếp và được sử dụng phổ biến từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới

và là công cụ được nhiều nhà quản lý hành chính ủng hộ

Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát gồm 2 khía cạnh: Khía cạnh chỉ huy và kiểm soát, theo nguyên tắc là một bên đưa ra yêu cầu mệnh lệnh hay chỉ huy đồng thời

họ cũng có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành hay tuân thủ các yêu cầu đã được đặt ra

Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật (pháp lệnh, nghị định, qui định, các tiêu chuẩn môi trường, giấy phép môi trường ), các kế hoạch, chiến lược và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế và các địa phương

Công cụ mệnh lệnh kiểm soát bao gồm:

- Luật quốc tế về môi trường: tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm cơ bản và

đặc thù của luật quốc tế điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong phòng ngừa, giảm bớt và xoá bỏ, khắc phục những thiệt hại các loại, do các nguồn gây ra đối với môi trường tự nhiên của các nước và môi trường ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia Khái niệm “môi trường” bao gồm những yếu tố gắn với điều kiện tồn tại của con người trong đó có những yếu tố vật chất của thiên nhiên (những khách thể

Trang 7

tự nhiên) và những yếu tố do con người tạo ra trong quá trình tác động qua lại với thiên nhiên Ở cấp độ pháp luật quốc tế, các yếu tố của môi trường (vd bầu khí quyển, môi trường biển, nguồn nước ngọt ) lần đầu tiên được nêu ra trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc tế các vấn đề môi trường 1972 Sự bảo vệ môi trường bằng luật quốc tế được tiến hành ở cấp toàn cầu, khu vực và hợp tác hai bên Năm 1989, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết "Về trách nhiệm lịch sử của các quốc gia về bảo vệ thiên nhiên Trái Đất cho các thế hệ hiện nay và mai sau" Năm 1982, Khoá họp 37 - Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông báo qua "Chiến lược toàn cầu về bảo vệ thiên nhiên", Cho đến nay đã có hàng nghìn văn bản luật quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn bản trong số đó Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường do nhiều nước ký kết hoặc tham gia không

có hiệu lực trực tiếp trên lãnh thổ quốc gia cụ thể Muốn thi hành trên lãnh thổ nào

đó, các qui phạm của Luật quốc tế về bảo vệ môi trường cần phải được chuyển hóa thành quy phạm pháp luật quốc gia, nghĩa là Nhà nước phải phê chuẩn các văn bản này

- Luật môi trường quốc gia: là tổng hợp các văn bản quy phạm pháp luật,

các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người Hệ thống luật bảo vệ môi trường của một quốc gia thường gồm luật chung và luật sử dụng hợp lý các thành phần môi trường hoặc bảo vệ môi trường cụ thể ở một địa phương, một ngành

* Các văn bản Luật quốc tế về môi trường Việt Nam đã ký kết :

- Công ước về vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như

là nơi cư trú của loài chim nước (RAMSAR)

- Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên

- Công ước về buôn bán các giống loài động thực vật có nguy cơ diệt chủng (CITES)

- Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển (MARPOL)

- Công ước của Liên Hiệp Quốc về sự biến đổi môi trường

- Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển

- Công ước Viên về bảo vệ tầng Ôzon

- Công ước về sự thông báo sớm sự cố hạt nhân

- Công ước về sự trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ

Trang 8

- Nghị định thư Montrean về các chất làm suy giảm tầng Ôzon.

- Công ước Balơ về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải độc hại và loại bỏ chúng

- Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu

- Công ước về đa dạng sinh học

Tại Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 đã đặt nền móng cho việc hình thành hệ thống pháp luật về môi trường ở nước ta Lần đầu tiên, các khái niệm cơ bản về môi trường, bảo vệ môi trường được định nghĩa một cách chuẩn tắc, quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân được quy định cụ thể và rõ ràng

Qua hơn 10 năm thực hiện Luật, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn thiện Ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội được nâng lên Mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế Công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đạt được nhiều tiến bộ Tuy nhiên, trước những áp lực của tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự diễn biến sôi động và toàn diện của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, Luật Bảo vệ môi trường đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, cần được sửa đổi luật bảo vệ môi trường 2005 là luật bảo vệ môi trường mới nhất được quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI thông qua ngày 29/11/2005, ban hành theo Quyết định số 52/2005/QH11

Ngoài ra, nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường cũng được đề cập trong các văn bản pháp luật khác gọi là luật về các thành phần môi trường:

- Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân

- Luật tài nguyên nước

- Pháp lệnh đê điều

- Pháp lệnh về bảo vệ nguồn lợi thủy sản

Trang 9

- Pháp lệnh về bảo vệ các công trình giao thông…

 Quy định là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hóa hoặc hướng dẫn thực hiện các nội dung của luật Quy định có thể do Chính phủ trung ương hay địa phương, do cơ quan hành pháp hay lập pháp ban hành

 Quy chế là các quy định về thể lệ tổ chức quản lý bảo vệ môi trường, chẳng hạn như quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, Bộ, Sở khoa học công nghệ, Sở tài nguyên môi trường

 Tiêu chuẩn môi trường là các chuẩn mực giới hạn cho phép được quy định làm căn cứ để quản lý môi trường Tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Việc xây dựng tiêu chuẩn môi trường một mặt dựa trên các quy định đã được kiểm nghiệm thực tế, mặt khác phải

có nhiều căn cứ khoa học, nhằm đảm bảo cho tiêu chuẩn môi trường phù hợp với nhu cầu bảo vệ sinh thái, đồng thời khả thi về mặt kinh tế, xã hội Hệ thống tiêu chuẩn môi trường phản ảnh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế xã hội có tính đến dự báo phát triển Các dạng tiêu chuẩn môi trường:

 Chính sách bảo vệ môi trường là những chủ trương, biện pháp mang tính chiến lược, có thời hạn nhằm giải quyết nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể nào đó trong một giai đoạn nhất định Chính sách bảo vệ môi trường giải quyết những vấn đề chung nhất về quan điểm quản lý môi trường, về các mục tiêu môi trường cơ bản cần giải quyết trong một giai đoạn dài 10 - 15 năm và các định hướng lớn thực hiện mục tiêu, chú trọng việc huy động nguồn lực cân đối với mục tiêu về bảo vệ môi trường

Chính sách bảo vệ môi trường phải được xây dựng đồng thời với chính sách phát triển kinh tế - xã hội Chức năng quan trọng nhất của chính sách môi trường là tạo điều kiện gắn kết các mục tiêu phát triển bền vững vào hoạt động phát triển của từng ngành, từng vùng tạo liên kết giữa các ngành và các cấp trong việc thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường

 Chiến lược bảo vệ môi trường cụ thể hóa chính sách ở một mức độ nhất định Chiến lược xem xét chi tiết hơn mối quan hệ giữa các mục tiêu do chính sách xác định và các nguồn lực để thực hiện chúng; trên cơ sở lựa chọn các mục tiêu khả thi, xác định phương hướng, biện pháp thực hiện mục tiêu

 Công cụ đánh giá tác động môi trường: Đánh giá tác động môi trường được sử dụng để phòng ngừa và giảm thiểu những tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích cực và đồng thời hỗ trợ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên qua đó làm tăng tối đa lợi ích của các dự án phát triển kinh tế - xã hội góp phần vào phát triển bền vững của quốc gia

Trang 10

2.2.1.2 Ưu điểm và nhược điểm của công cụ mệnh lệnh – kiểm soát

- Trước pháp luật, mỗi cá nhân đều bình đẳng, công cụ tạo ra được sự công bằng và liêm minh đối với tất cả mọi cá nhân, doanh nghiệp

- Công cụ mang tính thống nhất và rõ ràng nên có thể hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đúng yêu cầu đối với môi trường cũng như con người xung quanh

- Các doanh nghiệp cũng có thể dựa vào các bộ luật, tiêu chuẩn để có thể kiểm tra lại việc làm của các tổ chức môi trường, xem họ đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình hay chưa

b Nhược điểm:

- Nước ta có bộ máy chính trị cồng kềnh, nhiều cấp, nhiều cơ sở, do đó việc thực thi quản lý phần nào gặp phải khó khăn Việc sửa đổi chính sách phải mất nhiều thời gian do qua nhiều cấp

- Năng lực của đội ngũ cán bộ vừa thiếu vừa yếu, năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương chưa đáp ứng được tình hình xã hội

- Có thể nảy sinh các vấn đề tiêu cực trong công tác, quản lý giám sát Bởi một số doanh nghiệp có thế lực sẽ liên kết với các cơ quan giám sát để thực hiện những hành vi mang tính cá nhân

- Chế tài áp dụng đối với các doanh nghiệp vi phạm chưa thích hợp

- Công cụ thiếu tính năng động và thiếu khuyến khích về mặt kinh tế

- Để có thể thực hiện công cụ này một cách hiệu quả, đòi hỏi phải có một nguồn kinh phí rất lớn trong công tác quản lý, thiết lập các cơ sở cũng như đội ngũ nguồn nhân lực

Phải xây dựng một hệ thống luật môi trường thống nhất, đầy đủ là một điều không phải dễ dàng thực hiện

Xét trên phương diện chi phí, công cụ này thường bị chỉ trích là thiếu hiệu quả

Trang 11

2.2.2 Công cụ kinh tế

Công cụ kinh tế được coi là một công cụ bổ sung cho công cụ pháp lý và hiện nay mới được sử dụng rộng rãi Công cụ kinh tế là phương tiện chính sách có tác dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên tác động tới môi trường, nhằm mục đích tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra sự hủy hoại môi trường Công cụ kinh tế có thể tác động trực tiếp đến các nhà sản xuất dưới dạng thuế môi trường, lệ phí xả thải hoặc trực tiếp vào người tiêu thụ dưới dạng phí sử dụng Trong tất cả các trường hợp đó, công cụ kinh tế đều có mục đích chung là hạn chế số lượng chất thải phát sinh, giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ tài nguyên và năng lượng

Công cụ kinh tế rất đa dạng gồm thuế môi trường, phí và lệ phí môi trường, quỹ môi trường, cota môi trường, ký quỹ môi trường, trợ cấp tài chính, nhãn sinh thái Mỗi công cụ kinh tế có những ưu điểm trong từng nội dung quản lý cụ thể

2.2.2.1 Thuế tài nguyên

Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với các doanh nghiệp về việc sử dụng các dạng tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sản xuất Mục đích của thuế tài nguyên là:

- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong sử dụng tài nguyên;

- Hạn chế các tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng;

- Tạo nguồn thu cho ngân sách và điều hòa quyền lợi của tầng lớp dân cư về việc sử dụng tài nguyên

Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng sản

Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệ của doanh nghiệp, phương thức quản lý của nhà nước và điều kiện địa chất kỹ thuật của khu vực khai thác tài nguyên để đảm bảo có sự phân biệt đối với các doanh nghiệp hoặc hoạt động gây ra các tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường ở các mức độ khác nhau; nguyên tắc chung là hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường thì càng phải chịu thuế cao hơn Việc xác định đúng đắn phương pháp tính thuế tài nguyên là rất quan trọng sẽ góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư công nghệ, kỹ thuật năng lực quản lý nhằm làm giảm tổn thất tài nguyên, đặc biệt các tài nguyên không tái tạo

Trong thực tế khi áp dụng thuế tài nguyên người ta thường phân biệt tài nguyên thành 2 loại theo mức độ xác định trữ lượng:

Trang 12

- Loại tài nguyên đã xác định trữ lượng: thuế được tính sẽ dựa trên trữ lượng địa chất (hoặc trữ lượng công nghiệp) của loại tài nguyên mà doanh nghiệp được phép khai thác;

- Loại tài nguyên chưa xác định trữ lượng hoặc xác định chưa chính xác trữ lượng: Có thể sử dụng sản lượng khai thác làm cơ sở tính thuế trong khi chờ các thăm dò địa chất về trữ lượng bổ sung

Ngoài ra, thuế tài nguyên cũng phải được áp dụng từ từ từng bước để tránh làm mất cân bằng kinh tế nên công bố thời hạn áp dụng

2.2.2.2 Thuế và phí môi trường

Ý tưởng đầu tiên về thuế ô nhiễm do Pigou một kinh tế gia người Anh đưa ra vào năm 1920 Hiện nay, thuế và phí môi trường được sử dụng phổ biến tại các nước công nghiệp phát triển (OECD) từ hơn hai thập kỉ qua và đã bước đầu được

áp dụng có kết quả tại các nước Châu Á như Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, Singapore, Philippin

Thuế môi trường: là khoản thu vào ngân sách nhà nước, nhằm điều tiết các hoạt động môi trường Quốc gia, bù đắp các chi phí mà xã hội bỏ ra để giải quyết các vấn đề như: chi phí y tế, chi phí phục hồi môi trường, chi phí xử lý ngăn ngừa ô nhiễm

- Nguyên tắc tính thuế môi trường: Người gây ô nhiễm phải trả tiền

- Phân loại thuế môi trường:

+ Thuế gián thu: Đánh vào giá trị sản phẩm hàng hóa gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất

+ Thuế trực thu: Đánh vào lượng chất thải độc hại đối với môi trường do cơ

sở sản xuất gây ra,

Ví dụ: Thuế CO2, thuế môi trường của hoạt động khai thác khoáng sản

Luật thuế bảo vệ môi trường của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 15/11/2010, sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2012 Luật điều chỉnh một số nhóm hàng hóa, trong đó đối tượng chịu thuế gồm 8 nhóm sau: Xăng, dầu, mỡ, nhờn; Than đá; Dung dịch HCFC; Túi ni lông; Thuốc diệt cỏ (loại hạn chế sử dụng); Thuốc trừ mối (hạn chế sử dụng); Thuốc bảo quản lâm sản (hạn chế sử dụng); Thuốc khử trùng kho (hạn chế sử dụng)

Quan điểm mới của Luật thuế môi trường Việt Nam là xây dựng một sắc thuế môi trường độc lập, nhằm tạo nguồn thu ngân sách nhà nước, giảm thiểu việc

sử dụng, sản xuất và thải các chất gây hại đến môi trường, đồng thời nhằm bù đắp

và xử lý các vấn đề gây ô nhiễm môi trường, nâng cao ý thức của cộng đồng đối với môi trường Mục đích của thuế môi trường là tạo hành lang pháp lý để điều chỉnh trực tiếp hành vi của các chủ thể có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp gây ô

Trang 13

nhiễm môi trường và nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, chống chuyển dịch công nghệ bẩn vào Việt Nam, đồng thời tạo lập và sử dụng nguồn kinh phí trực tiếp đó

để đầu tư xây dựng các biện pháp cải thiện môi trường, chi phí cho việc bảo vệ môi trường, tuyên truyền tác động đến ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường

- Đối tượng chịu thuế: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, khai thác, chế biến sản phẩm hàng hóa, cung ứng dịch vụ có chất thải, rác thải, nước thải, tiếng ồn hoặc nhập khẩu các loại sản phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người

- Đối tượng đánh thuế: Các hoạt động sản xuất, kinh doanh, khai thác, chế biến sản phẩm hàng hóa, cung ứng dịch vụ có chất thải, rác thải, nước thải, tiếng ồn hoặc nhập khẩu các loại sản phẩm gây tác độn xấu lâu dài đến môi trường

và sức khỏe con người Cụ thể là các nhóm: nhóm sản phẩm hàng hóa sản xuất cho

sử dụng trực tiếp ( sản phẩm cung cấp không thân thiện với môi trường hoặc gây hại cho sức khỏe con người) như túi nilon, xe ô tô, xa máy, thuốc lá, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, phân bón, máy phát điện,…; nhóm sản phẩm thải vào môi trường như khí thải như CO2, NO2, SO2, Pb, O3,…, nước thải có các chất như cacbonhydrat, protein, chất béo, Pb, Hg, Mn, dầu mỡ,…

- Thuế đánh vào nguồn ô nhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng và hàm lượng (nồng độ) các chất gây ô nhiễm

- Đối tượng không thuộc diện chịu thuế: Các chủ thể sản xuất kinh doanh những sản phẩm có tác động tích cực đến môi trường như sản xuất năng lượng, năng lượng tái tạo,

- Đối tượng miễn, giảm: Cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng các biện pháp công nghệ để cải thiện môi trường; hoạt động tái chế, xử lý, chôn lấp chất thải, máy móc, thiết bị, phương tiện, dụng cụ nhập khẩu được sử dụng trực tiếp trong việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; quan trắc và phân tích môi trường,

2.2.2.3 Phí và lệ phí môi trường:

- Phí: là khoản thu của nhà nước nhằm bù đắp một phần chi phí thường xuyên và không thường xuyên về xây dựng, bảo dưỡng, tổ chức quản lý hành chính của nhà nước đối với hoạt động của người nộp thuế

Phí do cơ quan hành chính ban hành

Mức thu căn cứ trên tổng chi phí cần thiết, mức độ trợ cấp của nhà nước và khả năng đóng góp của các đối tượng trong diện phải nộp thuế Các khoản thu từ phí này được dùng để góp phần thiết lập hệ thống kiểm soát, xử lý ô nhiễm công

Trang 14

cộng, bù đắp chi phí đảm bảo cho hoạt động của hệ thống đó Đối tượng thu là các

tổ chức cá nhân trực tiếp sử dụng các hệ thống dịch vụ môi trường công cộng

Phí không mang tính chất hoàn trả trực tiếp

Phí đánh vào sản phẩm có thể được sử dụng thay cho phí gây ô nhiễm nếu vì

lí do nào đó, người ta không thể trực tiếp tính được phí đối với các chất gây ô nhiễm Loại phí này có thể đánh vào sản phẩm là nguyên liệu đầu vào, sản phẩm trung gian hay thành phẩm, tùy theo từng trường hợp

Tại Việt Nam, Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 12-1993 và có hiệu lực từ ngày 10-1-1994 trong đó quy định chính thức phí bảo vệ môi trường

27-Đối tượng phải nộp thuế môi trường: Theo điều 7 - Luật bảo vệ môi trường

và điều 34- Nghị định 175/CP Quy định: “Tất cả các ngành công nghiệp, cơ sở sản xuất thuộc mọi loại hình có sử dụng môi trường vào mục đích sản xuất đều phải nộp phí môi trường: khai thác dầu mỏ, khí đốt, các khoáng sản khác; sân bay, bến cảng, nhà xe, nhà ga; các phương tiện giao thông cơ giới; các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác gây ô nhiễm môi trường

Ngày 13/1/2003 Chính phủ ra Nghị định 67/2003/NĐ-CP về thu phí nước thải.Giống như các loại thuế hay phí môi trường khác, phí nước thải dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, qua đó tạo động lực để các doanh nghiệp giảm ô nhiễm, đồng thời tạo ra nguồn thu để chi trả cho các hoạt động bảo

vệ môi trường

2.2.2.4 Giấy phép và thị trường giấy phép môi trường (cota ô nhiễm)

- Khái niệm 1: Cota ô nhiễm là hạn ngạch sử dụng môi trường hoặc giới hạn trần cho mức ô nhiễm

- Khái niệm 2: Cota ô nhiễm là “Quyền gây ô nhiễm” của các doanh nghiệp

sẽ được ghi nhận bằng “giấy phép xả thải” hay còn gọi là Cota ô nhiễm

Trên thế giới dùng cota ô nhiễm là biện pháp can thiệp của nhà nước nhằm điều chỉnh mức độ ô nhiễm Ai muốn có quyền thải phải mua cota ô nhiễm và người đó có quyền bán lại cota ô nhiễm này cho người khác Từ đây hình thành thị trường cota ô nhiễm

Nguyên lý cơ bản của thị trường cota ô nhiễm là việc đặt ta giới hạn tối đa

về lượng chất thải nào đó ở mức thống nhất với chỉ tiêu môi trường ở một vùng hoặc khu vực cụ thể Khi tổng lượng chất thải cho phép thấp hơn lượng chất thải

mà các đơn vị trong vùng muốn thải thì sẽ tạo nên sự khan hiếm về quyền được thải

và làm cho cota có giá trên thị trường

Trang 15

Với quy định số lượng cota, giá cota được thải, nhà sản xuất sẽ lựa chọn một trong hai giải pháp:

- Mua cota ô nhiễm để được thải với mức thải quy định

- Tăng chi phí làm giảm ô nhiễm theo yêu cầu của kiểm soát ô nhiễm

Công cụ này được áp dụng ở một số nước, ví dụ giấy phép (quota) khai thác

cá ngừ và sử dụng nước ở Australia, giấy phép ô nhiễm không khí ở Mỹ, Anh và một số thành viên của OECD như Canada, Đức, Thụy Điển

Ưu điểm đáng kể nhất của loại công cụ này là sự kết hợp giữa tín hiệu giá cả

và hạn mức ô nhiễm So với các loại thuế môi trường hay phí ô nhiễm thị trường giấy phép mang tính chắc chắn, đảm bảo hơn về kết quả đạt mục tiêu môi trường vì

dù giao dịch mua bán như thế nào thì tổng lượng giấy phép vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát ở số phát hành ban đầu Mặt khác, công cụ giấy phép linh hoạt ở chỗ nó cho phép các doanh nghiệp

Các khó khăn chính cho việc thực hiện côta ô nhiễm là:

+ Để xác định chính xác giá trị côta ô nhiễm và cấp côta cho một khu vực, một lưu vực hay một vùng cần phải có các nghiên cứu về khả năng tự làm sạch của môi trường Điều này thường đòi hỏi nhiều kinh phí và kinh nghiệm chuyên môn cao;

+ Hoạt động phát triển kinh tế và chất lượng môi trường khu vực liên tục thay đổi theo thời gian, do vậy các giá trị của côta ô nhiễm cũng rất dễ thay đổi trước sức ép nói trên Hiện tại chúng ta xác định các mức côta ô nhiễm là không nguy hiểm đối với môi trường, nhưng trong tương lai điều đó không thể chấp nhận được Vì vậy, cần nhiều công sức để điều chỉnh côta dẫn đến chỗ các giải pháp mua hoặc bán côta rất khó thực hiện hoặc hiệu quả thực tế nhỏ;

+ Hoạt động mua và bán côta chỉ có thể diễn ra một cách bình thường trong nền kinh tế mở, hoạt động theo cơ chế thị trường, với một hệ thống pháp lý hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ cũng như khả năng quản lý môi trường tốt Trong trường hợp khác đi, việc trao đổi mua bán chỉ còn là hình thức hoặc kém hiệu lực,

do đó có gian lận trong việc xác định côta và kiểm soát ô nhiễm

2.2.2.5 Hệ thống đặt cọc hoàn trả

Đặt cọc – hoàn trả được sử dụng trong hoạt động bảo vệ môi trường bằng cách quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường phải trả một khoản tiền (đặt cọc) khi mua hàng, nhằm đảm bảo cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm đó (hoặc phần còn lại của sản phẩm đó) trả lại cho các đơn vị thu gom phế thải hoặc tới những địa điểm đã quy định để tái chế, tái sử

Ngày đăng: 07/06/2016, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w