Nguyên nhân của những thất bại ấy là do các phong trào yêu nước đều không có một đường lối dúng đắn, không phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân… Từ bài học kinh nghiệm ấy và nh
Trang 1M C S C Ấ Ể SU
C UYÊ Ề TRẠ È Ù G VƯƠ G
Tên chuyên đề: Quá trình xây dựng, rèn luyện lực lượng cách
mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kì 1939-1945 tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
THÁNG 5-2015
Trang 2ỤC ỤC
P Ầ Ở ẦU………3
1 Lý do chọn đề tài………3
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài……… 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 4
4 Phương pháp nghiên cứu……… 4
P Ầ Ộ DU G………5
Quá trình xây dựng và phát triển lực lƣợng chính trị cách mạng 1.1 Thành lập các hình thức mặt trận thống nhất dân tộc phù hợp để tập hợp rộng rãi lực lượng cách mạng……… 5
1.2 Kết hợp chặt chẽ việc xây dựng với rèn luyện lực lượng chính trị….13 2 Quá trình xây dựng và phát triển lực lƣợng vũ trang cách mạng 2.1 Từ 1939 đến trước 9/3/1945……… 19
2.2.Trong cao trào kháng Nhật cứu nước (9/3/45 - 14/8/1945) 20
2.3 Lực lượng vũ trang trong TKN (14/8 đến 28/8/1945)………21
Xây dựng căn cứ địa cách mạng………22
P Ầ KẾT UẬ ……….23
TÀ ỆU T A K ẢO
Trang 4P Ầ Ở ẦU Í DO C Ọ Ề TÀ
Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh một chân lý: để đánh thắng được kẻ thù xâm lược, giành lại nền độc lập cho tổ quốc và cuộc sống tự do, hoà bình cho nhân dân, thì ngoài sức mạnh tinh thần như lòng yêu nước, ý chí căm thự giặc, yêu chuộng hoà bình cần có sức mạnh lực lượng quần chúng nhân dân Nếu kết hợp được sức mạnh của hai yếu tố đó thì chúng ta có thể đánh bại được bất kỳ kẻ thù xâm lược hung mạnh nào Điều đó đã được chứng minh bằng sự thắng lợi của quân và dân nhà Trần trong ba lần kháng chiến chống Mông - Nguyên thế kỷ XIII, khởi nghĩa Lam Sơn đánh thắng quân xâm lược Minh thế kỷ XV và cuộc kháng chiến chống quân Thanh của Quang Trung (Nguyễn Huệ) thế kỷ XVIII
Kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858), với truyền thống yêu nước, nhiều nhiều phong trào yêu nước chống Pháp đã nổ ra theo khuynh hướng phong kiến (phong trào Cần Vương 1885-1896), khuynh hướng dân chủ tư sản (hoạt động yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Chinh… đầu thế kỉ XX) song đều thất bại Nguyên nhân của những thất bại
ấy là do các phong trào yêu nước đều không có một đường lối dúng đắn, không phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân…
Từ bài học kinh nghiệm ấy và nhận ra được tầm quan trọng sức mạnh của quần chúng dân dân “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” tức là sức mạnh của lực lượng cách mạnh đối với công cuộc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, ngay khi mới ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng Cộng sản Đông Dương) đã chú trọng đến công tác xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng, nhất là giai đoạn chuẩn bị trực tiếp trong những năm 1939-1945 Chính điều này là một trong những sự chuẩn bị
và là nhân tố quyết định đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm
1945 Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên của độc lập, tự do Vì vậy để hiểu rõ hơn và làm sáng tỏ hơn quá trình xây dựng lực lượng cách mạng do Đảng lãnh đạo (1939-1945), là điều rất cần thiết đối với mỗi chúng ta, đặc biệt là đối với những giáo viên dạy lịch sử ở trường THPT, nhất là ở trường THPT Chuyên, để từ đó thấy được tầm quan trọng của việc xây dựng lực lượng cách mạng đối với thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 Đồng thời rút ra những kinh nghiệm về xây dựng lực lượng cách mạng trong giai đoạn về sau
Trang 5Với những lý do trên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Quá trình xây
dựng, rèn luyện lực lượng cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương trong thời kì 1939-1945 tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945”
2 ỤC ÍC G Ê CỨU CỦA Ề TÀ
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm sáng tỏ quá trình xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng trong giai đoạn 1939-1945, giúp cho người đọc, đồng nghiệp, học sinh có cái nhìn toàn diện sâu sắc và đánh giá đúng hơn, khách quan hơn về công tác xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng
và về thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam Đồng thời nghiên cứu đề tài cũng là để rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng lực lượng cách mạng của Đảng, chuẩn bị cho những bước phát triển của cách mạng Việt Nam những thời kì lịch sử sau
3 Ố TƢỢ G, P Ạ VI NGHIÊ CỨU
ối tƣợng nghiên cứu
Trên cơ sở xác định mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, người viết tập trung vào nghiên cứu 3 vấn đề chính sau:
- Chủ trương của Đảng trong quá trình xây dựng lực lượng chính trị cách mạng
- Chủ trương của Đảng trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng
- Chủ trương của Đảng trong quá trình xây dựng căn cứ địa cách mạng
một cách khoa học, chính xác nhằm làm sáng tỏ vấn đề
Bám sát đường lối, quan điểm của sử học Mácxít, bảo đảm tính khoa học, tính đảng, tính lịch sử, lôgic trong nghiên cứu Trên cơ sở đó rút ra những nhận xét đánh giá một cách chính xác, khách quan các nội dung lịch
sử cần nghiên cứu
Trang 6P Ầ Ộ DU G 1.Quá trình xây dựng và phát triển lực lượng chính trị cách mạng
1.1 Thành lập các hình thức mặt trận thống nhất dân tộc phù hợp để
tập hợp rộng rãi lực lượng cách mạng
Trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, từ năm 1939-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương đã đẩy mạnh quá
trình chuẩn bị lực lượng cách mạng để tiến tới một cuộc khởi nghĩa vũ trang
giành chính quyền Vì vậy, khi điều kiện khách quan thuận lợi đến, Đảng ta
đã có thể phát động được toàn dân khởi nghĩa giành được chính quyền, làm
nên thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám 1945
Để có thể tập hợp rộng rãi các tầng lớp, giai cấp trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc, một vấn đề được Đảng Cộng sản Đông Dương rất quan
tâm đó là thành lập các mặt trận thống nhất dân tộc
1.1.1 ặt trận thống nhất dân tộc phản đế ông Dương
Ngày 1-9-1939, Phát xít Đức tấn công Ba Lan Ngày 3-9-1939, sau
khi không đạt được việc đòi quân Đức rút khỏi Ba Lan, một đồng minh quan
trọng về phía Đông, chính phủ Anh và chính phủ Pháp tuyên chiến với phát
xít Đức Cùng ngày 3-9-1939, chính phủ Mĩ tuyên bố trung lập
Khi đẩy nước Pháp vào vòng chiến tranh nhằm tranh giành với bọn
phát xít quyền lợi thực dân trên thế giới, giai cấp thống trị nước Pháp đồng
thời đẩy nhân dân Pháp và nhân dân thuộc địa đến chỗ cùng cực dưới chế độ
phản động
Chính phủ Đalađiê thi hành chính sách phản động, đàn áp các lược
lượng dân chủ, tiến bộ, phá vỡ Mặt trận nhân dân, đặt Đảng Cộng sản ngoài
vòng pháp luật Chính phủ Đalađiê đồng thời thi hành chính sách phản động
đối với thuộc địa
Ở Việt Nam và Đông Dương nói chung, bọn thực dân phản động Pháp
thủ tiêu những quyền lợi mà nhân dân ta giành được trong thời kì Mặt trận
dân chủ, giải tán các đoàn thể quần chúng, các tổ chức dân chủ, trước hết
nhằm tiêu diệt Đảng Cộng Sản Đông Dương Ngày 28-9-1939, toàn quyền
Đông Dương ra nghị định cấm mọi hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp tuyên
truyền cộng sản, cấm lưu hành tàng trữ mọi tài liệu của Cộng sản…Pháp
đóng cửa nhiều tòa soạn sách báo cách mạng và tiến bộ, củng cố bộ máy kìm
kẹp, bắt giam những chiến sĩ cộng sản, những nhà yêu nước…
Trang 7Mặt khác, để phục vụ cho cuộc chiến tranh đế quốc, bọn thực dân phản động Pháp ở Đông Dương thi hành cái gọi là “Chính sách kinh tế chỉ huy”
Trong diễn văn khai mạc Đại hội đồng kinh tế lí tài Đông Dương tháng 11-1939, Catơru nói thẳng thừng rằng “ Dù có tham gia trực tiếp hay không vào cuộc chiến, Đông Dương cũng không được tự do có phương hướng riêng của nền kinh tế và tài chính của mình, mà phải quy tụ nó vào những mục đích do mẫu quốc chỉ định Đông dương phải sáp nhập hệ thống mậu dịch của mình vào hệ thống của mẫu quốc, cung cấp những sản phẩm của đất đai và trong lòng đất mà nước Pháp đòi hỏi Đồng thời, Đông Dương phải để cho nước Pháp sử dụng nguồn nhân lực của mình, hoặc làm trong các công binh xưởng, hoặc cung cấp những quân số quan trọng được tổ chức
và biên chế để điều đến các chiến trường ở phương Tây" (1)
Lệnh tổng động viên được ban hành từ đầu cuộc chiến tranh nhằm bắt lính, bắt phu xây dựng đường sá, công sự phòng thủ nhằm “Cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân đội, nhân lực, các sản phẩm và nguyên liệu”
Chính sách phản động của thực dân Pháp đã đẩy nhân dân Đông Dương vào tình cảnh bần cùng về kinh tế, ngột ngạt về chính trị Mâu thuẫn giữa toàn thể các dân tộc Đông Dương với bọn phản Động Pháp ở Đông Dương trở nên sâu sắc Nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt ra cấp thiết
Sự bùng nổ của chiến tranh thế giới thứ hai và thảm họa do chiến tranh gây ra đối với loài người không phải là hiện tượng bất ngờ
Trong lời kêu gọi nhân ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã báo trước “Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đang được ráo riết chuẩn bị” và “Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra, thì nhất định
đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác”
Ngay trong thời kì hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp 1936-1939, Đảng ta đã có những hoạt động nhằm chuẩn bị đề phòng khi chiến tranh nổ
ra, đã vạch rõ nguy cơ của cuộc chiến tranh đế quốc sắp tới, giải thích về hiệp định không xâm phạm Xô-Đức, về chính sách bảo vệ hòa bình của Liên
Xô
Khi chiến tranh thế giới sắp bùng nổ, Đảng chỉ thị cho cán bộ hoạt động hợp pháp mau lẹ rút vào hoạt động bí mật và giữ liên hệ với quần chúng, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, biến nông thôn thành căn
Trang 8cứ địa rộng lớn của cách mạng, đồng duy trì cơ sở ở thành thị, kết hợp chặt chẽ phong trào thành thị với phong trào nông thôn Chẳng bao lâu sau Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Trung ương ra thông cáo ngày 29-9-1939 gửi các cấp bộ Đảng, vạch rõ phương hướng, nhiệm vụ chuyển hẳn mọi hoạt động sang chuẩn bị nhằm “Tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng” Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra được hai tháng thì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Đông Dương được triệu tập (11/1939) tại Bà Điểm (Hóc Môn-Gia Định) dưới sự chủ trì của Tổng bí thư Nguyễn Văn
Cừ
Hội nghị đã tiến hành phân tích một cách sâu sắc tính chất và hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, vai trò, vị trí của Đông Dương trong cuộc chiến tranh đó, thực chất những chính sách của phản động Pháp và thái
độ chính trị của các giai cấp ở Việt Nam, đồng thời vạch rõ đường lối chính trị, phương hướng nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kì mới
Hội nghị nhận định Chiến tranh thế giới thứ hai là kết quả tất yếu của những mâu thuẫn phát triển đến độ sâu sắc giữa các tập đoàn đế quốc quốc
tế, là cuộc sâu xé lẫn nhau giữa chúng, mà chủ yếu giữa một bên là trục phát xít Đức-Italia-Nhật Bản và một bên là khối đế quốc Anh-Pháp-Mĩ nhằm chia lại thế giới Hội nghị còn vạch rõ giữa các tập đoàn đế quốc tuy mâu thuẫn nhau về quyền lợi, nhưng lại thống nhất trong âm mưu chống Liên Xô, chống các lực lượng cách mạng, các lực lượng giải phóng dân tộc trên thế giới Cuộc chiến tranh do chúng gây ra sẽ gieo rắc đau thương, tang tóc không sao kể siết cho nhân loại Nhưng tiền đồ của cách mạng thế giới cũng rất sáng sủa: “Một thế giới quan minh rực rỡ sẽ thay thế cho cái thế giới tốt tăm, mục nát này”
Về tình hình Đông Dương Hội nghị nhận định Đông Dương đang bị lôi cuốn vào guồng máy chiến tranh do đế quốc gây ra Phát xít Nhật sẽ xâm chiếm Đông Dương Bộ máy cai trị ở Đông Dương đang từng bước phát xít hóa, một thứ phát xít tàn bạo, và những kẻ đứng đầu bộ máy đó đang mưu toan thỏa hiệp, đầu hàng phát xít Nhật
Cuộc chiến tranh đế quốc, chính sách phản động của thực dân Pháp ở Đông Dương đã đẩy nhân dân đến chỗ cùng cực, đã lay động hầu hết các giai cấp, các tầng lớp xã hội làm cho mâu thuẫn xã hội vốn sâu sắc giữa đế quốc Pháp với các tầng lớp nhân dân càng thêm sâu sắc Nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt ra cấp thiết “ Những thảm trạng do chiến tranh đế quốc gây nên sẽ làm cho trình tự cấp tiến hóa và cách mệnh hóa quần chúng hết
Trang 9sức mau chóng…Cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị gây nên bởi chiến tranh đế quốc lần này sẽ nung nấu cách mệnh Đông Dương bùng nổ”
Xuất phát từ sự phân tích, nhận định tình hình trên đây, Hội nghị đi đến xác định nhiệm vụ cấp bách nhất và mục tiêu chiến lược lớn nhất của cách mạng Việt Nam và của cách mạng Đông Dương nói chung là đánh đổ
đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc khỏi ách đế quốc, dù là Pháp hay Nhật, làm cho Việt Nam (và Đông Dương) hoàn toàn độc lập Hội nghị vạch
rõ “ Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống lại tất cả ách ngoại xâm vô luân da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc”
Để tập trung lực lượng “thực hiện nhiệm vụ chính cốt của cách mạng
là đánh đổ đế quốc”, Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và thay bằng các khẩu hiệu chống địa tô cao, chống cho vay nặng lãi, tịch thu ruộng đất của thực dân đế quốc và của bọn địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc đem chia cho dân cày nghèo Hội nghị còn chủ trương tạm gác khẩu hiệu thành lập chính quyền xô viết công, nông, binh và thay bằng khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hòa, hình thức nhà nước chung cho
“tất cả các tầng lớp dân chúng trong xứ và trong phong trào giải phóng dân tộc, một bộ phận của giai cấp tư sản còn có thể đi chung với dân chúng trong một giai đoạn nào”
Hơn nữa để tập trung mọi lực lượng của dân tộc vào nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là đánh đổ đế quốc và tay sai, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11 năm 1939 chủ trương thành lập mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho mặt trận dân chủ Đông Dương không còn phù hợp
Mặt trận Thống nhất dân tộc Phản đế Đông Dương ra đời với những
tổ chức chúng trong mặt trận là các hội phản đế đã đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, các giai cấp, các dân tộc kể cả các cá nhân yêu nước ở Đông Dương; chĩa mũi nhọn đấu tranh vào kẻ thù chủ yếu trước mắt là chủ nghĩa đế quốc phát xít, giành lại độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương
Lực lượng chính của mặt trận là công nhân, nông dân, đoàn kết với các tầng lớp tiểu tư sản thành thị và nông thôn, đồng minh trong chốc lát hoặc trung lập giai cấp tư sản bản xứ, trung tiểu địa chủ, do giai cấp công nhân lãnh đạo
Có thể nói, chủ trương thành lập mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương là một sáng tạo cao độ của Đảng ta trong quá trình xây dựng
và tập hợp lực lượng cách mạng Mặt trận thống nhất dân tộc giờ đây đã
Trang 10được mở rộng và có vai trò to lớn trong việc tập hợp, rèn luyện lực lượng chính trị cách mạng, mở đường đi tới thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 sau này
Do đường lối cách mạng có sự chuyển hướng một cách cơ bản đó mà phương pháp đấu tranh cũng đòi hỏi có sự thay đổi, từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc tay sai, từ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa vũ trang
Chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11-1939 đã mở ra thời kì cách mạng mới- thời kì vận động giải phóng dân tộc Sự chuyển hướng đấu tranh đó thể hiện sự nhạy bén sáng tạo của Đảng trong điều kiện
có chiến tranh đế quốc và trong điều kiện nước thuộc địa nửa phong kiến
Do đó nó không chỉ có giá trị to lớn về mặt thực tiễn mà cả trong lĩnh vực lí luận, đã bước đầu khắc phục những hạn chế của Luận cương chính trị tháng
10 năm 1930 Đồng thời khẳng tính đúng đắn sáng tạo của bản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tháng 2-1930
và cấu kết với Nhật đàn áp bóc lột nhân dân Đông Dương
Sự cấu kết giữa hai đế quốc phát xít Pháp – Nhật, chính sách phản động của chúng ở Đông Dương đã gây hậu quả tai hại đến nền kinh tế đất nước, đến mọi mặt của đời sống nhân dân…đẩy nhân dân Việt Nam vào tình cảnh “một cổ đôi tròng” Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc phát xít Pháp- Nhật trở nên sâu sắc Nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết
Cuối năm 1940, đầu năm 1941 phong trào đấu tranh của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ tiêu biểu phải kể đến cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (9-1940), Nam Kì (11-1940) và cuộc binh biến Đô Lương (1-1941) Mặc dù chưa
Trang 11thành công song những cuộc đấu tranh trên đã mở đầu thời kì đấu tranh mới của dân tộc, thời kì đấu tranh vũ trang giành chính quyền
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ thì Nguyễn Ái Quốc từ Liên
Xô về đến Trung Quốc đã được một năm và đang hoạt động ở đây Người coi chiến tranh thế giới của bọn đế quốc là cơ hội hết sức thuận lợi cho các dân tộc Đông Dương và các dân tộc thuộc địa khác trên thế giới thực hiện mục đích giải phóng của mình Tình hình đó càng thôi thúc Người sớm trở
về Tổ quốc cùng Trung ương lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Từ đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc tới Côn Minh, bắt liên lạc với Đảng Cuối năm 1940, Trung ương Đảng cử đồng chí Hoàng Văn Thụ sang Tĩnh Tây (Trung Quốc) gặp Người, báo cáo về tình hình cách mạng trong nước và chuẩn bị cho chuyến về nước của Người
Tháng 12-1940, tại một làng nhỏ sát biên giới Việt –Trung, Nguyễn
Ái Quốc mở lớp huấn luyện chính trị nhằm đào tạo cán bộ, chuẩn bị cho việc thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất và những đoàn thể quần chúng mới Những bài giảng của Người tại lớp huấn luyện được in trong cuốn sách nhan đề “Con đường giải phóng” để dùng làm tài liệu tuyên truyền vận động quần chúng
Ngày 28-1-1941, sau 30 năm tìm đường cứu nước, hoạt động yêu nước, cách mạng ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc trở về tổ quốc Pác Bó (Hà Quảng- Cao Bằng) là nơi đầu tiên được Người chọn đặt cơ quan lãnh đạo cách mạng
Về đến Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc bắt tay ngay vào việc xây dựng cơ
sở cách mạng, tổ chức quần chúng, chuẩn bị tiến tới Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Tại Pác Bó, người dành nhiều thời gian đi vào quần chúng, hòa mình với nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Hoa…tìm hiểu, giáo dục, giác Ngộ, đoàn kết họ trong đại gia đình Việt Nam Người tiếp tục
mở lớp huấn luyện chính trị nhằm bồi dưỡng lí luận cách mạng, bồi dưỡng
về kinh nghiệm công tác Đảng, công tác quần chúng Người còn lược dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, biên soạn nhiều tài liệu lí luận, kinh nghiệm chính trị, quân sự để dùng làm tài liệu học tập
Sau một thời gian chuẩn bị, thay mặt Quốc tế cộng sản Nguyên Ái Quốc triệu tập hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 Hội nghị họp tại Pắc Bó, từ ngày 10 đến 19-5-1941, do người chủ trì Tham dự hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng chí Kiên… cùng một số đại biểu của Xứ ủy Bắc Kì, Trung Kì và một
số đại biểu hoạt động ở nước ngoài
Trang 12Hội nghị phân tích sâu sắc tình hình thế giới và trong nước Về tình hình thế giới, hội nghị nhận định rằng chiến tranh thế giới đang lan rộng, phát xít Đức đang ráo riết đánh Liên Xô, phát xít Nhật sắp gây ra cuộc chiến tranh Thái Bình Dương Từ đó hội nghị đi đến khẳng định: Chiến tranh sẽ làm cho các nước đế quốc suy yếu, phong trào cách mạng thế giới sẽ phát triển nhanh chóng, Liên Xô nhất định chiến thắng và cách mạng nhiều nước nhân đó mà giành được thắng lợi, và “Nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đã đẻ ra Liên Xô – một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc chiến tranh đế quốc lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa.”
Hội nghị dồng thời khẳng định cách mạng Việt Nam lần này vẫn coi
là một bộ phận của cách mạng vô sản và thế giới thì nay vẫn là một bộ phận của phong trào dân chủ chống phát xít do Liên Xô làm trụ cột
Về tình hình Đông Dương, Hội nghị nhận định, từ khi Nhật nhảy vào xâm chiếm, Pháp đầu hàng Nhật, ở Đông Dương mọi hoạt động kinh tế đều
bị chiến tranh hóa, tất cả bộ máy cai trị đều bị phát xít hóa Chính sách đó của Pháp – Nhật càng làm tăng thêm mẫu thuẫn giữa chúng với các dân tộc Đông Dương Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kì, binh biến Đô Lương cuối 1940 đầu 1941 là kết quả của mẫu thuẫn đó
Từ nhận định đó, Hội nghị đi đến khẳng định chủ trương của Hội nghị Trung ương lần thứ 6, nhưng đề cao hơn nữa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất “Trong lúc này, khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp – Nhật.” “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc …Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi hỏi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của
bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.”
Căn cứ vào đặc diểm của xứ Đông Dương thuộc địa và hoàn cảnh mới của thế giới, Nguyễn Ái Quốc có những chủ trương phù hợp, sáng tạo về vấn đề dân tộc đã được Hội nghị của Đảng thông qua Một trong những chủ trương đó là vẫn đề dân tộc được giải quyết không phải chung trên toàn Đông Dương, mà trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, cốt
“làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân (hơn hết
là dân tộc Việt Nam).” Do đó mặt trận thống nhất cũng “phải đổi ra cái tên khác sao cho có tính chất dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại”, tức mỗi nước ở