1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lựa chọn vấn đề dạy chuyên sâu cho học sinh giỏi môn lịch sử khi giảng dạy chuyên đề “quan hệquốc tếtừsau chiến tranh thếgiới thứ hai

21 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 560,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, giúp đỡ các dân tộc về kinh tế, văn hoá, giáo dục… Liên hợp quốc còn có nhiều chương trình hỗ trợ, giúp đỡ các dân tộc kém phát triển, các

Trang 1

LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY CHUYÊN SÂU CHO HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ KHI GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ

“QUAN HỆ QUỐC TẾ TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI”

MÃ: SU19

A MỞ ĐẦU

Đối với giáo viên các trường chuyên nói chung, giáo viên dạy bộ môn Lịch sử các trường chuyên nói riêng, vấn đề lựa chọn nội dung giảng dạy và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi theo từng giai đoạn, từng vấn đề, từng nội dung cụ thể là hết sức quan trọng Một bộ môn với lượng kiến thức lớn, nhiều sự kiện như môn Lịch sử sẽ dễ trở thành môn học nhàm chán, tẻ nhạt, một môn học về những sự kiện “cũ kỹ” đã trải qua từ rất lâu và không tạo ra được hứng thú học tập cho học sinh nếu như không có một phương pháp dạy tích cực, đổi mới, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể

Có thể nói đây là công việc thường xuyên và cũng là sứ mệnh khó khăn của đội ngũ giáo viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi Mỗi thầy cô giáo có một phương pháp khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và năng lực của học sinh, nhưng dù theo cách làm nào

đi nữa, hai việc mà các giáo viên luôn cần phải thực hiện là: cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản đầy đủ và hướng tới chuyên sâu; đồng thời hướng dẫn các em phương pháp học - ôn tập hiệu quả

Chính vì vậy, trong quá trình giảng dạy phần Lịch sử thế giới, chúng tôi đã soạn

thảo chuyên đề Lựa chọn vấn đề dạy chuyên sâu cho học sinh giỏi môn Lịch sử khi giảng dạy chuyên đề “Quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai”, nhằm

cung cấp một số kiến thức nâng cao, qua đó hướng các em tới việc xây dựng và phát triển cho các em năng lực tự học, tự nghiên cứu một cách chủ động

+ Nhanh chóng đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa phát xít

+ Tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh

+ Phân chia thành quả giữa các nước thắng trận

- Từ ngày 4 đến ngày 11/2/1945, hội nghị quốc tế được triệu tập tại Ianta (Liên Xô) với sự tham dự của nguyên thủ 3 cường quốc là Liên Xô, Mĩ, Anh nhằm giải quyết các vấn đề trên

Trang 2

- Thống nhất tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật ở châu Á

- Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới

- Thỏa thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á:

Ở châu Âu: quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông nước Đức, Đông Béclin và các nước Đông Âu; quân đội Mĩ, Anh và Pháp chiếm đóng miền Tây nước Đức, Tây Beclin và các nước Tây Âu Vùng Đông Âu thuộc ảnh hưởng của Liên Xô; vùng Tây Âu thuộc phạm

vi ảnh hưởng của Mĩ Hai nước Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập

Ở châu Á: Hội nghị chấp nhận những điều kiện của Liên Xô để tham chiến chống Nhật Bản: Giữ nguyên trạng Mông Cổ; trả lại cho Liên Xô miền Nam đảo Xakhalin và các đảo xung quanh; quốc tế hoá thương cảng Đại Liên (Trung Quốc) và khôi phục việc Liên Xô thuê cảng Lữ Thuận; Liên Xô cùng Trung Quốc khai thác đường sắt Nam Mãn Châu – Đại Liên; Liên Xô chiếm 4 đảo thuộc quần đảo Curin

Quân đội Mĩ chiếm đóng Nhật Bản; ở bán đảo Triều Tiên, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và quân đội Mĩ chiếm đóng miền Nam, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới; Trung Quốc cần trở thành một quốc gia thống nhất; quân đội nước ngoài rút khỏi Trung Quốc Chính phủ Trung Hoa Dân quốc cần cải tổ với sự tham gia của Đảng Cộng sản và các đảng phái dân chủ, trả lại cho Trung Quốc vùng Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ; các vùng còn lại của châu Á vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây

Nội dung 2: SỰ THÀNH LẬP LIÊN HỢP QUỐC

Trang 3

Hiến chương là văn kiện quan trọng nhất của Liên hợp quốc nêu rõ: Mục đích của Liên hợp quốc là duy trì hoà bình, an ninh thế giới, phát triển các quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc

3 Nguyên tắc hoạt động:

- Tôn trọng quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc

- Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của tất cả các nước

- Không can thiệp vào công việc nội bộ của bất cứ nước nào

- Giải quyết tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình

- Chung sống hoà bình và sự nhất trí giữa năm nước lớn (Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp

và Trung Quốc)

4 Các cơ quan của Liên hợp quốc:

Hiến chương còn quy định bộ máy tổ chức của Liên hợp quốc gồm 6 cơ quan chính như: Đại hội đồng, Hội đồng bảo an, Ban thư kí, Hội đồng kinh tế xã hội, Hội đồng Quản thác, Toà án Quốc tế

5 Vai trò của Liên hợp quốc:

- Là diễn đàn quốc tế vừa hợp tác và đấu tranh nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới

- Có nhiều cố gắng trong việc giải quyết các vụ tranh chấp và xung đột ở nhiều khu vực, nhiều quốc gia, tiến hành giải trừ quân bị, hạn chế chạy đua vũ trang, nhất là các loại vũ khí huỷ diệt hàng loạt; xóa bỏ chủ nghĩa thực dân

- Thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế, giúp đỡ các dân tộc về kinh tế, văn hoá, giáo dục… Liên hợp quốc còn có nhiều chương trình hỗ trợ, giúp đỡ các dân tộc kém phát triển, các nước đang phát triển về kinh tế, văn hoá, giáo dục, nhân đạo…

- Tuy nhiên, bên cạnh đó, Liên hợp quốc cũng có những hạn chế, không thành công trong việc giải quyết xung đột kéo dài ở Trung Đông, không ngăn ngừa được việc

Mĩ gây chiến tranh ở I-rắc…

- Để thực hiện tốt vai trò của mình, Liên hợp quốc đang tiến hành nhiều cải cách quan trọng, trong đó có quá trình cải tổ và dân chủ hoá cơ cấu của tổ chức này

- Đến năm 2006, Liên hợp quốc có 192 quốc gia thành viên Từ tháng 9/1977, Việt Nam là thành viên 149 của Liên hợp quốc

Nội dung 3: SỰ HÌNH THÀNH HAI HỆ THỐNG XÃ HỘI ĐỐI LẬP

Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trên thế giới diễn ra nhiều sự kiện quan trọng với xu hướng hình thành hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa – đối lập gay gắt với nhau về chính trị và kinh tế

- Về chính trị:

+ Mĩ, Anh và Pháp tiến hành hợp nhất các khu vực chiếm đóng của mình; thành lập Nhà nước Cộng hoà Liên bang Đức (9/1949) Tháng 10/1949, với sự giúp đỡ của

Trang 4

Liên Xô, Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức ra đời Trên lãnh thổ nước Đức hình thành hai nhà nước với hai chế độ chính trị khác nhau

+ Trong những năm 1945 – 1947, các nước Đông Âu tiến hành nhiều việc quan trọng như: xây dựng bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân, cải cách ruộng đất, ban hành các quyền tự do dân chủ v.v

- Về kinh tế:

+ Sau chiến tranh, Mĩ đề ra Kế hoạch phục hưng châu Âu (còn gọi là Kế hoạch Mácsan), nhằm viện trợ các nước Tây Âu khôi phục kinh tế, đồng thời tăng cường sự chi phối

của Mĩ đối với các nước này Nhờ đó, nền kinh tế các nước Tây Âu phục hồi nhanh chóng

+ Chủ nghĩa xã hội vượt ra khỏi phạm vi một nước và trở thành hệ thống thế giới

Năm 1949, Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) được thành lập Thông qua đó, sự hợp tác

về chính trị, kinh tế, mối quan hệ giữa Liên Xô với các nước Đông Âu ngày càng được củng cố, tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa

=> Như vậy, ở châu Âu xuất hiện sự đối lập về chính trị và kinh tế giữa hai khối: Tây Âu tư bản chủ nghĩa và Đông Âu xã hội chủ nghĩa

- Cùng thời gian đó, tình hình châu Á biến động phức tạp: sự xuất hiện hai nhà nước đối lập trên bán đảo Triều Tiên; kết cục của cuộc nội chiến giữa Đảng Cộng sản và Đảng Quốc dân ở Trung Quốc; sự xuất hiện ba quốc gia độc lập ở Đông Nam Á là Inđônêxia, Việt Nam và Lào nhưng ngay sau đó lại phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Những sự kiện trên dần dẫn đến việc xuất hiện tình trạng phân cực thành hai phe ở Đông Á

Nội dung 4: MÂU THUẪN ĐÔNG - TÂY VÀ SỰ KHỞI ĐẦU CỦA CHIẾN TRANH LẠNH

1 Nguồn gốc mâu thuẫn Đông – Tây:

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quan hệ Xô – Mĩ chuyển từ liên minh chống phát xít sang thế đối đầu và dẫn tới tình trạng chiến tranh lạnh

* Nguyên nhân: do sự đối lập nhau về mục tiêu và chiến lược giữa hai cường quốc Liên Xô chủ trương duy trì hòa bình, an ninh thế giới, bảo vệ những thành quả của chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng thế giới Còn Mĩ ra sức chống phá Liên

Xô và phe xã hội chủ nghĩa, chống phong trào cách mạng, mưu đồ làm bá chủ thế giới Mĩ hết sức lo ngại trước ảnh hưởng to lớn của Liên Xô và Đông Âu, sự thắng lợi của cách mạng Trung Quốc với sự ra đời của nước CHND Trung Hoa và việc chủ nghĩa xã hội đã trở thành hệ thống thế giới từ Âu sang Á Sau chiến tranh, Mĩ là nước tư bản giàu mạnh nhất, nắm độc quyền vũ khí nguyên tử, tự cho mình có sứ mệnh lãnh đạo thế giới

2 Diễn biến Chiến tranh lạnh:

- Ngày 12/03/1947, Tổng thống Truman gửi thông điệp tới Quốc hội Mĩ khẳng định: sự tồn tại của Liên Xô là nguy cơ lớn đối với nước Mĩ và đề nghị viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, biến hai nước này thành căn cứ tiền phương chống Liên Xô

Trang 5

- Tháng 6/1947, Mĩ thông qua “Kế hoạch Mácsan” viện trợ 17 tỷ USD giúp Tây

Âu khôi phục kinh tế Kế hoạch Mácsan của Mĩ đã tạo nên sự đối lập về kinh tế và chính trị giữa các nước Tây Âu TBCN và các nước Đông Âu XHCN

- Ngày 4/4/1949, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) được thành lập Đây là liên minh quân sự lớn nhất của các nước tư bản phương Tây do Mĩ cầm đầu chống Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu

- Tháng 1/1949, Liên Xô và Đông Âu thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)

- Tháng 5/1955, thành lập Tổ chức Hiệp ước Vácsava, một liên minh chính trị - quân sự mang tính chất phòng thủ của các nước XHCN châu Âu

* Như vậy: sự ra đời của NATO, Vácsava, kế hoạch Mácsan, khối SEV đã đánh dấu sự xác lập cục diện hai cực, hai phe Chiến tranh lạnh đã bao trùm toàn thế giới

Nội dung 5: SỰ ĐỐI ĐẦU ĐÔNG – TÂY VÀ NHỮNG CUỘC CHIẾN TRANH CỤC BỘ

Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, hầu như mọi cuộc chiến tranh hoặc xung đột quân

sự ở các khu vực trên thế giới đều liên quan tới sự đối đầu giữa hai cực Xô - Mĩ

1 Cuộc phong tỏa Béclin (1948) và Bức tường Béclin (1961):

- Trái với những thỏa thuận tại các hội nghị Ianta và Pốtxđam (1945) về một giải

pháp thống nhất nước Đức, ngày 23/2/1948, tại Luân Đôn, các nước Mĩ, Anh, Pháp đã đề

ra quy chế về việc hợp nhất ba khu vực chiếm đóng của họ

- Để trả đũa, ngày 31/3/1948, Liên Xô đã phong tỏa, kiểm soát liên hệ giữa Tây Béclin và Tây Đức

- Ngày 12/5/1949, Liên Xô ngừng phong tỏa sau khi cùng ngày các nước phương Tây bãi bỏ việc ngăn chặn buôn bán giữa Tây và Đông Béclin

- Vào năm 1961, tình hình di cư từ Đông Đức sang Tây Đức làm cho Đông Đức bất ổn và vấn đề nước Đức lại trở nên căng thẳng Để giải quyết, đêm 12/8/1961, CHDC Đức đã xây dựng bức tường ngăn cách Tây và Đông Béclin

=> Quan hệ giữa hai nhà nước Đức càng đối đầu quyết liệt

2 Cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp (1945 - 1954):

- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thực dân Pháp quay trở lại Đông Dương, nhân dân Đông Dương kiên cường chống Pháp và nhận được sự giúp đỡ của Trung Quốc, Liên

Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa

- Từ 1950, khi Mĩ viện trợ cho Pháp và can thiệp sâu vào chiến tranh Đông Dương, cuộc chiến này ngày càng chịu sự tác động của hai phe

- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết (7/1954) đã công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương, nhưng Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền ở vĩ tuyến 17 Hiệp định Giơnevơ là thắng lợi của nhân dân Đông Dương nhưng cũng phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phe

3 Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953):

Trang 6

- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Triều Tiên tạm thời chia làm hai miền: Bắc vĩ tuyến 38 do Liên Xô cai quản và phía Nam là Mĩ

- Năm 1948, trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, hai miền Triều Tiên đã thành lập hai quốc gia riêng ở hai bên vĩ tuyến 38, Đại Hàn dân quốc (phía Nam) và CHDCND Triều Tiên (phía Bắc)

- Từ 1950 – 1953, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ có sự chi viện của Trung Quốc

và Liên Xô (miền Bắc) và Mĩ (miền Nam)

- Hiệp định đình chiến năm 1953 công nhận vĩ tuyến 38 là ranh giới quân sự giữa hai miền

=> Chiến tranh Triều Tiên là sản phẩm của Chiến tranh lạnh, là sự đụng đầu trực tiếp đầu tiên giữa hai phe và là đỉnh cao của sự đối đầu Đông - Tây ở Đông Á

4 Cuộc khủng hoảng Caribê (1962):

- Sau khi cách mạng Cuba thắng lợi, Mĩ không ngừng chống phá công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân Cuba

- Mù hè năm 1962, Liên Xô và Cuba thỏa thuận: Liên Xô xây dựng căn cứ tên lửa trên lãnh thổ Cuba để giúp Cuba bảo vệ nền độc lập và an ninh

- Tối 22/10/1962, Mĩ thông báo phong tỏa Cuba, gửi tối hậu thư đòi Liên Xô gỡ

bỏ và rút tên lửa về nước

=> Xuất hiện nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới mới

- Ngày 26/10, hai bên thỏa thuận: Liên Xô rút tên lửa vĩnh viễn khỏi Cuba; đổi lại,

Mĩ cam kết không xâm lược Cuba Cuộc khủng hoảng kết thúc, nhưng quan hệ Mĩ – Cuba vẫn tiếp tục căng thẳng

5 Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mĩ (1954 - 1975):

- Sau 1954, Mĩ hất cẳng Pháp, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mĩ

- Việt Nam đã trở thành điểm nóng trong chiến lược toàn cầu của Mĩ nhằm đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc và làm suy yếu phe XHCN

- Chiến tranh Việt Nam trở thành cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất, phản ánh mâu thuẫn giữa hai phe

- Cuối cùng, mọi chiến lược chiến tranh của Mĩ bị phá sản, Mĩ phải ký Hiệp định Pari (1973), cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; phải rút quân và cam kết không dính líu về quân sự hoặc can thiệp về chính trị đối với Việt Nam

- Năm 1975, nhân dân Đông Dương kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ

Nội dung 6: XU THẾ HÒA HOÃN ĐÔNG TÂY VÀ CHIẾN TRANH LẠNH CHẤM DỨT

1 Những biểu hiện của xu thế hòa hoãn Đông – Tây:

Trang 7

- Đầu những năm 70, xu hướng hòa hoãn Đông - Tây xuất hiện với những cuộc thương lượng Xô - Mĩ

- Ngày 9/11/1972, hai nước Đức ký kết tại Bon Hiệp định về những cơ sở quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức làm tình hình châu Âu bớt căng thẳng

- Năm 1972, Xô - Mĩ thỏa thuận hạn chế vũ khí chiến lược, ký Hiệp ước ABM

(Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo), SALT-1 (Hiệp định hạn chế vũ khí tiến công chiến lược), đánh dấu sự hình thành thế cân bằng về quân sự và vũ khí hạt nhân chiến lược giữa

hai cường quốc

- Tháng 8/1975, 33 nước châu Âu và Mĩ, Canađa đã ký Định ước Henxinki, khẳng

định những nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia và sự hợp tác giữa các nước, tạo nên một cơ chế giải quyết các vấn đề liên quan đến hòa bình, an ninh ở châu lục này

- Từ 1985, nguyên thủ Xô – Mĩ tăng cường gặp gỡ, ký kết nhiều văn kiện hợp tác kinh tế – khoa học kĩ thuật, trọng tâm là thỏa thuận thủ tiêu tên lửa tầm trung ở châu Âu, cắt giảm vũ khí chiến lược và hạn chế chạy đua vũ trang

2 Chiến tranh lạnh kết thúc:

Tháng 12/1989, tại Manta (Địa Trung Hải), Xô – Mĩ tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh

* Nguyên nhân khiến Xô - Mĩ kết thúc Chiến tranh lạnh:

+ Cả hai nước đều quá tốn kém và suy giảm thế mạnh nhiều mặt

+ Đức, Nhật Bản, Tây Âu vươn lên mạnh, trở thành đối thủ cạnh tranh gay gắt với Mĩ + Liên Xô đang lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng

+ Xô - Mĩ cần thoát khỏi thế đối đầu để ổn định và củng cố vị thế của mình

* Ý nghĩa: Chiến tranh lạnh chấm dứt mở ra chiều hướng giải quyết hòa bình các

vụ tranh chấp, xung đột ở nhiều khu vực: Ápganixtan, Campuchia, Namibia…

Nội dung 7: THẾ GIỚI SAU CHIẾN TRANH LẠNH

- Từ 1989 - 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu tan rã

- Ngày 28/6/1991, khối SEV giải thể

- Ngày 1/7/1991, Tổ chức Vácsava chấm dứt hoạt động

- Trật tự hai cực Ianta sụp đổ, phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô ở châu Âu và châu

Á mất đi, ảnh hưởng của Mĩ cũng bị thu hẹp ở nhiều nơi

- Từ 1991, tình hình thế giới có nhiều thay đổi to lớn và phức tạp:

+ Trật tự hai cực Ianta sụp đổ, một trật tự thế giới đang dần dần hình thành theo xu hướng đa cực

+ Các quốc gia điều chỉnh chiến lược phát triển, tập trung phát triển kinh tế

+ Mĩ đang ra sức thiết lập một trật tự thế giới “đơn cực” để làm bá chủ thế giới + Sau Chiến tranh lạnh, nhiều khu vực thế giới không ổn định, nội chiến, xung đột quân sự kéo dài (Bancăng, châu Phi, Trung Á)

- Sang thế kỉ XXI, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển đang diễn ra thì vụ khủng

bố 11/9/2001 ở nước Mĩ đã đặt các quốc gia, dân tộc đứng trước những thách thức của

Trang 8

chủ nghĩa khủng bố với những nguy cơ khó lường, gây ra những tác động to lớn, phức tạp với tình hình chính trị thế giới và trong quan hệ quốc tế

- Ngày nay, các quốc gia dân tộc vừa có những thời cơ phát triển thuận lợi, đồng thời vừa phải đối mặt với những thách thức vô cùng gay gắt

II MỘT SỐ NỘI DUNG CHUYÊN SÂU CỦA CHUYÊN ĐỀ “QUAN HỆ QUỐC

TẾ TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI”

Trên cơ sở những kiến thức cơ bản học sinh đã được trang bị, khi giảng dạy và ôn

tập cho đội tuyển học sinh giỏi phần “Quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai”, chúng tôi thường đi vào các vấn đề chuyên sâu Thực tế cho thấy, việc giảng dạy và

ôn tập theo hướng này đem lại hiệu quả rất cao Nó làm cho kiến thức đã học của học sinh trở nên phong phú, lôgic nhờ những hướng tiếp cận và nội dung mới, xem xét những điều đã học dưới một góc nhìn mới và dẫn đến kết quả là tri thức của học sinh được củng cố, sắp xếp một cách hệ thống và có ý thức sâu sắc hơn về ý nghĩa của các sự kiện, hiện tượng lịch sử ấy

Cụ thể, khi giảng dạy và ôn tập chuyên đề “Quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai”, chúng tôi đi sâu vào các vấn đề sau:

- Cơ sở hình thành trật tự hai cực Ianta và xu hướng hình thành hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa

- Nguồn gốc, nguyên nhân, tính chất và đặc điểm của Chiến tranh lạnh

- Nội dung và tính chất của sự đối đầu Đông – Tây

- Xu thế hòa hoãn Đông – Tây và sự chấm dứt của Chiến tranh lạnh

- Tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh

Để giảng dạy các vấn đề trên có hiệu quả, chúng tôi tiến hành tập hợp tài liệu, biên

soạn và dạy các chuyên đề Đến nay chúng tôi đã có một bộ chuyên đề về phần “Quan

hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai”

Sau đây, tôi xin lấy ví dụ cụ thể về hai vấn đề chuyên sâu mà chúng tôi đã biên soạn để giảng dạy trong chuyên đề này:

Ví dụ 1: Tìm hiểu về nguồn gốc, nguyên nhân, tính chất và đặc điểm của Chiến tranh lạnh

a Về nguồn gốc, nguyên nhân của Chiến tranh lạnh 1 :

1 Bernard Baruch, một nhà tài phiệt và là cố vấn cho nhiều đời tổng thống Mĩ, từ Woodrow Wilson tới Harry S Truman, được cho là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Chiến tranh lạnh Ngày 16/4/1947, ông đã nhắc đến “Chiến tranh lạnh” trong bài phát biểu trước Hạ

viện bang Nam Carolina: “Đừng để chúng ta bị đánh lừa: chúng ta hiện đang ở giữa một cuộc Chiến tranh lạnh” Tháng 9 năm 1947, nhà báo nổi tiếng Walter Lippmann đã khiến cho thuật

ngữ này được biết đến rộng rãi với bài viết “Cold War” đăng trên tờ New York Herald Tribune Theo đó, Chiến tranh lạnh được hiểu là thời kì căng thẳng về mặt chính trị và quân sự giữa Mĩ và Liên Xô sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai Yếu tố “chiến tranh” ở đây thể hiện sự

Trang 9

Cuộc đối đầu giữa Liên Xô và Mĩ, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản không phải chỉ bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mà nó nảy sinh ngay từ sau Cách mạng tháng Mười Nga (1917) với sự ra đời của nước Nga Xô viết Lúc bấy giờ, các nước tư bản phương Tây đã tập trung lực lượng và tìm mọi cách để tiêu diệt nước Nga:

14 nước tư bản đã đưa quân can thiệp chống nước Nga (1918 – 1920); bao vây kinh tế, cô lập chính trị nước Nga trong thập niên 20 – 30 của thế kỉ XX; ý đồ dung dưỡng thỏa hiệp với chủ nghĩa phát xít nhằm đẩy mũi nhọn chiến tranh về phía Liên Xô của các nước tư bản phương Tây và nhất là cuộc tấn công khốc liệt của phát xít Đức vào Liên Xô trong những năm 1941 – 1945 Mặc dù vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên vẫn vượt qua được những khó khăn thử thách to lớn đó và ngày càng phát triển hùng mạnh Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, dù cùng là liên minh chống phát xít, nhưng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước tư bản Mĩ, Anh, Pháp vẫn luôn tồn tại Khi chiến tranh kết thúc, thì mâu thuẫn này lại trỗi dậy Các nước này từ quan hệ đồng minh chuyển sang quan hệ đối đầu Đó là một trong những nguồn gốc sâu xa của cuộc Chiến tranh lạnh

Hơn nữa, từ Hội nghị Ianta (2/1945), Liên Xô, Mĩ, Anh đã thỏa thuận với nhau phân chia phạm vi ảnh hưởng đối với các khu vực trên thế giới Hội nghị Ianta, sau đó là Hội nghị Hòa bình Pari và Hội nghị Pôtxđam, đã cho ra đời luật bất thành văn: Đông Âu, Mông Cổ và CHDCND Triều Tiên thuộc khu vực ảnh hưởng của Liên Xô, phần còn lại của thế giới thuộc về phương Tây Cũng vì thế, Chiến tranh lạnh là kết quả tất yếu của sự tranh giành và mở rộng phạm vi thế lực giữa Liên Xô và Mĩ, mà thường được gọi là hai cực trong trật tự thế giới được xác định từ Hội nghị Ianta

Tuy nhiên, ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình thế giới chuyển biến mau lẹ ngày càng có lợi cho Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, bất lợi cho Mĩ và các đồng minh Đầu năm 1947, ở các nước Đông Âu, khu vực ảnh hưởng của Liên Xô, chính quyền lần lượt chuyển vào tay nhân dân lao động, ở Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp, phong trào đấu tranh vũ trang do Đảng Cộng sản lãnh đạo phát triển mạnh mẽ Ở Pháp, Bỉ và Italia, đại diện của Đảng Cộng sản đã tham gia Chính phủ, ở các nước này đã diễn ra một loạt những cải cách kinh tế - xã hội có lợi cho người lao động Ở châu Á, cách mạng Trung Quốc phát triển mạnh, so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho Đảng Cộng sản Trong bối cảnh như thế, Mĩ không thể không có những động thái đối phó Tháng 3/1947, Tổng thống Mĩ Truman đã đọc diễn văn tại Quốc hội Mĩ, chính thức đưa

ra học thuyết của mình và phát động Chiến tranh lạnh Theo Truman thì các nước Đông

đối đầu sâu sắc về mặt quyền lực và ý thức hệ giữa 2 nước; trong khi đó, khái niệm “lạnh” phản ánh việc Liên Xô và Mĩ không sử dụng vũ khí “nóng” (các loại vũ khí truyền thống) trong mối quan hệ kình địch này, mà thay vào đó là cuộc chạy đua vũ trang mà nổi bật là vũ khí hạt nhân Tựu trung lại, đó là sự đe dọa sử dụng bạo lực quân sự, bao vây kinh tế, phá hoại chính trị, chạy đua vũ trang và chuẩn bị chiến tranh, làm cho tình hình thế giới luôn luôn căng thẳng

Trang 10

Âu “vừa mới bị cộng sản thôn tính” và những đe dọa tương tự đang diễn ra nhiều nước khác ở châu Âu, ở Italia, Pháp và cả Đức Vì vậy, Mĩ phải đứng ra “đảm nhận sứ mạng lãnh đạo thế giới tự do” phải giúp đỡ các dân tộc thế giới chống lại “sự đe dọa” của chủ nghĩa cộng sản, chống lại sự “bành trướng” của nước Nga, giúp đỡ bằng mọi biện pháp

kinh tế, quân sự

Trên thực tế, Chiến tranh lạnh là giai đoạn đầu tiên trong lịch sử tồn tại hệ thống lưỡng cực, mà Mĩ và Liên Xô là đại diện; và mâu thuẫn giữa hai nước cũng đại diện cho mâu thuẫn giữa phe Tư bản chủ nghĩa (do Mĩ đứng đầu) và phe Xã hội chủ nghĩa (do Liên Xô khởi xướng) Chiến tranh lạnh do đó tác động toàn diện tới tất cả các mặt trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia khi mà các nước tự xác định con đường đi của mình dựa trên sự định hình ý thức hệ

Qua đó, có thể nhận thấy, mâu thuẫn và tranh chấp giữa Liên Xô và Mĩ còn phản ánh mâu thuẫn tranh chấp về lợi ích dân tộc Chiến tranh lạnh nổ ra cũng từ lợi ích riêng biệt của mỗi cường quốc sau chiến tranh, hay nói một cách khác, Chiến tranh lạnh cũng

có nguồn gốc từ chủ nghĩa dân tộc nước lớn với những quyền lợi riêng biệt của từng nước Vì vậy, chỉ nói nguồn gốc của Chiến tranh lạnh là về phía Mĩ, về “học thuyết Truman” thì sẽ thiếu khách quan và không công bằng trước các sự thật lịch sử

Xuất phát từ quan điểm đó, chúng ta cần nhìn từ cả hai phía Liên Xô và Mĩ để phân tích một cách khách quan để thấy được cuộc đối đầu giữa hai cực Xô – Mĩ và khối Đông - Tây bắt nguồn từ hai nhân tố:

- Mâu thuẫn giữa Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa tư bản và hai hệ thống đối lập kể

từ sau Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917

- Sự hình thành trật tự thế giới hai cực Ianta sau Chiến tranh thế giới thứ hai dẫn đến hai cường quốc thắng trận chủ yếu trong chiến tranh phân chia nhau phạm vi ảnh hưởng trên toàn thế giới Sự phân chia này dẫn đến sự tranh chấp, giành giật nhau trên toàn thế giới phạm vi ảnh hưởng của mỗi bên

Hai nhân tố này là nguồn gốc và nguyên nhân của cuộc chiến tranh lạnh nhưng có

sự khác biệt giữa Mĩ và Liên Xô:

Mĩ là một cường quốc tư bản chủ nghĩa luôn luôn nuôi ý đồ thống trị thế giới Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, dựa vào sự vươn lên mạnh mẽ đứng đầu thế thế giới về thực lực mọi mặt của mình, Mĩ đã thực hiện “Chiến lược toàn cầu” nhằm làm bá chủ toàn thế giới Đây là mục tiêu cao nhất của Mĩ và mục tiêu này hoàn toàn phục vụ cho lợi ích giai cấp tư sản lũng đoạn Mĩ

Về phía Liên Xô, Liên Xô dựa vào việc ủng hộ phong trào đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội để qua đó đấu tranh chống lại Mĩ Tuy thế, tùy từng lúc và tùy từng thời gian, trong việc ủng hộ phong trào cách mạng thế giới, vẫn đan xen lợi ích riêng biệt của nước mình và dân tộc mình mà người ta thường gọi là chủ nghĩa dân tộc nước lớn Trong thời kỳ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa những năm 70, việc ủng hộ phong trào cách mạng thế giới tỏ ra tích cực hơn, nhưng từ nửa sau những năm 70 đến lúc Chiến tranh lạnh chấm dứt, tính tích cực đó giảm dần đi và có

Ngày đăng: 07/06/2016, 12:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w