Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến các yếu tố cấu thànhnăng suất và năng suất quả đậu trạch.... Ảnh hưởng của lượng phân lân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả đậu trạc
Trang 1- -NGÔ THỊ YẾN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN
-TRONG ĐẬU TRẠCH TẠI THÁI NGUYÊN
NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC CÂY TRỒNG Người hướng dẫn Khoa học: TS NGUYỄN THÚY HÀ
Thái Nguyên 11- 2014
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Những kết quả và
các số liệu trong luận văn chưa được ai công bố dưới bất cứ hình thức nào.Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Ngô Thị Yến
Trang 3Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡcủa các thầy cô công tác tại khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm TháiNguyên, các đồng nghiệp nơi tôi công tác.
Để bày tỏ lòng biết ơn, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu TrườngĐại học Nông Lâm Thái Nguyên đã cho tôi cơ hội tham gia khoá đào tạo thạc
sỹ khoá K20 trồng trọt của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thúy Hà đã hướng dẫn tận tình
trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo công tác tại Khoa Nônghọc, phòng quản lý đào tạo sau Đại học đã giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ và tạo
điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp, anh em bè bạn và
gia đình đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất và tinh thần cho tôi trong thời gian
học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin trân tr ọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng10 năm 2014
Tác giả
Ngô Thị Yến
Trang 4CT : Công thức
ĐBSH : Đồng bằng Sông Hồng
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.2 Sơ lược về tình hình sản xuất rau và sử dụng phân bón trên thế giới 8
1.2.1 Sơ lược về tình hình phát triển rau trên thế giới 8
1.2.2 Sơ lược về tình hình sản xuất sử dụng phân bón trên thế giới 10
1.3 Sơ lược về tình hình sản xuất rau và sử dụng phân bón ở Việt Nam 11
1.3.1 Sơ lược về tình hình phát triển rau ở Việt Nam 11
1.3.2 Sơ lược về tình hình sản xuất sử dụng phân bón ở Việt Nam 12
1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới liên quan tới đề tài 15
1.4.1 Tình hình nghiên cứu của một số nước trên thế giới 15
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 17
1.5 Cơ sở thực tiễn 22
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 24
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Công thức, phương pháp bố trí thí nghiệm 24
2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 27
2.4.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển 27
2.4.2 Đánh giá tình hình sâu bệnh hại ở các công thức 27
2.4.3 Các chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 28
2.4.4 Các chỉ tiêu chất lượng quả 28
2.4.5 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 28
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 29
Trang 62.6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đậu trạch 76
2.6.1 Thời vụ 76
2.6.2 Làm đất, bón phân, gieo hạt 76
2.6.3 Chăm sóc và phòng chống dịch hại 78
2.6.4 Thu hoạch 81
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng và phát triển của đậu trạch 30
3.1.1 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến tỷ lệ nảy mầm của đậu trạch 30 3.1.2 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến thời gian sinh trưởng của đậu trạch 30
3.1.3 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến chiều cao cây của đậu trạch 32 3.1.4 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến số lá của đậu trạch 36
3.1.5 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến tốc độ ra lá của đậu trạch 39
3.1.6 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến sâu, bệnh hại đậu trạch 40
3.1.7 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến một số chỉ tiêu theo dõi quả dậu trạch 42
3.1.8 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến các yếu tố cấu thànhnăng suất và năng suất quả đậu trạch 44
3.1.9 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 45
3.2 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến sinh trưởng và phát triểncủa đậu trạch 47
3.2.1 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến tỷ lệ nảy mầm của đậu trạch 47
3.2.2 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến thời gian sinh trưởng và phát triển của đậu trạch 47
3.2.3 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến chiều cao cây của đậu trạch 49
Trang 73.2.5 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến số lá của đậu trạch 52
3.2.6 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến tốc độ ra lá của đậu trạch 54
3.2.7 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến sâu, bệnh hại đậu trạch 55
3.2.8 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến một số chỉ tiêu theo dõi quả đậu trạch 56
3.2.9 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả đậu trạch 57
3.2.10 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 58
3.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và dư lượng nitrat (NO3 -) trong đậu trạch 59
3.3.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tỷ lệ nảy mầm của đậu trạch 59
3.3.2 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến thời gian sinh trưởng của đậu trạch 60
3.3.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chiều cao cây của đậu trạch 61
3.3.4 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của đậu trạch 63
3.3.5 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến số lá của đậu trạch 65
3.3.6 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ ra lá của đậu trạch 66
3.3.7 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sâu, bệnh hại đậu trạch 68
3.3.8 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến một số chỉ tiêu theo dõi quả đậu trạch 69
3.3.9 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả đậu trạch 71
3.3.10 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hàm lượng nitrat (NO3 -) trong quả đậu trạch 72
3.3.11 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 73
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75
Trang 8Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ 2008 - 2012 8
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau châu Á 9
Bảng 1.3: Tình hình sản xuất rau Trung Quốc 9
Bảng 1.4: Tình hình sử dụng phân bón ở một số nước Đông Nam Á 10
Bảng 1.5: Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam 2008 - 2012 11
Bảng 1.6: Ngưỡng giới hạn hàm lượng NO3- trong rau tươi của FAO, 1993 14
Bảng 1.7: Ngưỡng giới hạn hàm lượng NO3- trong rau của CHLB Nga 15
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến tỷ lệ nảy mầm của đậu trạch 30
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến thời gian sinh trưởng của đậu trạch 30
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây đậu trạch 33
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây đậu trạch 35
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến động thái ra lá cây đậu trạch 37
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến tốc độ ra lá của đậu trạch 39
Bảng 3.7 Tỷ lệ sâu, bệnh hại ở các công thức thí nghiệm 41
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến một số chỉ tiêutheo dõi quả đậu trạch 42
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến các yếu tốcấu thành năng suất và năng suất quả đậu trạch 44
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến hiệu quả kinh tế cây đậu trạch 46
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến tỷ lệ nảy mầm của đậu trạch 47
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến thời gian sinh trưởng của đậu trạch 47
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến động thái tăng trưởng chiều cao của đậu trạch 49
Trang 9Bảng 3.15 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến số lá của đậu trạch 52
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến tốc độ ra lácủa đậu trạch 54
Bảng 3.17 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến tình hình sâu, bệnh hại đậu trạch 55
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến một số chỉ tiêu theo dõi quả đậu trạch 56
Bảng 3.19 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả đậu trạch 57
Bảng 3.20 Ảnh hưởng của lượng phân lân đến hiệu quả kinh tế của đậu trạch 58
Đơn vị tính: VNĐ/ha 58
Bảng 3.21 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tỷ lệ nảy mầm của đậu trạch 59
Bảng 3.22 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến thời gian sinh trưởng của đậu trạch 60
Bảng 3.23: Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến động thái tăng trưởng chiều cao cây đậu trạch 62
Bảng 3.24: Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây đậu trạch 63
Bảng 3.25 Ảnh hưởng của lượng phân đạm đến số lá của đậu trạch 65
Bảng 3.26 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ ra lá của cây đậu trạch 66
Bảng 3.27: Tỷ lệ sâu, bệnh hại lá ở các công thức thí nghiệm 69
Bảng 3.28: Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến một số chỉ tiêu theo dõi quả đậu trạch 70
Bảng 3.29 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả đậu trạch 71
Bảng 3.30 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hàm lượng nitrat (NO3 -) trong quả đậu trạch 73
Bảng 3.31 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hiệu quả kinh tế của đậu trạch 73
Trang 10Hình 1.1: Đồ thị năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế của lượng phân bón
sử dụng 5Hình 3.1: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến động thái tăng
trưởng chiều cao cây đậu trạch 33
Hình 3.2: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến tốc độ tăng trưởngchiều cao cây đậu trạch 35Hình 3.3: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến số lá của đậu trạch 37Hình 3.4: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến tốc độ ra lá của đậutrạch 39Hình 3.5: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến một sốchỉ tiêu theodõi quả đậu trạch 43Hình 3.6: Biểu đồ NSLT và NSTT cây đậu trạch trong vụ Đông - Xuân năm
2013 - 2014 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 45Hình 3.7: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân lân đến chiều cao cây đậu trạch 49Hình 3.8: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân lân đến tốc độ tăng trưởng chiều
cao cây đậu trạch 51
Hình 3.9: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân lân đến số lá đậu trạch 53Hình 3.10: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân lân đến tốc độ ra lá của đậutrạch 54Hình 3.11: Biểu đồ ảnh hưởng của lượng phân lân đến một sốchỉ tiêu theo dõiquả đậu trạch 56Hình 3.12: Biểu đồ NSLT và NSTT cây đậu trạch trong vụ Đông - Xuân năm
2013 - 2014 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 58Hình 3.13: Biểu đồ ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chiều cao cây đậutrạch 62
Trang 11Hình 3.15: Biểu đồ ảnh hưởng của liều lượng đạm đến số lá đậu trạch 65Hình 3.16: Biểu đồ ảnh hưởng của liều lượng đạm đến tốc độ ra lá đậu trạch 67Hình 3.17: Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến một số chỉ tiêu theo dõi quả
đậu trạch 70
Hình 3.18: Biểu đồ NSLT và NSTT cây đậu trạch trong vụ Đông - Xuân năm
2013 - 2014 tại Đại học Nông Lâm Thái Nguyên 72
Trang 12MỞ ĐẦU
* Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàngngày của con người vì chúng không chỉ cung cấp các loại dinh dưỡng thiếtyếu như vitamin, lipit, protein mà còn cung cấp nhiều chất khoáng quantrọng như canxi, phốt pho, sắt v.v rất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể
con người Ngoài ra rau còn cung cấp cho con người một lượng lớn các chất
xơ, có khả năng làm tăng nhu mô ruột và hệ tiêu hoá, là thành phần hỗ trợ sự
di chuyển thức ăn qua đường tiêu hoá bằng cách giúp cho hoạt động co bópcủa đường ruột được dễ dàng Ngoài ra rau còn là nguyên liệu quan trọngcho ngành chế biến, đồng thời là mặt hàng xuất khẩu có giá trị góp phần làm
tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân Trước tình hình thế giới hiện nay khi
dân số ngày càng tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng lớn
Đậu trạch là cây sinh trưởng mạnh, phù hợp với điều kiện canh tác ởnhiều nơi, cho thu hoạch quả 60-70 ngày sau khi gieo, thời gian thu hoạch kéodài 30-35 ngày Đậu trạch là cây ưa ánh sáng, rất cần giàn leo Cây có bộ rễkhỏe, ăn sâu nên khả năng chịu hạn tốt.( Trồng cây rau ở Việt Nam, 2005) .
Đậu trạch không chỉ trồng và mang lại hiệu quả kinh tế vụ chính, loại cây
trồng trái vụ này đã mang lại cho nông dân thu nhập cao gấp 2 – 3 lần trồng
lúa, được đông đảo bà con nông dân lựa chọn
Bón phân là một trong những biện pháp làm tăng năng suất cây trồng
để đáp ứng nhu cầu của con người Trong vài thập niên gần đây, phân hóa học
chiếm lĩnh chủ yếu trong các loại phân được sử dụng trong sản xuất nôngnghiệp của hầu hết các nước trên thế giới Trong khi đó, Việt Nam là mộttrong những nước nhập khẩu phân bón nhiều Hàng năm, chúng ta đã nhậpkhẩu 90 – 93% lượng phân đạm, 30 – 35% lượng phân lân, 100% lượng phân
Kali (Đường Hồng Dật, 2003) [3]
Tuy vậy, phân bón vẫn bị người dân sử dụng một cách lãng phí dothiếu kiến thức, do quan niệm sai lầm, do chưa hiểu hết tác dụng của bónphân hợp lí,…chính vì vậy, hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm chỉ đạt 30 –40%, phân lân và kali chỉ đạt 50% (Đường Hồng Dật, 2003) [3]
Trang 13Sử dụng phân hóa học liên tục, không hợp lí, cân đối, thiếu hiểu biết đãdẫn đến dư lượng nitrat tồn dư trong các sản phẩm nông sản cao gây ra nhiều
ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng
Theo những kết quả nghiên cứu của giới y học, sản xuất rau không thể
-trong rau đã được coi
là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá rau “sạch” do một số tổ chức quốc tế,
-trong rau đó cũng là tiêu
chuẩn để các nước đánh giá chất lượng rau xuất nhập khẩu Ở nước ta đâycũng là chỉ tiêu khiến cho ngành xuất khẩu rau trong nước đã nhiều lần phải
điêu đứng vì bị làm mất uy tín với khách hàng gây thiệt hại nhiều cho người
trong rau chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố:Loại rau, khí hậu, điều kiện canh tác (phân bón, thuốc trừ cỏ, đất
-đai,…)…Trong đó phân bón ảnh hưởng lớn nhất tới hàm lượng NO3
trong
trong rau.Xuất phát từ thực tiễn trên, nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng chúng
* Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến động thái ra lá của đậu trạch
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến tình hình sâu, bệnh hại đậu trạch
- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến chỉ tiêu về chất lượng quả đậu trạch.-Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của đậu trạch
Trang 14- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến dư lượng Nitrat (NO3
-) trongđậu trạch
-Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến hiệu quả kinh tế của đậu trạch
- Ý nghĩa trong học tập: Giúp học viên vận dụng kiến thức lý thuyết
vào thực tiễn sản xuất Giúp học viên biết cách hoàn thành một luận văn thạc sỹ
- Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học: Giúp học viên tiếp cận với công
tác nghiên cứu khoa học, nâng cao kiến thức chuyên môn Đồng thời, họcviên học được tác phong làm việc nghiêm túc, sáng tạo, hiệu quả, tiếp thuđược những kinh nghiệm mà chỉ có thể có được trong thực tiễn
- Ý nghĩa trong sản xuất: Việc thực hiện đề tài là cơ sở để xác định mức
phân bón thích hợp cho đậu trạch sinh trưởng, phát triển tốt, đạt năng suất cao
và đảm bảo chất lượng Thay đổi một phần tập quán canh tác của nông dân tạiđịa phương Tạo điều kiện phát triển hơn về cây đậu trạch nói riêng và cây raunói chung tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Từ đó mở rộng sản xuấtsang các tỉnh lân cận
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học
Quá trình sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của câytrồng phụ thuộc chủ yếu vào tác dụng tổng hợp của 4 yếu tố: ánh sáng, nhiệt
độ, nước và dinh dưỡng Trong điều kiện sản xuất, việc điều khiển các yếu tố
để tăng cường sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng rất khácnhau Điều khiển chế độ nước, dinh dưỡng dễ dàng hơn và thực tế người tacoi phân bón là đòn bẩy tăng năng suất cây trồng Cùng với cuộc cách mạng
xanh về giống, nền nông nghiệp thâm canh ra đời đã vận dụng tối đa tác dụngcủa phân bón, đặc biệt là phân vô cơ
Tuy nhiên, bón nhiều phân chưa hẳn đã tốt, nồng độ hóa học cao có thểgây hại đối với cây trồng đồng thời ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe
con người Cây trồng cũng như các sinh vật khác có những giới hạn chịuđựng nhất định, vượt quá giới hạn đó có thể bị hủy hoại Bón một lượng phân
lớn vượt quá nhu cầu của cây còn gây ra lãng phí, tồn dư trong đất và sảnphẩm tăng
Trong nhiều trường hợp, năng suất cây trồng cao chưa hẳn đảm bảohiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm giảm Phân bón thường mang lại hiệuquả kinh tế cao khi lượng phân sử dụng hợp lý Trong những giới hạn xác
định, năng suất cây trồng tăng khi phân bón tăng Tiếp tục tăng lượng phân,năng suất tiếp tục tăng nhưng hiệu quả kinh tế bắt đầu giảm xuống, đến một
giới hạn nào đó, cả năng suất và hiệu quả kinh tế giảm xuống đến lúc khôngcòn hiệu quả nữa
Bón phân hợp lý là tìm ra lượng phân bón thích hợp để vừa đạt năngsuất cao, vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón (hình 2.1).Mỗi một nguyên tố dinh dưỡng có những vai trò nhất định đối với quá trình
sinh trưởng, phát triển và năng suất cây trồng Trong đó, đạm là yếu tố quan
trọng hàng đầu đối với cơ thể sống vì nó là thành phần cơ bản của protein chất cơ bản biểu hiện sự sống
Trang 16-Hình 1.1: Đồ thị năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế
của lượng phân bón sử dụng
Bón phân vô cơ là rất tốt cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, tuy
nhiên nếu bón không đúng nồng độ, liều lượng, thời gian cách ly không đảm
trong sản phẩm vượt quá ngưỡngcho phép ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và sức khẻo người tiêu dùng
-Vì vậy, trong việc sử dụng phân đạm, kali hay bất cứ loại phân nàokhác ta phải sử dụng hợp lý cho từng loại cây trồng, giai đoạn sinh trưởng,loại đất, nước, vi sinh vật và mùa vụ khác nhau…đòng thời, bón đúng chủngloại, đúng lúc đúng cách đúng nông độ, liều lượng, đảm bảo hời gian cách ly
như vậy, sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và bảo
Năng suất cây trồng
Hiệu quả kinh tế
Lượng phân hợp lý
Trang 17* Vai trò c ủa phân bón trong sản xuất nông nghiệp
Trong mấy thập kỷ vừa qua năng suất cây trồng đã không ngừng tăng
lên, ngoài vai trò của giống mới, phân bón cũng có vai trò quyết định Giốngmới chỉ có thể phát huy được tiềm năng, cho năng suất cao nhất khi được bón
đầy đủ và hợp lí FAO đã tổng kết bón phân không cân đối làm giảm hiệu suất
sử dụng 20-50% Kết quả trong thí nghiệm và mô hình ở nước ta trong mấy
năm qua cho thấy nếu NPK cân đối so với chỉ bón đạm, năng suất lúa trên đất
bạc màu có thể tăng 100 – 200% Kỹ nghệ phân bón không chỉ chú ý đến
đạm, lân, kali mà phải chú ý đầy đủ đến các nguyên tố khác như lưu huỳnh( S
), magie( Mg ), với các nguyên tố vi lượng như: Mo, Bo, Mn, Fe…
Cây trồng hút chất dinh dưỡng từ đất và từ phân bón để tạo nên sảnphẩm của mình sau khi kết hợp với sản phẩm của qúa trình quang hợp, chonên sản phảm nông nghiệp phản ánh tình hình đất đai và việc cung cấp thức
ăn cho cây Nhờ có phân bón mà phẩm chất nông sản được nâng cao Bónphân không cân đối làm giảm chất lượng nông sản Bón phân cũng làm thayđổi thành phần hóa học của hạt, việc bón phân thừa hay thiếu đạm làm giảm
trong sản phẩm vượt quá mức chophép, gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng
-Hàm lượng NO-3 trong rau là một trong những chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá rau an toàn bởi những độc tính và tác hại của nó khi vượt quángưỡng cho phép
Thực tế cho thấy kết quả khảo nghiệm hàm lượng Nitơrat trên một sốloại rau vào thời điểm sử dụng (1-2 ngày sau thu hoạch) đều vượt quá chỉ sốcho phép là mối quan tâm đối với chúng ta
Nitrat được hấp thu vào cơ thể ở mức bình thường không gây độc, nó
-trong cơ thể người không
bởi vi
Trang 18-khuẩn microflora đường ruột NO2
phản ứng với haemoglobine hình thànhmethaemoglobine Khi methaemoglobine ở mức cao sẽ xuất hiện triệu chứngbệnh làm giảm hô hấp của tế bào, ảnh hưởng tới hoạt động của tuyến giáp,
-gây đột biến phản ứng với amin thành chất -gây ung thư gọi là Nitroamin, các
hợp chất này đưa vào cơ thể một cách trực tiếp do nitroamin được tổng hợp
trong cơ thể tạo ra sau khi ăn
Nguyên nhân : Phân đạm, lân, kali là yếu tố quan trọng làm tăng năngsuất cây trồng, tuy nhiên do sử dụng không hợp lý về liều lượng tỷ lệ phân đạmtrong thành phần vô cơ và hữu cơ bón cho cây, phương thức bón không đúng
do chạy theo lợi nhuận, bón thuốc muộn sát với thời điểm thu hoạch cùng với
) rửa trôi cao đã làm tăng hàm
-lượng nitrat trong rau, gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người
Nền nông nghiệp thế kỷ 21 là nền nông nghiệp sạch, nền nông nghiệpsinh thái Nhiệm vụ của loài người là phải tạo nên một nền nông nghiệp bềnvững trong đó giảm tối đa các chất phế thải, cũng như giảm tối đa việc mấtchất dinh dưỡng để không làm ô nhiễm môi sinh ( ngăn chặn việc thải nitotratvào nguồn nước uống, ngăn việc thải các chất oxit nito bắt nguồn từ quá trìnhkhử đạm trong nông nghiệp để làm phá hoại tầng ozon Nông nghiệp thế kỷ
21 cùng với việc sử dụng tối thích phân hóa học phải làm cho đất phát huytích cực hơn Đất trở thành nơi đồng hóa chất thải, biến chất thải thành nguồncác chất dinh dưỡng Trong việc nghiên cứu phân bón không chỉ chú ý đếnviệc tăng năng suất mà phải đánh giá chất lượng sản phẩm Biện pháp bón
phân đưa ra phải không gây ô nhiễm môi trường sống, để vừa đảm bảo tăngđược sản lượng mà vẫn đảm bảo chất lượng cũng như môi trường Ta phải
bón phân hợp lý phù hợp cho mỗi loại cây trồng, mỗi giai đoạn sinh trưởng,mỗi loại đất, nước và mùa vụ khác nhau…Tuy nhiên cũng phải bón đúngchủng loại, đúng lúc, đúng đối tượng, đúng thời vụ, đúng cách bón và bóntheo nhu cầu của cây Ngoài ra để tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh
tế cao nhất thì chúng ta cũng phải có những biện pháp làm hạn chế tối đa
lượng phân bón dư thừa trong đất do bón quá liều Như vậy sẽ góp phần tăng
hệu suất sử dụng phân bón, tránh lẵng phí và ô nhiễm môi trường
Trang 191.2 Sơ lược về tình hình sản xuất rau và sử dụng phân bón trên thế giới
1.2 1 Sơ lược về tình hình phát triển rau trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có nhiều chủng loại rau được gieo trồng, diệntích trồng rau ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân
(Mai Phương Anh và cs, 1996) [1] Năm 1961-1965 tổng lượng rau của thế
giới là 200.234 tấn, nhưng từ năm 1971-1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn
và từ năm 1981-1985 là 392.060 tấn, đến năm 1996 đã lên đến 565.523 tấn
Như vậy chúng ta thấy sản lượng rau trên thế gới tăng lên rất nhanh, điều đó
chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng
Trong nhiều năm gần đây, tình hình sản xuất rau trên thế giới khôngngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng, số liệu FAO được thống kê và
được trình bày tại bảng 2.2
Bảng 1.1: Tình hình sản xuất rau trên thế giới từ 2008 - 2012
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Theo thống kê của FAO, diện tích trồng rau năm 2008 là 52,81 triệu ha
nhưng đến năm 2012 đã mở rộng lên tới 57,27 triệu ha, tăng so với năm 2008
là 4,46 triệu ha, tăng 8,45% so với năm 2008 Như vậy, diện tích trồng rautrên thế giới đang tăng lên, nguyên nhân là do người nông dân đang chuyểnmột phần diện tích trồng cây ngũ cốc và cây lấy sợi sang trồng rau
Năng suất rau bình quân trên thế giới không biến động nhiều đạt từ
188,413 - 193,133 tạ/ha qua 5 năm, bởi diện tích trồng rau hiện nay không tậptrung về tăng năng suất mà chú trọng hơn đến viêc tăng chất lượng sản phẩm
Về sản lượng rau hàng năm thu được theo chiều hướng tăng dần tính
đến năm 2012 đạt 1.106,13 triệu tấn, tăng hơn so với năm 2008 là 111,15
Trang 20triệu tấn, tương đương 11,17% Sở dĩ trong những năm từ 2008 đến năm
2012 sản lượng rau tăng nhanh như vậy là do diện tích trồng trong những nămgần đây tăng lên và do người trồng rau đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹthuật tiên tiến đến phục vụ sản xuất
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất rau châu Á Chỉ tiêu
Năm
Diện tích ( ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng ( tấn)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng ( tấn)
Nguồn: FAOSTAT, 2014[37]
Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất thế giới, cao hơn nhiều
so với Mỹ, Nhật, Pháp, Thái Lan, Việt Nam và nhiều nước khác Ở Châu Á,Trung Quốc là nước có sản lượng rau cao nhất, tiếp đến là Ấn Độ, còn ở nước
ta sản lượng rau ở mức thấp nhất Bên cạnh sự gia tăng về năng suất và sản
lượng thì chất lượng rau cũng được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nhiều
công nghệ tiên tiến ra đời và việc kiểm soát dư lượng hóa chất tồn đọng trong
rau ngày càng được thực hiện triệt để hơn
Về tiêu thụ rau trên thế giới theo FAO dự báo trong thời gian tới hàng
năm tăng bình quân 3,6%, trong khi tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng 2,8%, như
vậy thị trường rau trên thế giới chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ Trongnhững năm qua nhu cầu nhập khẩu rau bình quân trên thế giới tăng 1,8% mỗi
năm Các nước và vùng lãnh thổ có nhu cầu nhập khẩu rau cao đó là Pháp,Đức, Canada Một số nước có lượng rau xuất khẩu lớn nhất trên thế giới đó là
Trang 21Trung Quốc, Italia, Hà Lan Theo dự báo của FAO ước tính đến năm gần đâygiá xuất khẩu rau tươi tăng cao, như vậy rau tươi là một trong những mặthàng nông nghiệp xuất khẩu có giá trị, hơn nữa nhu cầu rau trên thế giới ngàymột tăng, bởi vậy rau có vị trí lớn trên thị trường thế giới.
1.2.2 Sơ lược về tình hình sản xuất sử dụng phân bón trên thế giới
Phân bón có vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.Ngay từ thời cổ đại, người Trung Quốc và Hi lạp đã biết sử dụng tro đốt và
phân chăn nuôi để bón cho cây trồng Tiêu thụ phân hóa học tăng mạnh là
một trong những nguyên nhân làm tăng giá phân bón Theo Hiệp hội phânbón thế giới, mức tiêu thụ phân bón toàn cầu đã tăng đều qua các năm và đạt155.438.000 tấn quy về dinh dưỡng nguyên chất( N +P2O5 +K2O) vào năm
2005, tăng 19,75% so với năm 1995 và 3,87% so với năm 1961 Gần đâymơcs tiêu thụ tại các nước đang phát triển tăng mạnh, trong khi các nước phát
triển lại có xu hướng giảm Trung Quốc là nước tiêu thụ nhiều phân bón nhấtthế giới với tổng lượng 46.204.100 tấn năm 2005, chiếm tỉ lệ 29,7% so vớitoàn cầu
Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử dụng phânkhoáng nhiều hơn nhiều hơn bình quân thế giới Tuy nhiên, Ấn Độ( nước cókhí hậu nóng) lại dùng phân khoáng ít hơn bình quân toàn châu Á Trong đóTrung Quốc và Nhật Bản lại sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân toànchâu Á Việt Nam là nước sử dụng nhiều phân khoáng trong số các nước ở
Đông Nam Á
Bảng 1.4: Tình hình sử dụng phân bón ở một số nước Đông Nam Á
Trang 221.3 Sơ lược về tình hình sản xuất rau và sử dụng phân bón ở Việt Nam
1.3 1 Sơ lược về tình hình phát triển rau ở Việt Nam
Việt Nam là nước đứng thứ ba thế giới về sản xuất rau sau Trung Quốc
và Ấn Độ Và trong nước rau là sản phẩm có sản lượng đứng thứ ba sau lúagạo và sắn Thu nhập từ rau đứng thứ ba sau lúa gạo và thịt
Tác giả Tạ Thu Cúc cho biết, nước ta có lịch sử trồng rau từ lâu đời,ngay từ đời vua Hùng người ta đã phát hiện thấy bầu, bí được trồng trong
vườn gia đình Theo sổ sách ghi chép rau được nhập vào nước ta từ thế kỷ X
Thế kỷ X các vùng trồng chuyên canh rau đã được hình thành và phát triển.Mặc dù nghề trồng rau ở nước ta ra đời từ rất sớm, trước cả nghề trồng lúa
nước nhưng sản xuất rau còn manh mún, các chủng loại rau còn nghèo nàn,
diện tích và sản lượng rau thấp so với tiềm năng đất đai khí đất đai, khí hậuViệt Nam
So với các loại cây trồng khác thì sản xuất rau đem lại hiệu quả kinh tếkhá cao Theo các kết quả nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước KC.06.10 NN
trong giai đoạn 2001 - 2004, mỗi ha trồng lúa nước ở đồng bằng sông Hồng
thu nhập bình quân 10,2 - 11,6 triệu đồng/ha/2 vụ, nếu trồng thêm một vụ rau
đông với thu nhập bình quân 21 triệu đồng sẽ gần gấp đôi hai vụ lúa (Trần Khắc Thi, 2003) [8].
Bảng 1.5: Tình hình sản xuất rau ở Việt Nam 2008 - 2012
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng ( tấn)
Qua bảng 1.5 cho thấy:
Theo số liệu thống kê của FAO những năm gần đây diện tích trồng raucủa ta ngày càng được mở rộng từ 690.620 ha năm 2008 lên 848.200 ha năm
2012 Diện tích tăng nhanh từ năm 2008 đến năm 2010 qua 5 năm diện tích
tăng 157.58 ha
Trang 23Theo tài liệu của tác giả Phạm Thị Thùy rau ở nước ta năng suất cònthấp và bấp bênh năm 1998 năng suất cao nhất chỉ đạt 144,8 ta/ha bằng 80%
so với mức trunhg bình của toàn thế giới (xấp xỉ 180 ta/ha) Nếu so với năm
1990 là 123,5 ta/ha thì năng suất bình quân cả nước trong 10 năm cũng chỉ
tăng 11,5 ta/ha Hà Nội,Vĩnh Phúc, Hải Phòng, TP.Hồ Chí Minh, Đà Lạt là
các tỉnh có năng suất rau cao hơn cả nhưng cũng chỉ đạt năng suất bình quân
ở mức 160 tạ/ha Năng suất trung bình thấp nhất ở các tỉnh miềm Trung, chỉ
bằng một nửa so với năng suất trung bình cả nước Số liệu thống kê của FAOnhững năm gần đây năng suất tương đối ổn định đạt 115 tạ/ha
Sản lượng rau có chiều hướng gia tăng, năm 2000 đạt hơn 6 triệu tấn
tăng 81% so với năm 1990, mức tăng sản lượng trung bình hằng năm từ
1990-2000 là xấp xỉ 260 nghìn tấn Do diện tích tăng nhanh dẫn đến sản lượng rau
ở nước ta tăng lên đáng kể từ 7.724.502 tấn, năm 2008 tăng lên 9.064.085 tấnnăm 2009, đến năm 2010 lại giảm xuống 8.975.534 tấn, năm 2012 sản lượng
rau lại tăng lên 9.439.000 tấn Sản lượng rau của nước ta được thu chủ yếu từ
2 vùng chính đó là vùng chuyên canh rau ven thành phố và vùng rau luân
canh với cây lương thực
Tuy nhiên, cùng với sự hình thành và phát triển của các thành phố, khucông nghiệp, khu dân cư thì các vùng trồng rau mới cũng được hình thành vàphát triển nhằm cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng
1.3.2 Sơ lược về tình hình sản xuất sử dụng phân bón ở Việt Nam.
Trong những năm gần đây tốc độ tiêu thụ phân bón tại Việt Nam tăngnhanh và đã đạt mức 2.063.600 tấn dinh dưỡng nguyên chất vào năm 2005,
tăng 68% so với năm 1995 và 299,39 % so với năm 1961 Năm 2006 và 2007,
mức tiêu thụ phân bón ở nước a đã tăng đáng kể so với năm 2005 rong 3
tháng đầu năm 2008, lượng phân bón chúng ta nhập khẩu đã đạt mức
1.029.000 tấn, tăng 19,9 % về lượng và 108,9% về giá so với cùng kỳ năm 2007
Việt Nam đến năm 2005 lượng phân bón trong cả nước chỉ đạt 54,59%
so với mức tiêu thụ, phần còn lại chúng ta phải nhập khẩu Hiện nay với nhiều
cố gắng ngành sản xuất phân bón trong nước đã đáp ứng hơn 70% nhu cầu về
phân lân, 8% phân đạm Năm 2006, lượng phân bón nước ta sử dụng không
phải là cao, bình quân là 250kg/ha so với các nước phát triển có nền nông
nghiệp thâm canh cao như Hàn Quốc: 467kg/ha, Nhật Bản: 403kg/ha, Trung
Quốc: 390kg/ha
Về chất lượng phân bón trên thị trường thì kết quả kiểm tra về tình hìnhsản xuất, kinh doanh phân bón của các doanh nghiệp ở 10 tỉnh thành phố của
Trang 24Cục trồng trọt trong tháng 7/2007 cho thấy: vẫn tồn tại trên thị trường nhữngloại phân chưa đăng ký vào Danh mục phân bón, phân bón không đảm bảochất lượng Có những lô hàng, khi kiểm tra có tới 54% mẫu không đạt chất
lượng đăng ký Năm 2008 tình hình phân bón kém chất lượng vẫn còn diễn
biến rất phức tạp Với tình trạng trên thị trường còn rât nhiều phân bón không
đảm bảo chất lượng như hiện nay, thì Nhà nước ta cần có nhiều biện pháp tích
cực hơn để ngăn chặn việc sản xuất các loại phân giả, chất lượng thấp làmthiệt hại đến lợi ích của người nông dân
Từ xa xưa, nhân dân ta đã khẳng định “cơm không rau như đau khôngthuốc” Đặc biệt là phụ nữ ăn nhiều rau củ có màu xanh sậm hoặc vàng làmgiảm nguy cơ bị bệnh đục nhân mắt
có thể làm hại gia súc, người, đặc biệt là trẻ em khi sử dụng cây trồng có hàm
lượng NO-3 cao Hiện nay vấn đề chất lượng rau là một vấn đề hết sức đáng longại Những năm gần đây do nhu cầu của thị trường ngày càng cao về số
lượng cũng như ngoại hình sản phẩm, về phía người nông dân lại muốn đảm
bảo hoặc tăng năng suất cây trồng nên các loại thuốc bảo vệ thưc vật, kích
thích tăng trưởng ngày cang được sử dunh rộng rãi Tuy nhiên, nhiều người
không hiểu biết gì về tác hại của chất tồn dư bảo vệ thực vật và phân bón nên
đã sử dụng bừa bãi Bên cạnh đó cũng không ít người vì mục đích lợi nhuận
đã bỏ qua những cảnh báo về sự độc hại mà lạm dụng hóa chất trong trồng
trọt Và hiện nay dư lượng nitrat trong rau đang là một vấn đề nóng hổi đang
được dư luận và xã hội hết sức quân tâm Đây là một mối nguy hại tới sức
khỏe của con người cần sớm có hướng giaỉ quyết Nitrat khi vào cơ thể sẽbiến thành nitrit Nitrit kết hợp với hồng cầu có thể tạo ra một chất ngăn cản
sư vận chuyển oxy trong cơ thể Và nitrit tích tụ lâu ngày sẽ bùng phát mạnh
mẽ thành các khối u như: ung thư dạ dày Ung thư vòm họng…Việc ngâm
nước muối chỉ diệt được các vi khuẩn gây chứng tiêu chảy , kiết lỵ…chứ
không làm mất đi các chất có độc tố cao như nitrat (Phạm Thị Thùy,2006)[28] Đun nấu kỹ cũng không làm hết nitrat
Người ta đã phát hiện rằng việc sử dụng các loại rau như spinash chứahàm lượng NO3- và NO2- cao đã gây bệnh ở trẻ em nếu sử dụng thường
các loại rau khác ( Bùi Quang Xuân,1997 )[33]
Trang 25Hiện nay, ở nước ta do người nông dân lạm dụng phân hóa học, “phânchuồng tươi”, đặc biệt là việc bón đạm quá liều và phương pháp bón ( bón lót
ít, kéo dài bón thúc tới gần thời gian thu hoạch) chưa hợp lý dẫn đến việc tíchlũy nitrat rau cao mặc dù lượng phân sử dụng ở Việt Nam không cao so vớithế giới
trong rau
-vào cơ thểngười, do vậy đã có rất nhiều tổ chức, nhiều nước, nhiều tác giả đưa rangưỡng hàm lượng NO3
trong rau
-Do tính độc của NO3
trong rau cũng như trong các loại lương thực, thực phẩm Mặt khác tính độc
-được tạo ra từ NO3
Vì vậy các tác giả đưa
-ra các ngưỡng hàm lượng rất khác nhau Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) và
trong nướcuống là dưới 50mg/lít ( Phạm Thị Thùy, 2006)[28] Đối với người lớn nặng
chỉ là 8-16mg
-cao hơn 45mg/l
sẽ bị rối loạn trao đổi chất, giảm khả năng kháng bệnh của cơ thể
-từ 800 – 1300 mg/kg sẽ
bị ngộ độc ( Phạm Thị Thùy, 2006)[28] Do vậy, các loại rau thường được sử
-không được quá 300mg/kg
Bảng 1.6: Ngưỡng giới hạn hàm lượng NO 3 - trong rau tươi của FAO, 1993
-trong rau spinash khi nấu chỉ còn 75 – 80 % ( Bùi Quang Xuân, 1997)[33]
-cao hơn
Trang 26Bảng 1.7: Ngưỡng giới hạn hàm lượng NO 3 - trong rau của CHLB Nga
-1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới liên quan tới đề tài
1.4.1 Tình hình nghiên c ứu của một số nước trên thế giới
Theo các nhà khoa học thì có đến 20 yếu tố gây tồn dư nitrat trong
nhưng nguyên nhân chủ yếu được các nhà nông học khẳng định đó là phânbón đặc biệt là phân đạm, do sử dụng không đúng: bón với liều lượng quá
cao, bón sát thời kỳ thu hoạch, bón không cân đối với lân, kali và vi lượng
Trong các loại phân bón dùng cho cây trồng thì phân đạm được sửdụng nhiều nhất và cũng là yếu tố then chốt quyết định năng suất cây trồng.Thực tế cây trồng được cung cấp đủ đạm sẽ phát triển mạnh, tổng hợp được
Trang 27nhiều chất tạo nên sinh khối và tăng sản phẩm Nhưng bón nhiều đạm trong
điều kiện quang hợp, hô hấp kém, không đủ xetoaxid để chuyển hóa N-NO3
+rồi thành axitamin, N sẽ tích luỹ trong cây ở dạng Nitrat hoặc
Cyanogen.
Hàm lượng NO3
tồn dư trong rau đã được rất nhiều nhà khoa học trênthế giới quan tâm nghiên cứu
-Theo các kết quả nghiên cứu đã cho thấy các loại giống cây trồng khác
trong cây cũng khác nhau Trong khi, các loại như
thấp thì các loại rau lại
-được coi là tích lũy NO3
cao cần được chú ý (dẫn theo Trịnh Thị Hoài [14])
-trong rau ăn lá cao hơn các loại rau ăn
cao phải kể đến: cải bắp, xàlách, cần tây
-Các nghiên cứu còn cho thấy cùng một loại rau nhưng các nhóm khác
nhau có hàm lượng NO3
trong rau khác nhau Kết luận này được rút ra từ cáckết quả nghiên cứu các nhóm cùng loài spinash, spinash nhóm lá xoăn có hàm
-thường có hàm lượng NO3
lớn hơn lá non, lá trong
-Theo E.A.Soboleva (dẫn theo Trịnh Thị Hoài [14]) nếu tăng lượng đạm
trong cà rốt từ21,7 - 40,6mg/kg và cải củ từ 236mg/kg lên đến 473mg/kg
-Theo UNEP và GNTK, 1982 nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến
hàm lượng NO3
lượng 60kgN/ha đã làm tăng hàm lượng NO3
trong củ khoai tây 4 lần so với
hàm lượng NO3
-trong rau tăng quá cao so với không bón -trong xà lách lên
Trang 283547mg/kg ~152mg/kg (không bón 318mg/kg), cải củ 2160~129mg/kg (sovới 960mg/kg không bón), dưa chuột 527~39mg/kg (không bón là153mg/kg) [14].
Các tác giả Chuphan và cs (1967), Venter và cs (dẫn theo Phan Thị Thu
trong rau cao
-hơn dạng đạm NH4 và sử dụng phân bón CaCN2 (canxixianamit) thì hàm
-trong rau ở Việt Nam
Ở Việt Nam do chạy theo năng suất và lợi nhuận, người sản xuất đã
lạm dụng phân đạm Trong khi sử dụng phân đạm theo chiều hướng gia tăngthì việc sử dụng phân lân và phân kali rất ít, phối hợp theo tỷ lệ không hợp lý
điều đó đã làm cho hàm lượng nitrat trong thương phẩm rất cao
Kết quả điều tra ở 3 huyện Thanh Trì, Gia Lâm và Đông Anh của thànhphố Hà Nội năm 2000, Đinh Văn Hùng và cs (2005) [16] cho biết: nông dân
sử dụng lượng đạm lớn và mất cân đối với phân lân và kali; đặc biệt đối với
cây rau đậu, lượng phân đạm sử dụng phổ biến ở mức 500 kg N/ha với su
hào, bắp cải là 550 kg N/ha, cà chua là 640 kg N/ha
Đặng Thu Hoà (2002) [13] khi khảo sát tình hình sử dụng phân bón cho
rau ở một số vùng chuyên canh rau của Hà nội cũng cho kết quả tương tự,
lượng phân đạm nông dân sử dụng thường gấp từ 2-3 lần so với qui trình sản
xuất rau an toàn, trong khi đó phân lân và kali sử dụng rất ít thậm chí không
trong rau ở vùng trọng
-điểm của huyện Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì cho thấy: tồn dư NO3
trong
Trang 29-rau thương phẩm ở cả 4 nhóm -rau ăn lá, ăn quả, ăn thân, ăn củ và -rau gia vịđều rất cao, vượt ngưỡng cho phép nhiều lần (từ 1,5 - 9) điển hình là các mẫu
rau nghiên cứu tại Gia Lâm và Từ Liêm tưới bằng nước sông Hồng và sôngNhuệ có chất lượng rau tương đối đảm bảo, còn khu Thịnh Liệt, Thanh Liệt,Hoàng Liệt tưới bằng nước thải sông Tô Lịch là nguồn nước thải của thànhphố đã bị ô nhiễm đều vượt xa ngưỡng cho phép của tiêu chuẩn quy định rấtnhiều lần (từ 1 - 8 lần)
Kết quả phân tích các mẫu rau thu thập từ các vùng sản xuất khác nhau
trong 3 năm (2000 - 2003) cho thấy rằng hàm lượng NO3
trong su hào, bắpcải trung bình từ 645,11-1080,81 mg/kg (lượng cho phép là 500mg/kg), hành
-tây có hàm lượng NO3
trung bình 180 - 210mg/kg (lượng cho phép là 80mg/kg) các loại rau khác có biểu hiện tương tự (Trần Khắc Thi, Trần Ngọc
-trong rau xanh được sản
xuất tự do tại Nam Hồng - Đông Anh và một số điểm khác (Nguyễn Văn Hiền
-vượtngưỡng 4,4 lần, cải ngọt vượt ngưỡng 6,2 lần Dưa chuột là mẫu có chứa hàmlượng NO3
-thấp nhất 62-82mg/kg
Theo thống kê của Sở Khoa học - Công nghệ Hà Nội vào các năm
2003, 2004 tại nhiều chợ nội thành Hà Nội và một số cơ sở sản xuất cho thấy
trong bắp cải, su hào, hành tây, súp lơ, cải củ, đậu ăn quả, ớtngọt, cà chua, xà lách, dưa chuột đều vượt mức cho phép
-Kết quả kiểm tra thực hiện các quy định về quản lý và chứng nhận rau
an toàn tại Hà Nội của Cục bảo vệ thực vật trong tháng 10/2007 cho thấy raucải xanh và cải ngọt là hai loại rau có dư lượng nitrat vượt mức khá cao: raucải xanh 559,59mg/kg, rau cải ngọt 655,92mg/kg (dư lượng nitrat cho phép là
dưới 500mg/kg)
Tại Thái Nguyên, nghiên cứu của Phan Thị Thu Hằng (2008) [10] về
hàm lượng NO3
trong rau thì thu được kết quả là: Trong 6 loại rau trồng phổ
Trang 30-biến ngoài sản xuất thì hàm lượng NO3
-đều rất cao, chỉ có khoảng 10% số
mẫu được kiếm tra có hàm lượng đạt TCCP, cụ thể :
+ Trong 7 mẫu bắp cải được phân tích chỉ có 1 mẫu ở Túc Duyên đạtTCCP là 450,6mg/kg còn lại đều gấp từ 2 - 8 lần TCCP
+ Đậu cô ve: 90% mẫu kiểm tra đều có tồn dư NO3
gấp 2,8 - 11 lần TCCP
của gấp 2 - 2,5 lần
-Nguyên nhân làm cho lượng nitrat tích lũy trong rau như: giống, phân
bón, nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, phương pháp thu hoạch, thời gian thu hoạch,
phương pháp bảo quản Trong đó, nguyên nhân chủ yếu được nhiều nhà khoa
học nhận định là phân bón nhưng mỗi loại phân khác nhau cũng gây nên sựtích lũy nitrat khác nhau trong mỗi loại cây Phân nitrat làm tích trữ nitrattrong rau nhiều hơn phân amon Qua những thí nghiệm cho thấy khi lượng
phân đạm bón tăng làm nitrat tích lũy cũng tăng theo Ở các bộ phận khác
nhau của cây cũng tích lũy nitrat khác nhau: ở gốc, thân cây và cuống lá
thường tập trung nitrat nhiều hơn Cường độ nhiệt độ và ánh sáng thích hợp
cho khả năng biến đổi N cung cấp cho cây sinh trưởng và phát triển sẽ làmgiảm bớt sự tích lũy nitrat trong rau
-trong rau
Tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của lượng đạm bón đối với sự tích luỹnitrat trong rau cải bẹ xanh trên nền đất xám tại thành phố Hồ Chí Minh,Phạm Minh Tâm (2001) [22] cho thấy năng suất cải bẹ xanh tăng dần khi tăng
lượng đạm bón, cao nhất ở mức bón 150 kg N/ha, tuy vậy thì hàm lượng NO3
/kg
-rau tươi ở mức 0 kg N/ha lên 524,9 mg NO3
/kg ở mức 180 kg N/ha
-Và cũng tại thành phố Hồ Chí Minh, kết quả nghiên cứu của Bùi CáchTuyến [31] cho thấy dư lượng nitrate trên các loại rau phổ biến ở các mứcphân bón khác nhau: Đối với cây cải bông, cây bắp cải khi bón <400 N/ha
hàm lượng nitrate tồn dư dưới ngưỡng cho phép Đối với cây dưa leo lượng
Trang 31phân đạm nguyên chất được sử dụng biến đổi từ 100 - 300N/ha và hàm lượngnitrat trong dưa chuột đều dưới ngưỡng cho phép
Theo Tạ Thu Cúc (1996) [1] khi bón phân đạm vào đã làm tăng tồn dư
/kg ở hành tây
-Kết quả nghiên cứu của Đặng Thu Hoà (2002) [13] trên đất phù saSông Hồng cũng cho kết quả tương tự, tăng lượng đạm bón làm tăng sự tíchluỹ nitrat trong rau, với rau muống tăng mức đạm bón từ 120 kg N/ha lên 180
-trong rau tăng lên thêm 250 mg/kg rau
Trịnh Thị Hoài (2008) [14] khi nghiên cứu về mức đạm bón trên cây
đậu đũa tại Thái Nguyên cho thấy: Với mức bón đạm 100kgN/ha thì đậu đũasinh trưởng, phát triển mạnh và cho năng suất cao (30,95 tấn/ha) Mức bónđạm từ 0 - 100kgN/ha có chỉ số NO3
dưới ngưỡng cho phép (131
-(201,5 mg/kg) vượt quángưỡng cho phép (150mg/kg)
Thí nghiệm của Nguyễn Hồng Hạnh (2008) [9] đối với cây dưa chuột
thu được kết quả là: Khi mức bón đạm tăng trong khoảng 0 - 120 kgN/ha, sựsinh trưởng và năng suất dưa chuột tăng lên Hàm lượng NO3
-tăng từ 101 mg/kglên đến 149 mg/kg (ngưỡng NO3
-cho phép đối với dưa chuột là 150 mg/kg)
* Thời gian bón thúc đạm lần cuối với mức độ tích luỹ NO 3
-trong rau xanh.
Ngoài việc sử dụng một lượng lớn phân đạm thì thời gian kết thúc bón
đạm trước thu hoạch cũng là một hiện tượng rất phổ biến ở tất cả các vùng
trồng rau trong cả nước Nông dân thường thu hoạch rau chỉ sau khi bón đạm
3 - 7 ngày (Tạ Thu Cúc, 1996 [1]),(Trần Vũ Hải, 1998 [8]), (Đặng Thu Hòa,
2002 [13]), (Phạm Minh Tâm, 2001 [22]) Người sản xuất hầu như không
quan tâm đến tồn dư nitrat trong rau mà thời gian thu hoạch do thị trường
quyết định, đặc biệt vào mùa khan hiếm rau
trong rau
Trang 32-liên quan chặt chẽ tới sự cung cấp đạm và quá trình quang hợp trước lúc thuhoạch Nếu có đủ thời gian và điều kiện để cây quang hợp mạnh tạo ra glucid
-đạt cao nhất sau khi bón thúc đạm lần cuối từ 3 - 10 ngày
Nghiên cứu về vấn đề này, Nguyễn Văn Hiền và cs (1994) [12] đã kếtluận: Hàm lượng nitrat ở cải bắp đạt cao nhất vào ngày thứ 7 kể từ khi bónthúc lần cuối ở tất cả các liều lượng đạm khác nhau và chỉ thu hoạch sau 14ngày thì hàm lượng nitrat trong cải bắp mới giảm hẳn dưới ngưỡng an toàn
Theo Lê Văn Tán và cs (1998) [21] tồn dư nitrat trong rau thương
phẩm còn phụ thuộc vào khả năng tích luỹ của từng loại rau Tồn dư nitrat
trong rau ăn lá và rau ăn quả cao nhất trong khoảng thời gian từ 10 - 15 ngày
từ lúc bón lần cuối đến khi thu hoạch, đối với rau ăn củ là khoảng 20 ngày.Thời gian bón thúc sau cùng càng xa ngày thu hoạch thì lượng nitrat trongrau càng giảm
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian bón thúc đạm lần cuối đối vớimột số loại rau trồng phổ biến tại Tỉnh Lâm Đồng, tác giả Bùi Cách Tuyến(1998) [31] cho biết:
+ Đối với xà lách: tồn dư nitrat đạt cao nhất khoảng 21 ngày khi ngừng
-/kg rau tươi) sau đó giảm dần theo thời gian và đến 25
-/kg rau tươi)+ Đối với đậu Hà lan, đậu côve: tồn dư nitrat đạt cao nhất vào thời điểm 7
ngày sau bón thúc lần cuối và được giảm dần ở các ngày sau đó, nhưng nếu bón
đạm ở mức cao (>300 kg N/ha) thì sau 10 ngày tồn dư nitrat mới giảm tới mức
cho phép
+ Đối với cà rốt: tồn dư nitrat được tích luỹ cao nhất ở thời điểm 20
Trang 33ngày sau khi ngừng bón N và sẽ giảm dần ở các ngày tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Xuân (1998) [34] cũng cho thấy
hàm lượng nitrat trong cải bắp thực sự giảm sau 16 - 20 ngày bón N lần cuối,
nếu hoà phân đạm vào nước tưới thì thời gian bón thúc lần cuối rút ngắn hơn
từ 2 - 4 ngày
Phạm Minh Tâm (2001) [22] khi nghiên cứu trên rau cải xanh tại thànhphố Hồ Chí Minh cũng cho kết quả: với mức bón 90 kg N/ha thì hàm lượngnitrat trong cải bẹ xanh đạt cực đại ở 16 ngày sau bón thúc đạm lần cuối vàgiảm mạnh ở các ngày tiếp theo
Kết quả nghiên cứu trong thí nghiệm chậu vại trên nền đất phù sa SôngHồng tại Hà Nội, Đặng Thu Hoà (2002) [13] cho biết: Đối với rau muống ở mứcbón 120 - 210 kg N/ha thì hàm lượng nitrat trong rau muống đạt cao nhất trongkhoảng 7 - 10 ngày sau bón thúc đạm lần cuối giảm dần ở những ngày tiếp theo,với xà lách và dưa chuột hàm lượng nitrat đạt cao nhất ở ngày thứ 3 – 5
1.5 Cơ sở thực tiễn
Tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh, người nông dân không còn mặn mà vớicác loại cây trồng, vật nuôi truyền thống vì giá trị kinh tế thấp Do vậy T.P nôngnghiệp của Thành phố liên tục sụt giảm do tốc độ đô thị hoá (bình quân Thái
Nguyên (Thái Nguyên) đang có những đầu tư tổng thể cho nông nghiệp, nông thôn,hướng tới một nền nông nghiệp đô thị phát triển, nâng cao đời sống của bà con
nông dân vùng ven trước tình hình diện tích đất mỗi năm khoảng 170ha), người
nông dân đã chuyển dần một phần diện tích đất cấy lúa sang trồng các loại cây
trồng khác có giá trị kinh tế cao hơn
Thành phố Thái Nguyên hiện có 750 ha rau các loại với sản lượng14.500 tấn/năm Thành phố đã hình thành một số vùng sản xuất rau mang tínhchuyên canh như Túc Duyên, Cam Giá, Gia Sàng, Quang Vinh Tuy nhiênrau chủ yếu được sản xuất theo cách truyền thống, chưa có sự đầu tư lớn chosản xuất rau chất lượng cao Đặc biệt, nhiều hộ trồng rau còn chạy theo lợi
Trang 34nhuận, thường sử dụng nhiều biện pháp kích thích cho rau sinh trưởng nhanh,
không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm như: phân bón hoá học, thuốc bảo
vệ thực vật, nguồn nước tưới bị ô nhiễm
Bên cạnh đó, Thành phố chưa có vùng sản xuất rau sạch tập trung nênmột lượng lớn rau sạch phải nhập từ các địa phương lân cận Theo kết quả điềutra, nhu cầu tiêu thụ rau an toàn tại TP Thái Nguyên ngày càng cao, khoảng 25tấn rau các loại/ngày nhưng trên thực tế, nghề trồng rau của thành phố vẫn chưa
đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ cả về số lượng lẫn chất lượng
Trang 35Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 V ật liệu nghiên cứu
- Giống tham gia thí nghiệm: Đậu trạch
- Vật liệu thí nghiệm: Phân đạm Urê
Phân kalicloruaPhân lân supephotphatPhân hữu cơ (phân chuồng hoai mục)
2 1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên – tỉnhThái Nguyên
Thời gian nghiên cứu: Từ 5/2013 đến 10/2014
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng vàphát triển của đậu trạch
- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân lân đến sinh trưởng và phát
triển của đậu trạch
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và dư lượng
-) trong đậu trạch
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, mỗi
* Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của lượng phân hữu cơ đến sinh trưởng và
phát triển của đậu trạch
Thí nghiệm với 6 công thức, 3 lần nhắc lại (18 ô thí nghiệm) Thời gian
bố trí thí nghiệm vào ngày 06/10/2013
Trang 36Các công thức thí nghiệm: (Bố trí trên nền: 60kg P2O5 + 100kg N +
CT1(đ/c): 0 tấn phân hữu cơ/ha
CT2: 5 tấn phân hữu cơ/ha
CT3: 10 tấn phân hữu cơ/ha
CT4: 15 tấn phân hữu cơ/ha
CT5: 20 tấn phân hữu cơ/ha
CT6: 25 tấn phân hữu cơ/ha
* Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của lượng phân lân đến sinh trưởng và
phát triển của đậu trạch
Thí nghiệm với 5 công thức, 3 lần nhắc lại (15 ô thí nghiệm) Thời gian
bố trí thí nghiệm vào ngày 06/10/2013
Các công thức thí nghiệm: (Bố trí trên nền: 20 tấn phân hữu cơ +
Trang 37Dải bảo vệ
* Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và dư
lượng nitrat (NO3
) trong đậu trạchThí nghiệm với 5 công thức, 3 lần nhắc lại (15 ô thí nghiệm) Thời gian
-bố trí thí nghiệm vào ngày 26/01/2014
Các công thức thí nghiệm: (Bố trí trên nền: 20 tấn phân hữu cơ + 60kg
Dải bảo vệ
Trang 382.4 Chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi
2.4.1 Các ch ỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển
- Thời gian mọc (ngày): Tính từ khi gieo đến khi có khoảng 50% sốcây/ô thí nghiệm có 2 lá mầm xoè ngang trên mặt đất
- Thời gian ra lá thật (ngày): Tính từ khi gieo đến khi có khoảng 50%
- Động thái ra lá (lá): Đếm các lá/thân chính, tính lá có chiều dài >2cm
2.4 2 Đánh giá tình hình sâu bệnh hại ở các công thức
Điều tra sâu, bệnh hại theo phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồngđược thực hiện theo qui chuẩn kỹ thuật Quốc gia: QCVN01 - 38: 2010 /BNN
&PTNT
+ Bệnh phấn trắng (điểm)
Phương pháp điều tra: Điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 5 cây,
không lặp lại diện tích lần trước đã điều tra Đếm tất cả số cây bị bệnh ở các
điểm điều tra, sau đó tính tỉ lệ hại
Tổng số cây theo dõi
Điểm 1 Không thấy bệnh (0%)
Trang 39Điểm 3 Thấy ít (<25% cây bị bệnh)Điểm 5 Trung bình (25 - 50% cây bị bệnh)Điểm 7 Nhiều (>50 - 75% cây bị bệnh)Điểm 9 Rất nhiều (>75% cây bị bệnh)
+ Giòi đục lá (điểm): Đếm tất cả số lá bị sâu hại/ô sau đó tính theo
thang điểm
Điểm 1 Không thấy sâu hại (0%)Điểm 3 Thấy ít (<25% cây bị sâu)Điểm 5 Trung bình (25 - 50% cây bị sâu)Điểm 7 Nhiều (>50 - 75% cây bị sâu)Điểm 9 Rất nhiều (>75% cây bị sâu)
2.4.3 Các ch ỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
+ Khối lượng quả/cây: cân số quả từng cây theo 5 cây theo dõi (g)/ôthí nghiệm
+ Năng suất lý thuyết (NSLT):
NSLT (tấn/ha) = Khối lượng quả/cây x mật độ cây/ha
+ Năng suất thực thu (NSTT):
Cân toàn bộ khối lượng quả trên/ô/các đợt thu sau đó quy ra cho diện tích
1ha - 20%
2.4.4 Các ch ỉ tiêu chất lượng quả
- Chiều dài quả (cm): Đo khoảng cách giữa 2 đầu của quả ở 5 cây mẫu,lấy số liệu trung bình Thu hoạch lứa quả thứ 3
- Đường kính quả (cm): Đo ở phần đường kính to nhất của quả ở 5 câymẫu, lấy số liệu trung bình Thu hoạch lứa quả thứ 3
2 4.5 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế = tổng thu - tổng chi
- Tổng thu = Năng suất thương phẩm x giá đậu trạch (tại thời điểm thu hoạch)
- Tổng chi = Công lao động + giống + dinh dưỡng + thuốc BVTV+chi khác
Trang 402.5 Phương pháp xử lý số liệu
Xác định hàm lượng NO3
trong rau bằng phương pháp điện cực ion chọn lọc
-2.5 2 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu được xử lý bằng chương trình IRRISTAT trên máy vi tính và
phương pháp số học thông thường
- Đồ thị, biểu đồ được vẽ bằng chương trình Excel