1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên

80 396 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 670,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn:“Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động sản xuất rau tới môi trường đất, nước và s ức khoẻ người sản xuất tại khu vực chuy

Trang 1

-NGUYỄN THỊ THUỶ

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT RAU TỚI MÔI TRƯỜNG ĐẤT, NƯỚC VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI SẢN XUẤT TẠI KHU VỰC CHUYÊN CANH RAU CỦA THÀNH

PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN”

Chuyên ngành : Khoa học Môi trường

Mã số ngành: 60.44.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thế Đặng

Thái Nguyên - 2014

Trang 2

Thái Nguyên tôi đã được các thầy, cô giáo truyền đạt những kiến thức cơ bản nhất

để có thể đem những kiến thức đã được học ở trường góp một phần công sức củamình vào xây dựng đất nước

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Trường Đại họcNông Lâm, phòng QLĐT Sau Đại Học và dưới sự hướng dẫn tận tình của GS.TS>Nguyễn Thế Đặng đã cho phép, tạo điều kiện, hướng dẫn tôi thực hiện và hoànthành bản khóa luận này

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học NôngLâm, Đại học Thái Nguyên, phòng QLĐT Sau Đại Học và GS.TS Nguyễn ThếĐặng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên khuyến khích và giúp đỡ tôi trongquá trình học tập cũng như hoàn thành bản khóa luận

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo các cơ quan phối hợp: Trung tâm Quan trắcThái Nguyên, Phòng Kinh tế Thành phố Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân Thành phốThái Nguyên đã phối hợp thực hiện, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện đề tài.Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luônđộng viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận văn này

Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quí thầy cô và các bạnhọc viên để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành c ảm ơn!

Thái Nguyên, ngày… tháng… năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Thủy

Trang 3

Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động sản xuất rau tới môi trường đất, nước

và s ức khoẻ người sản xuất tại khu vực chuyên canh rau của Thành phố Thái

Nguyên, T ỉnh Thái Nguyên” đều được thu thập, điều tra, khảo sát thực tế một

cách trung thực, đánh giá đúng thực trạng của địa phương nơi nghiên cứu và chưatừng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ về việc thực hiện luận văn này đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 10 tháng10 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Thị Thủy

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên Thế giới và Việt Nam 5

1.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới 5

1.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam 7

1.2 Vị trí và tầm quan trọng của rau 10

1.2.1 Giá trị dinh dưỡng của rau xanh 11

1.2.2 Giá trị kinh tế 13

1.3 Rau an toàn và các vấn đề an toàn thực phẩm 14

1.3.1 Khái niệm rau an toàn 14

1.3.2 Ảnh hưởng của rau không an toàn đến sức khoẻ con người 14

1.3.3 Hàm lượng kim loại nặng trong rau và ảnh hưởng của chúng 18

1.4 Các yếu tố gây nhiễm trong sản xuất rau 20

1.4.1 Ô nhiễm môi trường đất 20

1.4.1.1 Ô nhiễm đất do sự tích luỹ kim loại nặng từ khu công nghiệp 20

1.4.1.2 Ô nhiễm kim loại nặng trong đất do sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật 22

1.4.1.3 Ô nhiễm kim loại nặng trong đất do sử dụng nước tưới bị ô nhiễm 23

1.4.2 Ô nhiễm môi trường nước 24

1.4.2.1 Ô nhiễm môi trường nước do tích luỹ kim loại nặng 25

1.4.2.2 Ô nhiễm môi trường nước do sử dụng phân bón 25

1.4.2.3 Ô nhiễm nguồn nước do sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật 26

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu 28

2.2 Nội dung nghiên cứu 28

Trang 5

2.2.2 Đánh giá thực trạng sản xuất rau tại Thành phố Thái Nguyên 28

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác rau đến môi trường đất, nước tại các khu vực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên .28

2.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác rau đến sức khoẻ của người dân sản xuất rau tại khu vực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên 28

2.2.5 Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau và đảm bảo sức khoẻ của người sản xuất tại Thành phố Thái Nguyên 28

2.3 Phương pháp nghiên cứu 28

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 28

2.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa 29

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu trong điều tra 29

2.3.4 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 30

2.3.5 Phương pháp xử lý mẫu 30

Chương 3 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình sản xuất rau xanh của thành phố Thái Nguyên 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

3.1.1.1 Vị trí địa lý 31

3.1.1.2 Khí hậu, thuỷ văn 32

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 33

3.1.2.1 Điều kiện kinh tế 33

3.1.2.1 Về lĩnh vực văn hoá - xã hội 38

3.2 Tình hình sản xuất rau của thành phố Thái Nguyên 41

3.2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng rau qua các năm 41

3.2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng rau theo đơn vị hành chính 42

3.2.3 Cơ cấu mùa vụ trong sản xuất rau 44

3.2.4 Tình hình sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật cho rau 45

Trang 6

3.3.1 Môi trường đất trồng rau tại Thành phố Thái Nguyên 49

3.3.1.1 Môi trường đất trồng rau tại Túc Duyên 50

3.3.1.2 Môi trường đất trồng rau tại Đồng Bẩm 51

3.3.2 Môi trường nước tại Thành phố Thái Nguyên 52

3.3.2.1 Môi trường nước ngầm tại Thành phố Thái Nguyên 52

3.3.2.2 Môi trường nước mặt tại Thành Phố Thái Nguyên 53

3.3.2.3 Hiện trạng sử dụng nước trong sinh hoạt của các hộ gia đình tại khu vực chuyên canh rau của Thành Phố Thái Nguyên 55

3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác rau đến sức khoẻ của người dân sản xuất rau tại khu vực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên 56

3.4.1 Đánh giá sức khoẻ của người dân sản xuất rau tại Thành phố Thái Nguyên 56

3.4.2 Hiểu biết của người dân địa phương về sản xuất rau an toàn 58

3.4.3 Chương trình tập huấn về sản xuất rau an toàn tại địa phương 59

3.5 Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau và đảm bảo sức khoẻ của người sản xuất tại Thành phố Thái Nguyên 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62

1 Kết luận 62

2 Đề nghị 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC

Trang 7

Ủy ban nhân dânNông nghiệp và phát triển nông thônSXKD : Sản xuất kinh doanh

GDP : Tổng sản phẩm

KLN : Kim loại nặng

PTNT : Phát triển nông thôn

QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

RAT : Rau an toàn

TP : Thành phố

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TCCP : Tiêu chuẩn cho phép

TCQĐ : Tiêu chuẩn quy định

TN&MT

USDA

::

Tài nguyên và môi trường

Bộ nông nghiệp Hoa KỳVSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm

WHO : Tổ chức y tế thế giới

FAO : Tổ chức Lương thực và

Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

Trang 8

Bảng 1.1: Hàm lượng kim loại nặng trong một số nguồn sản xuất nông nghiệp 23

Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lượng rau của thành phố Thái Nguyên qua các năm 41

Bảng 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng rau năm 2013 của Thành phố Thái Nguyên theo các đơn vị hành chính 42

Bảng 3.3: Tình hình sử dụng phân bón cho rau tại Thành phố Thái Nguyên 46

Bảng 3.4: Tình hình sử dụng hóa chất BVTV cho rau tại thành phố Thái Nguyên 48

Bảng 3.5: Môi trường đất trồng rau tại Túc Duyên 50

Bảng 3.6: Môi trường đất trồng rau tại Đồng Bẩm 51

Bảng 3.7: Kết quả phân tích mẫu nước ngầm tại Thành phố Thái Nguyên 52

Bảng 3.8: Môi trường nước mặt tại Túc Duyên 53

Bảng 3.9: Môi trường nước mặt tại Đồng Bẩm 54

Bảng 3.10: Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt của các hộ gia đình 55

Bảng 3.11: Sức khỏe người sản xuất rau tại Thành Phố Thái Nguyên 56

Bảng 3.12: Đánh giá của người dân về hoạt động sản xuất rau ảnh hưởng đến sức khỏe 57

Bảng 3.13: Nhận thức của người dân về rau an toàn 58

Bảng 3.14: Chương trình tập huấn về sản xuất rau an toàn cho người nông dân 59

Trang 9

Hình 3.1: Bản đồ hành chính TP.Thái Nguyên 31

Hình 3.2: Môi trường đất trồng rau tại Túc Duyên 50

Hình 3.3: Môi trường đất trồng rau tại Đồng Bẩm 51

Hình 3.4: Chỉ tiêu Coliform trong mẫu nước mặt tại Túc Duyên và Đồng Bẩm 54

Hình 3.5: Hiện trạng sử dụng nước trong sinh hoạt của các hộ gia đình tại Túc Duyên 55

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay sự gia tăng về dân số thế giới cũng như Việt Nam, kéo theo nhucầu gia tăng về lương thực thực phẩm, cụ thể là cung cấp trong các bữa ăn hàngngày, rau là thực phẩm không thể thiếu, là nguồn thức ăn bổ dưỡng nuôi sống conngười, cung cấp một lượng lớn sinh tố A, B, C, …, còn cung cấp một phần cácnguyên tố vi, đa lượng, rất cần thiết trong cấu tạo tế bào, rau còn là nguồn dược liệuquý bảo vệ sức khỏe con người Trước nhu cầu của người tiêu dùng tăng cao ngườilàm nông nghiệp đẩy mạnh nâng cao năng suất nhưng chưa chú trọng đến chấtlượng, độ an toàn của thực phẩm, và việc sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật đã làmgiảm chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, ngoài ra các sản phẩm nông nghiệp còn

bị ảnh hưởng bởi các nguồn chất thái của các nhà máy xí nghiệp, khu công nghiệp

và nước thải đô thị, đặc biệt là ở các thành phố lớn

Thái Nguyên là một trung tâm công nghiệp ở khu vực phía Bắc ViệtNam Ở đây tập trung các nhà máy xí nghiệp lớn nhỏ của đất nước Với mật độdân số đông, đây là một thị trường quan trọng để tiêu thụ các sản phẩm nôngnghiệp Từ nhiều năm nay Thành phố đã hình thành vành đai sản xuất thựcphẩm trong đó cây rau được coi là sản phẩm quan trọng nhất Cùng với sự tăngtrưởng nông nghiệp nói chung, sản xuất rau Thái Nguyên đã đáp ứng được nhucầu về số lượng, khắc phục dần tình trạng giáp vụ, nhiều chủng loại rau chấtlượng cao đã được bổ sung trong bữa ăn hàng ngày của người dân Hiện nay,sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu lớn trên cáclĩnh vực, trong đó sản xuất rau có bước tăng trưởng không ngừng cả về diệntích, chủng loại và sản lượng cung cấp trên thị trường Riêng năm 2010, toàntỉnh đã trồng được 8.925 ha rau các loại, tăng gần 1.900 ha so với năm 2005.Các loại rau được đưa vào trồng chủ yếu là su hào, cải các loại, bí xanh, súp lơ,rau thơm, rau muống, dưa chuột, cà chua… Năng suất rau đạt 156,3 tạ/ha/năm,sản lượng đạt gần 140 nghìn tấn, tăng hơn 50 nghìn tấn so với 5 năm trước Với

Trang 11

sản lượng ngày càng tăng như hiện nay, thu nhập từ rau đã góp phần nâng caođời sống cho nhiều hộ nông dân Sở Nông nghiệp và PTNT đã xây dựng Đề ánPhát triển rau an toàn (RAT) giai đoạn 2008 - 2015 và TP Thái Nguyên, địabàn tiêu thụ rau xanh chủ yếu của tỉnh đã xây dựng đề án về phát triển sản xuất

và tiêu thụ RAT Theo đó, thành phố hỗ trợ người trồng rau 40% chi phí banđầu để trồng RAT Bên cạnh đó, khu vực vệ tinh thuộc các huyện: Đồng Hỷ,Phú Bình, Phổ Yên cũng hình thành những nơi trồng và cung cấp RAT cho TP.Thái Nguyên Tuy nhiên để tăng năng suất cây trồng, người dân sử dụng thuốcbảo vệ thực vật và phân bón hoá học, chất kích thích sinh trưởng ngày càngnhiều, gây ô nhiễm vùng canh tác làm cho rau bị nhiễm bẩn, gây ảnh hưởngđến sức khỏe của người dùng

Thái Nguyên còn là nơi tập trung nhiều nhà máy xí nghiệp lớn, như Nhà máygang thép Thái Nguyên, Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ, Nhà máy nhiệt điện CaoNgạn …., vì vậy lượng chất thải đổ ra môi trường từ các nhà máy là rất lớn Có thểnói môi trường đất, nước mặt ở thành phố Thái Nguyên đã và đang bị ô nhiễm nặng

nề bởi các hoá chất độc hại từ các nguồn thải công nghiệp, nông nghiệp và phế thải

đô thị… Xu hướng ô nhiễm có chiều hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng,diện tích nếu không có biện pháp xử lý triệt để và đó là một trong những nguyênnhân thu hẹp dần vùng trồng rau sạch của thành phố

Chính vì vậy, việc đánh giá hiện trạng môi trường sản xuất, xác định nguyênnhân gây ô nhiễm đất, nguồn nước để định hướng cho phát triển vùng rau an toàncủa Thành phố Thái Nguyên là một việc hết sức quan trọng và cần thiết để góp phầnđưa ngành sản xuất rau của Thái Nguyên nói riêng và cả nước nói chung tiến đếnmột nền nông nghiệp sạch bền vững

Từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động sản xuất rau tới môi trường đất, nước và sức khoẻ người sản xuất tại khu vực chuyên canh rau của Thành phố

Thái Nguyên, T ỉnh Thái Nguyên”.

Trang 12

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá thực trạng sản xuất rau tại Thành phố Thái Nguyên

- Nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác rau đến môi trường đất, nước tại các khuvực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên

- Nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác rau đến sức khoẻ của người dân sản xuấtrau tại khu vực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên

- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau và đảm bảo sức khoẻ củangười sản xuất tại Thành phố Thái Nguyên

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý ngh ĩa khoa học

- Đóng góp về mặt lý luận cho việc giải thích các mối tương quan giữa hàmlượng các kim loại nặng trong đất, trong nước và những ảnh hưởng đến sức khoẻngười sản xuất rau

- Đối với các sinh viên và các nhà nghiên cứu nghiên cứu này sẽ phục vụ như

là tài liệu tham khảo để nghiên cứu thêm về hàm lượng kim loại nặng trong đấttrồng, nước tưới trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và là cơ sở để nghiên cứu hàmlượng kim loại nặng trong đất, nước của các vùng trên cả nước nói chung

Trang 13

- Kết quả của nghiên cứu này sẽ được giúp đỡ rất nhiều cho nông dân và cơquan chức năng trong việc tạo ra hiệu quả hơn để lập kế hoạch theo định hướng sảnxuất rau an toàn.

- Đề xuất một số giải pháp tổ chức sản xuất rau an toàn

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên Thế giới và Việt Nam

Rau xanh nằm trong nhóm những thực phẩm giàu dinh dưỡng, mang lạinhiều lợi ích cho sức khỏe.Rau chứa hàng trăm các chất dinh dưỡng khác nhau,trong đó có nhiều dưỡng chất thiết yếu cho hoạt động bình thường của cơ thể Ănnhiều rau quả sẽ giúp hạn chế tới mức thấp nhất nguy cơ mắc bệnh tim mạch Ngoài

ra chúng còn bảo vệ khỏi các căn bệnh ung thư, đường ruột, chống lại bệnh đụcthuỷ tinh thế, và suy giảm thị lực Cây Rau là một trong những loại cây trồng manglại giá trị kinh tế cao cho người dân ở nhiều vùng trên cả nước, một số loại Rau cógiá trị cao như Dưa hấu, cà chua…là loại cây trồng làm giàu cho người dân ở nhiềunơi với thời gian sinh trưởng ngắn, hiệu quả kinh tế cao Vì vậy rau được coi là loạicây trồng chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều quốc gia

1.1.1 Tình hình s ản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới

Hiện này, cùng với sự gia tăng dân số, nhu câu cung cấp lương thực thựcphẩm cho loài người cũng ngày càng gia tăng mạnh mẽ Tuy nhiên cùng với việcphát triển kinh tế cũng đã kéo théo hàng loạt những vấn đề môi trường Do sựphát triển mạnh mẽ của đô thị và công nghiệp cũng như sự gia tăng lượng phânhóa học và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp đã gây ô nhiễm môi trường

và ảnh hưởng đến sức khỏe con người Trong những năm gần đây các tổ chứcquốc tế như tổ chức Nông lương (FAO), tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các tổchức khác về vấn đề môi trường đã đưa ra các khuyến cáo, hạn chế việc sử dụnghóa chất nhân tạo vào nông nghiệp, xây dựng các quy trình sản xuất theo côngnghệ sạch, công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo(Nguyễn Xuân Thành, 1997) [21] Tổ chức Y tế thế giới đã ước tính rằng mỗinăm có 3% nhân lực lao động nông nghiệp ở các nước đang phát triển bị nhiễmđộc thuốc bảo vệ thực vật Trong thập kỷ 90 của thể kỷ XX ở Châu phi hàng năm

có khoảng 11 triệu trường hợp bị ngộ độc Ở Malaixia 7% nông dân bị ngộ độc

Trang 15

hàng năm, 15% người bị ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật ít nhất một lần trong đời(Hồ Thị Lam Trà, 2005)[24] Chính vì vậy, từ quy trình công nghệ sản xuất rautruyền thống, các nước này đã cải tiến ứng dụng công nghệ sản xuất rau an toànngày càng phổ biến rộng rãi trên thế giới.

Ở các nước phát triển công nghệ sản xuất rau được hoàn thiện ở trình độ cao.Sản xuất rau an toàn trong nhà kính, nhà lưới, trong dung dịch đã trở nên quenthuộc Ở Đức có hàng ngàn của hàng bán rau “xanh sinh thái” và “trái cây sinh thái”

để phục vụ nhu cầu rau quả cho người tiêu dùng Vì vậy rau an toàn là nhu cầukhông thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày của các nước này Những năm gần đâymột số nước như Singapore, Thái Lan cũng đã phát triển mạnh công nghệ sản xuấtrau an toàn để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu

Diện tích đất trồng rau trên thế giới hiện đang tăng nhanh, cao hơn tốc

độ tăng diện tích đất trồng các giống cây khác Nguyên nhân là do người nôngdân chuyển một phần lớn diện tích trồng ngũ cốc và cây lấy sợi sang trồng rau

Điển hình như ở Trung Quốc, diện tích đất trồng rau tăng rất ấn tượng, ngangvới tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này, đạt mức trung bình 6%/năm trong suốt

20 năm qua Trong khi đó, các nước đang phát triển ở châu Á và một số quốc giaphát triển khác có tốc độ tăng chậm hơn, đạt mức 3%/năm Tính chung trên toàn thếgiới, diện tích đất trồng rau hiện đang tăng 2,8%/năm

Theo số liệu thống kê của FAO (2001), sản lượng rau xanh trên thế giới liêntục tăng nhanh trong những thập niên vừa qua, từ 375 triệu tấn rau năm 1980 lên

441 triệu tấn năm 1990 và 602 triệu tấn năm 2000 Lượng tiêu thụ bình quần năm

1990 là 65 kg/người và năm 2000 là 78 kg/người Riêng Châu Á, sản lượng hàngnăm đạt khoảng 400 triệu tấn với mức tăng trưởng 3% mỗi năm Trong số các nướcđang phát triển thì Trung Quốc có sản lượng rau cao nhất với 70 triệu tấn/năm, Ấn

Độ đứng thức hai với sản lượng rau sản xuất hàng năm là 65 triệu tấn

Hiện nay nhu cầu tiêu thụ rau sẽ tăng mạnh, đặc biệt là các loại rau ăn lá.Theo Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), nhu cầu tiêu thụ rau diếp và các loại rauxanh khác sẽ tăng khoảng 22-23%, trong khi tiêu thụ khoai tây và các loại rau củ

Trang 16

khác sẽ chỉ tăng khoảng 7-8% Giá rau tươi vẫn tiếp tục tăng cùng với tốc độ tăngnhu cầu tiêu thụ Nhu cầu nhập khẩu rau dự báo sẽ tăng khoảng 1,8%/năm trong đócác nước EU như Anh, Pháp, Đức, Hà Lan…là những nước nhập khẩu rau chủ yếu.

Nhu cầu về quả nhiệt đới sẽ tăng nhanh với tốc độ tăng trưởng 8% Nhậpkhẩu toàn cầu đạt 4,3 triệu tấn năm 2010, trong đó 87% (3,8 triệu tấn) được nhậpkhẩu bởi các nước phát triển Hai khu vực EU và Hoa Kỳ chiếm 70% tổng nhậpkhẩu quả nhiệt đới toàn cầu EU vẫn là khu vực nhập khẩu quả nhiệt đới lớn nhấtthế giới với Pháp là thị trường tiêu thụ chính và Hà Lan là thị trường trung chuyểnlớn nhất châu Âu

Ngoài Hoa Kỳ và EU, Nhật Bản, Canada và Hồng Kông cũng là những thịtrường nhập khẩu quả nhiệt đới lớn Đối với các loại quả có múi, tốc độ tăng sảnlượng sẽ không cao do khâu chế biến không thuận lợi Sao Paolo của Brazil vàFlorida của Mỹ là những khu vực cung cấp quả có múi lớn nhất thế giới

1.1.2 Tình hình s ản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam

Ở Việt Nam rau xanh được sản xuất và tiêu dùng rất phổ biến và ngày cànggia tăng Ở xung quanh hầu hết các thành phố lớn đều hình thành các vùng chuyêncanh rau để cung cấp cho dân cư đô thị, ước tính có khoảng 113.000 ha tương ưngkhoảng 40% diện tích và 48% sản lượng rau toàn quốc

Việt nam có lịch sử trồng rau từ lâu đời, với điều kiện khí hậu rất thíchhợp cho sinh trưởng, phát triển và tạo hạt của các loại rau, kể cả rau có nguồngốc á nhiệt đới và ôn đới Tuy nhiên tình hình sản xuất rau ở Việt Nam phụthuộc rất nhiều vào thời tiết, mùa vụ và các vùng khác nhau Năng suất rau cũngrất biến động theo các vùng địa lý, ví dụ như ở Đà Lạt – Lâm Đồng năng suất đạt20.500kg/ha, trong khi đó, ở Quảng Trị năng suất chỉ là 4.500kg/ha vào năm

1993 Diện tích trồng rau tập trung ở 2 vùng chính là vùng đồng bằng SôngHồng và vùng đồng bằng Nam Bộ Trong các loại rau thì rau muống được trồngphổ biến nhất trên cả nước, tiếp đến là bắp cải được trồng nhiều ở miền Bắc Đốivới nông dân, rau là loại cây trồng cho thu nhập quan trọng cho nông hộ (HồThanh Sơn và cs, 2005)[20]

Trang 17

Một vấn đề quan trọng trong sản xuất và tiêu thụ rau xanh ở nước ta hiện nay

là không chỉ nhằm đáp ứng về số lượng ngày càng tăng mà cần phải đảm bảo vềchất lượng rau cung cấp trên thị trường Nhưng sản xuất rau của Việt Nam chủ yếuvẫn theo quy mô hộ gia đình khiến cho sản lượng hàng hóa không nhiều Bên cạnh

đó sản xuất phụ thuộc nhiều vào phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật và môi trườngsản xuất bị ảnh hưởng khá lớn bởi chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt.Việc chạy theo lợi nhuận, áp dụng thiếu chọn lọc các tiến bộ khoa học kỹ thuậtcùng với sự thiếu hiểu biết của người trồng rau đã làm cho sản phẩm rau xanh bị

ô nhiễm NO3-, kim loại nặng, vi sinh vật gây bệnh và hóa chất bảo vệ thực vật.Vấn đề ô nhiễm rau xảy ra ở hầu khắp các vùng trồng rau trong cả nước (NguyễnVăn Hải và cs (2000)[9], Chiêng Hông, 2003[12]

Hiện nay những vụ ngộ độc thực phẩm do ăn rau không sạch đã xuất hiệnngày càng nhiều và mức độ ngày càng nghiêm trọng Để đảm bảo chất lượng raucung cấp cho người tiêu dùng, các cơ sở sản xuất đã chú ý đến tổ chức sản xuất rau

an toàn Sản xuất rau an toàn đã được triển khai nghiên cứu và phát triển từ năm

1995 do trường trình rau quốc tế với sự tham gia của 80 nhà khoa học nghiên cứu

về rau sạch đã làm việc với 11 viện nghiên cứu, các Trường đại học và các Trungtâm rau sạch trong cả nước Chương trình này phối hợp nghiên cứu đã đưa vào sảnxuất 12 giống rau đã được công nhận có hiệu quả về năng suất cũng như chất lượngsản phẩm (Nguyễn Xuân Thành, 1997)[21] Các mô hình sản xuất rau sạch đượctriển khai ở một số thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, bước đầu đã thuđược kết quả tốt, và có hai loại hình phát triển rau an toàn chủ yếu:

+ Thứ nhất là mô hình rau sạch trên diện tích hẹp đầu tư cao về cơ sở vậtchất kỹ thuật Đó là mô hình trồng rau trong nhà kính, nhà lưới, trồng rau thuỷ canh,trồng rau trên giá thể ….Ưu điểm của những mô hình này là có thể trồng rau trái

vụ, cho năng suất cao, tránh được những điều kiện thời tiết bất lợi, phù hợp chủ yếuvới rau ăn lá và rau cao cấp Nhược điểm lớn nhất của việc trồng rau theo mô hìnhnày là đầu tư khá cao (đầu tư cho 1ha nhà lưới từ 250 - 300 triệu đồng, cho nhàkính hàng tỷ đồng) nên giá thành cao, qui mô thường nhỏ do vậy ít người tham

Trang 18

gia sản xuất, lượng rau sạch không đáp ứng được đại bộ phận người tiêu dùng cóthu nhập thấp nên rất khó mở rộng.

+ Thứ hai là mô hình phát triển rau an toàn trên diện rộng ngay tại đồngruộng, bằng cách đầu tư chuyển giao kỹ thuật cho nông dân Nhược điểm cơ bản làkhông trồng được rau trái vụ, hay bị tác động bất lợi của thời tiết, nhưng có ưu điểm

là nhiều nông dân có thể tham gia áp dụng, diện tích và sản lượng thu hoạch lớn nênđáp ứng được nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng, khai thác được các ưu thế củathời tiết nhiệt đới, giá thành thấp, tác động tích cực nhanh đến nông nghiệp, môitrường và cộng đồng xã hội, dễ mở rộng quy mô sản xuất Đây được gọi là mô hình

“sản xuất rau sach cộng đồng” đã được nghiên cứu ứng dụng và khởi xướng từ tỉnhVĩnh Phúc thời kỳ 2000 – 2003, từ đó lan ra khá nhiều địa phương như Hà Nội,Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bình Định, Khánh Hoà, Đà Lạt… Mô hìnhnày hiện nay tỏ ra thích hợp, có hiệu quả

Tuy nhiên hiệu quả và năng suất rau an toàn còn thấp so với các loại raucũng loại không được sản xuất an toàn, Có rất nhiều nguyên nhân khiến cả ngườitiêu dùng và các cơ quan quản lý nhà nước nghi ngờ độ an toàn của rau, trong đó có

2 nguyên nhân chính:

+ Nguyên nhân thứ nhất là người nông dân sản xuất nhỏ lẻ, chưa áp dụngđầy đủ qui trình kỹ thuật trồng rau quả an toàn Hiện tại ngay cả trên 40% vùng sảnxuất rau an toàn của cả nước lượng vi sinh vật, hoá chất độc hại, kim loại nặng vàthuốc bảo vệ thực vật tồn dư trong rau an toàn vẫn tồn tại, trong đó khoảng 4% vượtmức cho phép

+ Nguyên nhân thứ hai là qui hoạch vùng sản xuất rau an toàn chưa hoànthiện, ruộng rau an toàn vẫn bố trí xen kẽ với các thửa ruộng không theo qui trình.Bất cập nhất hiện nay là ruộng sản xuất rau theo đúng qui trình kỹ thuật nhưng lạinằm ngay trong vùng môi trường canh tác bị ô nhiễm Hiện nay các vùng sản xuấtrau an toàn vẫn còn manh mún rất khó cho việc tổ chức sản xuất cũng như kiểm tra

và tiêu thụ sản phẩm Ngay như Hà Nội là một địa phương có tốc độ qui hoạchvùng rau an toàn nhanh hơn rất nhiều các địa phương khác nhưng diện tích rau an

Trang 19

toàn vẫn trong tình trạng phân bố rải rác, xen lẫn với vùng trồng lúa và trồng rautruyền thống Phần lớn diện tích rau an toàn của Hà nội được chuyển đổi từ đấttrồng lúa, trồng hoa màu có tiền sử được sử dụng nhiều loại thuốc BVTV, phân hoáhọc….Do vậy khó tránh khỏi sự tác động ngược của các tồn dư hoá chất trong môitrường lên cây rau Một cuộc khảo sát gần đây nhất, Hà Nội có 108/478 vùng rauvới diện tích 932 ha chiếm 35,3% diện tích canh tác không đủ các điều kiện về đất,nước để sản xuất rau an toàn, 77 vùng có chỉ tiêu kim loại nặng trong nước tướivượt quy định cho phép, trong đó 16 vùng tưới bằng nguồn nước ngầm và 61 vùngtưới bằng nguồn nước mặt; 36 vùng có chỉ tiêu về hàm lượng kim loại nặng trongđất vượt quy định cho phép (chủ yếu là đồng, cadimi và kẽm) Việc triển khai môhình sản xuất rau an toàn của Thành phố Thái Nguyên cũng nằm trong tình trạngnhư vậy, các mô hình không được cách ly với vùng canh tác theo tập quán chung vàmôi trường canh tác bị ô nhiễm làm cho người tiêu dùng không tin tưởng vào chấtlượng rau an toàn nên lượng tiêu thụ rất ít.

Như vậy để có thể phát triển ngành sản xuất rau theo hướng an toàn và bềnvững cần thiết phải có những biện pháp đồng bộ: Tập huấn nông dân về kỹ thuật,nâng cao ý thức cộng đồng, tiến hành kiểm tra chất lượng đất, nước để qui hoạchvùng sản xuất cách ly với các khu vực bị ô nhiễm, giám sát kiểm định chất lượng,quảng cáo thương hiệu … Bên cạnh đó phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cácngành, các cấp và người sản xuất như vậy việc triển khai mô hình sản xuất rau antoàn mới đạt hiệu quả cao

1.2 Vị trí và tầm quan trọng của rau

Rau xanh là thực phẩm cần thiết không thể thiếu, cung cấp phần lớn các chấtkhoáng và Vitamin, góp phần cân bằng dinh dưỡng trong bữa ăn hàng ngày của conngười Đồng thời rau là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao là mặt hàng xuấtkhẩu quan trọng của nhiều nước Cây rau đã được loài người trồng từ khi loài ngườixuất hiện Từ xa xưa người Ai Cập cổ đại, người Hy Lạp đã trồng và sử dụng rau bắpcải như là nguồn lương thực cho con người Theo FAO, hiện nay nhiều nước trên thếgiới trồng rất nhiều chủng loại rau với diện tích rất lớn Tại các nước phát triển tỷ lệ

Trang 20

cây rau so với cây lương thực là 2/1 còn các nước đang phát triển thì tỷ lệ này là 1/2(Lê Trần Đức, 1997)[5].

1.2.1 Giá tr ị dinh dưỡng của rau xanh

Rau xanh là loại thực phẩm cần thiết cho cuộc sống hàng ngày và không thaythế được, rau không chỉ cung cấp một lượng dinh dưỡng nhất định đặc biệt là chấtkhoáng và các loại vitamin trong khẩu phần ăn hàng ngày mà còn cung cấpcellulose giúp cho cơ thể tiêu hoá thức ăn dễ đào thải nhanh colesterolle và các chấtđộc khác ra khỏi cơ thể, rau còn là nguồn dược liệu quí làm tăng sức khoẻ và kéodài tuổi thọ của con người

Có thể thấy nguồn dinh dưỡng từ rau xanh rất phong phú, chúng bao gồm:Vitamin, protein, lipit, gluxit, các chất khoáng và chất xơ,… đáng chú ý là vitamin

và chất khoáng có trong rau ưu thế hơn một số cây trồng khác (Nguyễn Thúy Hà và

cs, 2010)[6]

So sánh thành phần dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc, A.F.M.Sharfuddin vàM.A.Sididque (1985) (Trần Văn Lài – Lê Thị Hà, 2002)[15] cho biết rau, đặc biệt làrau ăn lá có hàm lượng vitamin và các khoáng chất cao hơn lúa mỳ và lúa nước rấtnhiều lần

Các loại vitamin có trong rau như: Vitamin A, B1, B2, C, E, PP, có tác dụngquan trọng trong quá trình phát triển của cơ thể, cùng các chất khoáng trong rau chủyếu như K, Mg, Ca, Fe, vi lượng, là những chất rất cần thiết để cấu tạo nên máu vàxương (Lê Trần Đức, 1997)[5] Hiện nay, trong khẩu phần ăn của con người, rau xanh

đã cung cấp khoảng 90 - 99% nguồn vitamin A, 60 - 70% nguồn vitamin B2 và gần100% vitamin C Vitamin giúp cho các hoạt động sinh lý diễn ra bình thường trong cơthể, nếu thiếu bất kỳ một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động sốngcủa con người Cụ thể: Nếu thiếu vitamin A sẽ gây bệnh quáng gà, hoặc mắt không cókhả năng thích nghi với ánh sáng mờ, khi sự thiếu hụt này tăng lên thì bệnh quáng gà

sẽ tiến triển thành bệnh Xeropthalmia, làm hỏng thị lực Vitamin B cần thiết cho cơ thể

sử dụng Hydratcacbon, protein và ngăn ngừa bệnh thiếu máu, thiếu vitamin B gây mệtmỏi, kém ăn cơ thể tê phù Thiếu vitamin C gây chảy máu chân răng, chân tay mệt mỏi,

Trang 21

cơ thể suy nhược Thiếu vitamin D trẻ chậm lớn, còi xương,… (Nguyễn Thúy Hà và

cs, 2010) [6]

Như vậy nếu thiếu các loại vitamin sẽ làm giảm sức dẻo dai, giảm hiệu suấtlàm việc, dễ phát sinh bệnh tật, do đó trong lao động, học tập và sinh hoạt hằngngày, mỗi người phải cần một lượng vitamin nhất định

Ngoài việc cung cấp vitamin, rau còn cung cấp một lượng chất khoángđáng kể như: Ca, P, Fe,… Trong các chất khoáng cần thiết cho cơ thể conngười thì Ca và Feđược chú ý hơn cả, Ca rất cần thiết cho việc đảm bảo chứcnăng xương và răng, Fe ngăn ngừa bệnh thiếu máu Các loại muối khoáng cầnthiết cho cấu tạo tế bào, các loại enzyme, muối khoáng còn là tác nhân gây xúctác điều hòa các quá trình sinh tổng hợp trong cơ thể con người, chúng có tácdụng trung hòa độ chua do dạ dày tiết ra khi tiêu hóa thức ăn, đồng thời làmtăng khả năng đồng hóa protit

Rau xanh còn cung cấp một lượng chất xơ, có khả năng làm tăng hoạt độngcủa nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, ngăn ngừa được chứng táo bón Chất xơ ảnh hưởng

có lợi đến hàm lượng cholesterol trong máu, do vậy ảnh hưởng tốt đến huyết áp vàtim, ngăn ngừa được sỏi mật và ung thư ruột Số lượng chất xơ lớn có trong rau vàvới giá trị năng lượng thấp của nó sẽ có tác dụng ngăn ngừa bệnh béo phì Bên cạnh

đó nó có vai trò trong việc điều trị bệnh đái tháo đường Nhờ có hàm lượng chất xơnày rau được coi như một loại thức ăn có lợi cho sức khỏe (Nguyễn Thúy Hà và

cs, 2010)[6]

Một số cây rau được sử dụng như những cây dược liệu quí như: Tỏi ta,Gừng, Nghệ, Tía tô, Hành tây, Lá lốt, được coi là dược liệu tốt cho hệ tiêuhoá của người và động vật Rau ngót, Mướp đắng, Khoai sọ, Đậu đen là thuốc

bổ âm làm mát cơ thể Mướp hoang, Rau diếp là thuốc thông mạch điều kinhtan kết tụ Bí đỏ, Rau sam là thuốc trị lị, trừ giun rất tốt (Trần Văn Lài – LêThị Hà, 2002)[13] Theo quan điểm của các nhà dinh dưỡng học thì mỗi ngườicần 250 - 300g rau xanh/ngày để đáp ứng cho sự hoạt động bình thường củacon người

Trang 22

1.2.2 Giá tr ị kinh tế

Ngoài giá trị dinh dưỡng rau là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao.Rau là loại cây có thể trồng được ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Mặt khác rau làloại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng nhiều vụ trong năm dovậy rau được coi là loại cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồngxoá đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam Vào những năm 1986 - 1990 kimngạch xuất khẩu đã đạt trên 70 triệu USD/năm Từ năm 1991 đến nay lượng rauxuất khẩu là 10,000 tấn So với lúa gạo, giá trị đem lại từ xuất khẩu rau quả gấp 1,5

- 3 lần Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu rau của nước ta đạt 140 triệu USD tăng170% so với năm 1985 và chiếm 1,6 % tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả nước.Đài Loan thu nhập tính bằng tiền trên 1 ha rau hơn hẳn các cây trồngkhác.Theo số liệu thống kê trên toàn nước Mỹ năm 1997 cho thấy, tổng giá trị thuđược trên 1 ha trồng rau cao hơn so với lúa nước và lúa mỳ, trong đó trồng cà chuacho thu nhập cao hơn hơn khoảng 4 lần so với lúa nước và 20 lần so với lúa mỳ(G.W Ware, Mocollum, 1980) (dẫn theo Nguyễn Đình Mạnh, 2002)[15]

Theo số liệu điều tra của Viện kinh tế nông nghiệp (dẫn theo Trần VănLài)[13] năm 1996 tại 4 tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Nam Định và Thái Bình cho thấytổng thu nhập trên 1 ha của ngô là 3.333.000 đồng, khoai tây 15.641.000 đồng, bắpcải là 11.743.000 đồng, dưa chuột là 23.532.000 đồng

Kết quả điều tra của Tô Thị Thu Hà và Nguyễn Văn Hiền (2005)[8], tại vùngven đô Hà Nội thu nhập của việc trồng rau cao gấp 4 lần so với các cây lương thực,trong khi chi phí chỉ gấp 2 lần, điều này dẫn đến lãi thuần của cây rau cao hơn 14lần so với cây lương thực

Ngoài việc dùng rau làm cây thực phẩm, một số loại rau như khoai tây còn đượccoi là một trong năm cây lương thực trên thế giới sau lúa, ngô, mỳ, mạch Khoai tâyhiện là nguồn tinh bột chủ yếu của nhiều nước Bên cạnh đó rau còn là nguồn nguyênliệu cung cấp cho ngành thực phẩm như: công nghệ sản xuất nước giải khát, đồ hộp,bánh kẹo và làm hương liệu chế biến thuốc, dược liệu Ngoài ra rau còn góp phần pháttriển kinh tế khác như chăn nuôi (là nguồn thức ăn cho chăn nuôi)

Trang 23

1.3 Rau an toàn và các vấn đề an toàn thực phẩm

1.3.1 Khái ni ệm rau an toàn

Những sản phẩm rau tươi (bao gồm các loại rau ăn lá, củ, thân, hoa, quả) cóchất lượng như đặc tính của chúng, mức độ nhiễm các chất độc hại và các vi sinhvật gây hại không vượt quá chỉ tiêu cho phép, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng

và nuôi trồng được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là “rau antoàn” (theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn)[19]

Rau an toàn phải đạt được các yếu tố sau:

- Chỉ tiêu về hình thái: Sản phẩm được thu hoạch đúng lúc, đúng với yêu cầutừng loại rau, không dập nát, hư thối, không lẫn tập chất, sâu bệnh và có bao góithích hợp (tùy loại)

- Chỉ tiêu nội chất: Chỉ tiêu nội chất được quy định cho rau tươi bao gồm:

Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật: Hàm lượng Nitrat (,NO3-): Hàm lượng một sốkim loại nặng chủ yếu: Cd, Pb, Cu, Zn…: Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh(E.coli, Salmonella…), và ký sinh trùng đường ruột (Thí dụ: trứng giun đũa) Tất cảcác chỉ tiêu trong từng loại rau phải đạt dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn củaFAO/WHO

1.3.2 Ảnh hưởng của rau không an toàn đến sức khoẻ con người

Rau là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày của conngười phần lớn các khoáng chất, Vitamin và các chất dinh dưỡng khác

Theo nghiên cứu của các nhà dinh dưỡng học thì hàng ngày chúng ta cần2.300 - 2.500 calo cho năng lượng để hoạt động sống và làm việc Để đủ số nănglượng đó thì mỗi người cần bổ sung thêm khoảng 300g rau mỗi ngày (SylviaS.Mader, 2004)[30] Từ những nhu cầu về rau hàng ngày càng gia tăng, mỗi ngườinông dân đã không ngừng nâng cao năng suất rau nhờ áp dụng những biện phápthâm canh tăng vụ và tác dụng của phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật làm chonăng suất và sản lượng các loại rau hàng ngày càng tăng mạnh Bên cạnh đó việc sửdụng một lượng lớn và không đúng quy định về phân bón và hoá chất bảo vệ thựcvật đã làm giảm chất lượng của các loại rau Ngoài ra do quá trình đô thị hoá và

Trang 24

chất thải các nhà máy xí nghiệp công nghiệp đã dẫn đến tình trạng nhiễm bẩn đất,nước, các loại sản phẩm nông nhiệp đặc biệt là ở khu công nghiệp tập trung và ởcác thành phố lớn.

Hiện nay do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá và công nghiệphoá cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hoá chất và nôngnghiệp Trong những năm gần đây các tổ chức quốc tế như FAO, WHO và các tổchức môi trường đã có rất nhiều cố gắng trong việc hạn chế việc sử dụng hoá chấtnhân tạo vào trong nông nghiệp, xây dựng các qui trình sản xuất theo công nghệsạch, công nghệ sinh học, Trong những thập kỷ 80 lượng thuốc trừ sâu sử dụng ởcác nước Indonesia, Pakistan, Philippin, Srilanka đã tăng hơn 10% hàng năm WHO

đã ước lượng rằng mỗi năm có 3% nhân lực lao động nông nghiệp ở các nước đangphát triển bị nhiễm thuốc trừ sâu Ở đầu thập kỷ 90 ở Châu Phi mỗi năm có khoảng

11 triệu trường hợp bị nhiễm độc Ở Malaysia 7% nông dân bị ngộ độc hàng năm và15% người bị nhiễm độc ít nhất một lần trong đời

Trong thời đại của nền kinh tế thị trường đang trên đà phát triển với sự bùng

nổ mạnh mẽ của ngành công nghiệp hoá chất, vấn đề an toàn thực phẩm đang là vấn

đề nhức nhối làm đau đầu các nhà quản lý tại hầu khắp các nước trên thế giới Theothống kê của tổ chức lao động quốc tế ILO thì trên thế giới hàng năm có có trên40.000 người chết vì ngộ độc rau trên tổng số 2 triệu người bị ngộ độc thực phẩm(Vietnamnet, 2004)[27] Tại Việt Nam con số này cũng không nhỏ, phát biểu tạiHội nghị tổng kết thanh tra y tế toàn quốc - 2004 Bộ trưởng Bộ y tế đã nói: “ Chưa

có năm nào số vụ ngộ độc lại xảy ra nhiều như bây giờ các vụ ngộ độc xảy ra hầuhết trên tất cả các miền đất nước và là vấn đề mà chúng ta phải quan tâm ”

Theo thống kê của các tổ chức y tế Việt Nam thì từ năm 1993 đến tháng6/1998 hàng chục ngàn người đã bị nhiễm độc do ăn phải rau quả còn dư lượngthuốc trừ sâu, hoá chất bảo vệ thực vật Năm 1998 có 50/61 tỉnh thành trong cảnước xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm làm cho 6.172 người mắc và 410 người đã chết.Tại Hội nghị tổng kết 3 năm về tăng cường công tác đảm bảo chất lượng vệ sinh antoàn thực phẩm (Vietnamnet, 2004)[27] Thứ trưởng Bộ y tế Trần Chí Liêm cho

Trang 25

biết: Mỗi năm tại Việt Nam xảy ra 250 - 300 vụ ngộ độc thực phẩm với 3000 - 4000nạn nhân trong đó làm cho 100 - 200 người tử vong.

Theo Bộ Y tế, từ đầu năm đến 18/4/2002 cả nước có 1.046 ca ngộ độc thựcphẩm, trong đó 47 ca tử vong (gần bằng số tử vong do ngộ độc thực phẩm cả năm2001) Theo Chi cục bảo vệ thực vật Thành phố Hồ Chí Minh, từ đầu năm đến nay

có ít nhất 53 người tại Thành phố Hồ Chí Minh ngộ độc do ăn rau muống nước.Trong tháng Vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (15/4/2002 – 15/5/2002) tạiThành phố Hồ Chí Minh xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể với 97 người mắcphải và chỉ 8 ngày đầu tháng 5/2002, Bệnh viện đa khoa Sài Gòn đó tiếp nhận 36 cacấp cứu ngộ độc thực phẩm (Vietnamnet, 2004)[27]

Theo Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, 6 tháng đầu năm 2003, trên địabàn thành phố đó xảy ra 9 vụ ngộ độc tập thể làm 844 người bị ngộ độc, không có

tử vong So với cùng kỳ năm 2002, đó giảm 5 vụ

Tại phiên họp lần thứ 21 diễn ra ngày 21/08/2004 theo Báo cáo giám sát của

Uỷ ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường cho thấy tất cả các khâu từ sản xuất

và chế biến đều có vấn đề, hệ qủa là số vụ ngộ độc cứ tăng theo hàng năm với cáctriệu chứng hết sức nguy kịch Minh chứng cụ thể là năm 2000 chỉ có 7 vụ ngộ độcvới 297 người mắc, năm 2002 có tới 29 vụ với 930 người mắc cho tới năm 2003 thì

số vụ ngộ độc chỉ có 22 vụ nhưng lại báo động về số người mắc lên tới 1.158 người.Theo thống kê của Bộ y tế từ năm 1999 - 2004 trên toàn quốc xảy ra 1.245 vụ ngộđộc làm cho 28.014 người mắc trong đó 333 người tử vong

Theo Chủ nhiệm uỷ ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường Hồ Đức Việt(Vietnamnet, 2004) 27 khi kiểm tra có tới 30 - 60% mẫu rau quả tươi đều có dưlượng hoá chất bảo vệ thực vật, 100% mẫu đậu đỏ ở Hà Nội và Hà Tây, 66,6% mẫurau cải ở Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai có dư lượng NO3-vượt quá giới hạncho phép, 22 - 23% mẫu rau ở Hà Nội và Hà Tây có hàm lượng As, và 25,4% mẫuhoa quả lưu thông trên thị trường bị nhiễm chất bảo quản độc hại vượt quá tiêuchuẩn cho phép Kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu trên hơn 3.100 mẫu rau củ quả cácloại lấy từ các địa bàn sản xuất rau, chợ đầu mối, những đơn vị cung ứng rau quả

Trang 26

Chi cục bảo vệ thực vật TP HCM phát hiện có 37 mẫu vượt giới hạn cho phép,trong đó đến 34 mẫu là rau sạch, rau an toàn.

Tại Miền Trung, trong vòng 1 năm (2004 - 2005) ở 11 tỉnh từ Quảng Bìnhđến Bình Thuận số vụ ngộ độc lên đến 57 vụ làm cho 793 người mắc trong đótỉnh Phú Yên đứng đầu về số người bị ngộ độc là 242 người trong đó đáng lưu

ý nhất là vụ ngộ độc hàng loạt làm cho 192 công nhân phải nhập viện do ănphải rau nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật Đặc biệt gần đây nhất ngày19/06/2004 Trung tâm y tế Huyện Hóc Môn tiếp nhận cấp cứu 76 công nhâncông ty WongWang (Thành phố Hồ Chí Minh) do bị ngộ độc, hay ngày25/12/2004 tại bếp ăn tập thể của Xí nghiệp chế biến hạt điều thuộc Công ty vật

tư tổng hợp Phú Yên gần 200 người có biểu hiện bị ngộ độc và khoảng 500người phải dừng ngay bữa ăn, tất cả các bệnh nhân đều có biểu hiện chóng mặt,đau đầu, buồn nôn, nôn co giật, tiêu chảy

Tính đến hết ngày 25/12/2011, toàn quốc ghi nhận có 142 vụ ngộ độc thực phẩmvới hơn 4.500 người mắc, trong đó hơn 80% phải đi viện So với cùng kỳ năm 2010, vụngộ độc thực phẩm giảm khoảng 20% và số tử vong giảm gần 50% (năm 2010 là 49người tử vong) Tuy nhiên, ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể vẫn diễn ra phức tạp

So với cùng kỳ năm ngoái, ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể tăng 31,8% (7 vụ), sốmắc tăng 1.045 người (64,8%) (Hồng Hải, 2011)[11]

Trong 6 tháng đầu năm 2012 tình hình ngộ độc thực phẩm có xu hướng tăng

về số vụ, số người mắc; hoạt động nhập lậu thực phẩm bẩn, sử dụng phụ gia thựcphẩm ngoài danh mục, hóa chất công nghiệp trong chế biến thực phẩm còn phổbiến… Báo cáo của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về Vệ sinh an toàn thựcphẩm (VSATTP) cho biết trong 6 tháng đầu năm 2012, cả nước ghi nhận có 89 vụngộ độc thực phẩm với 2.496 người mắc, 1.950 người nhập viện với 18 người tửvong, trong đó có 16 vụ ngộ độc trên 30 người So với cùng kỳ 2011, số người mắctăng 2,3% (41 người); ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn gia đình tăng 18 vụ, số ngườimắc tăng 497 người, số nhập viện tăng 346 người và số tử vong tăng 9 người (TừLương, 2012)[14]

Trang 27

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ngộ độc là do thực phẩm có dư lượng thuốc trừsâu, thuốc bảo vệ thực vật và nhiễm vi sinh do ôi thiu hoặc kém vệ sinh Trong đó,

tỷ lệ ngộ độc do vi sinh và thuốc trừ sâu chiếm tới 75,8%

1.3.3 Hàm lượng kim loại nặng trong rau và ảnh hưởng của chúng

Kim loại nặng trong nước và trong đất cuối cùng nếu được đất giữ chặt thìchúng sẽ ít phải quan tâm hơn Thực tế các kim loại nặng trong đất hay trong nướcluôn luôn diễn ra quá trình trao đổi với các bề mặt keo đất, chịu ảnh hưởng của pHmôi trường, tạo phức với các chất hữu cơ hoặc vô cơ khác Đó là các tác nhân quyếtđịnh khả năng di động của chúng và dạng kim loại nặng di động đó được cây trồnghấp thụ vào cùng quá trình hút nước, hút dinh dưỡng Chính do vậy những nguyhiểm về hàm lượng kim loại nặng cao thêm lên trong dây chuyền thực phẩm nêntrên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về sự tích luỹ kim loại nặng vào cây trồng.Hàm lượng kim loại nặng tích lũy trong cây phụ thuộc vào khả năng đồng hoá kimloại nặng của cây này lại phụ thuộc vào pH môi trường, lượng kim loại nặng trongđất và nước tưới, vào tuổi cũng như loại cây trồng và loại kim loại nặng khác nhau.Hàm lượng kim loại nặng trong cây còn phụ thuộc vào dạng hợp chất của chúngtrong đất và nước tưới (Vietnamnet, 2004)[27]

Ô nhiễm kim loại nặng trong rau đã trở thành vấn đề thu hút sự chú ý nghiêncứu của các nhà khoa học Nhiều nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước đãcảnh báo mức độ nguy hại của các loại rau được trồng ở các vùng ven đô thị chịuảnh hưởng của các nguồn nước thải thành phố và các khu công nghiệp (Ravi Naidu,Danielle Oliver and Stuart McConnell,2003)[29]

Khi nghiên cứu tồn dư kim loại nặng trong nông sản ở khu vực Thành phố

Hồ Chí Minh, Bùi Cách Tuyến và các cộng sự (Bùi Cách tuyến và cs,1995)[23] cho biết:

- Hệ số tương quan giữa kim loại nặng trong nước và rau muống được trồngtrên đó là: 0,93 với Cu; 0,95 với Zn; 0,73 với Pb; 0,98 với Cr và 0,94 với Cd

- Hệ số tương quan giữa kim loại nặng trong đất và rau cải bông được trồngtrên đó là: 0,93 với Cu; 0,98 với Zn; 0,12 với Pb; 0,98 với Cr và 0,99 với Cd

Trang 28

Vũ Thị Đào - 1999 khi khảo sát rau trên địa bàn Hà Nội đã đưa ra kết luận:Tần suất phân bổ kim loại nặng trong số mẫu rau nghiên cứu ở các vùng đều có hàmlượng vượt quá giới hạn cho phép Zn là 3,75%; Pb là 10%; Cd là 33,75%; và Hg là2,5% Đặc biệt là nguồn rau Thanh Trì do sử dụng nguồn nước thải của Thành Phố

Hà Nội nên có sự tích luỹ kim loại nặng rất cao, nhất là Cd và Hg

Theo nghiên cứu Cheang Hong [12] và Nguyễn Đình Mạnh [15] hàm lượngkim loại nặng (Pb, Cd, Hg) trong nước tưới có quan hệ chặt chẽ với lượng chứacủa chúng trong rau cải xanh Càng về vụ sau quan hệ này càng thể hiện rõ.Nước nhiễm kim loại nặng nếu sử dụng tưới cho rau xanh sẽ làm tích đọng kimloại nặng trong đất qua các vụ sản xuất Với Hg hiện tượng này xảy ra chậm hơn

so với Pb và Cd

Kim loại nặng có trong các sản phẩm rau quả tươi và rau quả chế biến thôngqua nhiều con đường khác nhau Nguyên nhân thì nhiều nhưng có những nguyênnhân chủ yếu sau:

- Quá trình canh tác, kim loại nặng xâm nhập vào rau quả Phân bón, đặc biệt

là phân rác thải (compost) chứa kim loại nặng tỷ lệ rất cao Phân hoá học N - P - Kđược sản xuất từ nguyên liệu khía cạnh mỏ (apatit, secpentin, synoinitrasitunphuric,pyrirt sắt ) tất cả các nguyên liệu này đều có tỷ lệ kim loại nặng nhất định

- Theo Nguyễn Đình Mạnh, 2002 [15] rau được trồng ở vùng đất, nước bị ônhiễm như khu vực khai thác mỏ Pyrit, đồng, kẽm, khu đất thải sau khai thácthan, khu đất chứa thải sau nhiều năm của công nghiệp, bãi chôn rác thải rắn

- Quá trình chế biến, bao gói, bảo quản cũng làm tăng hàm lượng kim loạinặng trong sản phẩm rau quả, đặc biệt đối với rau quả có một lượng lớn axit hữu cơ,rau quả muối chua, kim loại nặng được đưa vào thông qua nước rửa, các thiết bịsành sứ tráng men có chứa chì monôaxit cao, các hộp sắt mạ thiếc, hànthiếc (Cheang Hong, 2004) [12]

- Hoặc rau được tưới bằng nước bị ô nhiễm như nước thải thành phố, nướcthải công nghiệp Nhất là các trường hợp dùng bùn thải để trồng rau được nhiều tácgiả như: Hồ Thị Lam Trà, Nguyễn Đình Mạnh, Nguyễn Khắc Thời (dẫn theo

Trang 29

Nguyễn Đình Mạnh, 2002) [15], Vũ Thị Đào đã nhận nhận xét là làm tăng lượngkim loại nặng trong sản phẩm.

1.4 Các yếu tố gây nhiễm trong sản xuất rau

1.4.1 Ô nhi ễm môi trường đất

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường đất ở Việt Nam là do các hoạtđộng về sản xuất, sinh hoạt con người và do hậu quả của chiến tranh Các loại hình

ô nhiễm chủ yếu là: Ô nhiễm do sử dụng phân hoá học, phân tươi, do hoá chất bảo

vệ thực vật, do chất thải các đô thị, khu công nghiệp và chất độc do Mỹ thải rảitrong chiến tranh Mức ô nhiễm ở một số nơi khác rất nghiêm trọng Tuy nhiên quy

mô vùng bị ô nhiễm không lớn tập trung ven các đô thị các khu công nghiệp, khaikhoáng hoặc những nơi sử dụng phân bón không hợp lý không có sự quản lý chặt.Nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng và thuốc trừ sâu trong đất, nước và một số nông sản

cơ ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật do việc sử dụng tràn lan và thiếu hướng dẫn kiểmsoát cũng đang đe dọa đến sức khỏe và tính mạng con người và động vật

1.4.1.1 Ô nhiễm đất do sự tích luỹ kim loại nặng từ khu công nghiệp.

Trong những thập kỷ gần đây vấn đề ô nhiễm KLN đã được đề cập tới, đãthống kê được những nguồn chính gây ô nhiễm KLN như: Than, đốt dầu trong cácnhà máy điện công nghiệp, công nghệ khai khoáng luyện kim đen, các nhà máysản xuất phân và xi măng, khí xả của động cơ đốt trong Như vậy nguồn gây ônhiễm KLN chính là do công nghiệp và giao thông Nguy cơ ô nhiễm kim loạinặng ở nước ta rất đáng chú ý với tốc độ công nghiệp hóa đang tǎng nhanh tronglúc quy hoạch đô thị chưa ổn định Các khu công nghiệp xen kẽ với khu dân cư

Trang 30

và vùng sản xuất nông sản gây ô nhiễm môi trường đất, nước và chuyển hóa vàocây trồng, ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Có 12 nguyên tố thuộc nhóm kim loại nặng có thể gây độc cho người và độngvật Khi hấp thụ vào cơ thể nó được tích tụ lại trong các mô bào và khi vượt quángưỡng thở bắt đầu gây độc, đó là các nguyên tố: Cu, Hg, Pb, Sb, Cr, Mn, V trong

đó nguy hiểm nhất là Hg, Pb, Sb, Cd Qua nhiều tài liệu cho thấy: công nghiệp gốmgây ô nhiễm bari, cadimi, mangan… công nghiệp sản xuất sơn, bột màu gây ônhiễm cadimi, chì, kẽm và thuốc trừ sâu gây ô nhiễm cadimi, asen, đồng

Nhóm cán bộ nghiên cứu Trường đại học Nông Nghiệp I đã làm một cuộc khảo sáthàm lượng chì và cadimi trong đất khu vực xung quanh nhà máy hóa chất Đức Giang vàmột số điểm tại huyện Gia Lâm cho thấy, mức độ ô nhiễm đó vượt quá chỉ tiêu cho phép

và khu vực đất càng gần nhà máy hàm lượng cadimi càng cao và càng gần đường giaothông càng chứa nhiều chì Đây cũng là một trong những nguyên nhân tạo nguy cơ ônhiễm nông sản

Cũng theo kết quả nghiên cứu của Đào Thị Hằng Vân – 1999[26] khi khảo sátthực trạng tồn dư kim loại nặng trong đất và nước tại một số vùng trồng rau trên địabàn tỉnh Bắc Ninh, các mẫu đất và nước nằm ở ven đường quốc lộ 1A đều có hàmlượng Pb vượt quá TCCP nguyên nhân là do sự phát tán Pb từ các nguyên liệu xăng,dầu của động cơ

Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng trong các mẫu đất của 4 huyệnngoại thành Hà Nội cho thấy: Tỷ lệ mẫu ô nhiễm đã vượt quá mức qui định đối với

Cu, Zn và Cd Ngoài ra ô nhiễm kim loại nặng còn khá phổ biến ở các làng nghề vàvùng đất dọc các trục đường giao thông lớn Ở làng nghề nấu tái chì (Pb) hàm lượng

Pb trong đất lên đến 6.000 ppm, ở các khu vực dọc quốc lộ 5, hàm lượng Pb trongđất cũng khá cao 21,13 ppm (Ngọc Diệp) [4]

Tồn dư các kim loại nặng ở trong đất thuộc khu vực quanh Nhà máy Pin vàNhà máy phân lân Văn Điển như sau: Cu: 12,8 - 49,69 ppm; Mn: 172,78 - 201,05ppm; Zn: 17,44 - 102,47 ppm

Trang 31

Sự tích luỹ kim loại nặng trong đất rất cần được xem xét Nhưng tính linhđộng của chúng trong đất càng cần phải quan tâm hơn Độ linh động của các ionkim loại nặng khi pH đất thấp và giảm khi pH đất cao Vì vậy ở pH (9 - 12) cácKLN sẽ bị kết tủa và sẽ bị hấp thụ dạng Hydroxit hoặc cacbonal (Hồ Thị Lam Trà,Nguyễn Hữu Thành, 2002) [24] Theo D.E William và V.Lanis (dẫn theo NguyễnĐình Mạnh, 2002)[15] nguồn gây độc kim loại nặng với đa số cây trồng với nguyên

tố có khác nhau Tác giả cũng lưu ý đến mối tương quan với hàm lượng tổng số vớinồng độ gây độc Tuy nhiên trong đất tính linh động của các kim loại nặng còn phụthuộc vào nhiều yếu tố như: Thế ôxi hoá khử, hàm lượng các chất tạo phức có khảnăng hoà tan kim loại nặng

1.4.1.2 Ô nhiễm kim loại nặng trong đất do sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật

Sử dụng phân bón nhằm nâng cao năng suất cây trồng, cải tạo độ phì của đất.Nhưng nếu sử dụng phân bón không hợp lý sẽ làm ô nhiễm đất Trong sản xuất nôngnghiệp do việc sử dụng phân vô cơ không hợp lý dẫn đến làm cho đất bị ô nhiễm: Traiđất, chua đất, tích luỹ KLN, nhiễm bẩn NO3- trong đất

Hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm: Phân bón (As, Cd, Mn, U, V và Zntrong phân phốt phát), phân xanh (As và Cu trong phân của lợn và gia cầm, Mn và

Zn trong phân xanh sử dụng của các trang trại), vôi (As, Pb), Thuốc bảo vệ thực vật(Cu, Mn, và Zn trong thuốc diệt nấm, As, Pb sử dụng cho cây ăn quả), nước tưới(Cd, Pb, Se), sự ăn mòn kim loại các công cụ (Fe, Pb, Zn) Một số kim loại nặngđược đưa vào đất do sản xuất nông nghiệp được đưa ra ở bảng 1.1

Theo Nguyễn Hữu On và Ngô Ngọc Hưng, 2004 [16] khi nghiên cứu ảnhhưởng của thời gian bón phân lân đến sự tích luỹ Cd trong đất lúa đồng bằng sôngCửu Long cho thấy hàm lượng Cd trong đất có tương quan tuyến tính với thời gian

sử dụng phân lân, đặc biệt khi phân lân được sử dụng trên đất phèn, đất nhiễm mặn

và đất có hệ thống đê bao

Thành phần quan trọng của đất tạo liên kết chặt với hoá chất bảo vệ thực vật

có thể gây tổn hại cho đất Tuy nhiên các hoá chất bảo vệ thực vật tồn tại trong đất

Trang 32

có ảnh hưởng khác nhau đến vi sinh vật, ảnh hưởng này phụ thuộc vào loại thuốc,điều kiện nồng độ của nó, pH, độ ẩm và nhiệt độ.

Bảng 1.1: Hàm lượng kim loại nặng trong một số nguồn sản xuất nông nghiệp

Đơn vị: ppm

Nguyên

tố Bùn thải

Phân Compost

Phân xanh

Phân Phốt phát

Phân Nitơrát Vôi

Thuốc BVTV *

Nước tưới

1,1-5530-9690,3-242,1-302-17215-5660,1-0,80,01-0,360,4-27

66-24540-20001-127-381-30050-14500,1-1900,01-2,04-1000

3,2-19-5,4-127-34-1-420,05-8,50,3-2,92-120

10-1540-12000,4-310-202-12510-4500,04-0,10,0520-1250

-0,6-611-26

-

-<0,05-

<20

(*): Thuốc bảo vệ thực vật

Nguồn: Alloway (1990 ) và Fergusson (1990) (Vũ Hữu Yêm, 2005)[28].

Việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật không những tiêu diệt các loại vi sinhvật có lợi và các kí sinh, thiên địch trong thời gian dài mà còn trực tiếp đưa các kimloại nặng vào trong đất

1.4.1.3 Ô nhiễm kim loại nặng trong đất do sử dụng nước tưới bị ô nhiễm

Nước tưới và đất trồng có một mối quan hệ với nhau Nếu sử dụng nước tuới

bị ô nhiễm tưới cho đất thì dẫn đến đất cũng bị ô nhiễm Theo nghiên cứu củaNguyễn Đình Mạnh và cộng tác viên (dẫn theo Cheang Hong)[12] khi nghiên cứu

28 mẫu nước ở một số khu vực chính tỉnh Thanh Hoá cho thấy 1% nhiễm bẩn Zn;0% nhiễm bẩn Cu; 25% nhiễm bẩn Pb; 32% nhiễm bẩn Cd Nhưng trong 87 mẫuđất được phân tích thì 3% nhiễm bẩn Zn; 4,4% nhiễm bẩn Cu; 3% nhiễm bẩn Cd

Trang 33

Theo Nguyễn Khắc Thời, 1999 [22] khi xác định hàm lượng kim loại nặng(Cu, Pb, Zn, Cd) và lượng kim loại độc Hg trong nước khu vực Phù Nham - Tiên

Du huyện Phong Châu - Phú Thọ cho thấy: Nước thường dùng làm nước tưới cóhàm lượng kim loại nặng biến động như sau:

Cu: 0,01 - 0,029 ppm Cd: 0,04 - 0,085 ppmPb: 0,017 - 0,078 ppm Hg II: 0,0085 - 0,0146ppm Zn: 0,011 - 0,71 ppmSau khi sử dụng nước tưới 4 - 5 vụ đã thấy sự tích lũy của kim loại nặng tănglên trong đất trồng trọt

Trước thí nghiệm Sau thí nghiệm

Cu 29,34 ppm 36,774 ppm (tưới tự nhiên)

Cu 35,456 ppm 44,743 ppm (tưới bằng nước thải đen)Đối với kim loại nặng Cd thì sự tích lũy lại giảm xuống do liên kết kém bền bị rửatrôi cùng lớp đất mặt theo dòng chảy (Nguyễn Xuân Hải, 2005) [8]

Theo Cheang Hong, 2004 [12] khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón nước tướiđến hàm lượng kim loại nặng trong rau cải xanh đã kết luận: Nước tưới nhiễm kim loạinặng nếu sử dụng tưới cho rau sẽ làm tích đọng kim loại nặng trong đất qua các vụ Hàmlượng Cd tích lũy trong đất qua các vụ tỉ lệ thuận với nồng độ Cd trong nước tưới

1.4.2 Ô nhi ễm môi trường nước

Nước là nguồn gốc của sự sống, ở đâu có nước ở đó có sự sống và ngượclại Hiện nay trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá càng phát triển thì vấn

đề ô nhiễm nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm càng trở nên nghiêm trọng Sự

ô nhiễm nguồn nước không chỉ đơn thuần là do vi sinh vật mà còn do nhiều loạichất vô cơ độc hại đối với sức khoẻ con người và mọi sinh vật Hiện nay nhiềusông suối ao hồ là nơi tiếp nhận nước thải đô thị và công nghiệp, bệnh viện, cácchất rò rỉ từ phương tiện giao thông, phân bón dùng trong nông nghiệp, chưa qua

xử lý đã trực tiếp xả ra môi trường và điều nguy hại là chính chúng lại được sửdụng làm nguồn nước trong nông nghiệp và tất yếu sẽ là sự tích tụ KLN trongcác chuỗi thức ăn của các hệ sinh thái và cuối cùng là tác động xấu đến sức khoẻcon người (Phạm Triệu Doanh, 2002) [3]

Trang 34

1.4.2.1 Ô nhiễm môi trường nước do tích luỹ kim loại nặng

Trong các thuỷ vực tự nhiên có rất nhiều nguồn gốc cung cấp kim loại nặng,đặc biệt là nguồn thải của các nhà máy sản xuất Nếu chúng tồn tại một lượng nhỏthì rất tốt cho sinh trưởng và phát triển của sinh vật nhưng nếu ở hàm lượng cao sẽgây ô nhiễm đối với đời sống các sinh vật qua chuỗi thức ăn tới động vật sống trêncạn và con người (Phạm Triệu Doanh, 2002)[3]

Nhiễm bẩn kim loại nặng trong nước có thể bằng con đường chính sau:

- Yếu tố gây ô nhiễm trực tiếp vào nước

- Yếu tố kim loại nặng sau khi tồn tại trong đất sẽ dần dần hoà tan vào trongnước kể cả nước ngầm

- Sự rửa trôi tích đọng dần dần yếu tố độc (đặc biệt do sự phát tán của chất độc

từ nguồn thải của lá rừng)

Nhiễm bẩn các kim loại nặng trong nước thường được nghiên cứu đến nhiễmbẩn do nồng độ các kim loại: Cu, Pb, Cd, Zn, Hg, Ni, As khi vượt qúa giới hạncho phép

Theo Lê Thị Thuỷ, Nguyễn Thị Hiền, Vũ Dương Quỳnh, Hà Mạnh Thắng khinghiên cứu hàm lượng kim loại nặng trong nước thải và cặn bùn của một số nhàmáy và sông thoát nước ở Hà Nội đã kết luận:

- Hàm lượng kim loại nặng trong nước thải ra của một số nhà máy và sông thoátnước ở Hà Nội chưa biểu hiện mức độ ô nhiễm Tuy nhiên có một điểm là Pin Văn Điểnhàm lượng Zn vượt quá mức tiêu chuẩn so với TCVN 5942 - 1995

- Nồng độ kim loại nặng trong nước thải vào mùa khô rõ ràng cao hơn vàomùa mưa gấp nhiều lần

- Các mẫu cặn bùn (trừ một vài điểm) còn lại hàm lượng cả 4 kim loại nặngđều vượt rất xa so với mức cảnh báo của CANADA và lớn hơn gấp hàng trămđến hàng nghìn lần so với trong nước thải (Phạm Triệu Doanh, 2002) [3]

1.4.2.2 Ô nhiễm môi trường nước do sử dụng phân bón.

Việc sử dụng phân bón cho cây trồng không hợp lý không những làm ô nhiễmnguồn đất mà còn làm ô nhiễm nguồn nước rất nghiêm trọng Điển hình là hiện

Trang 35

tượng phú dưỡng làm suy giảm chất lượng nguồn nước phá huỷ môi trường trongsạch của nước, là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng thiếu ôxy trong nước theotrương trình:

(CH2O)1(NH3)16H2PO + 138O2= 106CO2+ 122H2O + 16HNO3+ H3PO4

Ở Thụy Điển năm 1989 đã thống kê khoảng 26% tổng N gây ô nhiễm cácvùng biển có nguồn gốc từ nông nghiệp Nguyễn Văn Đản trên cơ sở so sánh kếtquả nghiên cứu từ 1992 - 1995 đã nhận định: Hàm lượng các yếu tố nhiễm bẩn tănglên với tốc độ cao, tầng trên bị nhiễm bẩn hơn tầng dưới đặc biệt là các hợp chấtchứa N (chủ yếu là NH4+)

Theo Lê Huy Hoàng năm 1996 khi đề cập tới hiện tượng nhiễm bẩn nước dướiđất ở Hà Nội cho rằng: sự ô nhiễm xảy ra do quá trình thấm xuyên từ tầng trênxuống tầng dưới trong 109 giếng thuộc 28 nhà máy nước và trạm cấp nước có48,6% số giếng bị nhiễm bẩn NH4+: 63,3% Nhiễm bẩn NO3-: 4% nhiễm bẩn NO2:81,6% nhiễm bản PO43-, hàm lượng vi trùng Feacal coli lớn hơn gấp hàng trăm hàngnghìn lần so với tiêu chuẩn cho phép

Sử dụng phân bón không hợp lý làm ô nhiễm nguồn nước không những ônhiễm về nitrat, nitrit, amoni, chất hữu cơ, vi sinh vật, vi trùng mà làm ô nhiễm cả

về kim loại nặng như: Cd có trong phosphat gây tác động xấu đến các loại vi sinhvật và con người

1.4.2.3 Ô nhiễm nguồn nước do sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật

Việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật cũng gây ô nhiễm nguồn nước rấtnghiêm trọng Vì 50% lượng thuốc phun cho cây là rơi xuống đất, hoá chất bảo vệthực vật ở đất một phần được giữ lại và một phần được phát tán xuống nước thôngqua rửa trôi gây ô nhiễm nước

Theo Phạm Bình Quyền khi giám định dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trongmẫu nước ở tỉnh Khánh Hoà cho thấy trong 120 mẫu nước có 36,6% số mẫu chứa dưlượng hoá chất bảo vệ thực vật vượt ngưỡng cho phép 20 - 50 lần

Theo Nguyễn Đình Mạnh và cộng tác viên 1997 [15] khi tiến hành điều tratồn dư hoá chất bảo vệ thực vật ở Thanh Hoá đã cho thấy 33% mẫu nước phát hiện

Trang 36

DDT, gần 50% mẫu nước có dư lượng Lindane trong khoảng nồng độ 0,002 0,007ppm Heptaclo trong nước có hàm lượng 0,001 - 0,002ppm với số lượng mẫuphát hiện là 75% số mẫu phân tích.

-Số tồn dư hoá chất bảo vệ thực vật trong nước làm ô nhiễm môi trườngnước bắt nguồn từ hiện tượng rửa trôi chảy tràn bề mặt, sự hoà tan và hiệntượng thấm sâu qua tầng đất theo dòng chảy Các hoá chất bảo vệ thực vậttrong nước tồn tại ở dạng chất hoà tan, chất nhũ tương dầu mỡ làm dung môikhi sử dụng thuốc Chất huyền phù keo đất, hạt đất hấp thụ và chất keo lơ lửngcủa các phần tử keo hữu cơ Một phần khác của thuốc còn tồn tại trong môitrường nước nhờ thực vật, động vật thuỷ sinh Từ đó thông qua chuỗi thức ănảnh hưởng xấu đến động vật và con người

Trang 37

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành tại 2 vùng sản xuất rau chính của Thành phố TháiNguyên - Tỉnh Thái Nguyên: Túc Duyên và Đồng Bẩm

- Thời gian tiến hành: Năm 2013 - 2014

- Đối tượng nghiên cứu: Sản xuất rau, đất, nước và sức khoẻ người dân sảnxuất rau ở Túc Duyên và Đồng Bẩm

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Thành phố Thái Nguyên

tác động đến sản xuất rau

- Điều kiện tự nhiên

- Kinh tế, xã hội

2.2.2 Đánh giá thực trạng sản xuất rau tại Thành phố Thái Nguyên

- Diện tích, năng suất, sản lượng

- Các biện pháp kỹ thuật chủ yếu

2.2.3 Nghiên c ứu ảnh hưởng của canh tác rau đến môi trường đất, nước tại các

khu v ực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên.

- Ảnh hưởng của các biện pháp canh tác rau đến môi trường đất

- Ảnh hưởng của các biện pháp canh tác rau đến môi trường nước

2.2.4 Nghiên c ứu ảnh hưởng của canh tác rau đến sức khoẻ của người dân sản

xu ất rau tại khu vực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên

2.2.5 Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau và đảm bảo sức khoẻ của người sản xuất tại Thành phố Thái Nguyên

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Cơ sở của phương pháp này là thu thập, nghiên cứu tất cả các tài liệu liênquan tới vấn đề nghiên cứu, đặc biệt là các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xãhội của khu vực nghiên cứu

Trang 38

2.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa

Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (Rapid Rural Appraisal –RRA) và điều tra theo bộ câu hỏi trong điều tra thực địa, thu thập thông tin về điềukiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và tình hình sản xuất nông nghiệp dựa trên lý thuyết

và thông tin đã có thể lựa chọn phương pháp thiết kế thí nghiệm thích hợp

Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề liên quan đến cơ cấu cây trồng,tình hình sản xuất rau xanh, sử dụng phân bón, năng suất cây trồng nông nghiệp

Các đối tượng được phỏng vấn là những người dân được lựa chọn một cách ngẫunhiên Quá trình phỏng vấn thông qua các câu hỏi và buổi trò chuyện với người dân

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu trong điều tra

- Điều tra tình hình canh tác rau: bón phân, bảo vệ thực vật, tưới nước, chămsóc, thu hoạch cho một số loại rau chính tại khu vực nghiên cứu theo phươngpháp phỏng vấn trực tiếp với bộ câu hỏi chuẩn bị trước, qui mô 120 hộ/2 điểmnghiên cứu Đồng thời phỏng vấn người dân về ảnh hưởng của canh tác rau đến sứckhoẻ với số mẫu như trên

- Phương pháp lấy mẫu đất, nước ngoài thực tế: được lấy theo từng cặp đất, nước+ Mẫu đất: Lấy mẫu theo TCN 367 : 1999 Mẫu đất được lấy theo địa điểm,theo 2 đợt/ năm ( tháng 2 năm 2013 và tháng 8 năm 2013) bằng phương phápđường chéo ở tầng canh tác (0 - 20cm) lấy 5 điểm/ruộng, sau đó trộn đều rồi lấymẫu trung bình theo nguyên tắc chia 4, mỗi mẫu khoảng 500 gam

Các thông số cơ bản được lựa chọn để đánh giá chất lượng đất gồm: pH,mùn, As, Pd

+ Mẫu nước: Lấy mẫu nước theo TCVN 5994 – 1995 và TCVN 3:2008, sử dụng thiết bị lấy mẫu nước theo chiều đứng, thiết bị lấy mẫu nước theophương ngang Mẫu nước được lấy theo 6 đợt / năm (tháng 2/2013, tháng 4/ 2013,tháng 6/2013, tháng 8/2013, tháng 10/2013, tháng 12/2013)

6663-Các thông số cơ bản được lựa chọn để đánh giá chất lượng nước ngầm vànước mặt gồm: pH, As, N03-, Coliform

Trang 39

2.3.4 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

Kết quả phân tích tại Trung tâm Quan trắc và Công nghệ môi trường TháiNguyên

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu

+ Trong đất: So sánh các chỉ tiêu pH, mùn, Pd, As theo QCVN

03:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loạinặng trong đất: Chất lượng đất dùng cho sản xuất nông nghiệp (mg/kg đất khô).Pb: ≤ 70 mg/kg đất khô

As: ≤ 0,05 mg/l; pH: 5,5 – 9; N03-: ≤ 10 mg/l;coliform: ≤ 750 MPN/100ml

- Biểu đồ, đồ thị được xây dựng bằng phần mềm EXCEL

- Số liệu trình bày trong phần kết quả là số liệu trung bình các lần nhắc lại

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ THẢO LUẬN

3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình sản xuất rau xanh của thành phố Thái Nguyên

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Hình 3.1: B ản đồ hành chính TP.Thái Nguyên

Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên, trungtâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, y tế, du lịch, dịch vụcủa tỉnh Thái Nguyên; trung tâm vùng trung du, miền núi Bắc Bộ, cách thủ đô HàNội 80km Tổng diện tích tự nhiên 18.970,48 ha

Ngày đăng: 07/06/2016, 09:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ tài nguyên và Môi trường, QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt: Chất lượng nước dùng cho thuỷ lợi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tài nguyên và Môi trường
3. Phạm Triệu Doanh (2002), Rau sạch trồng trong nhà lưới vẫn sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật trong danh mục cấm, Báo Nông nghiệp Việt Nam, số 76, Năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rau sạch trồng trong nhà lưới vẫn sử dụng thuốcBảo vệ thực vật trong danh mục cấm
Tác giả: Phạm Triệu Doanh
Năm: 2002
4. Ngọc Diệp, Một số vấn đề về môi trường Đồng bằng Sông Hồng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Báo Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về môi trường Đồng bằng Sông Hồng
5. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Lê Trần Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Nôngnghiệp
Năm: 1997
6. Nguyễn Thúy Hà, Đào Thanh Vân, Nguyễn Đức Thạnh (2010), Giáo trình cây rau, NXB nông nghiệp, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình câyrau
Tác giả: Nguyễn Thúy Hà, Đào Thanh Vân, Nguyễn Đức Thạnh
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2010
7. Tô Thị Thu Hà, Nguyễn Văn Hiền (2005), Kết quả điều tra hệ thống canh tác vùng ven đô Hà Nội, Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 3, trang 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra hệ thống canh tácvùng ven đô Hà Nội
Tác giả: Tô Thị Thu Hà, Nguyễn Văn Hiền
Năm: 2005
8. Nguyễn Xuân Hải (2005), “Sự cảnh báo ô nhiễm Cadimi (Cd) trong đất và cây rau vùng thâm canh xã Minh Khai, Từ Liêm, Hà Nội”, Tạp chí Khoa học đất, N23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cảnh báo ô nhiễm Cadimi (Cd) trong đất và câyrau vùng thâm canh xã Minh Khai, Từ Liêm, Hà Nội”
Tác giả: Nguyễn Xuân Hải
Năm: 2005
9. Nguyễn Văn Hải, Phạm Hồng Anh, Trần Thị Nữ (2000), Xác định hàm lượng kim loại nặng trong một số nông sản và môi trường bằng phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử, Tuyển tập báo cáo khoa học tại Hội nghị phân tích Hoá lý và Sinh học Việt Nam lần thứ nhất, Hà Nội 26/09/2000, page 234 -239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định hàm lượngkim loại nặng trong một số nông sản và môi trường bằng phương pháp phântích phổ hấp thụ nguyên tử
Tác giả: Nguyễn Văn Hải, Phạm Hồng Anh, Trần Thị Nữ
Năm: 2000
10. Hồng Hải (2011), Ngộ độc thực phẩm giảm, ngộ độc tập thể tăng đột biến, Ra ngày 22/12/2011, http://dantri.com.vn/c7/s7-549988/2011-ngo-doc-thuc-pham-giam-ngo-doc-tap-the-tang-dot-bien.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngộ độc thực phẩm giảm, ngộ độc tập thể tăng đột biến
Tác giả: Hồng Hải
Năm: 2011
11. Phan Thị Thu Hằng (2008), Nghiên cứu hàm lượng nitrat và kim loại nặng trong đất, nước, rau và một số biện pháp nhằm hạn chế sự tích lũy của chúng trong rau tại Thái Nguyên, Luận án Tiến sỹ Khoa học nông nghiệp, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hàm lượng nitrat và kim loại nặngtrong đất, nước, rau và một số biện pháp nhằm hạn chế sự tích lũy của chúngtrong rau tại Thái Nguyên
Tác giả: Phan Thị Thu Hằng
Năm: 2008
12. Cheang Hông (2004), Nghiên cứu ảnh hưởng của nước tưới phân bón đến tồn dư Nitrat và kim loại nặng trong rau trồng taị Hà Nội, Luận văn Tiến sỹ Khoa học nông nghiệp, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của nước tưới phân bón đến tồndư Nitrat và kim loại nặng trong rau trồng taị Hà Nội
Tác giả: Cheang Hông
Năm: 2004
13. Trần Văn Lài - Lê Thị Hà (2002), Cẩm nang trồng rau, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau, 567 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang trồng rau
Tác giả: Trần Văn Lài - Lê Thị Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Mũi CàMau
Năm: 2002
14. Từ Lương (2012), Tập chung xử lý những điểm “nóng” về VSATTP, ra ngày 21/08/2012.http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Tap-trung-xu-ly-nhung-diem-nong-ve-VSATTP/20128/146705.vgp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập chung xử lý những điểm “nóng” về VSATTP
Tác giả: Từ Lương
Năm: 2012
15. Nguyễn Đình Mạnh (2002), Hoá chất dùng trong nông nghiệp và ô nhiễm môi trường, Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoá chất dùng trong nông nghiệp và ô nhiễm môitrường
Tác giả: Nguyễn Đình Mạnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2002
16. Nguyễn Hữu On và Ngô Ngọc Hưng (2004), Cadmium trong đất lúa đồng bằng sông Cửu Long và sự cảnh báo ô nhiễm. Tạp chí Khoa học đất số 20 năm 2004, page 137 - 140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cadmium trong đất lúa đồngbằng sông Cửu Long và sự cảnh báo ô nhiễm
Tác giả: Nguyễn Hữu On và Ngô Ngọc Hưng
Năm: 2004
17. Phòng Kinh tế thành phố Thái Nguyên (2013), Báo cáo kết quả hoạt động của Khối Kinh tế 09 tháng đầu năm và nhiệm vụ thực hiện 03 tháng cuối năm, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo kết quả hoạt động củaKhối Kinh tế 09 tháng đầu năm và nhiệm vụ thực hiện 03 tháng cuối năm
Tác giả: Phòng Kinh tế thành phố Thái Nguyên
Năm: 2013
20. Hồ Thanh Sơn, Đào Thế Anh (2005), Sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau quả tại Việt Nam, Cash and carry VietNam Ltd, 9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau quả tạiViệt Nam
Tác giả: Hồ Thanh Sơn, Đào Thế Anh
Năm: 2005
22. Nguyễn Khắc Thời (1999), Ảnh hưởng của phế thải công nghiệp giấy đến một số tính chất đất ở khu công nghiệp giấy Bãi Bằng - huyện Phong Châu - Tỉnh Phú Thọ, Luận án Tiến sỹ nông nghiệp, Chuyên ngành Khoa học đất, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phế thải công nghiệp giấy đến mộtsố tính chất đất ở khu công nghiệp giấy Bãi Bằng - huyện Phong Châu - TỉnhPhú Thọ
Tác giả: Nguyễn Khắc Thời
Năm: 1999
23. Bùi Cách Tuyến và cs (1995), Hàm lượng kim loại nặng trong nông sản, đất, nước ở một số địa phương ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàm lượng kim loại nặng trong nông sản, đất, nước ởmột số địa phương ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Bùi Cách Tuyến và cs
Năm: 1995
24. Hồ Thị Lam Trà và Nguyễn Hữu Thành (2002), Kim loại nặng (tổng số và di động) trong đất nông nghiệp huyện Văn Yên - Tỉnh Hưng Yên, Tạp chí Khoa học đất, Số 19 năm 2003, page 167 - 173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kim loại nặng (tổng số và diđộng) trong đất nông nghiệp huyện Văn Yên - Tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Hồ Thị Lam Trà và Nguyễn Hữu Thành
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Hàm lượng kim loại nặng trong một số nguồn sản xuất nông nghiệp - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.1 Hàm lượng kim loại nặng trong một số nguồn sản xuất nông nghiệp (Trang 32)
Hình 3.1: B ản đồ h ành chính TP.Thái Nguyên - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.1 B ản đồ h ành chính TP.Thái Nguyên (Trang 40)
Bảng 3.3: Tình hình sử dụng phân bón cho rau tại Thành phố Thái Nguyên - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3 Tình hình sử dụng phân bón cho rau tại Thành phố Thái Nguyên (Trang 55)
Bảng 3.4: Tình hình sử dụng hóa chất BVTV cho rau - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.4 Tình hình sử dụng hóa chất BVTV cho rau (Trang 57)
Hình 3.2: Môi trường đất trồng rau tại Túc Duy ên - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.2 Môi trường đất trồng rau tại Túc Duy ên (Trang 59)
Hình 3.3: Môi trường đất trồng rau tại Đồng Bẩm - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.3 Môi trường đất trồng rau tại Đồng Bẩm (Trang 60)
Bảng 3.7: Kết quả phân tích mẫu nước ngầm tại Thành phố Thái Nguyên - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7 Kết quả phân tích mẫu nước ngầm tại Thành phố Thái Nguyên (Trang 61)
Bảng 3.8: Môi trường nước mặt tại Túc Duyên - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.8 Môi trường nước mặt tại Túc Duyên (Trang 62)
Bảng 3.9: Môi trường nước mặt tại Đồng Bẩm - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.9 Môi trường nước mặt tại Đồng Bẩm (Trang 63)
Hình 3.4: Chỉ tiêu Coliform trong mẫu nước mặt tại Túc Duyên và Đồng Bẩm - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Hình 3.4 Chỉ tiêu Coliform trong mẫu nước mặt tại Túc Duyên và Đồng Bẩm (Trang 63)
Bảng 3.10: Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt của các hộ gia đình - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.10 Hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt của các hộ gia đình (Trang 64)
Bảng 3.11: Sức khỏe người sản xuất rau tại Thành Phố Thái Nguyên - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.11 Sức khỏe người sản xuất rau tại Thành Phố Thái Nguyên (Trang 65)
Bảng 3.12: Đánh giá của người dân về hoạt động sản xuất rau - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.12 Đánh giá của người dân về hoạt động sản xuất rau (Trang 66)
Bảng 3.13: Nhận thức của người dân về rau an toàn Nội dung - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.13 Nhận thức của người dân về rau an toàn Nội dung (Trang 67)
Bảng 3.14: Chương trình tập huấn về sản xuất rau an toàn - Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Hoạt Động Sản Xuất Rau Tới Môi Trường Đất, Nước Và Sức Khỏe Người Sản Xuất Tại Khu Vực Chuyên Canh Rau Của Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.14 Chương trình tập huấn về sản xuất rau an toàn (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w