1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại chợ trung tâm trên địa bàn tỉnh an giang từ nay đến năm 2015

24 420 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 204 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẩM 1.1. Khái quát chung về an toàn vệ sinh thực phẩm: 1.1.1. An toàn vệ sinh thực phẩm là gì? An toàn vệ sinh thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng. 1.1.2. Sự cần thiết phải bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Đối với sức khỏe, bệnh tật: Trước mắt, thực phẩm là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể, đảm bảo sức khỏe con người nhưng đồng thời cũng là nguồn có thể gây bệnh nếu không đảm bảo vệ sinh. Không có thực phẩm nào được coi là có giá trị dinh dưỡng nếu nó không đảm bảo vệ sinh. Về lâu dài thực phẩm không những có tác động thường xuyên đối với sức khỏe mỗi con người mà còn ảnh hưởng lâu dài đến nòi giống của dân tộc. Sử dụng các thực phẩm không đảm bảo vệ sinh trước mắt có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng ồ ạt, dễ nhận thấy, nhưng vấn đề nguy hiểm hơn nữa là sự tích lũy dần các chất độc hại ở một số cơ quan trong cơ thể sau một thời gian mới phát bệnh hoặc có thể gây các dị tật, dị dạng cho thế hệ mai sau. Những ảnh hưởng tới sức khỏe đó phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh. Những trẻ suy dinh dưỡng, người già, người ốm càng nhạy cảm với các bệnh do thực phẩm không an toàn nên càng có nguy cơ suy dinh dưỡng và bệnh tật nhiều hơn. Sự tác động đến kinh tế và xã hội: Đối với nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển, lương thực thực phẩm là một loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng. Vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm không những cần được sản xuất, chế biến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinh vật mà còn không được chứa các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế hoặc quốc gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Những thiệt hại khi không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gây nên nhiều hậu quả khác nhau, từ bệnh cấp tính, mạn tính đến tử vong. Thiệt hại chính do các bệnh gây ra từ thực phẩm đối với cá nhân là chi phí khám bệnh, phục hồi sức khỏe, chi phí do phải chăm sóc người bệnh, sự mất thu nhập do phải nghỉ làm, ... Đối với nhà sản xuất, đó là những chi phí do phải thu hồi, lưu giữ sản phẩm, hủy hoặc loại bỏ sản phẩm, những thiệt hại do mất lợi nhuận do thông tin quảng cáo, ... và thiệt hại lớn nhất là mất lòng tin của người tiêu dùng. Ngoài ra, còn có các thiệt hại khác như phải điều tra, khảo sát, phân tích, kiểm tra độc hại, giải quyết hậu quả, ...

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Khi mức sống được nâng lên thì con người rất quan tâm đến sức khỏe, vì vậy trong quá trình ăn uống hàng ngày con người rất chú trọng đến những loại thực phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh Trong khi đó, hiện nay, tiêu thụ thực phẩm của người tiêu dùng chủ yếu từ các hệ thống phân phối truyền thống (chợ) và hiện đại (siêu thị, trung tâm thương mại) Đối với siêu thị, trung tâm thương mại việc đầu tư cơ sở hạ tầng, cũng như trang thiết bị bảo quản đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP)

Thời gian qua, công tác truyền thông về VSATTP đã có tác dụng tích cực, nhận thức của người kinh doanh có chuyển biến, đa số các hộ kinh doanh đều có ý thức chấp hành các qui định về VSATTP Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều bất cập và có khả năng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro về mức độ lây nhiễm, nhất là những mặt hàng thực phẩm tươi sống như rau xanh, thủy hải sản, Nguyên nhân chính là do công tác quản

lý nhà nước còn có những hạn chế yếu kém dẫn đến có những hàng hóa chưa kiểm tra được về nguồn gốc, xuất xứ, chất bảo quản, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, trước khi đưa vào lưu thông tại chợ, mặt khác những người kinh doanh tại chợ cũng chưa thật sự quan tâm và thậm chí có một số hộ kinh doanh cũng chưa biết đến các quy định

về VSATTP Về cơ sở vật chất phục vụ cho kinh doanh hàng thực phẩm, ngoài các chợ được đầu tư xây mới hoặc nâng cấp, cải tạo có thiết kế, trang bị đáp ứng yêu cầu VSATTP, còn thì đa số các chợ (nhất là chợ nông thôn) đã xuống cấp, cơ sở vật chất còn cũ kỷ, hư hỏng, sử dụng bằng vật liệu khó đảm bảo vệ sinh (như quầy, sạp bằng

gỗ, sắt rỉ sét, ) hoặc người dân bày bán hàng thực phẩm trên rỗ, mẹt, thậm chí bán ngay trên nền chợ, đã ảnh hưởng rất lớn về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm

Từ thực trạng trên, để quản lý tốt về vệ sinh an tonà thực phẩm nhằm đảm bảo sức khỏe, quyền lợi của người tiêu dùng góp phần nâng cao phục vụ văn minh thương mại, giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do thực phẩm không đảm bảo an toàn cũng như

do ngộ độc thực phẩm gây ra trong quá sử dụng thực phẩm tại chợ thì việc cần làm như thể nào để khắc phục vấn đề, chúng ta cần nghiên cứu để có giải pháp thỏa đáng Nhưng do thời gian và khả năng có hạn nên đề tài bản thân chưa thể có những giải pháp thật hữu hiệu để giải quyết hết vấn đề an toàn thực phẩm của các chợ trên địa bàn tỉnh An Giang mà thực hiện có lộ trình, thực hiện thí điểm ở một số chợ trước mắt tập trung ở các chợ trung tâm với mốc thời gian từ nay đến 2015 nên đề tài chỉ dừng lại nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm tại chợ trung tâm trên địa bàn tỉnh An Giang từ nay đến năm 2015”

Trang 2

An toàn vệ sinh thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng Vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng.

1.1.2 Sự cần thiết phải bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm:

- Đối với sức khỏe, bệnh tật: Trước mắt, thực phẩm là nguồn cung cấp

chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể, đảm bảo sức khỏe con người nhưng đồng thời cũng là nguồn có thể gây bệnh nếu không đảm bảo vệ sinh Không có thực phẩm nào được coi là có giá trị dinh dưỡng nếu nó không đảm bảo vệ sinh

Về lâu dài thực phẩm không những có tác động thường xuyên đối với sức khỏe mỗi con người mà còn ảnh hưởng lâu dài đến nòi giống của dân tộc Sử dụng các thực phẩm không đảm bảo vệ sinh trước mắt có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng

ồ ạt, dễ nhận thấy, nhưng vấn đề nguy hiểm hơn nữa là sự tích lũy dần các chất độc hại

ở một số cơ quan trong cơ thể sau một thời gian mới phát bệnh hoặc có thể gây các dị tật, dị dạng cho thế hệ mai sau Những ảnh hưởng tới sức khỏe đó phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh Những trẻ suy dinh dưỡng, người già, người ốm càng nhạy cảm với các bệnh do thực phẩm không an toàn nên càng có nguy cơ suy dinh dưỡng và bệnh tật nhiều hơn

- Sự tác động đến kinh tế và xã hội: Đối với nước ta cũng như nhiều

nước đang phát triển, lương thực thực phẩm là một loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng

Vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm không những cần được sản xuất, chế biến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinh vật mà còn không được chứa các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế hoặc quốc gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng

Những thiệt hại khi không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gây nên nhiều hậu quả khác nhau, từ bệnh cấp tính, mạn tính đến tử vong Thiệt hại chính do các bệnh gây ra từ thực phẩm đối với cá nhân là chi phí khám bệnh, phục hồi sức khỏe, chi phí do phải chăm sóc người bệnh, sự mất thu nhập do phải nghỉ làm, Đối với nhà sản xuất, đó là những chi phí do phải thu hồi, lưu giữ sản phẩm, hủy hoặc loại bỏ sản phẩm, những thiệt hại do mất lợi nhuận do thông tin quảng cáo, và thiệt hại lớn nhất

là mất lòng tin của người tiêu dùng Ngoài ra, còn có các thiệt hại khác như phải điều tra, khảo sát, phân tích, kiểm tra độc hại, giải quyết hậu quả,

Do vậy, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để phòng các bệnh gây ra từ thực phẩm có ý nghĩa thực tế rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã hội, bảo

vệ môi trường sống của các nước đã và đang phát triển, cũng như nước ta Mục tiêu

Trang 3

đầu tiên của vệ sinh an toàn thực phẩm là đảm bảo cho người ăn tránh bị ngộ độc do

ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất độc; thực phẩm phải đảm bảo lành và sạch

1.2 Nội dung quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm:

a) Hệ thống quản lý:

Tại tuyến Trung ương, công tác quản lý ATTP được giao cho 3 Bộ quản lý: Bộ

Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương Tại Bộ Y tế, Cục

An toàn vệ sinh thực phẩm được thành lập để giúp Bộ Y tế thực hiện chức năng quản

lý nhà nước về VSATTP (theo Nghị định 79/2008/NĐ-CP) Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do tính chất đa ngành, để bao quát toàn bộ quá trình sản xuất nông lâm thủy sản, công tác quản lý chất lượng, VSATTP nông lâm thủy sản hiện nay được phân công cho nhiều đơn vị thuộc Bộ thực hiện như Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản, Cục Chăn nuôi, Cục Trồng trọt, Tổng cục Thủy sản, Cục Thú y, Cục Bảo vệ thực vật và Cục Chế biến Thương mại Nông lâm thủy sản và Nghề muối Tại Bộ Công Thương, công tác quản lý ATTP giao cho Vụ Khoa học Công nghệ làm đầu mối

Tại tuyến tỉnh, thực hiện Nghị định 79/2008/NĐ-CP của Chính phủ, đến nay đã

có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) trực thuộc Sở Y tế với trung bình khoảng 11 biên chế hành chính; 47/63 tỉnh đã thành lập Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thuỷ sản, các địa phương còn lại có Phòng Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm đầu mối tổ chức các nhiệm vụ quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm

Tại tuyến huyện, ước cả nước số người tham gia quản lý chất lượng ATTP là 1.949 người (trung bình là 3,0 người/huyện)

Tại tuyến cấp xã, ước cả nước số người tham gia quản lý chất lượng ATTP là 11.516 người (trung bình là 1,05 người/xã) (không chuyên trách) nên chưa được trả lương vì hiện tại cấp xã/phường không được giao chức năng quản lý về ATTP

b) Thanh tra chuyên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm:

Tại Trung ương đã thành lập Thanh tra Chi cục ATVSTP và Thanh tra Chi cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Tại tuyến tỉnh có Thanh tra Chi cục ATVSTP với tổng số cán bộ là 171 người và Thanh tra Chi cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản với 1-3 cán bộ/tỉnh Ngoài ra, trong Ngành nông nghiệp còn có hệ thống thanh tra chuyên ngành về thú y, bảo vệ thực vật từ Trung ương đến địa phương cũng góp phần vào công tác thanh tra, đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm

c) Hệ thống kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm:

Thực hiện Nghị định 79/2008/NĐ-CP, mạng lưới kiểm nghiệm ATTP đang được kiện toàn từ Trung ương đến địa phương Theo thống kê của Cục An toàn vệ sinh

Trang 4

thực phẩm, cả nước hiện có 72 cơ sở tham gia kiểm nghiệm ATTP trong ngành y tế Các trung tâm kiểm nghiệm thuộc lĩnh vực khoa học công nghệ, Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tham gia tích cực vào công tác kiểm nghiệm thực phẩm.

Tuy nhiên, qua thực tế giám sát cho thấy, nhiều cơ sở kiểm nghiệm còn chưa đáp ứng yêu cầu về hạ tầng, nhân lực được đào tạo, hóa chất, mẫu chuẩn, thiết bị hiện đại có độ chính xác cao rất thiếu, đặc biệt là các la bô thuộc trung tâm y tế dự phòng các tỉnh Đáng chú ý là chưa có nhiều la bô đạt chuẩn ISO/IEC/17025 là yêu cầu thiết yếu trong kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm

d) Quản lý chất lượng ATTP trong xuất khẩu, nhập khẩu thực phẩm:

- Đối với xuất khẩu: Theo quy định hiện hành, việc quản lý chất lượng,

an toàn thực phẩm sản phẩm nông lâm thủy sản được thực hiện theo Thỏa thuận song phương của Cơ quan thẩm quyền 2 nước, theo yêu cầu của nước nhập khẩu hoặc theo quy định quản lý của Việt Nam trong từng thời kỳ (hay còn gọi là kiểm tra bắt buộc) Các trường hợp còn lại, phần lớn nội dung chất lượng an toàn thực phẩm được thực hiện theo cam kết nêu tại Hợp đồng thương mại giữa bên mua và bên bán, thường có kết quả giám định bên thứ 3

- Đối với nhập khẩu: Việc quản lý các sản phẩm thực phẩm nhập khẩu

được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm, kiểm dịch động thực vật cũng như các quy định về thương mại, hải quan Đặc biệt, từ 01/9/2010, các sản phẩm động vật (bao gồm cả thủy sản) xuất khẩu vào Việt Nam phải được sản xuất tại các cơ sở có tên trong Danh sách được cơ quan thẩm quyền Việt Nam (thuộc

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) công nhận đủ điều kiện và được phép xuất khẩu vào Việt Nam

1.3 Những quy định của nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm:

Vệ sinh an toàn thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân và sự phát triển của giống nòi An toàn thực phẩm đang được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ Ngành và toàn xã hội Từ đó, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật đã

ra đời, tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý an toàn thực phẩm: Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 có hiệu lực thi hành

từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 thay thế Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm số 12/2003/PL-UBTVQH11 là bước chuyển biến rõ nét, tích cực, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ đối với vấn đề an toàn thực phẩm Theo sau Luật

An toàn thực phẩm là hàng loạt các Nghị định, Thông tư hướng dẫn đã ra đời: Nghị định 38/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm được Chính phủ ban hành ngày 25 tháng 4 năm 2012 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11 tháng 6 năm 2012; Thông tư 15/2012/TT-BYT, Thông tư 16/2012/TT-BYT, Thông tư 19/2012/TT-BYT, Thông tư 26/2012/TT-BYT, Thông tư 30/2012/TT- BYT, Nghị định 91/2012/NĐ-CP, Quyết định số 11/2006/QĐ-BYT ngày 09/3/2006 về việc

Trang 5

ban hành quy định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm có nguy cơ cao; Quyết định số 80/2005/QĐ-BCT ngày 17/11/2005 về việc quy định mức thu, nộp, quan lý và sử dụng phí, lệ phí quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm; Quyết định số 39/2005/QĐ-BYT ngày 28/11/2005 về việc ban hành Quy định về điều kiện vệ sinh chung đối với cơ sở sản xuất thực phẩm; Thông tư số 32/2012/TT-BYT ngày 05/12/2012 quy định về điều kiện

an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố; Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng chặt chẽ và hoàn thiện

là nền tảng vững chắc cho công tác quản lý an toàn thực phẩm

Tóm lại: Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng trong sự

nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa

xã hội và thể hiện nếp sống văn minh, đảm bảo an ninh chính trị và hội nhập quốc

tế, Chính vì vậy mà vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm thời gian qua luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các Bộ Ngành và toàn xã hội bằng sự thông qua việc ban hành nhiều chủ trương chính để điều hành quản lý và phân công trách nhiệm quản lý chặt chẽ từ từ trung ương cho đến địa phương

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM Ở

CÁC CHỢ TRUNG TÂM TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG VỪA QUA

2.1 Đặc điểm tình hình:

2.1.1 Đặc điểm tình hình chung của tỉnh:

An Giang là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi đầu tiên dòng Mê Kông chảy vào địa phận Việt Nam, phía tây bắc giáp nước bạn Campuchia (với đường biên giới dài 104 km), phía tây nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía nam giáp thành phố Cần Thơ và phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp Tổng diện tích

tự nhiên toàn tỉnh là 3.536,7 km2, chiếm 8,7% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,1% diện tích cả nước Tỉnh gồm thành phố tỉnh lỵ Long Xuyên, Châu Đốc, 01 thị xã (Tân Châu) và 8 huyện, với 156 xã, phường và thị trấn Dân số trung bình tỉnh An Giang năm 2010 là 2.149.457 người, là tỉnh có số dân đông nhất trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và xếp thứ 4 toàn quốc (chỉ sau TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đồng Nai)

Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh vào khoảng 297.433,4 ha Đất ở An Giang được hình thành bởi sự kết hợp giữa biển và sông ngòi, nên rất đa dạng, không chỉ phù hợp cho phát triển nông nghiệp mà còn thích hợp với một số loại cây công nghiệp ngắn ngày Với hệ thống sông ngòi dày đặc nên An Giang có nguồn nước ngọt dồi dào, nguồn nước mặt phong phú cung cấp trực tiếp cho các hoạt động sản xuất và đời sống dân cư Với nguồn lợi thủy sản phong phú và đa dạng, An Giang có lợi thế hơn

Trang 6

các tỉnh trong vùng về điều kiện khai thác và phát triển ngành nuôi trồng, chế biến thủy hải sản Các loại thủy hải sản chủ yếu gồm cá, tôm, cua, dù có trữ lượng hạn chế, nhưng với diện tích mặt nước lớn, nguồn lợi thủy sản lại đa dạng về chủng loại nên khai thác được quanh năm (trừ mùa bão, lũ, ) Nguồn khoáng sản chủ yếu bao gồm các loại đá, cát, vật liệu trang trí, phân bố dàn trải trên toàn tỉnh, cát xây dựng tập trung ở khu vực lòng các con sông, ngoài ra, còn có các loại khoáng sản có tiềm năng chưa được khai thác như: Than bùn dùng để sản xuất phân hữu cơ; vỏ sò để sản xuất xi măng trắng và làm phối liệu trong phân NPK;

- An Giang là một trong số 10 tỉnh có GDP lớn nhất cả nước Năng lực cạnh tranh của tỉnh năm 2010 tiếp tục nằm trong nhóm “Tốt” của Việt Nam (vị trí 14/63) Giá trị tăng thêm (GDP) của An Giang tính đến năm 2010 là 16,8 ngàn tỷ đồng (theo giá so sánh 1994), gấp 1,6 lần so với năm 2005; năm 2011 đạt 18,6 ngàn tỷ đồng, tăng 10,2% so năm 2010 Giá trị tăng thêm theo giá hiện hành là 47,2 ngàn tỷ đồng, gấp 2,5 lần so năm 2005; năm 2011 đạt 59,7 ngàn tỷ đồng, tăng 26,5% so năm 2010

Giai đoạn 2006 - 2010, tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh là 10,2%/năm, cao hơn so với giai đoạn 2001-2005 (8,9%/năm) Xét theo ngành kinh tế, trong giai đoạn

2006 - 2010, khu vực dịch vụ tăng nhanh nhất với 13,2%/năm, tiếp đến là khu vực công nghiệp - xây dựng (CN-XD) với 12,8%/năm và cuối cùng là khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3,8%/năm Tốc độ tăng trưởng của hai ngành CN-XD và dịch vụ của tỉnh là cao hơn so với mặt bằng chung của cả nước Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến tích cực, theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư nghiệp, tăng dần tỷ trọng CN-XD và dịch vụ Theo đó, ngành dịch vụ tăng đáng kể từ 49,3% năm 2005 lên 53,5% năm 2010, trong khi ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm tương ứng từ 38,5% xuống còn 34,4%, ngành CN-XD cơ cấu chuyển dịch chậm và có chiều hướng ổn định

ở mức từ 12,3% còn 12%

- Tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất (GTSX) khu vực nông, lâm, thủy sản (giá so sánh 94) giai đoạn 2006 - 2010 là 5,4%/năm, trong đó, ngành nông nghiệp tăng 4,2%/năm, lâm nghiệp tăng 2,5%/năm và thủy sản tăng 10,7%/năm

+ Trồng trọt: Từng bước chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá, gắn với thị trường, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm Công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và hiệu quả cao vào sản xuất, góp phần làm tăng đáng kể năng suất của các sản phẩm nông nghiệp Đặc biệt, sản lượng lúa của An Giang đã tăng nhanh, năm 2006 đạt 2.923 ngàn tấn, năm 2008 là 3.519 ngàn tấn, năm 2010 đạt 3.659 ngàn tấn, đến năm 2011 đạt 3.857 ngàn tấn, chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng của vùng đồng bằng sông Cửu Long

+ Chăn nuôi: Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong khu vực nông nghiệp có

xu hướng tăng chậm và tỷ trọng giảm đáng kể trong cơ cấu nông nghiệp, năm 2010 là 6,5% trong khi năm 2005 là 7,2% Hiện nay, nhiều loại giống vật nuôi mới được đưa vào chăn nuôi, hình thức chăn nuôi trang trại theo phương thức chăn nuôi công nghiệp đang hình thành và ngày càng phát triển Trong đó, chăn nuôi gia cầm đạt tốc độ tăng

Trang 7

nhanh với mức bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là 8,7%/năm, số lượng đàn heo lại có

xu hướng giảm (giảm mạnh vào các năm 2006 và 2007) với tốc độ âm -2,4%/năm, tuy nhiên đã tăng nhẹ vào 2009 và 2010 Số lượng đàn trâu, bò vẫn giữ ở mức ổn định, hàng năm sự tăng giảm không đáng kể

+ Ngành thủy sản: Tốc độ tăng GTSX ngành thuỷ sản giai đoạn 20062010 đạt bình quân 10,7 %/năm Xét về tỷ trọng, GTSX thuỷ sản trong tổng GTSX ngành nông lâm ngư nghiệp có xu hướng tăng, từ 16,5% năm 2005 lên 21% năm 2010 và năm

2011 chỉ còn 20,7% Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh, sản lượng năm

2010 đạt 279.773 tấn, bằng 1,5 lần so năm 2005, năm 2011 đạt 295.216 tấn, tăng 5,5%

so năm 2010, góp phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh Thủy sản vốn là mặt hàng có nhiều tiềm năng và lợi thế của tỉnh, tuy nhiên vẫn chưa được khai thác xứng tầm, do tiến bộ khoa học, kỹ thuật chưa được áp dụng rộng rãi, nhất là ứng dụng quy trình nuôi sạch, an toàn Mặt khác, do khai thác quy mô nhỏ lẻ, bán chuyên nghiệp, công cụ thô sơ, người dân không đăng ký hoạt động khai thác thuỷ sản theo qui định, không tuân thủ theo mùa vụ, khiến nguồn lợi thủy sản tự nhiên cạn kiệt, môi trường sinh sản bị thu hẹp

- Tỉnh có khả năng hợp tác phát triển một số lĩnh vực với các tỉnh, thành phố trong vùng như liên kết khai thác du lịch, phát triển ngành chế biến nông sản, thủy sản, đào tạo nhân lực cung cấp lao động cho các khu công nghiệp trong vùng, Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhiều đề tài, kết quả nghiên cứu đã được chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả như: chọn tạo giống lúa, nếp, bắp, đậu các loại, cá tra, cá lăng nha, cá leo, cá ngát; thu gom, xử lý chất thải rắn, lò gạch đứng ít ô nhiễm, góp phần làm gia tăng năng suất, giá trị, chất lượng của sản phẩm Đồng thời, tỉnh cũng đã có các chương trình đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nghiên cứu, đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ, sử dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh, giảm chi phí sản xuất

- Tỉnh có thế mạnh về du lịch, bởi có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh nổi tiếng như khu du lịch núi Sam, núi Cấm, lễ hội bà Chúa Xứ, khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng (được xếp hạng di tích cấp quốc gia đặc biệt), làng

bè trên sông, du lịch mùa nước nổi, Bên cạnh đó, với lợi thế đất liền gần các danh lam thắng cảnh của Campuchia và biên giới Thái Lan giáp Campuchia Do vậy, khách

du lịch đến An Giang không chỉ để tham quan các phong cảnh thiên nhiên và các lễ hội trong tỉnh mà còn để du lịch sang các nước

ASEAN khác

2.1.2 Đặc điểm tình hình về các chợ trung tâm:

- Vị trí, địa điểm: Các chợ trung tâm trên địa bàn tỉnh An Giang thường tập trung ở ven lộ của trung tâm của huyện, thị xã, thành phố Bên cạnh đó, với đặc điểm riêng có của vùng sông nước, một số chợ trung tâm nằm ven sông lạch

Trang 8

- Hàng hóa

+ Về hàng hoá trao đổi chính: Các loại hàng hoá chủ yếu được trao đổi ở các chợ nói chung và qua hệ thống chợ trung tâm nói riêng là hàng thực phẩm tươi sống, nông sản khô, thực phẩm công nghệ, hàng tạp hoá và hàng may mặc,

+ Về quy mô và phạm vi trao đổi: Do nằm ở vị trí trung tâm nên quy mô tuơng đối lớn trung bình khoảng 3.000 m2, có khoảng 200 điểm kinh doanh, phạm vi trao đổi hàng hóa rộng lớn để phân phối hàng hóa cho toàn địa bàn huyện, thị, thành phố

+ Về đối tượng tham gia trao đổi: Đối tượng chủ yếu tham gia trao đổi trên chợ

là các hộ tư thương, người sản xuất nhỏ bán trực tiếp, người tiêu dùng trên địa bàn, các công ty tư nhân Ngoài ra, còn có đội ngũ thương nhân trong và ngoài tỉnh ở các chợ thực hiện các hoạt động thu gom, tích trữ và phát luồng hàng hoá đến các thị trường tiêu thụ bên ngoài

- Phương thức giao dịch: Phương thức giao dịch chủ yếu là bán lẻ và bánbuôn

- Cơ sở vật chất - kỹ thuật, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh: Mặt bằng chợ được đầu tư xây dựng kiên cố bằng xi măng, sắt thép như nhà lồng chợ Các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh hầu như chưa phát triển, chủ yếu là các loại hình đơn giản như bốc vác, vận chuyển, Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức các dịch vụ tối thiểu tại chợ: Trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ đo lường

Toàn tỉnh hiện chỉ có 07 siêu thị và trung tâm thương mại, tập trung tại thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và thị xã Tân Châu; còn chợ truyền thống hiện có

282 chợ bố trí khắp các xã, phường trên địa bàn tỉnh Thực tế, chợ là kênh phân phối thực phẩm được nhiều người tiêu dùng lựa chọn phục vụ cho bữa ăn hàng ngày nhất

2.1.3 Tình hình bảo đảm VSATTP tại các chợ trung tâm trên địa bàn

tỉnh:

* về nhận thức của thương nhân, người tiêu dùng và cán bộ quản ỉỷ chợ về việc bảo đảm VSATTP trong các chợ:

- Vấn đề VSATTP ngày càng được các ngành, các địa phương chú trọng

và xã hội đặc biệt quan tâm Thời gian qua, các văn bản pháp luật về VSATTP ngày càng hoàn thiện, chặc chẽ; các ngành chức năng thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ VSATTP cho các thương nhân, từng bước đã tác động đến nhận thức, cũng như kiến thức về VSATTP của người sản xuất, người kinh doanh; điều kiện về cơ sở vật chất ngày càng được cải thiện đã cơ bản đáp ứng yêu cầu giao lưu hàng hóa và bảo

vệ quyền lợi người tiêu dùng

- Người tiêu dùng đã có nhận thức rõ và xác định tầm quan trọng của công tác bảo đảm VSATTP nên có sự cảnh giác đối với những thông tin liên quan đến hàng thực phẩm Một bộ phận người tiêu dùng ở nông thôn còn nhận thức chưa cao, chưa phân biệt được hàng đảm bảo VSATTP, hàng giả, hàng nhái, hàng không có nguồn gốc rõ ràng, Do tập quán tiêu dùng dễ dãi vô tình đã tiếp tay cho các đối

Trang 9

tượng sản xuất, chế biến kinh doanh hàng giả, hàng không đảm bảo VSATTP.

- Việc tuyên truyền sâu rộng về VSATTP qua các phương tiện thông tin đại chúng đã có tác dụng tích cực về nhận thức của người kinh doanh

- Sở Công Thương chủ trì, phối hợp các ngành chức năng tổ chức nhiều lớp tập huấn về đảm bảo VSATTP nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực quản lý cho cán bộ quản lý chợ trong việc quản lý, hướng dẫn, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với các tiêu chí qui định

* về tình hình thực hiện quy định của pháp luật và Nội quy chợ về VSATTP của thương nhân kinh doanh trong chợ:

Thương nhân kinh doanh trong chợ tuy có chấp hành quy định của pháp luật và Nội quy chợ về VSATTP nhưng vẫn chưa tuân thủ triệt để, nhất là việc thực hành vệ sinh thực phẩm, như còn bày bán thực phẩm chín cạnh hàng thực phẩm tươi sống, còn kinh doanh hàng hóa không đúng quy định về ghi nhãn, bán thịt gia súc, gia cầm chưa qua kiểm tra thú y Hàng thực phẩm chín không có tủ kính che đậy, nơi chế biến, các bàn ăn và người chế biến thực phẩm chưa quan tâm thực hiện đúng tiêu chí về VSATTP như sử dụng tạp dề, khẩu trang khi chế biến thực phẩm, không kiểm tra sức khỏe định kỳ; sự hiểu biết về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của những người tham gia chế biến còn hạn chế Một số hộ kinh doanh còn bày thịt gia súc, gia cầm vào những mẹt nhỏ, vỏ bìa cattông đặt ngay dưới nền đất ẩm, không quan tâm tới vấn đề ô nhiễm thực phẩm, Bên cạnh đó, vệ sinh môi trường ở các chợ cũng cũng là tác nhân làm hạn chế việc đảm bảo VSATTP, do phần lớn cơ sở vật chất của chợ đã xuống cấp,

hệ thống xử lý nước thải và chất thải không đạt yêu cầu, gây ô nhiễm môi trường

2.2 Những kết quả đạt được và nguyên nhân trong công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm:

* Về chủ trương, quy định về việc bảo đảm VSATTTP:

- Các văn bản chỉ đạo và qui định của tỉnh về VSATTP đã ban hành:Luật An toàn thực phẩm đã được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 6 năm

2010 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 Đây là bước ngoặc quan trọng, thể hiện sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước đối với công tác quản lý về an toàn vệ sinh thực phẩm và nằm trong hệ thống quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm từ Trung ương đến địa phương An Giang đã triển khai kế hoạch 5 năm và kế hoạch hoạt động chi tiết của từng năm, thiết lập hệ thống quản lý và tổ chức thực hiện công tác ATVSTP từ tỉnh đến huyện, xã Toàn tỉnh có 16.324 cơ sở thực phẩm được phân cấp quản lý, trong

đó tỉnh quản lý 160, huyện quản lý 5.114 và xã quản lý 11.050 cơ sở Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành quyết định số 321/QĐ-UBND ngày 24/02/2009 về việc thành lập Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm trực thuộc Sở Y tế tỉnh An Giang Mạng lưới ATVSTP triển khai ở 100% xã, phường

Trang 10

Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang đã ban hành Chỉ thị số 08/2007/CT- UBND ngày 19/4/2007, về việc tăng cường công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; Quyết định số 998/QĐ-UBND ngày 13/4/2007, về việc thành lập Ban điều hành công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh An Giang; Ban điều hành bảo đảm công tác ATVSTP đã xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh trong công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, tỉnh chưa ban hành Quy định tiêu chuẩn về VSATTP trong chợ, để các Ban Quản lý chợ làm căn

cứ quản lý và điều hành hoạt động VSATTP tại chợ

- Tác động của hệ thống văn bản pháp luật (của Trung ương, của tỉnh) đối với công tác VSATTP tại các chợ:

Thực hiện các văn bản pháp luật của Trung ương và của tỉnh đối với công tác VSATTP tại các chợ, công tác tuyên truyền giáo dục đã có sự chuyển biến và nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, đã góp phần làm thay đổi nhận thức và hành vi của người tiêu dùng trong bảo đảm VSATTP Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, đã hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi vi phạm pháp luật về VSATTP Hệ thống văn bản pháp luật của Trung ương, của tỉnh là hành lang pháp lý

để các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm chính đáng và người sử dụng thực phẩm tại các chợ được hưởng quyền lợi, người tiêu dùng yên tâm hơn khi mua sắm thực phẩm tại chợ Hiện tại, cán bộ quản lý công tác VSATTP tại các chợ trên địa bàn tỉnh đã được tăng thêm về nhân lực, nhiều cán bộ được cử tham gia các khóa đào tạo do Sở Y tế, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong tỉnh

tổ chức; một số Trung tâm Y tế huyện, thành phố cũng thành lập Ban An toàn vệ sinh thực phẩm và phân công cán bộ phụ trách Sự phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, đoàn thể trong công tác thanh, kiểm tra và công tác truyền thông về đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội cũng như việc đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp nên cơ sở vật chất các chợ trên địa bàn tỉnh ngày càng được hoàn thiện, là điều kiện rất quan trọng nhằm nâng cao công tác VSATTP tại các chợ

* về cơ chế, chính sách và biện pháp của tỉnh về VSATTP:

- Cơ chế, chính sách và biện pháp của tỉnh đã ban hành nhằm khuyến khích tạo điều kiện để các chủ thể sản xuất, kinh doanh thực phẩm thực hiện tốt các quy định về VSATTP:

Hiện nay trên địa bàn tỉnh, công tác về VSATTP được thực hiện theo Luật An toàn thực phẩm; Căn cứ Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn thực phẩm; Thông tư số 47/2010/TT-BCT ngày 31/12/2010 của Bộ Công Thương quy định việc kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm thực phẩm trong quá trình sản xuất thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Công Thương; Thông tư số 15/2012/TT-BYT, ngày 12/9/2012 của Bộ Y tế về Quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Quyết định số 41/2005/QĐ-BYT của

Trang 11

Bộ Y tế về việc ban hành Quy định điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh, dịch vụ, phục vụ ăn uống.

- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và cơ chế, chính sách về VSATTP (trong đó có chợ) trên địa bàn tỉnh:

Công tác tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về VSATTP trong thời gian qua được thực hiện khá tốt, bám sát các chủ đề của

“Tháng hành động”, Tết Nguyên Đán, Tết Trung thu, các đợt có vấn đề về một số thực phẩm và dịch bệnh xảy ra Kết quả tuyên truyền từ năm 2006 đến 9 tháng đầu năm 2012:

Qua đó, cho thấy hoạt động tuyên truyền, giáo dục về VSATTP trên địa bàn tỉnh ngày càng được tăng cường, các buổi lễ phát động tháng hành động vì chất lượng VSATTP được tổ chức quy mô với sự hưởng ứng của các ban, ngành, đoàn thể cùng đông đảo người dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh tham gia

- Tác động của cơ chế, chính sách đối với việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn tỉnh:

Chi Cục vệ sinh an toàn thực phẩm- Sở Y tế đã thực hiện một số cuộc điều tra kiến thức, thái độ, hành vi của nhân viên y tế, người sản xuất, kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống và người tiêu dùng Kết quả như sau: Năm 2007, điều tra 598 người tiêu dùng và 28 cán bộ quản lý ATVSTP, tỷ lệ người tiêu dùng nhận biết và lựa chọn thực phẩm an toàn là trên 50% Năm 2008, tỷ lệ người tiêu dùng lựa chọn người bán hàng đúng 24,7%; lựa chọn nơi bán hàng đúng 35%, lựa chọn thức ăn an toàn là 52,2%

Số

TT Hoạt động

Số „ lượng/Buổi Phạm vi bao phủ Số người nghe/

SP khác (bản tin, bài viết, ) 23,299 0

Nguồn: Chi cục VSATTP- Sở Y tế

Trang 12

2009, tỷ lệ người sản xuất thực phẩm có thái độ đúng khi tham gia đảm bảo ATVSTP

là 94,3%; có kiến thức đúng thực hiện các chính sách VSATTP là 64,4%; thực hành đúng trong việc tiếp cận các thông tin về ATVSTP khi cần thiết là 80% Năm 2010, Chương trình ATVSTP đã thực hiện cuộc điều tra kiến thức, thái độ, thực hành ATVS

TP với tỷ lệ khá và trung bình Người sản xuất đạt 83%; người kinh doanh đạt 53% và Người tiêu dùng đạt 89%

- Công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật, cơ chế chính sách

về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn tỉnh:

Việc thanh tra, kiểm tra về vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những công việc được quan tâm hàng đầu, nhằm đảm bảo sức khỏe, quyền lợi tốt nhất cho người tiêu dùng Hàng năm, Sở Y tế và các ngành chức năng đã tiến hành thanh tra, kiểm tra đột xuất các loại thực phẩm nguy cơ cao, kiểm tra định kỳ, kiểm tra theo chuyên đề, lấy mẫu kiểm nghiệm và test nhanh Trong đó, có kiểm tra tại các chợ, các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể, Kết quả, cơ sở thực phẩm thực hiện VSATTP đúng quy định qua từng năm như sau:

Đơn vị tính: %

Nhìn chung, công tác kiểm tra VSATTP đã có nhiều tiến bộ Số lượt kiểm tra,

số mẫu kiểm nghiệm định kỳ và số test nhanh được thực hiện nhiều hơn

- Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác bảo đảm

vệ sinh an toàn thực phẩm trong các chợ:

Thời gian qua, hoạt động liên ngành Y tế, Quản lý thị trường, Cảnh sát môi trường và Thú y đã có sự phối hợp đồng bộ đi vào nề nếp và thường xuyên triển khai thực hiện công tác VSATTP như tuyên truyền các quy định của pháp luật về VSATTP, công tác kiểm tra và xử lý vi phạm theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo liên ngành VSATTP của tỉnh Đặc biệt là trong công tác phòng chống ngộ độc thực phẩm, thực phẩm không an toàn và nguồn thực phẩm gia súc, gia cầm trong mùa dịch bệnh Điều đó giúp cho việc kiểm tra được thực hiện thuận lợi, đi vào nề nếp và cơ sở thực hiện an toàn thực phẩm nghiêm túc Bên cạnh, công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm còn được nhiều đoàn thể khác tham gia như Giáo dục, Phụ nữ, Văn hóa thông tin, Từ đó tập hợp được một sức mạnh, tạo thuận lợi chuyển biến mạnh mẽ ý thức tại các cấp, các ngành, ý thức của nhà sản xuất, kinh doanh

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Ngày đăng: 07/06/2016, 00:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w