1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề bảo tồn và phát huy ca trù trong hoạt động du lịch tại hải phòng hiện nay

86 692 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 552 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, tại Hải Phòng một số CLB đã đượckhai thác đưa vào phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế như CLB Ca trù ĐìnhHàng Kênh, CLB Ca trù Đông Môn Thủy Nguyên… Tuy nhiên, Ca trù H

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ca trù là một trong những loại hình nghệ thuật truyền thống, một trong nhữnggiá trị đặc sắc của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam Là bộ môn nghệ thuật tổng hợpcủa nhạc khí là phách, đàn đáy và trống chầu Ca trù là sự kết hợp tuyệt vời, tinh tếgiữa thanh nhạc, khí nhạc và văn chương mà chúng ta khó tìm thấy trong bộ môn âmnhạc khác Do vậy nghiên cứu Ca trù cũng là góp phần vào việc nghiên cứu các giá trịtruyền thống trong văn hóa Việt Nam

Tuy nhiên, cũng như nhiều loại hình di sản phi vật thể khác, nghệ thuật Ca trùcũng đã trải qua nhiều bước thăng trầm do tác động của hoàn cảnh xã hội khác nhau.Nhưng sức sống và giá trị nghệ thuật của nó vẫn luôn tiềm ẩn, tỏa sáng với vẻ đẹp độcđáo trong nghệ thuật diễn xướng của dân tộc

Khoảng chục năm trở lại đây dư luận xã hội và các cơ quan thông tấn báo chí

đã từng lên tiếng về nguy cơ thất truyền của Ca trù Nguy cơ mai một dần và vĩnh viễnmất đi Ca trù là một nguy cơ có thực, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng sưu tầm,nghiên cứu, bảo tồn Ca trù như một vốn quý văn hóa của dân tộc, góp phần chấn hưngnghệ thuật và sinh hoạt Ca trù

Tháng 10 năm 2009, Ca trù được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vậtthể cần được bảo vệ khẩn cấp Theo đó vấn đề bảo tồn và phát huy nghệ thuật nàyđược đặt ra Nhiều giáo phường, CLB Ca trù được thành lập và hoạt động ở nhiều địaphương như Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tĩnh, Hải Dương, Thành phố Hồ Chí Minh…trong

đó có Hải Phòng Hải Phòng là một thành phố du lịch đang trên đà phát triển mạnh vàcũng là thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi trong khai thác Ca trù phục vụ dukhách Không chỉ phát triển du lịch về mặt tự nhiên, mà Hải Phòng đang định hướngphát triển du lịch văn hóa nghệ thuật Hiện nay, tại Hải Phòng một số CLB đã đượckhai thác đưa vào phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế như CLB Ca trù ĐìnhHàng Kênh, CLB Ca trù Đông Môn Thủy Nguyên…

Tuy nhiên, Ca trù Hải Phòng cũng đang phải đối mặt với những thách thức như

số lượng nghệ nhân giảm, kén người nghe, lớp trẻ ít chú tâm đến việc bảo tồn Vì vậy

em đã chọn lựa đề tài: “ Vấn đề bảo tồn và phát huy Ca trù trong hoạt động du lịch tạiHải Phòng hiện nay” nhằm tìm hiểu sâu sắc hơn về Ca trù Đồng thời, với vai trò làsinh viên du lịch, cùng với lòng yêudu lịch, sự yêu thích Ca trù, em mong muốn đưa

Trang 2

nhằm góp phần bảo tồn và phát triển Ca trù Hơn thế nữa, là một người con được sinh

ra và lớn lên trên quê hương Hải Phòng, em mong muốn được góp chút sức nhỏ bé củamình trong việc khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật truyền thống quê hươngkhông chỉ bó hẹp trong phạm vi địa phương mà còn lan rộng ra phạm vi quốc gia vàquốc tế

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Thực hiện đề tài này, em mong muốn góp phần vào xây dựng chương trìnhhành động cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy di sản Ca trù, làm cho Ca trù Hải Phòngđược phát triển trong môi trường mới - môi trường du lịch, từ đó sáng tạo và lưutruyền cho thế hệ sau, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của địa phương Hải Phòng

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Đề tài “ Vấn đề bảo tồn và phát huy Ca trù trong hoạt động du lịch tại Hảiphòng hiện nay” nhằm:

- Tìm hiểu những giá trị nghệ thuật của Ca trù Hải Phòng qua đó thấy đượcnhững nét văn hóa đặc sắc của quê hương

- Tìm hiểu thực trạng khai thác Ca trù Hải Phòng trong hoạt động du lịch

- Đưa ra các giải pháp bảo tồn và phát huy Ca trù để phục vụ cho hoạt động dulịch

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Ca trù Hải Phòng trong hoạt động du lịch

- Phạm vi nghiên cứu: Các CLB Ca trù tại Hải Phòng và quan tâm đến biệnpháp bảo tồn, khai thác Ca trù phục vụ hoạt động du lịch

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Dưới góc độ bộ môn nghệ thuật, Ca trù được khá nhiều học giả dày côngnghiên cứu Có thể kể tên một số công trình và các tác giả tiêu biểu như:

Ca trù- thú chơi tao nhã, tác giả Nguyễn Quảng Tuân, NXB Văn học , 2003.

Góp phần tìm hiểu lịch sử Ca trù và Lịch sử và nghệ thuật Ca trù Việt Nam,

của Nguyễn Xuân Diện đã cho biết tại Viện Hán Nôm có 39 quyển sách viết bằng chứNôm về Ca trù và 78 văn bia về thể lệ, sinh hoạt Ca trù

Ca trù nhìn từ nhiều phía, tác giả Phạm Đình Hổ, Xuân Lan, Phạm Văn

Duyệt, NXB Văn hóa thông tin, 2003

Trang 3

Giáo sư Trần Văn khê, một người con Việt Nma sống ở nước ngoài cũng dàycông nghiên cứu và giới thiệu loiaj hình nghệ thuật đặc sắc này của dân tộc đến bạn bè

quốc tế Có thể tìm hiểu những ghi chép của ông về Ca trù thông qua cuốn: “ Trần Văn Khê- âm nhạc dân tộc”, NXB Trẻ, 2000.

Về Ca trù Hải Phòng có thể kể tên tác phẩm “Tìm hiểu Ca trù Hải Phòng” do

tác giả Giang Thu, - Vũ Thu Loan viết Trong tác phẩm này, các tác giả đã giới thiệukhái quát về lịch sử hình thành, phát triển và một vài nét về đặc trưng nghệ thuật của

Ca trù Hải Phòng

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phương pháp của ngành nghiên cứu văn hóa thườngdùng như:

- Phương pháp điền dã( khảo sát, phỏng vấn, ghi âm, chụp hình)

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Đóng góp của khóa luận

- Khóa luận chính là một trong những nguồn tư liệu giúp cho những ngườimuốn tìm hiểu môn nghệ thuật hát Ca trù ở Hải Phòng

- Cung cấp những thông tin về hát Ca trù cũng như những hình thức biểu diễnđộc đáo ở Hải Phòng cho các độc giả

- Quảng bá di sản văn hóa phi vật thể ở quê hương Hải Phòng

- Phục vụ nhu cầu thưởng thức âm nhạc của người yêu nghệ thuật trên khắpmọi miền đất nước

- Đưa ra một số giải pháp nhằm khôi phục, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Catrù- niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là khai thác trong hoạt động du lịch

Qua những kết quả thu được từ việc sưu tầm, nghiên cứu về nghệ thuật Ca trù nóichung và hoạt động Ca trù tại Hải Phòng nói riêng, khóa luận giúp người yêu mếnnghệ thuật Ca trù hiểu thêm về loại hình nghệ thuật này, góp phần khẳng định giá trịtiêu biểu của nghệ thuật Ca trù Qua đó góp phần công sức vào việc bảo lưu vốn vănhóa quý báu này của dân tộc, nâng cao sức sống của Ca trù trong hoạt động du lịch tạiHải Phòng

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương:

Trang 4

Chương 1: Tổng quan về Ca trù

Chương 2: Thực trạng hoạt động Ca trù tại Hải Phòng

Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy Ca trù phục vụ hoạt động du lịch

Trang 5

CHƯƠNG 1.

TỔNG QUAN VỀ CA TRÙ1.1 Quá trình hình thành của Ca trù

1.1.1 Khái niệm, tên gọi của Ca trù

Hát Ca trù là một bộ môn nghệ thuật truyền thống ở phía Bắc Việt Nam kết hợphát cùng với một số nhạc cụ dân tộc Ca trù là một hình thức “ Ca nhạc thính phòng”,thịnh hành từ thế kỉ XV, vốn là một loại Ca nhạc cung đình, được sử dụng trong cácbuổi hát chúc thọ vua chúa và các buổi lễ trong triều đình Mãi đến đến nửa cuối thế

kỷ XX, Ca trù mới được thế giới biết đến lần đầu tiên qua tiếng hát của nghệ nhânQuách Thị Hồ (1909 – 2001) Qua thời gian, Ca trù dần dần phát triển rộng rãi trongdân gian qua các giới quan lại, đại gia, tầng lớp sĩ phu, nho học giàu sang, được nhiềunhạc sĩ, nhạc học gia nước ngoài theo học, tìm hiểu, nghiên cứu và giới thiệu tại nhiềutrường đại học nổi tiếng trên thế giới…và dần trở lên thong dụng Trải qua quá trìnhphát triển thăng trầm cùng với những biến cố của lịch sử, cho tới nay, Ca trù đã đạtđến trình độ thẩm mỹ cao, khẳng định được vị trí quan trọng không chỉ của Việt Nam

mà còn của cả nhân loại

Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại kì họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ côngước UNESCO bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Ca trù đã được công nhận là di sảnphi vật thể cần được bảo về khẩn cấp Đây là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam cótầm ảnh hưởng lớn với phạm vi ảnh hưởng tới 16 tỉnh, thành phố ở nửa phía Bắc ViệtNam Hồ sơ đề cử Ca trù là di sản văn hóa thế giới với không gian văn hóa Ca trù trảidài khắp16 tỉnh phía bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh,Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, ThanhHóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình

Ca trù khác với các loại hình dân Ca khác, nó quy định rất nghiêm ngặt về sốcâu, số chữ, lời văn, đối ngẫu… Có lẽ vì thế mà Ca trù vẫn được thường thức tập trungphần lớn ở tầng lớp có học thức cao rộng trong xã hội xưa

Trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam, không một thể loại âm nhạcnào lại có tính đa diện như nghệ thuật Ca trù Trải theo dòng chảy của thời gian, tùytheo từng không gian văn hóa hay chức năng xã hội phối thuộc mà loại hình nghệthuật này mang những tên gọi với nhiều ý nghĩa khác nhau Căn cứ vào nguồn gốc sửliệu,có thể thống kê một số tên gọi phổ biến như sau:

Hát Ả đào:

Trang 6

Theo Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên: Đời vua Lí Thái Tổ( 1010- 1028)

có người Ca nương tên là Đào Thị giỏi nghề Ca hát, thường được nhà vua ban thưởng.Người thời bấy giờ ngưỡng mộ danh tiếng của Đào Thị nên gọi là Đào Nương

Trong sách Công dư tiệp kí, Vũ Phương Đề viết từ cuối đời nhà Hồ( 1407), có người Ca nữ họ Đào quê ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, một bậc nữ nhiyêu nước, lập mưu giết được nhiều giắc Minh bằng “ mỹ nhân kế”: hát cho chúngnghe và chúc rượu có thuốc mê, khi chúng “xỉu” thì kêu” quân ta” đến hạ thủ Khinàng chết, dân làng lập đền thờ và gọi thôn nàng cư ngụ là thôn Ả đào Sau đó nhữngngười làm nghề Ca hát như nàng đều được gọi là Ả đào Ả Đào thường ở chung với nhauthành một phường, một xóm, ban ngày làm công việc đồng ruộng hoặc chăn tằm dệt vảinhư các cô gái thôn quê khác Tối đến họ đến nhà quản giáp luyện tập múa hát và gõphách do quản giáp và mấy ả đàogià nhiều kinh nghiệm, kĩ thuật chỉ bảo, khi có nơi mờiđến hát – tất nhiên là hình thức Ca trù – thì mới đi hát Vì thế, người ta thuận mồm gọi làhát Ả Đào [9, tr 78]

1400-Trên dữ liệu, những sự kiện về một Ca nương nổi tiếng chứng tỏ nghề nghiệpcủa bà vào thời điểm đó đã được phổ biến như thế nào trong xã hội Theo đó, Ả đàođược coi là tên gọi cổ xưa nhất của thể loại âm nhạc Ca trù

•Hát Ca trù:

Theo Việt Nam Ca trù biên khảo, ở cửa đền ngày xưa có lệ hát thẻ Thẻ gọi làTrù, làm bằng mảnh tre ghi mức tiền ứng với mỗi thẻ, dung để thưởng Ả đào thay chotiền mặt Khi hát, quan viên thị lễ chia ngồi hai bên, một bên đánh chiêng (cồng) vàmột bên đánh trống Chỗ nào ả đào hát hay, bên trống thưởng một tiếng chat, bênchiêng đánh một tiếng chiêng rồi thưởng cho một cái trù Đến sáng đào kép cứ theo trùthưởng mà tính tiền, ví dụ được 50 trù, mà trị gia mỗi trù là 2 tiền kẽm thì làng phải trảcho 10 quan tiền Vì thế hát ả đào còn được coi là Ca trù, nghĩa là hát có thẻ Có thểnói , tên gọi Ca trù thể hiện rõ tình thương mại của một loại hình nghệ thuật – tức loạihình này đã đạt tầm nghệ thuật Cao để trở thành một giá trị hàng hóa trong đời sống xãhội Theo các nghệ nhân cho biết, việc thưởng thẻ không chỉ giành riêng cho đàonương mà còn để thưởng cho cả kép đàn Tuy nhiên, thường thì người ta vẫn coi đàonương là nhân vật chính Có lẽ đây là đặc điểm xuất phát từ thói quen trọng nhạc háthơn nhạc đàn của người Việt Lệ tính tiền thù lao bằng thẻ chủ yếu sử dụng trong hìnhthức sinh hoạt Hát cửa đình Còn trong các hình thức sinh hoạt khác người ta thường

Trang 7

tính tiền công cho đào kép dưới dạng trọn gói theo sự thoa thuận trước – gọi là hátkhoán Theo đó, có thể coi Ca trù là tên gọi bắt nguồn từ sinh hoạt Hát cửa đình.

•Hát cửa quyền:

Đây là hình thức sinh hoạt nghệ thuật Ca trù trong các nghi thức của cung đìnhthời phong kiến Theo Phạm Đình Hổ: Hát Ca trù đời nhà Lê ở trong cung gọi là Hátcửa quyền Triều đình cắt cử hẳn một chức quan để phụ trách phần lễ nhạc trong cung,gọi là quan Thái thường Hát cửa quyền được dùng vào các dịp khánh tiết của hoàngcung [14]

•Hát cửa đình:

Đây là hình thức sinh hoạt Ca trù phục vụ cho mghi thức tế lễ thần thánh ở cấcđình hay đền làng Trên thực tế, người ta còn mượn không gain đình đền để tổ chứchát Ca trù với mục đích giải trí đơn thuần Song, hát tế lễ vẫn là hình thức được coitrọng hơn với cả một trình thức diễn xướng tổng hợp kéo dài Bởi vậy, thuật ngữ Hátcửa đình vẫn được sử dụng với hàm ý chỉ loại âm nhạc Ca trù mang chức năng nghi lễtín ngưỡng nơi đình (đền) làng

•Hát nhà trò:

Trong hình thức hát cửa đình, bên cạnh âm nhạc bao giờ cũng có sự kết hợp củanghệ thuật múa và một số trò diễn mang tính sân khấu Người ta gọi đó là “bỏ bộ” Ảđào miệng hát tay múa uốn éo lên xuống, làm bộ điệu người điên, người say rượu,người đi săn… Vì vừa hát vừa làm trò nên gọi là Hát nhà trò Cách gọi này phổ biến ởvùng Nghệ An, Hà Tĩnh Như vậy, Hát nhà trò cũng là thật ngữ xuất phát từ hình thứcphục vujnghi lễ, tín ngưỡng

•Hát nhà tơ:

So với các tên gọi khác của nghệ thuật Ca trù, Hát nhà tơ là một thuật ngữ ítphổ biến Theo Việt Nam, Ca trù biên khảo, thời xưa, “ dân chúng ít đi tìm ả đàovềnhà hát chơi, chỉ các quan khi yến tiệc trong dinh hay trong ti (tơ – ngày xưa dinhTuần phủ gọi là Phiên ti, dinh án sát gọi là Niết ty) mới tìm ả đào tới hát Vì thế hát ảđào còn được gọi là Hát nhà tơ, nghĩa là hát ở trong ty quan” Như vậy, cách goi nàyxác định hình thức sinh hoạt phục vụ nhu cầu giải trí của nghệ thuật Ca trù trong môitrường các nhà quan lại Tuy nhiên, cũng trên ý nghĩa ty là tơ thì Hát nhà tơ còn có thểhiểu theo nghĩa khác Theo Phạm Đình Hổ, đời Hồng Đức (1470-1497) nhà Lê, Tygiáo phường là một thiết chế do triều đình sắp đặt để trông coi âm nhạc chốn dân gian

Về sau, khái niệm này còn được dùng phổ biến ở thế kỉ XVII, XVIII trong các văn bia,

Trang 8

khế ước Và như thế, khái niệm Hát nhà tơ – Hát nhà ty rất có thể chỉ là cách “diễnnôm” phiếm chỉ loại âm nhạc của Ty giáo phường mà thôi.

•Hát cô đầu:

Theo Việt Nam Ca trù biên khảo, chữ ả nghĩa là cô, ả đào nghĩa là cô đào: “những ả đào danh ca dạy con em thành nghề, mỗi khi đi hát đình đám bọn con em phảitrích ra một món tiền để cung dương thầy gọi là tiền Đầu sau người ta dung tiếng côthay cho tiếng ả cho rõ ràng và tiếng đầu thay tiếng đào để tỏ ý tán dụng là bậc danh calão luyện đã dạy nhiều con em thành tài và được tặng nhiều món tiền đầu nên gọi là

Cô đầu” Tên gọi này của nghệ thuật Ca trù chính là sự phản ánh phần nào nhu cầu “Nôm hóa” ngôn ngữ, đồng thời phản ánh một tục của giới nghề, đó là việc trọng thầy

và phụng dưỡng thầy Trong Lịch sử của nghệ thuật Ca trù, có lẽ đây là tên gọi xuấthiên muộn hơn cả và được giới thị thành biết đến nhiều hơn – trước khi thể loại nàybiến mất khỏi đời sống xã hội và cuối thập nhiên 50 của thế kỉ XX

•Hát ca công:

Theo Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ: cho đến cuối thời Lê, ca công là danh

từ được dùng để chỉ các nghệ sĩ chốn giáo phường Theo đó, Hát ca công hàm ý là âmnhạc Giáo phường Như thế tên gọi này chính là sự chuyển hóa của một danh từ chỉnghề nghiệp thành một danh từ chỉ thể loại Điều đó đã đủ để chứng minh vai trò quantrọng của thể loại âm nhạc này trong đời sống xã hội của cả một giai đoan lịch sử Nóicách khác, Hát ca công thời xưa là một thể loại rất phổ biến, bao trùm khắp nơi chốn,phường hội của những nhạc sĩ dân gian chuyên nghiệp Sự phổ biến đạt đến mức người

ta gọi luôn loại âm nhạc mà các nghệ sĩ thực hành bằng chính danh người nghệ sĩ

Như vậy các tên gọi khác nhau của nghệ thuật Ca trù được hình thành theo mấynguyên tắc sau:

+Danh từ chỉ người nghệ sĩ thực hành âm nhạc được dùng như danh từ chỉ thểloại: Hát ả đào, Hát ca công

+Tên gọi thể loại xuất phát từ địa điểm, không gian văn hóa sinh hoạt: Hát cửaquyền, Hát cửa đình và Hát nhà tơ

+Tên gọi thể loại gắn với danh từ phiếm chỉ chế độ “tiền bảo hiểm” cho đàonương lão thành: Hát cô đầu Đồng thời, cô đầu cũng là danh từ chỉ người ca nươnggiống như chữ ả đào

+Tên gọi thể loại xuất phát từ hành động diễn xướng sân khấu: Hát nhà trò

+Tên gọi thể loại hình thành từ danh từ chỉ phương thức chi trả thù lao nghệthuật cho đào kép: Hát Ca trù

Có thể nói, bản thân các tên gọi khác nhau của nghệ thuậ Ca trù đã cho thấy đây

là một thể loại âm nhạc rất đặc biệt Trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền của Việt

Trang 9

Nam, không có một thể loại nào lại mang nhiều tên gọi như vậy Mỗi tên gọi lại hàm ýsâu sa những không gian văn hóa, những chức năng xã hội và những hình thức biểuhiện khác nhau của nghệ thuật Ca trù Chỉ mới thông qua những tên gọi đó, chúng ta

đã có thể tìm thấy biết bao hình ảnh chân thực và sống động của lịch sử

Như vậy, Ca trù có nhiều tên gọi khác nhau Tùy từng địa phương, từng thờiđiểm mà hát Ca trù còn gọi là hát Ả đào, hát Cô đầu, hay hát Nhà tơ,v.v…

1500 của Tiến sĩ Lê Đức Mao, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Bài thơ này

chép trong Lê tộc gia phả có hai lần nhắc đến chữ Ca trù, cho biết: hát cửa đình là hát

để thờ thần trong dịp đầu xuân và việc hát Ca trù đã có dùng thẻ để thưởng cho đàonương Bên cạnh đó, những tư liệu khảo cổ học sớm nhất ghi nhận Ca trù là bức chạmkhắc đàn Đáy, tìm thấy ở một số ngôi đình, chùa Bắc Bộ thế kỉ XVI

Như vậy, có thể nói làng cổ Đông Ngạc là nơi có tục hát cửa đình đầu tiên vàcũng là nơi giữ gìn được tục lệ thưởng đào rất đặc sắc Đông Ngạc là tên chữ của làng

Vẽ, vốn là một làng nổi tiếng về một số nghề thủ công truyền thông như làm nem(“giò Chèm, nem Vẽ”), làm quang gánh, nặn nồi đất, v.v…

Hằng năm, vào ngày 9 tháng 2 âm lịch, làng Đông Ngạc mở hội làng Xưa làngĐông Ngạc vào đám,có hát Ca trù mấy ngày liền, với nhiều nghi lễ trang trọng vànghiêm trang Người sáng tác các bài hát cửa đình bằng quốc âm đầu tiên là Tiến sĩ LêĐức Mao, người làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm Tương truyền, hồi trẻ ông là ngườithông minh, hiếu học, hay làm thơ Nhân thấy hàng năm dân làng mở hội mừng xuân cómời các giáo phường về hát Cửa đình, ông nảy ra ý định đặt bài hát có nội dung thiết thực

để các cô Đào hát mừng Bài hát đâù tiên do ông sáng tác theo thể lục bát và song thất lụcbát với nhan đề “ bát giáp thưởng đào văn” nhằm ca ngợi quê hương giàu đẹp trongkhung cảnh thanh bình

Ở làng Phú Mĩ, xã Mĩ Đình, huyện Từ Liêm, Hà Nội còn nhà thờ ca công cótấm bia đá dựng thời Tự Đức, thờ một ca nữ họ Vũ, xinh đẹp, hát hay được tuyển vàocung vua Khi về già bà về làng dạy cho con cháu dòng họ Vũ hát Ca trù Bà được vua

Trang 10

cho cắm ruộng để hưởng lộc Đến khi bà mất, dòng họ lập đền thờ, vua có sắc phong “Nam quốc danh ca Đào thị mẫu” Từ đó dòng họ Vũ ở Phú Mĩ lập giáo phường,chuyên phục vụ các ngày hội làng ở huyện Từ Liêm.

Như vậy, có thể Ca trù đã ra đời từ trước thời nhà Lý, có cội nguồn từ lối hátcửa đình- một lối hát tín ngưỡng thờ cúng thờ thành hoàng làng Lối hát cửa đình từnhững ngày đầu được các trưởng tộc, trưởng làng dung vào việc cầu trời đất, thánhthần, lấy âm nhạc làm tín hiệu truyền lời thỉnh cầu của dân làng đến các đáng thầnlinh Về sau, các bậc vua chúa cũng lấy dòng nhạc này để hát cũng trời đất và tổ tiênnơi thái miếu

Ca trù tuy có nguồn cội từ lối hát dân gian nhưng khi vào đến chốn cung đình

đã được nghiên cứu chỉnh sửa của các chuyên gia về âm luật trong chốn cung đình nên

đã trở thành một bộ môn nghệ thuật sâu sắc, có tính thẩm mĩ cao, thường được dungtrong các dịp yến tiệc, khánh tiết và tiếp đãi sứ thần

Trong những tên gọi cho môn nghệ thuật hát này thì tên hát Ả Đào và hát Ca trùđược mọi người biết đến nhiều hơn cả Cái tên Ả đào được ra đời từ ban đầu với ýnghĩa là gọi tên những người theo nghiệp xướng ca, còn tên Ca trù thì được giải thíchtheo lối triết tự: “ ca” nghĩa là hát còn “ trù” nghĩa là tre Ngày xưa giấy bút ghi điểmcòn hiếm, những người thường thức Ca trù thường là vương tôn, công tử, quý tộc, phúhào có trong tay mỗi người một bó thẻ tre do chủ đoàn hát mang tới Khi đào hát tớichỗ hay mà người nghe tâm đắc thì tùy theo ý và sự hào phóng của từng người màném thẻ thưởng Sau khi tàn canh hát, Ả đào cứ đem thẻ của mình vào nơi tổ chứccuộc vui mà lĩnh thưởng Nếu quy định mỗi thẻ 1 tiền, thì 60 thẻ được lĩnh 1 quan tiền

Đó chính là xuất xứ của Ca trù và sau này người ta dùng luôn nó để nói vềnghệ thuật hát Ả đào nhưng nó chỉ mang ý nghĩa phiếm chỉ chứ không đúng với nguồngốc hình thành nghệ thuật hát này

1.1.3 Các giai đoạn phát triển của Ca trù

Lịch sử phát triển của nghệ thuật Ca trù trải qua các thời kì hết sức phức tạp.Chúng ta có thể tóm gọn sự phát triển đó vào các mốc thời gian lớn như sau:

-Thế kỉ XV: thời gian Ca trù được ra đời

-Thế kỉ XVI- thế kỉ XIX: thời kì phát triển của ca trù và thế kỉ XIX được coi làthời kì phát triển đến đỉnh cao của Ca trù

-Từ thế kỉ XX đến nay: sự phát triển của Ca trù đến khi Ca trù được UNESCOcông nhận là di sản văn hóa phi vật thể

Ca trù thế kỉ XV

Ca trù đã trải qua một quá trình phát triển ít nhất từ thế kỉ XV và sau một quátrình diễn biến lâu dài đã phát triển thành hai dòng là hát thờ thần trong các cuộc tế lễ

Trang 11

và hát mừng, hát chơi trong các cuộc vui,được biểu diễn trong không gian văn hóa đadạng, ở nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Ca trù thể hiện một ý thức về bản sắc và sự

kế tục trong nghệ thuật biểu diễn, có tính sáng tạo, được chuyển giao từ thế hệ nàysang thế hệ khác thong qua các tổ chức giáo phường Những giáo phường này đã duytrì các cộng đồng có quan hệ mật thiết, tạo nên nét đặc trưng cho Ca trù Mặc dù trảiqua nhiều biến động lịch sử, xã hội nhưng Ca trù vẫn có một sức sống riêng bởi giá trịnghệ thuật của nó đối với văn hóa Việt Nam

Thuở sơ khai nó là ban nữ nhạc trong cung vua với tính chất là một loại hìnhnghệ thuật “cung đình” Với lối “ hát chơi” phục vụ cho nhu cầu thưởng thức của một

số quan lại, nho sĩ thì nó là một hình thức nhạc thính phòng Với lối hát cửa đình – háttrước hương án của các vị thành hoàng (trong nhà) và hát cả ngoài sân với đông đảonhân dân tham dự - nó vừa mang tính chất thính phòng vừa mang tính chất đại chúng.Tuy các lối hát với những bối cảnh diễn xướng khác nhau, nhưng tất cả đều có mộtđiểm chung là các sinh hoạt này luôn luôn có hai đối tượng: khán giả và diễn viên.Trong đó, diễn viên là những người chuyên nghề ca hát, khác với các loại hình âmnhạc dân gian khác như hò, lý, v.v… được diễn xướng trong lúc đang làm việc, không

có đối tượng khán giả thưởng thức, chỉ hát cho nhau nghe, có khi tự hát cho mình nghe(như nhạc tài tử nam bộ) Điều đó tỏ rõ Ca trù là một loại hình nghệ thuật chuyênnghiệp mang tính bác học

Ca trù thế kỉ XVI- thế kỉ XIX

Ở thời Lê, nghệ thuật hát Ả đào vốn có từ lâu đời ở nước ta đã được tổ chứcgiáo phường thu tàng phát triển Điều này trước hết nằm trong ảnh hưởng của chínhsách phát triển xã hội theo xu hướng nho giáo của nhà Lê, với những bài hát thờ nhưTam hữu, Tứ dân tứ thú, Tam hoàng ngũ đế,… Sau một quá trình biễn biến – đến cuốithời Lê – đã khá hoàn thiện với hệ thống bài bản diễn xướng phong phú Đặc biệt, với

sự tham gia trực tiếp của đội ngũ trí thức Nho học, từ trong sự đa sắc thái của nghệthuật giáo phường, thời kì này bắt đầu hình thành nét đặc trưng trong lối hát Ả đào, đó

là sự kết hợp giữa Kép – Đào – Quan viên, để dần hình thành tứ tấu Đàn – Phách –Tiếng hát – Trống chầu, hồn phách của nghệ thuật Ca trù sau này

Thế kỉ XIX- đỉnh cao của Ca trù

Thế kỉ XIX có thể nói là giai đoạn phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật Ca trù.Lối hát cửa đình thời kì này vẫn giữ được nhiều thể cách của giáo phường dân gianlưu truyền từ thời Lê, được nhà nghề gọi là các lối cổ chế như Giáo trống, Giáo hương,Nhạc hương, Thét nhạc, Tam thanh chúc thánh, Hát giai, Hát sử, Hát truyện, Ngâm vọng,

Trang 12

Bắc phản, Nhịp ba cung bắc, Đọc phú, Đọc thơ, Thư thổng, Phản huỳnh Mưỡu dựng, Đạithực,… Thêm một số lối mới như Mưỡu nói, Chừ khi, ngoài ra là những diễn xướng nhưmúa bỏ bộ, múa tứ linh, múa đèn, múa bông và các trò tạp hí khác.

Có lẽ hát Ca trù thế kỉ XIX được đẩy đến độ hoàn thiện phần nào cũng nhờ ởmột số quan viên là những nhà nho tài tử như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quất,Nguyễn Duy Tân, Dương Khuê… với những bài hát nói đặc sắc Với hát nói, Nho sĩthời kì này đã đem lại trong lối hát chơi một cái thú đặc biệt cho người tham gia, bởi

họ không chỉ được thỏa mãn về cảm xúc và thẩm mĩ từ một loại hình nghệ thuật nhạc độc đáo, mà còn được thỏa mãn về tư tưởng, tình cảm trong mối quan hệ tri âmtri kỉ, tài tử giai nhân

thơ-Ca trù là một nghệ thuật pha trộn giữa âm nhạc và thơ ca, mỗi buổi hát thơ-Ca trù làmột cuộc trình diễn nghệ thuật mà trong đó cả diễn viên và khán giả đều là nghệ sĩ.Chỉ cần 3 người: một Ả đào vừa hát vừa gõ phách, một kép là người đánh đàn đáy, vàchính chủ nhân vừa là khán giả, vừa là người cầm chầu đánh trống Người cầm chầuvừa điểm trống theo câu hát vừa là lười khen, chê, thưởng phạt thông qua hiệu lệnhtrống Chỉ cần ba người đã tạo nên một buổi trình diễn, thưởng thức và thẩm định nghệthuật trọn vẹn

Khi Ca trù thoát ra khỏi những cung vua phủ chúa, trở lại cuộc sống dân gianvới những tổ chức giáo phường, tuy vẫn mang tính chuyên nghiệp nhưng nó được nuôidưỡng và giữ gìn trong dân gian thông qua những buổi tế lễ ở cửa đình, những hội hè,

lễ tiết ở nông thôn Và cũng chính sự phổ biến rộng rãi ra ngoài nhân dân mà Ca trùđược các danh sĩ rành âm luật và các tay giáo phường tài hoa bổ sung nhiều lối hát,

làm cho Ca trù ngày càng phong phú Trong đó hát nói là một lối hát quan trọng của

Ca trù và lối hát đã sản sinh ra một thể thơ mới, đặc biệt của văn học Việt Nam Hátnói xuất hiện sớm nhưng phải đợ đến đầu thế kỉ XIX mới có những tác phẩm lưutruyền cho đến nay Nhiều bài hát nổi tiếng của Nguyễn Công Trứ, Cao Bát Quát,Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Tản Đà…là những tác phẩm có giá trị đóng góp chonghệ thuật Ca trù và cho cả văn học Việt Nam thế kỉ XIX, là mầm mống cho thể loạithơ mới, thơ tự do sau này

Ca trù thế kỉ XX đến nay

Vào đầu thế kỉ XX, lối ăn chơi của người phương Tây đã tràn vào Việt Nam, cả

Hà Nội và các tỉnh thành lân cận rộ lên cơn sốt đào rượu Các quán cô đầu thi nhaumọc lên và các chủ quán lợi dụng lối hát Ả đào để câu khách bằng cách thuê vài cặp

Trang 13

đào kép giỏi nghề cầm ca hát mua vui, còn các cô không biết hát thì chuốc rượu chokhách, các co này thời đó được gọi là đào rượu.

Ca trù đã từng bị xem là “ trò chơi hư hỏng trụy lạc” và bị cấm đoán vì bị liên quanđến mại dâm Mãi đến những thập niên gần đây Ca trù mới được cho phép hát trở lại

Cho đến năm 1945, để lập lại sự lành mạnh của nền văn hóa mới, chính quyền

đã dẹp nạn đào rượu, từ đó người dân cũng ác cảm lây với lối hát Ca trù Các đàonương, kép đàn đã từng một thời vang bóng cũng dấu phách, dấu đàn và không dámnhắc đến hai từ Ca trù nữa Dòng nhạc này cũng từ đó bị lãng quên và mất dần

Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát là người có công đầu tiên trong việc tuyên truyềngiá trị nghệ thuật của Ca trù

Đến năm 1976, Giáo sư Trần Văn Khê ở Pháp về đã tìm và thu băng giọng hátcủa nghệ nhân Quách Thị Hồ và đem đi giới thiệu với thế giới

Để cảm ơn nghệ nhân Quách Thị Hồ, năm 1978, Hội đồng âm nhạc quốc tế củaUNESCO và Viện nghiên cứu quốc tế về âm nhạc đã trao bằng danh dự cho bà vì cônglao đặc biệt trong việc bảo tồn một bộ môn âm nhạc truyền thống có giá trị văn hóanghệ thuật cao

Từ năm 1977, mới bắt đầu thấy lác đác sống dậy làn điệu Ca trù qua sóng Đàitiếng nói Việt Nam Năm 1988, tại Liên hoan tiếng hát âm nhạc truyền thống tại BìnhNhưỡng với sự tham gia của 29 quốc gia, băng ghi âm tiếng hát của nghệ nhân Quách Thị

Hồ đã đại diện cho Việt Nam được xếp thứ hạng cao nhất

Đến năm 1991, với sự nỗ lực của đào nương Lê Thị Bạch Vân, Câu lạc bộ Catrù Hà Nội ra đời và theo sau đó là một vài câu lạc bộ nhỏ lẻ tiếp bước, nhưng tất cảđều dừng lại ở mức động hoạt động tự phát

Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại kì họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ côngước UNESCO bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Ca trù đã được công nhận là di sảnphi vật thể cần được bảo về khẩn cấp Đây là một danh hiệu UNESCO ở Việt Nam cótầm ảnh hưởng lớn với phạm vi ảnh hưởng tới 16 tỉnh, thành phố ở nửa phía Bắc ViệtNam Đây là sự kiện đánh dấu sự trở lại của Ca trù sau nhiều thế kỉ bị lãng quên và cónguy cơ bị mai một

Trải qua quá trình phát triển thăng trầm cùng với những biến cố của lịch sử, đếnnay, Ca trù đã đạt đến trình độ thẩm mỹ cao, khẳng định được vị trí quan trọng khôngchỉ của Việt Nam mà còn của cả nhân loại

Trang 14

1.2 Nghệ thuật trình diễn Ca trù

1.2.1 Bộ nhạc cụ trong Ca trù

Ca trù là loại hình nghệ thuật tổng hợp của nhiều yếu tố Trong Ca trù khí nhạc hếtsức quan trọng và đặc biệt Ngoài giọng hát của đào nương, còn có sự phối hợp của 3nhạc khí: Phách, đàn đáy và trống chầu người ta coi đó là một hình thức “ tứ tấu”, tạo chodiễn xướng của Ca trù rất độc đáo , có một không hai

Nhạc cụ đầu tiên phải kể đến đó là Phách

Phách trong Ca trù do một nữ ca sĩ, thường gọi là “ đào” hay “ ca nương” vừangồi hát vừa điều khiển

Phách là nhạc khí tự thân vang, xuất hiện trong nhiều thể loại ca, múa nhạc ởViệt Nam từ rất lâu đời Nhiệm vụ của phách là giữ nhịp cho dàn nhạc, người hát hoặcmúa Nhịp của phách đơn giản trong cải lương, nhưng phức tạp và biến tấu trongnhững dàn nhạc sân khấu

Phách có nhiều loại và tên gọi khác nhau Trong hát xẩm phách gọi là cặp kè, trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song loan, trong ca Huế phách là sênh

(sênh tiền), còn trong dàn nhạc tuồng, đám ma, múa tôn giáo và múa dân gian người tamới là phách

Phách trong Ca trù cũng là một nét độc đáo, không giống phách ca Huế, khônggiống phách Chèo, cũng không giống phách hát Văn cho dù chúng đều chung một mụcđích duy nhất là nhằm giữ nhịp cho tiếng hát, tiếng đàn

Bộ phách ả đào gồm có bàn phách, tay ba và hai lá phách Bàn phách là

miếng tre dài khoảng 30 cm, bản rộng chừng khoảng 4 cm Nó có 2 đầu mấu tre dùnglàm chân cho mặt bàn phách cao lên Hai lá phách là dùi gõ kép Người ta cầm 2 láphách chập vào nhau để gõ vào mặt bàn phách Tay ba là dùi gõ làm bằng gỗ mít, dàinhư 2 lá phách, được người sử dụng cầm bằng tay trái

Khi phách 2 lá gõ vào bàn phách âm sắc phát ra nhòa, bẹt và hơi đục Lúc dùng tay ba gõ vào bàn phách âm sắc sẽ trong, gọn và dòn Tiếng phách Ca trù Việt Nam rất

độc đáo và trong âm nhạc thế giới không có nước nào khác có cách gõ như thế

Phách do một người nữ sử dụng đồng thời cũng là người hát, gọi là đào nươnghay ca nương Các đào nương biểu diễn hết sức nhịp nhàng, tay cầm phách cái, taycầm phách con, tay đưa lên cao, tay đưa xuống thấp nhẹ nhàng uyển chuyển như múalàm cho tiếng hát Ca trù càng thêm mê hoặc, sâu lắng

Nghệ thuật Ca trù còn được duy trì và phát triển cho đến ngày nay là do sựđóng góp lớn lao của bao thế hệ nghệ sĩ – những cầu nối truyền tải cái hay, độc đáocủa hát Ca trù đến với người hâm mộ

Trang 15

Nghệ thuật hát Ca trù hết sức tinh tế, đòi hỏi ca nương phải luôn luôn luyện giọng.

Để trở thành một đào nương cũng không phải là chuyện đơn giản phải hội tụ được nhiềutiêu chuẩn khắt khe như giọng hát, năng khiếu âm nhạc, tri thức âm nhạc và văn thơ, lòngđam mê và kiên trì Sự tồn tại của Ca trù được quy định bởi chính các đào nương Các đàonương chính là những người chuyền tải và thể hiện những cái hay, cái đẹp, cái độc đáocủa Ca trù tồn tại cho tới ngày nay

Khi các đào nương cất tiếng hát, kĩ thuật hát rất điêu luyện, không cần hóa tomiệng, không đẩy mạnh hơi từ buồng phổi mà ém hơi trong cổ ậm ự mà lời ca vẫntròn vành, rõ chữ Các đào nương phải hát sao cho sang trọng, lịch sự, thắm thiết,truyền cảm, nhả chữ sao cho bất chợt, buông câu, bát chênh, bát tròn Người hát sửdụng “ hơi trong” là chủ yếu, rung giọng ngâm với phong thái vừa kín đáo vừa đoantrang, không cần dùng điệu bộ mà chỉ qua tiếng phách, câu hát để biểu lộ tình cảm củamình

Nói đến ca nương của Ca trù không thể không nói đến ca nương Quách Thị Hồ(1909-2001)– một nghệ nhân Ca trù nổi tiếng Bà là người đầu tiên đưa tiếng hát Catrù của Việt Nam ra nước ngoài

Bà sinh ra trong một gia đình có nghiệp đàn hát lâu đời Mẹ bà cũng là một ả đào

có tiếng Ngay từ nhỏ, bà Hồ đã sống trong tiếng đàn phách, rồi được mẹ truyền nghề đànhát Năm 1930 bà đi ra Hà Nội hát, sau đó làm chủ nhà hát Vạn Thái ở phố Bạch Mai Bàtrở thành đào nương nổi tiếng cùng với bà Nguyễn Thị Phúc Sau Cách mạng tháng 8, rồikháng chiến chống Pháp, bà đi hát ở Vĩnh Yên, Phú Thọ, Thái Nguyên

Năm 1976, Giáo sư Trần Văn Khê từ Pháp trở về Hà Nội và tìm gặp các nghệnhân ca trù Tại đây ông đã ghi âm tiếng hát của bà đem đi giới thiệu với thế giới.Năm 1978, Hội đồng Âm nhạc Quốc tế của UNESCO và Viện Nghiên cứu Quốc tế về

Âm nhạc đã trao tặng bà bằng danh dự cho công lao "gìn giữ một di sản nghệ thuậttruyền thống quý báu của Việt Nam, một vốn quý của nhân loại" Năm 1983, băng ghi

âm tiếng hát của bà đại diện cho Việt Nam đã được xếp hạng nhất tại Liên hoan Quốc

tế Âm nhạc Truyền thống châu Á ở Bình Nhưỡng (Triều Tiên) Năm 1984, bà tham

gia bộ phim tư liệu Nghệ thuật Ca trù của đạo diễn Ngô Đặng Tuất và hội ngộ cùng

các nghệ nhân khác như Nguyễn Thị Phúc, Nguyễn Thị Hào, Chu Văn Du, QuáchThị Hồ đã trở thành nghệ nhân ca trù tiêu biểu của Việt Nam Giọng hát của bà đãđược Đài tiếng nói Việt Nam thu âm, phát sóng rộng rãi trên sóng phát thanh của Đài

Trang 16

Năm 1988, bà được nhận danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, là nghệ nhân ca trù duy nhấtnhận danh hiệu này Bà sở hữu một giọng hát đặc biệt, cùng tiếng phách điêu luyện đãchinh phục nhiều khán giả.

Nhạc cụ thứ 2 phải kể đến đó là đàn đáy

Trong trình diễn Ca trù, một nhạc công nam thường gọi là “ kép” chơi đàn đáyphụ họa theo tiếng hát Đàn đáy là một nhạc cụ quan trọng và được coi là đặc trưngcủa loại hình nghệ thuật này Cây đàn đáy là nhạc cụ duy nhất nối liền giọng hát vớinhịp phách, ăn ý mật thiết với tiếng tom, chát của trống chầu Âm thanh phát ra vừacứng vừa mềm dưới những ngón gảy hoặc rung theo 3 cách: nhấn, nhún, lăn Tiếngđàn bao giờ cũng giữ vai trò khiêm tốn nhằm nâng bổng tiếng hát

Không rõ đàn đáy xuất hiện năm nào nhưng nó được nhắc đến 200 năm qua.Đàn đáy có tên gôc là “đàn không đáy” tức “vô đới cầm” Sau đó người ta quen gọi làđàn đáy lâu ngày thành tên chính thức như hiện nay Một giả thuyết khác cho rằngnhạc cụ này có dây đeo bằng vải , dây này trong chứ Hán là “ đái” nên mới gọi là “đànđái”, đọc lệch đi lâu ngày thành “ đàn đáy”

Cấu tạo đàn đáy có 4 bộ phận chính:

-Bầu đàn: còn gọi là thùng đàn bằng gỗ, hình thàng cân Đáy lớn nằm phía trên,rộng khoảng 23- 30cm, đáy nhỏ nằm phía dưới rộng khoảng 18- 20cm.Cạnh 2 bênkhoảng 31- 40cm Thành đàn bằng gỗ cứng dày khoảng 8- 10cm Mặt đàn bằng gỗ ngôđồng, có một bộ phận để móc dây đàn( cái thú) Đáy đàn thủng hình chữ nhật, chính vìvậy tên của đàn đáy có nghĩa là đàn không có đáy( vô đới) được hiểu từ chữ này mà ra

-Cần đàn: dài 1,10- 1,30m gắn phía tên 10 hoặc 11 phím đàn bằng tre nhữngđàn đáy cổ có 16 phím Các phím này dày và cao, mặt phím rộng hơn phần chân phím,phần gắn với cần đàn Tính từ đầu đàn trở xuống , phím đầu tiên không gắn sát vàosơn khâu như nhiều nhạc cụ lại nằm ở quãng giữa cần đàn

-Đầu đàn: hình lá đề, hốc luồn dây có 3 trục chỉnh dây

-Dây đàn: 3 dây bằng xe tơ, dài, mềm và dễ nhấn mang tên dây Hàng, dâyTrung và dây Liễu Ngày nay những dây này có thể bằng nilon với kích cỡ to nhỏ khácnhau, mỗi dây cách nhau một quãng bốn đúng( nếu dây thấp nhất là đô thì dây thứ 2 sẽ

là pha và dây cao nhất sẽ là xi giáng) Đàn mắc 3 dây tơ, có cách nhấn khác thường,tiếng ve, tiếng vẩy, tiếng lia, lúc chân phương, khi dặt dìu, dễ đi vào lòng người

Các ngón đàn đáy được chia thành một số cung tương ứng với các điệu hát đó

là : cung Nam, cung Bắc, cung Huỳnh, cung Nao, cung Pha

Trang 17

Cung Nam: điệu nhanh, hơi trong nhưng bằng phẳng và xuống thấp.

Cung Bắc:điệu khoan, hơi đục, nhưng rắn rỏi và lên cao

Cung Huỳnh: điệu xúc, ngặt, hát dính vào nhau, giọng rất trong

Cung Pha: trong với đục pha lẫn, hơi ai oán, giọng hát chệch đi, lơ lớ

Cung Nao: điệu chênh chênh, đục ở dưới, trong ở trên, đang ở cung nọ chuyểnsang cung kia, cung nao chen vào giữa

Đàn đáy có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm sắc khá đặc biệt ấm áp dịu ngọt

và có thể diễn ta tình cảm sâu sắc Đây là một trong những nhạc khí được cho làchuyên dùng, chỉ thấy trong nghệ thuật Ca trù.Tiếng đàn bao giờ cũng giữ vai tròkhiêm tốn nhằm nâng bổng tiếng hát

Thành phần cuối cùng trong bộ tứ tấu đó chính là trống chầu

Trống chầu là loại trống nhỏ, do chính người nghe hát, người thưởng ngoạn gọi

là quan viên thường là tác giả của bài hát, đánh chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ýbằng tiếng trống Trống chầu trong Ca trù cũng khác với trống chầu trong Tuồng, Hátbội…cả ở kích thước lẫn cách đánh Kích thước và hình thức của trống chầu gần giốngvới trống đế của chèo nhưng cách đánh và chức năng hoàn toàn khác

Trống chầu trong Ca trù bụng trống nhỏ hơn, gần như làm bằng da căng mặt tốtnhất là lấy da nách con trâu đực, tạo được tiếng đanh tròn trịa Dùi trống không gọi là

“dùi” mà gọi là “ roi chầu” Roi chầu bằng gỗ, dài hơn dùi trống khách Người cầm chầuphải là người sành về Ca trù, phải là người am hiểu thấu đáo âm luật Ca trù mới có thểcầm roi được Người cầm chầu không chỉ là một thính giả đơn thuần mà phải có trình độthẩm mĩ về văn chương, có kiến thức về ca nhạc và phải nhạy cảm, tinh tế Người đánhtrống chầu ít nhất phải biết 5 phép trống dục, 6 phép trống chầu và nhiều cách biến hóakhác nữa Khi đã hòa cũng trong một canh hát thì tiếng trống sẽ trở thành nhạc cụ thứ bas

au phách và đàn nhằm tôn ving tiếng hát với lời thơ Tất cả trở thành một bản hòa tấu vôcùng phong phú của nhiều âm sắc, nhiều tính năng khác nhau và luôn có sự thay đổi, biếnhóa không ngừng Thế nên duy nhất trong Ca trù người đánh trống vừa là một khán giảđến thưởng văn thưởng hát, lại vừa là một nhạc công

Sự kết hợp hài hòa giữa giọng ca của đào nương, sự nhịp nhàng của tiếng phách,

sự hòa tấu giữa tiếng đàn uyển chuyển và tiếng trống tài hoa, tinh tế tạo nên một âmhưởng vừa thiết tha vừa sang trọng trong một môi trường thấm đẫm sự thấu hiểu đầy nghệthuật Thưởng thức Ca trù là thưởng thức cả thơ và nhạc

Trang 18

Không chỉ có vậy, Ca trù là một loại nhạc thính phòng như ca Huế miền Trung,đờn ca tài tử miền Nam Vì là nghệ thuật “âm nhạc thính phòng”, không gian trìnhdiễn Ca trù có phạm vi nhỏ hẹp Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa, kép và quan viên ngồichếch sang hai bên Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là “ tứctịch” nghĩa là “ ngay ở chiếu”.

Nghệ thuật Ca trù của Việt Nam đã bộc lộ được sự quyến rũ, thanh tao và độcđáo Những đặc trưng riêng biệt của nó đã tạo nên sự độc nhất vô nhị không có ở bất

kì loại hình nghệ thuật này Hơn nữa Ca trù có bề dày lịch sử, chiều sâu của nghệthuật, được sự đón nhận nồng hậu của người trong nước và nước ngoài,sự tôn vinh tàitrợ của các tổ chức quốc tế, rất xứng đáng được UNESCO công nhận là di sản văn hóaphi vật thể của nhân loại trong tương lai

1.2.2 Văn chương trong Ca trù

Trong nghệ thuật Ca trù, thơ giữ một vị trí rất quan trọng Nhiều nhà nghiêncứu âm nhạc nói rằng hát ca trù là hát thơ Ca trù có nhiều làn điệu, nhiều thể Ca trù sửdụng các thể thơ quen thuộc và thuần Việt như lục bát, song thất lục bát… Theo nhànghiên cứu Nguyễn Xuân Diện,trong số các thể Ca trù mà thư tịch Hán Nôm có ghinhận về lời thơ, thì các thể thơ được dùng là:

-Thể lục bát: dùng trong 17 thể Ca trù

-Thể song thất lục bát: dùng trong 1 thể Ca trù

-Thể hát nói là thể riêng của Ca trù

-Thể thơ 7 chữ và một câu lục cuối bài: dùng trong 3 thể Ca trù

-Thể thơ 7 chữ và một câu lục bát cuối bài: dùng trong 1 thể Ca trù

-Thể thơ Đường luật( thất ngôn, tứ tuyệt):dùng trong 8 thể Ca trù

từ Tuy cùng sử dụng thể thơ lục bát, nhưng các lối hát truyền thống này cũng đã tạonên những nét riêng làm phong phú cho vốn âm nhạc cổ truyền Việt Nam Như vậycàng khẳng định sức sống của thơ lục bát trong văn học và văn hóa Việt Nam

Trang 19

Trong số các thể thơ được dùng trong Ca trù thể hát nói để lại số lượng tácphâm lớn, được ưa chuộng nhất Hát nói đã gắn với các tên tuổi lớn trong lịch sử vănhọc Việt Nam như: Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê,Chu Mạnh Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Quý Tâm…Một bài hát nói tiêu chuẩn chỉ

có 11 câu, câu cuối chỉ có 6 chữ và trong bài thường có 1 cặp câu đối bằng chữ Hán( thường là 7 chữ), chính vì vậy mà nhiều ý kiến cho rằng hát nói Ca trù chính là sự kếthợp giữa thể loại thơ đời Đườngvà thể loại từ đời Tống Việt Nam

Hát nói xuất hiện sớm nhưng phải đợi đến đầu thế kỷ thứ XIX mới có những tácphẩm lưu truyền đến nay Nguồn gốc của thể Hát nói trong văn chương Việt Nam đượcgiải thích bằng những nguyên nhân và các sự việc sau đây:

Nghiên cứu về hát nói do vậy không thể bỏ qua khâu khảo cứu văn bản, nhất làkhi nghiên cứu về các tác giả và tác phẩm hát nói có niên đại sớm và có ý nghĩa trongviệc nghiên cứu nguồn gốc thể loại , nhưng lại chưa rõ ràng về mặt văn bản

Hát nói là một thể thi ca dân tộc được sinh ra từ nhu cầu của bộ môn nghệ thuật

Ca trù và trở lên một thể thơ độc đáo trong nền văn học Việt Nam nói chung, văn họcchữ Nôm nói riêng Trước nay, cũng đã có một số công trình bài viết nghiên cứu vềthơ hát nói, Ca trù và cũng đã có nhiều vấn đề của hát nói được làm sáng tỏ và khẳngđịnh Tuy nhiên vị trí và tầm vóc của hát nói trong văn học sử nói chung và trong dòngvăn học chữ Nôm nói riêng thì vẫn chưa được khẳng định một cách mạnh mẽ

Sách Ca trù thể cách, viết về hát nói như sau:

Tiếng đàn của hát nói thuộc cung Nam Nếu nữ hát thì gọi là hát nói, nam hát thì gọi là Hà nam Lối văn này, xưa và nay đều có Lối văn này, mối bài chỉ có 11 câu

mà thôi Câu 1 và 2 gọi là tổng mạo Câu 3 và 4 gọi là Thừa đề Câu 5 và 6 thì dùng lốithất ngôn, hoặc cổ thi, hoặc quốc âm; như là treo cái ý của toàn bài vào giữa bài thơ,

để nói hết cái đại ý của toàn bài Các câu 7, 8, 9 đều nối theo cái ý của câu 5 và 6 màphô diễn thêm ra, để làm rõ ý nghĩa Câu 11 là tổng kết ý nghĩa trong cả bài, mà cũng

là một câu kết thúc Cũng có khi đến đây, lại thêm hai câu hoặc 4 câu nữa, liền sau đónói dông dài thêm cái dư ý của bài thơ, ấy là muốn dẫn cho dài thêm Người trong làng

ca gọi là Hát nối

Sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, trong phần “Nhạc biện”, không thấy ghi nhận thể thơ hát nói Song ông có cho biết về lối Hà nam như sau:

Trang 20

Âm luật thời Hồng Đức (1460 - 1479) đại lược có cung Hoàng Chung, cung Nam, cung Bắc, cung Đại thực, luật Dương kiều, Bát đoạn cẩm Gần đây giáo phường học theo nhưng cung Hoàng chung, gọi nhầm thành cung Huỳnh, cung Đại thực gọi nhầm thành Đại thạch, Dương kiều thành Kiều dương, Hà nam thành Xà nam.

Như vậy, theo ghi chép của Phạm Đình Hổ, thì lối hát Hà nam đã có từ thờiHồng Đức, đến thời ông viết Vũ trung tùy bút thì đã bị gọi sai khác đi Hà nam có thể

là dạng thức rất sơ khaicuar điệu hát nói sau này

Sách Ca điệu lược ký , viết về “phép tắc” của hát nói như sau:

Câu 1và 2 là tổng mạo Câu 3 và 4 là thừa đề Câu 5 và 6 dùng thất ngônhoặc ngũ ngôn, hoặc cổ thi, hoặc quốc âm, là câu nằm treo giữa bài hát, để nói hết cáiđại ý của bài hát Đến các câu 7, 8, 9, 10 thì cũng nối theo cái ý của câu 5 , 6, để làm

rõ ý nghĩa Câu 11 tổng kết ý nghĩa cả bài, mà cũng là một câu kết thúc…

Theo ghi chép trên, ban đầu hát nói không có các câu mưỡu, 4 câu mưỡu đặttrước các bài hát nói là về sau thêm vào

Theo các tư liệu trên, về đặc điểm thể loại của hát nói, chúng ta có thể thấy,điệu hát nói, tùy vào người hát là nam hay nữ, độ dài ngắn của bài mà được gọi bằng

các tên khác nhau Theo ghi chép trên, hát nói có 3 tên gọi khác nhau: Hát nói (nếu là

nữ hát), Hát Hà nam (nếu là nam hát), và Hát nối (chỉ các bài dôi khổ).

Các nhà thơ viết các bào hát nói bằng cả hai thể chữ: chữ Nôm và chữ Hán.Một bài hát nói đủ khổ gồm 11 câu với nội dung cụ thể từng câu như:

-Câu 1 và câu 2: Tổng mạo

-Câu 3 và 4: Thừ đề

-Câu 5 và 6: Đại ý, thường dùng thơ thất ngôn/ cổ thi/ quốc âm

-Câu 7, 8, 9, 10: Triển khai ý câu 5, 6

-Câu 11: Tổng kết toàn bài

Qua tham khảo sách báo và trao đổi với các nghệ nhân Ca trù, được biết ngoàihát nói đủ khổ gồm 11 câu thơ thì thể hát nói còn có một số biến thể khác như: Hát nóithiếu khổ là bài hát chỉ có 6 câu, Hát nói dôi khổ tức là dôi thêm một hoặc nhiều khổ,mỗi khổ 4 câu thơ, hát nói gối hạc tức là một vài câu thơ ké dài ra, số chữ trong câuthơ có thể lên tới 12, 18 thậm chí 24 chữ.Ban đầu không có các câu mưỡu, về sau hátnói thường đi kèm với hát mưỡu Hát mưỡu ít khi được hát riêng rẽ với tư cách mộtbài hát trọn vẹn, mà thường được hát mở đầu hoặc kết thức cho một bài hát nói Dovậy khi hát mưỡu kết hợp với hát nói lại có các dạng Hát nói mưỡu tiền tức là hát

Trang 21

mưỡu mở đầu rồi vào hát nói, hát nới mưỡu hậu tức là hát mưỡu kết thúc sau khi hátnói, Hát nói mưỡu đơn tức là hát nói bằng một câu thơ lục bát, hát nói mưỡu kép tức làhát mưỡu bằng hau câu thơ lục bát.

Thi liệu được sử dụng trong hát nói thật dồi dào Hát nói là một thể “ văn chơi”nhằm giải trí và thoát khỏi sự kiềm tỏa của giáo lí Khổng Mạnh nên hát nói đã chọncho mình nguồn thi liệu phù hợp với mình từ vốn văn học cổ Trung Quốc, đặc biệtĐường thi

Về mức độ ảnh hưởng của thơ Đường đối với hát nói, qua kết quả khảo sát củacác nhà nghiên cứu , thấy rằng:

-Có trường hợp nhan đề bài thơ hoàn toàn trùng khớp với nhan đề bài thơ trongthơ Đường

-Dịch toàn bài hay dịch một số câu từ thơ Đường và đưa vào trong bài

-Không trực dịch, cũng không phỏng dịch nhưng lấy ý từ thơ Đường

-Lấy nguyên văn hai câu thơ Đường đặt vào bài thơ, nhưng hợp với toàn bàitrong một chỉnh thẻ nghệ thuật hoàn hảo

-Cú pháp, từ ngữ, hình ảnh của Đường thi mang lại hiệu quả thẩm mĩ cao trongbài hát nói

Như vậy chúng ta có thể thấy, sự ảnh hưởng của thơ Đường vào hát nói là quásâu sắc

Ngoài việc sử dụng nguồn thi liệu từ thi ca cổ điển Trung Quốc, hát nói còn sửdụng nhuần nhụy thi liệu trong thi ca dân gian Việt Nam Chính lối dân dã, giàu âmđiệu và thêm chút dí dỏm tếu táo trong dân gian đã được các nhà Nho sử dụng, chẳnghạn, Hát nói của Tú Xương, Nguyễn Khuyến và nhiều tác giả vô danh khác…Các tácgiả này đã góp phần mở rộng biên độ về sắc thái và nội dung phản ánh của hát nói

Nói về văn chương hát nói, không thể không đề cập đến ảnh hưởng của tưtưởng Lão Trang Có ý kiến cho rằng, Hát nói là sự cụ thể hoá ảnh hưởng của tư tưởngLão-Trang Xưa kia văn chương Việt Nam về nội dung phải gò bó trong những tư tưởngKhổng Mạnh, về hình thức phải đem theo những quy luật khắt khe, những lối diễn tả nhấtđịnh Cuối thế kỷ thứ 18, do hoàn cảnh rối ren trong xã hội, tư tưởng Lão-Trang có cơ hộibành trướng và hát nói chính là sáng tạo của các nhà nho phóng khoáng, thích tự do, ởđấy họ có thể gửi gấm những tư tưởng, cảm xúc vượt ra ngoài khuôn phép với cách diễnđạt cởi mở, rộng rãi hơn

Trang 22

Từ sự nghiên cứu về những đặc điểm độc đáo của hát nói về các phương diện:đặc điểm thể loại, hệ thống thi pháp, nội dung phản ánh và nội dung tư tưởng…chúng

ta có thể khẳng định, hát nói là một sáng tạo đặc biệt của văn học dân tộc, một thể thơ

có vị trí cao trong dòng văn học chữ Nôm của dân tộc.Cũng chính hát nói là thể thơgiàu khả năng dung nạp và biểu cảm mà nó luôn là một thể thơ được nhiều thi nhân ưathích Chính vì vậy đã cho ra đời đội ngũ các thi nhân có tầm vóc văn học lớn, nổitiếng như: Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh, Nguyễn Khuyến,Dương Lâm, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà Các bài hát nói của mỗi tác giảnày trong sự nghiệp van thơ của họ rất đáng được nghiên cứu thành những công trìnhnghiên cứu riêng để từ đó làm sáng tỏ hơn nữa thể loại độc đáo này

1.2.3 Trình diễn của Ca trù

Khi nói đến trình diễn Ca trù tức là chúng ta đang nói đến các thể cách của Catrù Thể cách là một thuật ngữ trong Ca trù và không thấy ở các bộ môn ca nhạc khác.Nghiên cứu ca trù không thể không tìm hiểu thuật ngữ này

Trong tình hình hiện nay, không có cách nào để biết được Ca trù đã từng có baonhiêu làn điệu hay thể cách nếu không dựa vào thư tịch cổ Các tư liệu băng ghi âmhiện không còn giữ được bao nhiêu thể cách Ca trù, việc điều tra các nghệ nhân thìngày càng bế tắc, không thể thực hiện được vì số nghệ nhân đều tuổi cao, sức yếukhông nhớ được hết

Theo khảo sát các tài liệu Hán Nôm có ghi nhận về các thể cách ca trù hiện nayđược lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Diện thìthu thập được 99 thể cách ca trù Chúng có thể chia thành 3 nhóm:

1) Nhóm hát thuần túy, bao gồm 5 nhóm nhỏ là hát, đọc, nói, ngâm, thổng, có

66 thể cách như:

Bắc phản, Chừ khi, Cung bắc, Dồn cung nam, Dồn cung pha, Dồn dựng, Dồnvọng, Dồn ngũ cung, Dịp ba cung bắc, Dựng, Đại thạch, Gửi thư, Hát giai, Hát giaicâu một, Gióng chinh phụ, Huỳnh hãm, Huỳnh xướng, Phản huỳnh, Hát mưỡu đạithạch, Hát nói, Hát nam, Hát dở, hát ru, Hát phản, Hát tầng, Hát xướng, Hát thổng, Háttruyện, Hát sử, Hát vị, Hãm, Phú Hồng hạnh, Thư phòng, Thơ non mai, Sống chiếm,Màn đầu, Nam xướng, Vãn, Tỳ bà hành, Thét nhạc, Mưỡi đầu, Mưỡi đuôi, Mưỡi nói,Mưỡi hát, Mưỡi phản, Mưỡi dựng, Mưỡi dựng, Mưỡi huỳnh, Đọc phú, Đọc thơ,Kểđọc thiên thai sống trảm, Nói đại thạch, Nói dồn, Nói nam, Nói huỳnh, Nói dở, Nói

Trang 23

phản, Ngâm dồn, Ngâm hát gái, Ngâm ngũ vận, Ngâm phú, Ngâm vọng, Thổng Chinhphu, Thổng Ngũ cung, Thống Thiên thai, Thổng Ngũ thường.

2) Nhóm kết hợp hát- múa- diễn gồm 19 thể cách:

Dồn đại thạch, Bỏ bộ, Chạy đáo, Chạy đuổi, Bát đoạn, Bát bài hoa, Biếm cáisay, Biếm cái tỉnh, Biếm gái, Giàng gái, Giàng trai, Giàng tam lũy, Dẫn lối, Tiên vũ,Đồng thiếp, Chiêu linh, Tiến chức thăng quan, Văn vũ hí, Hồi loan

Ngoài 26 thể cách nói trên, các băng đĩa tư liệu còn có 3 thể cách là Xẩm huêtình( Xẩm nhà trò), giọng than, Ba mươi sáu giọng thường được các đào nương hátnhưng không có tên nêu trong các tài kiệu Hán Nôm

Trong chương trình biểu diễn Ca trù, mỗi thể cách có một vai trò và ý nghĩanhất định Ví dụ như:

Thét nhạc

Thét nhạc được coi là làn điệu cổ nhất nó chứa đủ nguxcung âm luật ca trù:Nam, Bắc, Huỳnh, Pha, Nao Thể hát này quan tâm nhất phần âm nhạc, mượn lời ca đểdẫn nhạc nên khi nghe hát nghệ thuật tuyệt diệu

Bắc phản

Đây là thể hát mở đầu các cuộc hát chơi Giọng hát mở đầu thấp xong sau cao dầnđang từ giọng này chuyển sang giọng kia, hơi Nam chuyển sang hơi Bắc nên gọi là Bắcphản Thể này hát chỉ có 6 câu thơ lục bát đặc trưng của Việt Nam

Trang 24

tình tinh tình”, gái đầu, tiếp sau là ca múa, làm điệu bộ theo miệng hát Thể hát múanày cũng được dùng trong các dịp tế lễ ở đình làng.

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, thể cách trong ca trù rất phong phú, là mộtnét đặc trưng, riêng biệt của Ca Trù mà các bộ môn nhạc khác không bao giờ có,,điều

đó càng khẳng định tính độc đáo của nghệ thuật hát Ca trù

Tiểu kết chương 1

Ca trù là một kho tàng văn hoá nghệ thuật truyền thống đặc sắc của người Việt.Các nhà nghiên cứu về Ca trù đã tổng kết lại từ thực tế diễn xướng và từ các tài liệuthư tịch cổ cho biết: Ca trù có chức năng văn hóa xã hội như dùng để hát thờ thần, hátthi, hát chơi, hát mừng thọ, đón tiếp sứ giả nước ngoài Trải qua bao biến cố thăngtrầm của lịch sử đất nước, của những định kiến xã hội, ca trù vẫn ẩn vào dòng chảycủa đời sống xã hội, vào cuộc sống đời thường của những nghệ nhân để tồn tại mộtcách lặng lẽ Với bề dày mấy trăm năm lịch sử phát triển và định hình, Ca trù vẫn giữđược sức sống bền bỉ dù đã mai một nhiều Sau khi đất nước đổi mới, những giá trịvăn hóa truyền thống được sưu tầm, nghiên cứu để phát huy trong xây dựng đời sốngvăn hóa đương đại

Các nghệ nhân nổi tiếng có tên tuổi phải kể tên đó là nghệ nhân Quách Thị Hồ,Nghệ nhân Quách Thị Tiệp ở Bắc Ninh, nghệ nhân Nguyễn Văn Khôi và Phạm ThịMùi ở Hà Nội Thời gian qua, các nghệ nhận ca trù trong nước đã nỗ lực để đưa được

Ca trù gần hơn đến người nghe trở thành một môn nghệ thuật phổ biến trong côngchúng Rất nhiều các Câu lạc bộ ca trù ở các địa phương sau một thời gian mai mộtcũng đã đi vào hoạt động Các buổi biểu diễn Ca trù cũng được tổ chức nhiều hơn

Hiện nay có rất ít người hiểu và biết về ca trù, đặc biệt là thế hệ 8x và 9x hiệnnay Bởi vậy không ít người lo ngại rằng Ca trù đang trở lại nhưng sẽ rất khó khăn khi

mà những người hiểu và biết về Ca trù đang ngày càng một ít đi Việc bảo tồn gìn giữ

và phát triển ca trù cần phải có những người có tâm yêu và hiểu về Ca trù Việc Ca trùđược phục hồi và phát triển hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào ý thức người dân

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG CA TRÙ TẠI HẢI PHÒNG

2.1 Giới thiệu khái quát về Ca trù Hải Phòng

2.1.1 Lịch sử Ca trù Đông Môn

Cũng như Ca trù cả nước, Ca trù Hải Phòng đã được biết đến gần 300 năm nay,

Ca trù Hải Phòng trải qua quá trình phát triển lâu đời, trải qua bao thăng trầm biến cốcủa lịch sử dân tộc Kể từ ngày bà Chúa Sang (Phạm Thị Sang) là thứ phi của chúaTrịnh Giang (1729- 1740) đã mang nghệ thuật Ca trù về dạy cho các ca nương,kép đàn

ở làng Đông Môn, thuộc huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn, lộ Hải Dương Qua cáclớp ca nương.kép đàn do bà truyền dạy và sát hạch bài bản trong đó có nghệ nhân đànđáy Tô Tiến và vợ là đào nương Lại Thị Nhị qua một khóa sát hạch đã được danh hiệucao nhất về nghệ thuật Ca trù Kép đàn Tô Tiến đã được bổ làm trùm trưởng giáophường Ca trù Đông Môn dưới sự quản lí của Ty giáo phường Bắc Thành (là tổ chứcnhà nước về Ca trù hồi đó)

Để tỏ lòng thành kính, khi bà mất dân làng đã tạc tượng thờ bà tại nhà mẫuchùa làng Đông Môn Với tổ nghề Ca trù, làng Đông Môn đã xây dựng đền thờ đặt tên

là “ Phủ từ” để thờ tổ nghề ca công Đinh Dự và Bạch Hoa công chúa Theo sự tích Catrù làng Cổ Đạm Hà Tĩnh thì tổ nghề là Đinh Lễ (là cha của Đinh Dự) và tổ nghề ở LỗKhê là Đinh Dự và Mãn Đường Hoa công chúa, xét về nơi phát tích của Ca trù từ cáctỉnh Thanh- Nghệ-Tĩnh xưa kia nên suy luận Đinh Lễ và Bạch Hoa công chúa là tổnghề Ca trù Đinh Dự là con, sau khi Đinh Lễ mất, Đinh Dự đã nối nghiệp cha cũng

mẹ truyền dạy Ca trù ra các tỉnh phía Bắc trong đó có giáo phường Đông Môn nênĐinh Dự có thể gọi là tổ nghề Ca trù ở xứ Bắc Thành “ Phủ Từ” Ca trù Đông Môn do

“ Tam Phủ Bát huyện” xây dựng có nghĩa là nhà thờ hàng phủ do ba phủ tám huyệnxây dựng Lễ hội hàng năm được tổ chức vào ngày 23 đến 25 tháng 3 (ngày thánh hóa)

và ngày 23 đến 25 tháng 9 (ngày sinh của thánh) Con nhà thánh ở các nơi như HàNam, Kinh Môn, Kim Thành, Ninh Giang, Kiến An, Kiến Thụy, Bắc Ninh, Thái Bìnhđều về Phủ từ làm lễ tế tổ và kiểm tra tay nghề Ca nương, kép đàn để kết nạp hội viênmới vào các giáo phường

Căn cứ vào sắc phong của triều vua Gia Long (1802- 1819) phong tặng hiện đangcòn lưu giữ tại Phủ Từ Đông Môn một sắc có nội dung viết tạm dịch là: “ …Thánh nữ có

Trang 26

danh hiệu công chúa Mãn Đường Hoa là người thày dạy, thanh bạch đẹp thơm như bônghoa huệ, như hoa phù dung, sống khuôn mẫu trong sạch, cẩn trọng”.

Thánh nam là đại vương hiệu rắn xanh, họ Đinh tên Dự (Đinh Dự) là thầy dạyhay còn goị là tiên sư thông minh có chí quyết mạnh mẽ, danh tiếng sáng ngời, giúpnước dạy dân cách sống ứng xử sáng suốt, bao dung, rộng rãi trong sạch…Triều vuaGia Long tặng sắc phong 2 lần, một lần vào mười năm tháng Giêng năm Giáp Tý(1804) và một lần vào 15 thàng 6 năm 1810 đều có sắc phong là “bao tặng” và “ giatặng” như vậy có thể các triều vua trước đã có phong tặng sắc phong cho Phủ từ ĐôngMôn nhưng bị mất nay chỉ còn lại hai sắc đang được lưu giữ tại “ Phủ Từ” Điều đóchúng tỏ Đông Môn là cái nôi của nghệ thuật Ca trù Hải Phòng từ rất sớm

2.1.2 Sự phát triển của Ca trù Hải Phòng

Những người làm nghề Ca trù làng Đông Môn xưa kia phải kể đến tầng tầng,lớp lớp đã thành họ, thành hội mà lâu nhất là họ Phạm, họ Tô, họ Nguyễn, họ Trần, họLưu…nhiều gia đình cả ông bà, bố mẹ con cháu đều làm nghề Ca trù như gia đìnhnghệ nhân Tô Văn Mô, gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Tọa, gia đình nghệ nhân TôVăn Toại Tất cả những con cháu những dòng họ này đều đã mấy đời liên tục sống vớinghề Ca trù Cách đây hàng trăm năm về trước, ai qua huyện Thủy Đường, qua làngĐông Môn đều được nghe tiếng đàn, tiếng hát, tiếng trống, tiếng phách Ca trù vang lên

từ sớm tới khuya

Người Đông Môn là nổi tiếng đàn giỏi hát hay Xưa kia nhiều ca nương kép đàn

đã thoát li khỏi làng đi mở ca quán ở nơi xa như Hà Nội, Sài Gòn, Nam Định, TháiBình…nổi danh như kép đàn Phạm Cửu Tuế và vợ là Linh Thoa- một đào nương giỏi

đã lên Hà Nội mở ca quán ở Khâm Thiên Vợ chồng nghệ nhân Nguyễn Thị Chín vàoSài Gòn mở ca quán Một số đào nương nổi tiếng khác như Đào Mão, đào Hương, đàoThoa, đào Xuyến, đào Thanh, đào Thuận cùng với nhứng kép đàn nổi tiếng như képđàn Tô Tiến, kép Mươu, kép Phượng, kép Bốn, kép Chính, kép Toa, kép Cổn, képThứ, kép Hòe…những người này đã từng đến hàng chục ca quán ở nội thành HảiPhòng như cánh gà trong, Cánh gà ngoài, và đi khắp mọi nơi trong cả xứ Bắc Thành

để làm nghề đàn hát Ca trù…Những người này một thời đã làm nên danh giá cho nghệthuật Ca trù Hải Phòng

Ngoài Đông Môn ra, Ca trù Hải Phòng còn phải kể đến các đào nương nổi tiếngkhác như đào Miến, đào Tửu ở làng Cung Chúc và đào Bốn, đào Xâm xã Dũng Tiến,

Trang 27

huyện Vĩnh Bảo Huyện Tiên Lãng có giáo phường Ca trù của ông trùm phú có contrai là kép đàn Bá Hợi, con gái là đào Sự; ở Kiến Thụy có kép đàn Ngô Duy Thẫn làngTrà Phương; ở Kiến An có giáo phường Ca trù đình Quy Tức (nay là phường PhùLiễn), ở An Dương có giáo phường Ca trù đình Cam Lộ (nay là phường Hùng Vương,quận Hồng Bàng), những nơi trên đều có những nghệ danh Ca trù nổi tiếng một thờitrên đất Hải Phòng.

Nhưng đến những năm 50 của thế kỉ XX, Ca trù bị ảnh hưởng sâu sắc do cácyếu tố tiêu cực, thương mại hóa của những đào rượu, những chủ ca quán, nhà hát đãlàm mất đi những giá trị cao quý của Ca trù, và từ đây Ca trù đã bị cấm hoạt động ởnhiều nơi trong cả nước Riêng ở Hải Phòng, vào những năm 1950- 1955, Ca trù vẫnhoạt động nhộn nhịp ở các nơi trong đó có hơn 20 ca quán ở khu vực quán Bà Mau.Theo lời kể của nghệ nhân kép đàn nổi tiếng Nguyễn Phú Đẹ, năm nay cụ đã 94 tuổinhưng cụ vẫn còn khỏe, minh mẫn, cụ nói: “ Vào những năm đó tôi thường xuyên đàncho các đào nương Đào Thị Bảo và Đào nương Đào Thị Thẩm hát ở quán số 4 khuquán Mau

Những người đi nghe hát ở đây phải góp tiền đặt cho chủ ca quán từ 3đến 5đồng bạc Đông Dương (1 đồng bằng 1 chỉ vàng) và được nghe hát từ chập tối đến 12giờ đêm Mỗi ca quán thường có một kép đàn và hai đào nương phục vụ cho gần 10quan viên (khán giả) nghe hát, người giàu có nếu đặt đủ tiền thì một hoặc hai quanviên cũng được nghe đủ một canh hát Ca trù

Sau năm 1955, khi giải phóng Hải Phòng thì Ca trù cũng bị hiểu sai và cấmđoán hoạt động trong một thời gian dài

Không thể để mất đi một di sản văn hóa đặc sắc một thời của dân tộc, nhiều nhànghiên cứu văn hóa, những nghệ nhân, nghệ sĩ đã tìm tiếng nói chung, lấy lại vị tríxứng đáng cho Ca trù Riêng ở Hải Phòng, vào đầu những năm 80 , những nhà hoạtđộng văn hóa dân gian Hải Phòng đã tìm đến các nghệ nhân ca nương, kép đàn, quanviên xưa kia còn lại để mời họ tham gia khôi phục lại Ca trù Nhà nghiên cứu văn hóadân gian Giang Thu đã tìm đến các nghệ nhân kép đàn Tô Văn Nghị, kép đàn TrầnTrọng Quế, kép đàn Ngô Duy Thẫn (Kiến Thụy), các nghệ nhân đào nương Tô ThịChè, Đào Thị Chè, Đào Thị Thẩm, Nguyễn Thị Chín và nghệ nhân Nguyễn Văn Hãn.Thời gian đó các nghệ nhân đã ở tuổi “ Thất thập cổ lai hi”, khi được mời ra mở lớpdạy đàn, hát Ca trù thì ai cũng nhiệt tình tham gia tích cực Khóa học đầu tiên đã đào

Trang 28

tạo được những ca nương như Vũ Kim Yến, Nguyễn Thị Nhung, Đỗ Quyên, Tô ThịNinh, Thanh Cần Tiếp đến khóa 2 gồm các ca nương kép đàn trẻ có : Nguyễn Thị ThuHằng, kép đàn Hoàng Văn Khoa, Tô Văn Tuyên, Lương Hải Phượng, lớp người nàyhiện đang là nòng cốt của Ca trù Hải Phòng Khóa 3 gồm có: Nguyễn Thu Hương,Nguyễn Thị Trang, Nguyễn Thị Duyên, Phạm Thị Thanh, Phạm Vân Anh, Phạm ThịThùy và một số kép đàn, quan viên trống chầu…

Đến khi có nghị quyết trung ương 5 khóa VIII của Đảng về “ Xây dựng và pháttriển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” thì Ca trù mới được vinhdanh và hoạt động trở lại Các ca nương, kép đàn lại được thỏa sức nhả phách, vang rềnnền nẩy và nhấn phím tơ lòng Đến nay Hải Phòng đã có 2 Câu Lạc bộ Ca trù là CLB Catrù hội VNDG Hải Phòng và CLB Ca trù Đông Môn xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyênvới gần 40 ca nương, kép đàn, quan viên trống chầu Đến năm 2009, Ca trù đã đượcUNESCO vinh danh là “ Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần được bảo vệ khẩncấp” trong đó có sự tham gia cung cấp tư liệu và đề nghị của Ca trù Hải Phòng

Trong thành công đưa Ca trù trở thành danh hiệu Di sản văn hóa thế giới cóphần đóng góp quan trọng của các nhà nghiên cứu, quản lí văn hóa, nghệ nhân, nghệ sĩcủa Hải Phòng Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan và đoàn công tác lập hồ sơ di sản đã trựctiếp gặp gỡ, phỏng vẫn, ghi âm và ghi hình các nghệ nhân của Hải Phòng Dần dầnsinh hoạt Ca trù tại địa danh quán Bà Mau nức tiếng một thời đã được hiện lên tronglời kể của các nghệ nhân Ca trù Hải Phòng

Như vậy, ca trù Hải Phòng đã có một giai đoạn phát triển từ rất lâu đời để cóđược kết quả như ngày hôm nay, là nhờ sự quan tâm của Thành Ủy, Ủy ban Thànhphố, sự chỉ dẫn của Hội Văn nghệ dân gian, Hội liên hiệp VHNT Hải Phòng và sự nỗlực nhiệt tình của các nghệ nhân, các học viên đàn và hát Ca trù đến nay đã có danhphận, tài sắc vẹn toàn

2.2 Khảo sát hoạt động của Câu Lạc Bộ, địa phương lưu giữ Ca trù

Trang 29

(nay là Trung tâm Văn hóa thành phố), với một mong muốn giữ lại nghề hát Ca trù đãvắng bóng một thời,làm nên niềm tự hào nền nhâm nhạc Việt Nam.

Dưới sự dìu dắt của các Đào Nương Đào Thị Thẩm, Đào Thị Bảo, Nguyễn ThịChín, kép đàn Trần Trọng Quế, quan viên cầm chầu Nguyễn Hãn, Ca trù Hải Phòng đãđược hồi sinh Lớp kế cận của các nghệ nhân lúc bấy giờ thật hiếm hoi, ít ỏi, gồm cácnghệ sĩ Kim Yến, Thanh Cần, Thanh Thuận, Đỗ Quyên, Hồng Nhung, Nguyễn ThịBích Với cả tấm lòng yêu quý trân trọng các bậc nghệ nhân tài danh của Đất cảng,CLB Ca trù Hải Phòng đã chính thức được thành lập

Năm 1996,ông Vũ Thiệu Loan làm Giám đốc Sở Văn hóa chính thức thành lậpCLB (ngày 14 tháng 4 năm 1996)

Chặng đương xây dựng và bảo tồn nghệ thuật Ca trù còn gặp nhiều khó khăn vàcũng chưa có sự quan tâm nhiều của lãnh đạo ngành văn hóa Nhưng với sự kiên trìhọc tập của những học viên là ca nương, kép đàn trẻ cũng với sự truyền dạy nhiệt tìnhtâm huyết của các nghệ nhân, sau một thời gian CLB đã có một chương trình biểu diễnTết giới thiệu với khán giả trên sóng Đài Phát thanh truyền hình Hải Phòng xuân Bính

Tí 1996 và tiếp tục phát sóng nhiều lần vào những năm sau

Từ năm 1996 đến năm 2005: trong vòng 10 năm , CLB đã phát triển thêm một

số hội viên trẻ nâng tổng số hội viên của CLB lên tới trên 20 người

Năm 2005, khi Cục biểu diễn Nghệ thuật (Bộ văn hóa Thông tin) tổ chức liênhoan Ca trù toàn quốc lần thứ nhất tại Hà Tĩnh, CLB đã được Sở VHTT Hải Phòng cửtham gia lên hoan gồm: 2 quan viên , cầm chầu Nguyễn Hãn, nhà nghiên cứu GiangThu; 3 ca nương là Ca nương Đỗ Quyên, Thu Hằng, Hải Phượng;1 kép đàn HoàngKhoa Các tiết mục dự thi Liên hoan đã để lại dấu ấn và được Ban Giám Khảo đánhgiá cao về phong cách và chất lượng biểu diễn của các ca nương, kép đàn, quan viênCLB Ca trù Hải Phòng CLB đã đoạt 4 huy chương Vàng, 1 huy chương Bạc Trong

đó 1 HCV toàn đoàn, 3 HCV cá nhân cho ca nương Đỗ Quyên, trống chầu NguyễnHãn, kép đàn Hoàng Khoa, 1HCB cá nhân cho ca nương Thu Hằng và 1 bằng khencủa Bộ Văn hóa Thông tin cho CLB Ca trù Hải Phòng

Những thành tích trên bước đầu khẳng định vị thế của Ca trù Hải Phòng với cácgiáo phường, các CLB Ca trù cả nước Đồng thời nó là động lực thúc đẩy các nghệnhân, đào kép của CLB thêm khí thế và nhiệt huyết để học tập và truyền dạy bộ môn

Ca trù Các bạn trẻ yêu mến Ca trù cũng đã tìm đến và theo học ngày một nhiều hơn

Trang 30

Năm 2006, Ca trù Hải Phòng tham gia xây dựng hồ sơ trình UNESCO cùng vớicác CLB, các giáo phường Ca trù của cả nước, đề nghị công nhận Ca trù Việt Nam là

di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại

Năm 2007-2009, CLB Ca trù Hải Phòng tiếp tục tham gia các lien hoan Ca trùtoàn quốc tại Hải Dương và Hà Nội và đã đoạt 6HCV, trong đó 4 HCV của đào nương

và 2 HCV của kép đàn Năm 2007, 2 HCV của Đào nương Đỗ Quyên và Thu Hằng;năm 2009, 2 HCV của đào nương Thu Hằng và Hải Phượng, 2 HCV của kép đànHoàng Khoa và Tô Văn Tuyên

Từ năm 2005- 2014,CLB đã tham gia 5 lần liên hoan Ca trù toàn quốc được tổchức và đạt những thành tích:

Hiện nay CLB Ca trù Hải Phòng lấy nhà giải vũ của Đình Hàng Kênh- HảiPhòng là nơi sinh hoạt Ca trù thường xuyên Đây là nơi sinh hoạt, truyền dạy, học hát,tập hát, giao lưu của các ca nương, kép đàn, quan viên và những học viên theo học

2.2.2 Ca trù Thủy Nguyên

Ở Hải Phòng, hát Ca trù đã có từ những thế kỉ trước và cở hầu hết các huyện ngoạithành như Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thụy song tập trung sâu rộng hơn cả vẫn là ở làngĐông Môn, xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên- một làng quê cách thành phố 10km vềphái Đông Bắc Đông Môn là nơi có truyền thống hát Ca trù từ lâu đời và có thể là nơigốc nghề của miền Bắc, một trong những cái nôi phát tích của nghệ thuật Ca trù

Theo các tài liệu còn đểlại và qua lời kể của các cụ xưa thì Ca trù Đông Môn rađời từ thời Lê Theo người dân địa phương kể lại rằng: các cụ xưa có nói, Ca trù ở đây

đã bắt nguồn từ bốn anh em nhà họ Phạm ở trang Thủy Đường, Phủ Kinh Môn, Lộ Hải

Trang 31

Dườn, xưa là Phạm Quang, Phạm Nghiêm, Phạm Huấn, Phạm Thị Cúc Nương Cả bốnanh em đều theo vua Lê Đại Hành đánh giặc Sauk hi chết dân làng đều lập đền thờ-Làng Ngọc Phương (nay là thôn Thủy Tú, xã Thủy Đường) thờ Phạm Quang và PhạmThị Cúc Nương Làng Nương Kệ và Chiếm Phương (nay thuộc xã Hòa Bình) thờPhạm Nghiêm- làng Thưởng Sơn (nay thuộc thị trấn Núi Đèo) thờ Phạm Huấn, lànhững người đầu tiên mang nghề Ca trù về truyền bá ở khu vực này Đó chỉ là truyềnmiệng, cũng có thể lối hát Ca trù đã bắt đầu từ thời tiền Lê, nhưng thời kì này, Ca trù

có lẽ còn hòa lẫn với các hình thức canhacj dân gian khắc chứ chưa trở thành một bộmôn nghệ thuật độc lập và có âm luật riêng như từ thời Hậu Lê trở đi

Hát Ca trù ở đây đã có từ nhiều đời, nhân dân khu vực này đã lập đền thờ tổnghề là Ca công Đinh Dự và Mãn Đào Hoa công chúa Đồ thờ, tế khí đẹp vào loại nhấthuyện Đền tổ nghề đã bị phá trong kháng chiến chống Pháp, nhưng hiện nay dân làngcòn giữ được bức phù điêu tổ nghề Đinh Dự và Mãn Đào Hoa công chúa Cộng đồngdân cư ở đây vẫn giữ được truyền thống hát Ca trù từ đời này qua đời khác, mặc dùgặp nhiều khó khăn do các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm và những biến cốcủa đất nước

Từ làng Đông Môn, Ca trù ở đây đã có ảnh hưởng lan tỏa đến các địa phươngkhác trên địa bàn Hải Phòng nhiều nhất từ năm 20 đến năm 40 của thế kỉ 20 Nhiều caquán gọi là Đông Môn ca quán đã hình thành những tụ điểm hát Ca trù Ngoài một số

ca quán của huyện Kiến Thụy, Kiến An, Hải Dương thì nơi tập trung ca quán nhiềunhất vẫn là khu đô thị của nội thành Hải Phòng Mỗi nơi có hàng chục ca quán như DưHàng Kênh, khu vực Cam Lộ (thuộc Thượng Lí), nổi bật là quán Bà Mau, Lạch Tray

là nơi tập trung nhiều ca quán của những nghệ nhân làng Đông Môn mở Quán BàMau trở thành địa danh Ca trù có nhiều ca quán nổi tiếng về những ca nương hát hay,những tay đàn đáy tài ba thu hút khách không những của Hải Phòng mà nhiều nhà thơyêu Ca trù của Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Quảng Yên đến thưởng thức và thi thốcầm chầu Ngoài ra một số nghệ nhân của làng Đông Môn mở ca quán ở Khâm Thiên,

Hà Nội như cụ Phan Cử Tuế và vợ là ca nương nổi tiếng hát hay Linh Thoa Từ sauthập kỉ 50 của thế kỉ 20 trở đi, do nhiều lí do khách quan, hát Ca trù xem như đã đi vàoquên lãng Tuy nhiên nó vẫn được các nghệ nhân âm thầm giữ gìn và truyền khẩutrong dân gian Đó là sức sống mãnh liệt của nghệ thuật hát Ca trù mà làng Đông Môn,huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là một minh chứng

Trang 32

Hòa tròn xu thế chung của Ca trù cả nước, đầu thế kỉ XXI, Ca trù ở làng ĐôngMôn sau nhiều năm bị lãng quên nay đã và đang được phục hồi Chủ nhiệm CLB Catrù Đông Môn trước đây là bác Tô Văn Thiệp CLB Ca trù Đông Môn khi mới thànhlập có 7 thành viên, trong đó có 3 ca nương, 2 nhạc công, 2 nghệ nhân với tư cáchkhách mời danh dự là bà Nguyễn Thị Chè (dạy hát) và ông Trần Văn Sự Cụ bàNguyễn Thị Chè ngoài 70 tuổi, còn ông Trần Văn Sự quá lứa tuổi trung niên, là nhữngngười của thế hệ trước, những nghệ nhân đã gìn giữ và truyền bá bộ môn nghệ thuật

Ca trù Hải Phòng Hiện nay lớp kế tiếp sau thời các cụ, ở làng còn có cô Tô Thị Linh(ca nương), Trịnh Thị Ngát (ca nương) và anh Tô Văn Tuyên (kép đàn), anh PhạmVăn Cường (cầm chầu) Lớp trẻ kế tiếp đang được đào tạo hát Ca trù có 3 em: NguyễnThị Duyên, Tô Thị Liên, Tô Thị Huyền Trong đó em Duyên vừa qua đã dành đượcHCB trong cuộc thi Ca trù toàn quốc (2009) Chủ nhiệm CLB Ca trù Đông Môn hiệnnay là cụ Trần Bá Sự Nhìn chung đội ngũ Ca trù của làng Đông Môn hiện nay còn rấthạn chế và việc giữ gìn nghề hát Ca trù của làng còn đang gặp nhiều khó khăn vàthách thức Một thực trạng đáng buồn là hiện nay ở thôn Đông Môn, lớp trẻ rời làng đilàm ăn xa khá nhiều, còn người ở lại thì công việc đồng áng cũng tất bật, cho nên sốthành viên tham gia CLB Ca trù không thấy tăng lên Hơn nữa, Ca trù vốn là mônnghệ thuật khó, đòi hỏi phải có sự kiên trì và khổ luyện, nên nhiều người trong thônkhông tha thiết lắm với việc kế tục vốn cổ của ông cha Vì vậy, để Ca trù Đông Môntiếp tục được duy trì và phát huy, ngoài sự nỗ lực của các thành viên CLB cũng cần có

sự quan tâm sâu sát của chính quyền địa phương cũng như của nhiều ban ngành đoànthể có liên quan

Những thành tích mà CLB Ca trù Đông Môn đạt được:

Năm 2005, tại Liên hoan Ca trù toàn quốc , hai Câu lạc bộ Ca trù của HảiPhòng là Câu lạc bộ Ca trù Đông Môn và Câu lạc bộ Ca trù Hải Phòng thuộc Hội vănnghệ dân gian tham gia liên hoan ở huyện Nghi Xuân ( Hà Tĩnh )

Làng Đông Môn có các ca nương: Trần Bá Sự, Tô Thị Khánh, Tô Thị Ninh,Trịnh Thị Ngát, Đặng Thị Mai và các tay đàn đáy Tô Văn Tuyên, trống chầu PhạmVăn Cường

Ngay lần tham dự thứ nhất này, Ca nương Trịnh Thị Ngát đã được HCB do BộVăn Hóa Thể Thao trao tặng

Trang 33

Năm 2006, Liên hoan Ca trù toàn quốc được tổ chức tại Hà Nội, Trịnh ThịNgát là một trong những đại diện cho TP Hải Phòng về tham dự.

Năm 2007, Liên hoan Ca trù toàn quốc tại Hải Dương

Năm 2009, Liên hoan Ca trù toàn quốc tại Hà Nội: Ca nương Nguyễn ThịDuyên cũng đã dành được HCB

Với việc tham gia đều đặn các cuộc Liên hoan quy mô lớn do nhà nước tổchức, Ca trù Đông Môn đã dần khẳng định được tên tuổi của mình trong tổng số 22 Câulạc bộ ca trù hiện đang hoạt động Việc tham gia đó không chỉ giúp cho Ca trù ĐôngMôn duy trì được sức sống của một làng nghề cổ, mà còn là cơ hội cho các nghệ nhântrẻ được cọ xát và giao lưu, học hỏi với các câu lạc bộ khác, với các địa phương khác đểtrau dồi thêm ngón nghề của mình ngày càng sành sỏi hơn, nhuần nhuyễn hơn Đó làmột phần thưởng tinh thần vô giá mà không một giải thưởng vật chất nào thay thế được

Bên cạnh việc tham gia các Liên hoan Ca trù toàn quốc,Câu lạc bộ Ca trù ĐôngMôn còn tham gia biểu diễn ở nhiều nơi Một trong những địa điểm quen thuộc làkhông gian văn hóa sống động của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tại HàNội.Dướiđây là một trong những Chương trình biểu diễn nghệ thuật Ca trù do Trung tâmUNESCO Ca trù và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phối hợp thực hiện có sự thamgia của Câu lạc bộ Ca trù Đông Môn:

Chương trình Ca trù 6 tháng đầu năm 2008(chủ nhật thứ 4 hàng tháng)

Tháng 1 ngày 13, tưởng niệm cố nghệ sĩ Quách Thị Hồ

Tháng 2: ngày 24, Chương trình chào mừng xuân MậuTý,với sự tham gia củacâu lạc bộ Ca trù Lỗ Khê (Đông Anh, Hà Nội)

Tháng 3: ngày 23, Với sự tham gia của câu lạc bộ ca trù Đông Môn (Hải Phòng)

Trang 34

quảng bá tên tuổi của mình Rất có thể vì yêu mến tiếng hát của các nghệ nhân ĐôngMôn mà biết đâu sẽ có thêm nhiều du khách tìm đến với du lịch Hải Phòng để được tựmình tìm hiểu về mảnh đất gốc - nơi đã sản sinh ra những tay đàn, tiếng phách, tiếnghát ngọt lịm, làm say đắm lòng người ấy

Hiện nay, cứ vào ngày 24 tháng 3 âm lịch hàng năm, “ con cháu nhà thánh” ởkhắp mọi nơi đều tụ họp lại mở hội để tường nhớ ông tổ nghề, ngày hội đền hàng nămđược tổ chức đều đặn gồm 2 phần chính: Ban ngày sau khi làm lễ thánh có cuộc thi hátgiữa nghệ nhân các vùng nhằm mục đích đua tài, trao đổi kinh nghiệm Nhân dịp nàycòn kiểm tra tay nghề để kết nạp hội viên mới Người muốn nhập hội phải qua đào tạotheo hình thức truyền nghề do các nghệ nhân cũ trực tiếp kèm cặp với thời gian ít nhấthai năm cho người học đàn, ba năm cho người học hát Trước ngày hội phụ huynh hayngười đỡ đầu người muốn xin vào hội phải trình bày trước với ông thủ bạ của hội vànộp một khoản lệ phí nhỏ Ban ngày hôm lễ chính có dành thời gian cần thiết để ngườixin vào hội trình nghề trước cửa nhà thánh và đông đảo hội viên Nếu đạt trình độ cầnthiết thì được nhận vào hội, còn không đạt thì chờ hội năm sau dự sát hạch lại Việckiểm tra tay nghề tuy nhẹ nhàng, không quy định thể thức, tiêu chuẩn chặt chẽ, nhưngcông chúng nghe vốn là những nghệ nhân sành sỏi, trình độ thẩm âm cao, uy tín nghềnghiệp nên việc xét công nhận hội viên mới khá công minh và tự giác Chỉ có hội viênchính thức của hội thờ thánh, Ca công mới được hành nghề Quy ước này được tuânthủ khá nghiêm ngặt

Chương trình buổi tối ngày hội là buổi tế thánh được cử hành nghiêm trang,trọng thể Người tham gia tế từ chủ tế, bồi tế….cho đến người phục vụ buổi tế phải làhội viên chính thức do hội cắt cử Người ngoài dù chức tước, địa vị xã hội thế nàocũng không được dự tế Lễ phẩm tế không có gì đặc biệt gồm hương đăng, hoa quả,xôi thịt, Chi phí cho ngày hội do đệ tử đóng góp và lợi tức hàng năm của hai sàoruộng công của hội

Hiện nay, nguy cơ mai một của Ca trù Đông Môn hiện tại là rất lớn Các nghệnhân gạo cội, nghệ nhân trẻ còn ít nghệ nhân theo nghề Để khắc phục hậu quả, bảotồn, duy trì nghệ thuật cổ này, CLB Ca trù Đông Môn và CLB Ca trù Hải Phòng đã có

sự liên kết với nhau, CLB Ca trù Hải Phòng đã giúp CLB Ca trù Đông Môn bằng cáchđạo tạo thêm nữa đội ngũ nghệ nhân, ca nương trẻ còn lại của CLB Ca trù Đông Môn

Trang 35

Ngoài ra CLB Ca trù Hải Phòng còn giúp hỗ trợ kinh phí, sang Đông Môn tổ chức cáclớp nhỏ đào tạo các thế hệ trẻ

2.3 Thực trạng hoạt động Ca trù tại Hải Phòng

2.3.1 Số lượng nghệ nhân và hoạt động biểu diễn

Trải qua một quá trình phát triển rất dài,trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch

sử, có lúc tưởng như nghệ thuật hát Ca trù không thể tồn tại được, nhưng nghệ thuậtnày đã dần được phục hồi và phát triển hơn bởi số lượng ít ỏi những nghệ nhân dângian, họ là những người có tâm huyết duy trì, giữ gìn, bảo tồn, phát huy nghệ thuật âmnhạc cổ truyền của dân tộc cho các thế hệ mai sau

Đối với CLB Ca trù Hải Phòng:

Từ năm 1986, năm đất nước bắt đầu đổi mới, Đảng và nhà nước khuyến khích ,bảo tồn và phục hồi lại Ca trù Từ khi CLB Văn hóa dân gian Hải Phòng và CLB thơ

do nhà nghiên cứu Giang Thu làm chủ nhiệm năm 1989, cùng với ông Ngô Đăng Lợilúc đó làm phó chủ nhiệm mới chính thức triển khai kế hoạch sưu tầm phục hồi nghệthuật Ca trù

Lớp thế hệ đầu tiên phải kể đến 3 cụ Ngô Duy Thẫn ở Trà Phương Kiến Thụy,

cụ Đào Thị Bảo, cụ Đào Thị Thẩm Trích lời kể của nhà nghiên cứu Giang Thu trong

“Ca trù Hải Phòng thời gian nhìn lại”[8, tr 43-44]

“ Với yêu cầu đầu tiên là phải tìm được nhạc cụ, sau một thời gian dài bỏ nhiềucông sức, chúng tôi mới tìm được cây đàn đáy gia truyền của nghệ nhân Ngô Duy Thẫn

Cụ Ngôi Duy Thẫn đã bỏ công lau chùi sửa chữa trao tặng cho Câu lạc bộ Tôi tranh thủsắm đéo gọt lấy trống và phách, vận động được một vài anh chị em đến nhà tôi cùng tậpluyện, gọi là Tổ Ca trù của Câu lạc bộ thơ, gồm có Doãn Tích (học đàn), Hoàng Nguyên(học trống) rồi Thanh Thuận, Kim Yến, Thanh Cần cùng học hát Nhưng cụ Ngô DuyThẫn sức yếu lại ở xa không thể tham gia truyền dạy thường xuyên được, may được nghệnhân Nguyễn Thị Chín dù từ chối không tham gia nhưng đã mách cho tôi đến tìm gặp hainghệ nhân Đào Thị Bảo và Đào Thị Thẩm ngụ tại phường Cát Bi Sau nhiều ngày qua lạithỉnh cầu, được 2 bà đồng ý đến nhà riêng ở gia đình tôi truyền dạy, nhưng với điều kiệntuyệt đối bí mật, không được để lộ ra cho bất cứ ai”

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng thế hệ ban đầu chỉ có số lượng rất ít ỏi, ngoài ba

cụ kể trên còn có cụ Nguyễn Thị Chín, Cụ Nguyễn Hãn, nhà nghiên cứu Giang Thu

Trang 36

Được sự dẫn dắt của các nghệ nhân, cho đến năm 1996 đã có thêm các nghệ nhân:Kim Yến, Thanh Cần, Thanh Thuận, Đỗ Quyên, Hồng Nhung, Nguyễn Thị Bích.

Năm 2003 đào tạo các thế hệ tiếp theo,trụ lại được 7 ca nương như: Thu Hằng,Thu Hương, Thanh Thùy, Phạm Thị Thanh, Nguyễn Thị Duyên, Phạm Thị Liên, TôVăn Tuyên

Ngoài ra CLB còn đào tạo thêm được lớp trẻ như Anh Thư, Chu Hiền, ThuThảo, Kim Huệ, các học viên ở tuổi 13- 14 tuổi

Tại Vương Triều Mạc ở Kiến Thụy, CLB cũng đã đào tạo được 2 ca nương, 1kép đàn, 1 trống chầu

Tính đến năm 2015, số lượng hội viên của CLB là 28 hội viên, 5 nghệ nhân và

1 Nghệ sĩ ưu tú Người lớn tuổi nhất là cô Đỗ Quyên 67 tuổi,Ủy viên Ban chấp hànhhội dân gian Hải Phòng, chủ nhiệm CLB Ca trù Hải Phòng

Đối với CLB Ca trù Đông Môn Thủy Nguyên:

Ca trù Đông Môn có lịch sử phát triển từ lâu đời nhưng hiện nay Ca trù ĐôngMôn hầu như không phát triển nữa mà chỉ còn là những cái tên đã đi vào lịch sử Cácnghệ nhân của Ca trù Đông Môn trước đây như cụ Tô Thị Chè, cụ Tô Nhường, cụTrần Bá Sự Hiện nay các nghệ nhân cổ đã trở thành những người thiên cổ, còn duynhất nghệ nhân Trần Bá Sự Điều đó đã tạo ra rất nhiều khó khăn cho việc bảo tồn,gìn giữ, phát huy nghệ thuật Ca trù tại đây Hiện nay có đào nương Nguyễn Thị Duyên

và Phạm Thị Liên là hội viên của CLB Ca trù Hải Phòng, nhưng là người con của làngĐông Môn cũng đã về quê hương truyền dạy, đồng thời kết hợp với CLB Ca trù HảiPhòng mở thêm các lớp học truyền nghề cho các thế hệ trẻ để góp phần vào việc duytrì nghệ thuật âm nhạc cổ này

Hiện nay CLB Ca trù Đông Môn do cụ Trần Bá Sự làm chủ nhiệm, các nghệnhân như 1 kép đàn Tô Tuyên, 2 ca nương Thu Duyên (Nguyễn Thị Duyên) và PhạmThị Liên; 2 quan viên Tô Văn Huân và Mạnh Cường, lớp đào tạo gồm có 6 học sinh làthế hệ trẻ tại làng Đông Môn

Như vậy chúng ta có thể thấy số lượng các nghệ nhân hiện nay còn rất ít ỏi, đểđáp ứng nhu cầu bảo tồn, phát huy nghệ thuật âm nhạc cổ truyền này cần có một độingũ nghệ nhân lớn hơn nữa Chính vì vậy, vấn đề tào tạo, truyền nghề là vô cùng quantrọng hiện nay cũng như trong tương lai

Trang 37

Hoạt động biểu diễn của CLB Ca trù Hải Phòng

Hoạt động biểu diễn Ca trù của Ca trù Hải Phòng cũng đang có bước tiến triểnkhi được tham gia vào rất nhiều các chương trình lớn của cả nước

Đối với CLB Ca trù Hải Phòng có hoạt động biểu diễn thường xuyên đều đặnvào các sáng thứ 7 tuần cuối tháng Các tuần 1, 2, 3 của tháng thì sẽ tổ chức tập luyện,còn tuần cuối thì sẽ tổ chức biểu diễn quảng bá

Không gian biểu diễn là nhà giải vũ của di tích lịch sử Đình Hàng Kênh, ở đó cókhông gian hát Chơi Ba lối hát Ca trù tương đương với 3 không gian diễn xướng như:

+ Lối hát cửa Đình: là lối hát thờ thần, hát của đình là hát những bài hát về lịch

sử, về sự tích thần hoàng, những bài thơ cho đào hát, kép hát và những bài vũ bộ dođàn kép thể hiện

+ Lối hát Thi là để khảo sát tài năng của đào, kép đàn Hát thi gồm các thể cáchchúc tụng vua chúa, thần đủ các bài trong Ca trù và các vũ bộ trò vui do đào kép thể hiện

+ Lối hát chơi là lối hát tư gia, tổ chức tại nhà quan viên hay tại ca quán đểquan viên đến thưởng thức

Hoạt động biểu diễn của các CLB Ca trù Hải Phòng như biểu diễn Ca trù trong các

lễ hội làng, tiệc mừng thọ, biểu diễn cho khách của Sở Văn hóa, các tour du lịch yêu cầu,đặc biệt Ca trù không có hát trong đám hiếu, chỉ hát cho những người trong nghề

Các phường hát ca trù ở Hải Phòng từ trước đến nay đều đi biểu diễn trong cáctiệc mừng cưới xin, hoặc lễ chúc thọ, mừng nhà mới hay phục vụ những buổi có vănnhân sĩ tử tới nhà yêu cầu nghe hát, nghe nhạc, thưởng thơ, theo lời mời của hàngtỉnh, hàng huyện hay hàng tổng, hàng xã khác Ca trù còn được biểu diễn ở các lễ hội,phục vụ cúng tế Tiên hiền Tiên thánh, Tiên Vương, Tiên hầu hay Thành hoàng làngnào đó ở các đình làng hay phục vụ cả những vị thần linh khác, được cả vùng tônsùng trong các ngôi đền lớn với nhiều khách thập phương cùng đến lễ hội

Mặt khác, những phường hát này không chỉ hát ả đào, mà còn thành thạo cácđiệu hát văn ca tụng những Đức ông hay chúa Mẫu nơi Tam Hoàng Tứ phủ, nhưHoàng Bảy, Hoàng Ba, Cô Bơ, Cô Chín, Chúa Liễu, Chúa Thoải, với tâm linh tưởngtượng nào đấy, có công trị quốc an dân, hoặc có tiếng linh thiêng, với nội dung bài hátđược thỉnh cầu, được phù trì cho an khang, thịnh vượng, trường sinh

Trang 38

Ở Đông Môn hiện nay cứ vào ngày 24/3 và 24/9 âm lịch hàng năm đều tổ chức

lễ hội làng nghề hát ca trù để tưởng nhớ ngày sinh và ngày mất của vị Tổ nghề Vàongày hội, can ương ở nhiều nơi đều về dự giao lưu và hát thờ đêm trước diễn ra hội

Ngoài ra, khi có lời mời, Câu lạc bộ Ca trù Đông Môn hiện nay đều sẵn sàng đihát phục vụ, chẳng hạn như tham gia hát thờ tại Đền Phò Mã, thị trấn Núi Đèo, huyệnThủy Nguyên trong những năm gần đây CLB Ca trù Hải Phòng thì đi biểu diễnkhi có yêu cầu của Quận ví dụ như Lễ hội Nữ tướng Lê Chân

Ca trù Hải Phòng thường xuyên đi lưu diễn, biểu diễn, giao lưu với các câu lạc

bộ khác trong thành phố và với các vùng khác trên toàn quốc nhằm tăng cường khảnăng học hỏi Câu lạc bộ thường giao lưu với CLB hội văn nghệ dân gian Việt Nam,CLB UNESCO, CLB HàNội, CLB Thái Hà, CLB Hải Dương… Câu lạc bộ Ca trù HảiPhòng còn thường xuyên đi tham gia biểu diễn trong các cuộc thi, liên hoan và đã đạtđược nhiều giải cao

Với việc tham gia đều đặn các cuộc Liên hoan qui mô lớn do nhà nước tổ chức,

Ca trù Hải Phòng đã dần khẳng định được tên tuổi của mình trong tổng số 21 Câu lạc

bộ ca trù hiện đang hoạt động.Việc tham gia đó không chỉ giúp cho Ca trù Hải Phòngduy trì được sức sống, mà còn là cơ hội cho các nghệ nhân trẻ được cọ xát và giaolưu, học hỏi với các câu lạc bộ khác, với các địa phương khác để trau dồi thêm ngónnghề của mình ngày càng sành sỏi hơn, nhuần nhuyễn hơn Đó là một phần thưởngtinh thần vô giá mà không một giải thưởng vật chất nào thay thế được

Nói đến hoạt động biểu diễn Ca trù ở Hải Phòng hiện nay, chúng ta không thểkhông nhắc đến hoạt động biểu diễn Ca trù tự do Với việc Ca trù được vinh danh disản văn hóa phi vật thể của nhân loại, những nhà nghiên cứu văn hóa đã đề cập đếnmột thực trạng nhiều đào nương, kép đàn chỉ biết 1, 2 thể cách cũng được nhận huychương tại các liên hoan, thậm chí hát còn chưa đúng giai điệu

Có những giai đoạn Ca trù trở thành “ món ăn lạ”, “ mốt” cho nhiều đối tượngkhách, do đó nhiều ca sỹ , người hát nhạc xin học Ca trù với thời gian “ siêu tốc” Nghệ sĩ Đỗ Quyên chia sẻ có những người đến xin học nhằm vào việc nhanh thuộc lời

và giai điệu mà ít quan tâm đến ý nghĩa của bài hát, nguồn gốc xuất xứ của bài hát

Thậm chí, người trong nghề cũng tạo ra một thực trạng không chỉ ca nươngchạy theo những hợp đồng của nhà hàng mà chính CLB cũng đang chạy theo việc tănglượng buổi diễn cho các sinh hoạt của cộng đồng địa phương Điều đó vừa phục vụ

Trang 39

cho nhu cầu mưu sinh nhưng cũng vừa trở thành yếu tố gây cản trở đến việc phát triểnnghệ thuật theo chiều sâu.

2.3.2 Quá trình truyền nghề và sáng tạo

Quá trình truyền nghề hát Ca trù tại các CLB Ca trù là được truyền dạy trực tiếp

từ các nghệ nhân

Ở Câu lạc bộ Ca trù Đông Môn trước năm 2010, khi cụ Tô Thị Chè còn sống,lớp ca nương trẻ của CLB may mắn được chính cụ truyền nghề cũng theo lối “ bắt taychỉ ngón ”, “ tâm truyền tâm, nghề truyền nghề” Ngoài ra, thỉnh thoảng họ còn đượchai nghệ nhân lão thành khác của CLB Ca trù Hải Phòng trực tiếp giảng dạy là nghệnhân Nguyễn Thị Chín (cũng xuất thân từ giáo phường Ca trù Đông Môn ) và nghệnhân Đào Thị Thẩm (xuất thân từ giáo phường Ngãi Cầu - Hà Tây nhưng đã có nhiềunăm là đào nương có tiếng ở khu vực Quán Bà Mau, nay bà đã về Hà Tây để truyềnnghề cho CLB ca trù ở địa phương) Về nghệ nhân chơi đàn, có ông Trần Văn Sự cũngkhông tiếc công đào tạo lớp trẻ Đông Môn để tạo nên những tay đàn tài hoa Nhờ tâmhuyết của những người thầy như vậy, mà Ca trù Đông Môn nói riêng và Ca trù HảiPhòng nói chung sau bao nhiêu năm vắng bóng, giờ lại được phục hồi và vinh danhcùng bao CLB Ca trù khác trong cả nước trong các cuộc Liên hoan Ca trù toàn quốcnhững năm gần đây

Chỉ có điều, sau khi cụ Tô Thị Chè mất năm 2009, nghệ nhân Đào Thị Thẩm về

Hà Tây, nghệ nhân Nguyễn Thị Chín quá già yếu, hiện nay chỉ còn Ca nương Tô ThịLinh- học trò của cụ Chè là có khả năng đảm trách việc truyền nghề cho lớp trẻ ởĐông Môn, tuy nhiên chắc chắn khả năng truyền dạy không thể bằng các nghệ nhânxưa được Chính vì vậy, để Ca trù Đông Môn tiếp tục sống, tiếp tục được giữ lửa,chính quyền địa phương phải có chính sách quan tâm hỗ trợ như mời các nghệ nhânlão thành từ địa phương khác về để tham gia truyền dạy, hoặc hỗ trợ kinh phí để thànhviên của CLB được tham gia các khóa huấn luyện bồi dưỡng do nhà nước tổ chức

Tuy việc dạy và học không thành trường lớp mà chỉ dạy và học theo cáchtruyền nghề trực tiếp, qua tay, qua miệng, từ cách ngồi, cách cầm mỗi loại nhạc cụ,như cầm dùi gõ phách lá đôi, lá một, cách cầm roi trống chầu khi chát khi tom, cáchđeo đàn đáy lúc đứng khi ngồi Cách lấy giọng, giữ hơi, cách nhân nhá nhả chữ, buôngchữ, cách ngân rung luyến láy từng âm, từ, lồng thêm từng tiếng đàn, từng nhịp phách,từng khổ nhạc, từng cung bậc, khi nào rải, lúc nào dồn, khác nhua, còn phải thể hiện

Trang 40

sao cho khoan thai, đĩnh đạc, tao nhã, đứng đắn Quan hệ thầy trò, sinh hoạt tập thểtrong hội cũng rất mực tôn ti trật tự có cấp bậc trên dưới Ngoài việc học hát, học đàn,còn phải học thuộc những bài thơ và học chữ, học làm thơ, dưới sự giảng dạy của cácnghệ nhân.

Quá trình truyền nghề giữa các nghệ nhân với các nghệ nhân Bằng trái tim yêu vănhóa dân tộc của mình, những nghệ nhân xưa họ tự móc tiền túi, thậm chí đi vay để học hát

và phục dựng hát Cửa Đình vì đây là loại hình gốc của nghệ thuật hát Ca trù Những nghệnhân đó phải kể tên đó là nghệ sĩ Đỗ Quyên, Trần Trọng Quế, Hồng Nhung…

Để có khoảng 70 phút trình diễn hát Cửa đình đầy đủ 5 lớp, chuẩn về qui trình

và không gian xưa, bên cạnh những kiến thức có từ trước, những đào kép của CLB Catrù Hải Phòng đã phải mất 4 tháng trời lặn lội đi học hát ở tư gia của nghệ nhân dângian Nguyễn Phú Đẹ

Nhiều tháng nay người dân thôn Cao Lâu, xã Dân Chủ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh HảiDương đã quen thuộc với hình ảnh từng đoàn xe máy từ Hải Phòng về cụ Đẹ Dướitấm bạt căng ở sân nhà cụ, tiếng hát, tiếng đàn, tiếng chát, tiếng tom vang lên trongkhông khí yên bình của một làng quê Bắc bộ

Rất may, ngoài 90 tuổi, dù đi lại phải có người dìu nhưng cụ Nguyễn Phú Đẹvẫn rất minh mẫn và nhớ được hết các làn điệu và cách thức biểu diễn của trình thứchát Cửa đình xưa Khi cất tiếng hát, dù có sai 1 cung bậc cụ cũng biết

Mỗi buổi học như thế, dưới sự hướng dẫn của cụ Đẹ - kép đàn duy nhất từngthực hành Hát cửa đình vùng Hải Dương thời xưa, những ca nương, đào kép của CLBvừa chăm chú lắng nghe và thực hành vận dụng ngay để cụ góp ý chỉnh sửa CLB cònthu âm, ghi hình để làm tư liệu tập luyện cũng như truyền dạy cho những thành viên ởnhà không có điều kiện tới học trực tiếp

Nghệ sĩ ưu tú Đỗ Quyên, chủ nhiệm CLB Ca trù Hải Phòng cho biết, bắt đầu từtháng 9, cứ cuối tuần là anh chị em lại tập trung để vượt 60 km xuống nhà cụ Đẹ 7 giờđoàn xuất hành về tới Hải Phòng cũng là lúc trời nhá nhem tối Lúc khỏe thì cả đoàn đibằng xe máy, khi mệt quá thì đành thuê taxi, có thành viên tiếc buổi học còn mang convẫn đang bế ẵm tới nhà cụ Đẹ

Và để có 2 buổi đều đặn như vậy, các anh chị em trong CLB cũng phải sắp xếpchu toàn việc nhà, việc kinh doanh buôn bán thì mới có thể đi được Mọi kinh phí choviệc học đều do tự các thành viên đóng góp

Ngày đăng: 06/06/2016, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w