1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số BIỆN PHÁP đẩy MẠNH hội NHẬP QUỐC tế của THÀNH PHỐ hải PHÒNG GIAI đoạn 2016 2020

105 339 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan hệ giữa nước ta với cácnước trên thế giới và các tổ chức quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu; hợp tác vềchính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và các lĩnh vực khác được mở r

Trang 1

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

Trang 2

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Khắc Thành

ii

Trang 3

HẢI PHÒNG - 2016

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu và kết quả nghiên cứutrong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thôngtin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trần Văn Ngọc

iii

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sỹ kinh tế của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng củabản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể.Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tậntình của các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế, Viện Đào tạo sau đại học – TrườngĐại học Hàng Hải Việt Nam; Đặc biệt là sự quan tâm chỉ dẫn tận tình của thầygiáo TS Mai Khắc Thành đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiệnluận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các sở, ban, thành của thành phố,

Sở Công Thương Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiêncứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp

đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả luận văn

Trần Văn Ngọc

iv

Trang 5

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của Đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài 3

6 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 5

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 5

1.1.1 Xu hướng phát triển hội nhập quốc tế thế giới 5

1.1.2 Khái niệm và bản chất của hội nhập quốc tế 8

1.1.3 Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu của thời đại ngày nay 13

1.2 QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 15

1.2.1 Chủ trương, mục tiêu chỉ đạo Hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước 15

1.2.2 Tiến trình và kết quả hội nhập quốc tế hiện tại của Việt Nam 21

Chương 2: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2010 2015 26

2.1 THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 26

2.1.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về hội nhập quốc tế 26

2.1.2 Công tác kiện toàn tổ chức, bộ máy phục vụ hội nhập quốc tế thành phố .28 2.1.3 Bố trí và sử dụng ngân sách cho công tác hội nhập quốc tế 29

2.1.4 Thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hội nhập quốc tế 29

2.1.5 Xây dựng thể chế và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế 31

2.1.6 Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ hội nhập quốc tế 39

2.1.7 Hội nhập quốc tế về kinh tế 41

2.1.8 Hội nhập quốc tế về đối ngoại 51

v

Trang 6

2.1.9 Hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, y tế, lao động, thể

thao, khoa học và công nghệ 55

2.1.10 Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh 60

2.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 61

2.2.1 Những kết quả đã đạt được 61

2.2.2 Những tồn tại, hạn chế 63

2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 64

2.2.4 Bài học kinh nghiệm 66

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 69

3.1 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU HỘI NHẬP QUỐC TẾ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ĐẾN NĂM 2020 69

3.1.1 Quan điểm 69

3.1.2 Mục tiêu: 71

3.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2016 – 2020 73

3.2.1 Biện pháp về quán triệt nhận thức, đẩy mạnh thông tin, tuyên tuyền về hội nhập quốc tế 73

3.2.2 Biện pháp tiếp tục đổi mới và hoàn thiện môi trường vĩ mô của thành phố, chú trọng và thực hiện triệt để cải cách hành thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước, tạo mội trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi thông thoáng: 74

3.2.3 Biện pháp xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ hội nhập quốc tế 75

3.2.4 Biện pháp Hội nhập quốc tế về kinh tế 76

3.2.5 Biện pháp Hội nhập quốc tế về chính trị, ngoại giao và công tác người Việt Nam ở nước ngoài 90

3.2.6 Hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, lao động, thể thao và các lĩnh vực khác 90

3.2.7 Biện pháp Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh 92

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

vi

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Giải thích

HNKTQT Hội nhập kinh tế quốc tế

APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương

TPP Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

2.1 Kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu về hoạt động nội 44

vii

Trang 8

thương giai đoạn 2011 – 2015 của Ngành Công Thương

Hải Phòng giai đoạn 2011 – 2015

2.2

Kết quả thực thiện các mục tiêu, chỉ tiêu về hoạt động

ngoại thương của Ngành Công Thương Hải Phòng giai

đoạn 2011 – 2015

45

2.3

Kết quả thực thiện các mục tiêu, chỉ tiêu về phát triển

công nghiệp của Ngành Công Thương Hải Phòng giai

đoạn 2011 – 2015

46

viii

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Trong những năm qua, công cuộc hội nhập quốc tế của nước ta ngày càng đạtđược nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực Quan hệ giữa nước ta với cácnước trên thế giới và các tổ chức quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu; hợp tác vềchính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và các lĩnh vực khác được mở rộng,góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, gia tăng sức mạnhtổng hợp quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước,giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; cải thiện đời sống nhân dân,củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân vào công cuộc đổi mới; nâng cao vị thếcủa Việt Nam trên trường quốc tế

Nhằm khái quát, đánh giá tình hình hội nhập quốc tế của nước ta trong thờigian qua, tình hình thế giới hiện nay, các cơ hội cũng như thách thức và đề ra mụctiêu, quan điểm chỉ đạo, các định hướng chủ yếu của công tác hội nhập quốc tế củaViệt Nam trong thời gian tới; qua đó thống nhất nhận thực và hành động từ Trungương đến địa phương, chủ động công tác triển khai hội nhập quốc tế trên các lĩnhvực phù hợp với tình hình mới, trên cơ sở đó ngày 10/4/2013 Bộ Chính trị (KhóaXI) đã ban hành Nghị quyết 22NQ/TW về hội nhập quốc tế

Quán triệt đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, trong thời gian qua thànhphố Hải Phòng đã thực hiện đồng bộ các giải pháp, tổ chức thực hiện kịp thời các

cơ chế, chính sách của Trung ương phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế củađịa phương và đạt được những thành tựu đáng khích lệ Các cấp ủy đảng, chínhquyền, địa phương đã quan tâm chỉ đạo trên cả ba mặt đối ngoại Đảng, ngoại giaoNhà nước và đối ngoại nhân dân; từng bước triển khai hội nhập kinh tế quốc tế,đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực như an ninh, quân sự, biên phòng, vănhóa, xã hội gắn liền với đặc thù chính sách phát triển kinh tế xã hội của thành phố.Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xã hội và kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càngtăng, cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu ngày càng phong phú, thị trường từng bước

ix

Trang 10

được mở rộng Tuy nhiên, những kết quả đạt được của Hải Phòng trong thời gianqua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của thành phố cũng như chưađáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế Điều đó thể hiện qua thu nhập bình quânđầu người còn chưa cao, sức mua thấp nên hạn chế sự phát triển thị trường Việcsản xuất hàng hoá còn mang tính chất tự cung, tự cấp, phân tán, chất lượng thấp,giá thành cao, kém sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế Cácdoanh nghiệp của Hải Phòng quy mô nhỏ, vốn ít, cơ sở vật chất nghèo nàn nên gặpnhiều khó khăn trong quá trình mở rộng sản xuất và phát triển thị trường Sự phốihợp giữa các cấp, các ngành, địa phương còn chưa đồng bộ, nhịp nhàng, thiếu tínhchủ động Bên cạnh đó, sự thiếu hiểu biết về những kiến thức cơ bản của hội nhậpquốc tế cũng như việc triển khai công tác hội nhập quốc tế còn thiếu các địnhhướng, giải pháp cụ thể cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế – xã hội của HảiPhòng trong thời gian qua.

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Một số biện pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016 2020” làm đề

tài Luận văn thạc sỹ kinh tế

2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài

Mục đích của luận văn:

Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn trong công tác hội nhập quốc tế tại thành phốHải Phòng, luận văn sẽ làm rõ các hình thức, phương thức và nội dung của côngtác hội nhập quốc tế trong nền kinh tế thị trường đang trong thời kỳ thực hiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vai trò vàhiệu quả của công tác hội nhập quốc tế trước yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càngsâu, rộng của Việt Nam nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng

Nhiệm vụ của luận văn:

Đánh giá tổng quan về hội nhập quốc tế;

Đánh giá thực trạng tình hình hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai

x

Trang 11

đoạn 2010 2015;

Đưa ra một số biện pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế của thành phố HảiPhòng giai đoạn 2016 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác hội nhập quốc tế của Việt Nam

và thành phố Hải Phòng trong thời gian qua

Phạm vi nghiên cứu:

Về thời gian, nghiên cứu sẽ sử dụng số liệu từ 2010 trở lại đây để thực hiệnphân tích đánh giá Về nội dung vấn đề, nghiên cứu tập trung chủ yếu vào đánh giácông tác hội nhập quốc tế của thành phố và đưa ra một số giải pháp để nâng caohiệu quả hoạt động của công tác này

Về mặt lý luận và những vấn đề chung trong công tác quản hội nhập quốc tếluận văn đề cập trên phạm vi cả nước, nhưng về mặt thực tiễn luận văn tập trungvào tình hình cụ thể của thành phố Hải Phòng

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng các phươngpháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, thống

kê, so sánh và kết hợp lý luận với thực tiễn để nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài

Về lý luận, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ quan, tổ chức đang

thực hiện chức năng quản lý các hoạt động về hội nhập quốc tế để tiến hành (thựchiện) đổi mới công tác quản lý nhà nước nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả củahoạt động hội nhập quốc tế trong nền kinh tế, đặc biệt là hoạt động hội nhập kinh

tế quốc tế

Về thực tiễn, luận văn sẽ có những đóng góp cụ thể vào thực tiễn công tác

xi

Trang 12

hội nhập quốc tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng thông qua những đề xuất giảipháp, kiến nghị cụ thể về hình thức tổ chức, cách thức quản lý và các chính sách hỗtrợ của nhà nước trong hoạt động hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng.

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương nhưsau:

Chương 1: Tổng quan về hội nhập quốc tế

Chương 2: Thực trạng hội nhập quốc tế của thành phố Hải Phòng giai đoạn

2010 – 2015

Chương 3: Một số biện pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế của thành phố Hải

Phòng giai đoạn 2016 – 2020

xii

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1.1 Xu hướng phát triển hội nhập quốc tế thế giới

Ngay từ những năm cuối của thế kỷ XX, sự phát triển kinh tế của các nướcthế giới đã chịu sự tác động sâu sắc, toàn diện của một loạt những xu thế mới Đó

là xu thế phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, quốc tế, toàn cầu hoáđời sống kinh tế thế giới và xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại giúp cho lựclượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ Các công ty xuyên quốc gia ngày càng

mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nềnkinh tế thế giới; thúc đẩy quá trình quốc tế hoá sản xuất, quốc tế hoá nền kinh tếthế giới phát triển nhanh chóng

Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế lớn của quá trình phát triển kinh tế thịtrường, phản ánh trình độ phát triển cao của trình độ sản xuất, phân công lao độngquốc tế và việc quốc tế hoá sản xuất trở nên phổ biến Đặc điểm quan trọng củatoàn cầu hoá là nền kinh tế thế giới tồn tại và phát triển như một chỉnh thể, trong

đó nền kinh tế của các quốc gia chỉ là các bộ phận có quan hệ tương tác lẫn nhau,phát triển với nhiều hình thức phong phú Không thể phủ nhận rằng, bất kỳ mộtquốc gia nào khi tham gia vào kinh tế quốc tế đều có thể thu được lợi ích nếu quốcgia đó tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm thể hiện mốitương quan thuận lợi hơn về mặt chi phí so với quốc gia khác sản xuất những sảnphẩm tương tự Do vậy, chỉ có những quốc gia biết tận dụng cơ hội, vượt qua tháchthức mới có thể đứng vững và phát triển Nói cách khác, hội nhập kinh tế quốc tế

đã trở thành một xu thế tất yếu khách quan và thể hiện qua một số xu hướng chínhnhư sau:

xiii

Trang 14

1.1.1.1 Xu hướng tự do hóa thương mại khu vực

Việc tự do hoá thương mại khu vực đang diễn ra thông qua hình thức ký kếtcác Hiệp định thương mại khu vực Các Hiệp định thương mại khu vực đã đượcphổ biến rộng rãi trên thế giới và trở thành nhân tố quan trọng trong quan hệ kinh

tế quốc tế, thực hiện qua một số hình thức chủ yếu sau:

Các Hiệp định kinh tế thương mại song phương: đây là hình thức hội nhập

kinh tế quốc tế mang tính nền tảng, phổ biến nhất và quan trọng nhất đối với tất cảcác nước Trong đa số các trường hợp, các hiệp định thương mại song phươngđược ký kết và thực hiện trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên và tuân thủ nguyêntắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, không làm trở ngại đến quan hệ của mỗi bên đốivới nước thứ ba

Các khối kinh tế khu vực và liên khu vực: Cho đến nay đã có hàng chục khối

kinh tế khu vực khác nhau về số lượng thành viên và mức độ cam kết hợp tác nội

bộ Có khối hoạt động theo quy chế khu vực mậu dịch tự do như AFTA củaASEAN, NAFTA của Bắc Mỹ … Những thành viên thuộc khu vực này sẽ thựchiện việc cắt giảm thuế quan cho nhau hoặc thực hiện quy chế liên minh thuế quan.Việc thành lập khu vực mậu dịch tự do nhằm thúc đẩy thương mại giữa các nướcthành viên Những hàng rào phi thuế quan cũng được giảm bớt hoặc loại bỏ hoàntoàn Tuy nhiên, khu vực mậu dịch tự do không quy định mức thuế quan chung ápdụng cho những nước ngoài khối, thay vào đó từng thành viên vẫn có thể duy trìchính sách thuế quan khác nhau đối với các nước không phải thành viên Ngoàiviệc thực hiện tự do hoá mậu dịch thông qua cắt giảm thuế quan và các biện phápphi thuế quan như ở khu vực mậu dịch tự do, các thành viên còn cùng nhau xâydựng biểu thuế quan chung, áp dụng cho các nước ngoài liên minh (ví dụ nhưCộng đồng chung Châu Âu (EC) trước đây nay là thị trường chung Châu Âu (EU);thị trường chung MERCOSUR ở Nam Mỹ, thị trường chung Châu Phi…

Đặc biệt, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC) ra đờinăm 1989 và Diễn đàn hợp tác Á Âu (ASEM) ra đời năm 1996 là một hình thức

xiv

Trang 15

hội nhập mang tính chất khối kinh tế liên khu vực mở Đặc trưng của các diễn đànnày là tiến trình đối thoại với những nguyên tắc linh hoạt và tự nguyện để thựchiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh hơntiến trình tự do hoá trên bình diện toàn cầu Mặc dù vẫn còn dừng lại ở hình thứcdiễn đàn, song APEC đang có xu hướng hình thành cơ cấu tổ chức mang tính tổngthể thường xuyên hơn để chuyển hoá dần thành một khối kinh tế mở có sự thamgia của các nước thuộc cả châu Á và châu Âu (liên khu vực).

Các tổ chức kinh tế toàn cầu: được chia làm hai loại:

Thứ nhất, những tổ chức kinh tế liên Chính phủ như WTO, IMF, WB, G8 ,

OECD hoặc UNDP … Những tổ chức này đang đóng vai trò thiết kế và chi phốicác “luật chơi chung” mang tính toàn cầu, trước hết với các dòng chảy thương mại,tiền tệ và đầu tư chính thức Đồng thời, các tổ chức này sẽ dần cải tổ và chuyểnhoá thành các tổ chức có chức năng, phạm vi điều tiết rộng hơn

Thứ hai, các tổ chức kinh doanh toàn cầu mà trước hết và phổ biến hơn cả

hiện nay là các công ty xuyên quốc gia Các công ty này đang có xu hướng pháttriển nhanh chóng về quy mô thông qua sáp nhập và bao quát hoạt động trong hầuhết các lĩnh vực, các quốc gia dù đang phát triển hay phát triển

Ngoài những hình thức hội nhập quốc tế chủ yếu, trên thế giới đang xuất hiệnngày càng nhiều hơn những hình thức đặc thù như thành phố cảng tự do, các đặckhu kinh tế quốc gia và cả những “tam giác”, “tứ giác” vùng … Các hình thức hộinhập quốc tế này ngày càng phát triển phong phú và một quốc gia có thể lựa chọntham gia các hình thức thích hợp với điều kiện và định hướng phát triển của mình.Hơn nữa, mỗi nước cần sử dụng đồng thời nhiều hình thức để khai thác tối đa cáclợi thế, hạn chế thấp nhất các tác động trái chiều của hội nhập quốc tế

1.1.1.2 Xu hướng phát triển thương mại gắn liền với việc bảo vệ môi trường

Xu hướng gắn hoạt động thương mại với việc giữ gìn và tôn tạo môi trườngsinh thái ngày càng phổ biến trên thế giới Ngoài lý do về chất lượng của sản

xv

Trang 16

phẩm, những yêu cầu về môi trường đối với sản phẩm cũng đang được coi là

những “rào cản thương mại trá hình” mà ngôn ngữ trong thương mại thường gọi

là “hàng rào xanh” green barier nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước và ngăn

chặn sự xâm nhập của hàng nhập khẩu Các nước phát triển đã và đang sử dụng

các tiêu chuẩn về môi trường, như một rào cản thương mại “hợp pháp”, nhằm làm

giảm tính cạnh tranh và hạn chế việc nhập khẩu hàng hóa từ các nước đang pháttriển Những tiêu chuẩn này nhiều khi được đặt ra quá cao so với trình độ kỹ thuậtcũng như công nghệ sản xuất của các nước đang phát triển thậm chí đối với cả một

số nước phát triển Sự áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường trong hoạt độngthương mại đã gây cho các nước đang phát triển những khó khăn nhất định trongquá trình tiếp cận thị trường của các nước phát triển

1.1.1.3 Xu hướng tăng cường chính sách bảo hộ với các rào cản thương mại hiện đại

Các nước ngày càng có xu hướng ít sử dụng những biện pháp bảo hộ mangtính áp đặt như lệnh cấm, hạn chế số lượng hoặc thuế suất nhập khẩu cao Thayvào đó, các biện pháp bảo hộ phi thuế quan như các hàng rào kỹ thuật về an toànthực phẩm, môi trường, lạm dụng luật chống bán phá giá, tự vệ, chống trợ cấp, thủtục hải quan, ghi nhãn mác ngày càng được sử dụng rộng rãi Chính vì vậy, từhội nghị Doha đến hội nghị Cancun, WTO chủ trương mở rộng đàm phán toàndiện trên cả bốn lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư liênquan đến thương mại, sở hữu trí tuệ và một số vấn đề mới phát sinh nhằm thúc đẩytiến trình tự do hóa thương mại Tại hội nghị Cancun tháng 9 vừa qua ở Mexico,các nước đang phát triển liên kết thành nhóm G22 đòi thương mại công bằng, bìnhđẳng, các nước phát triển mở cửa thị trường và bỏ trợ cấp nông nghiệp, trợ cấpxuất khẩu

1.1.2 Khái niệm và bản chất của hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu khách quan, do bản chất

xã hội của lao động và quan hệ giữa con người với con người Sự hình thành và

xvi

Trang 17

phát triển của kinh tế thị trường là tác nhân đầu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc

tế Hội nhập quốc tế diễn ra với nhiều hình thức, cấp độ và nhiều lĩnh vực và theotiến trình từ thấp đến cao Hội nhập quốc tế tất yếu trở thành một xu thế lớn củathời đại, tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế và đời sống của các quốc gia vàvùng lãnh thổ Ngày nay, hội nhập quốc tế là con đường của hầu hết các quốc gia

để phát triển đất nước

1.1.2.1 Khái niệm hội nhập quốc tế

Khái niệm hội nhập quốc tế hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau Quanđiểm của tác giả về hội nhập quốc tế như sau:

Hội nhập quốc tế là quá trình các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới tiếnhành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợiích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) vàtuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.Như vậy, khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi ích haynguyện vọng của nhau, không chống đối nhau), hội nhập quốc tế vượt lên trên sựhợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của các chủthể tham gia Nhìn ở góc độ thể chế, quá trình hội nhập hình thành nên và củng cốcác định chế/tổ chức quốc tế, thậm chí là các chủ thế mới của quan hệ quốc tế.Những chủ thể quốc tế mới này có thể dưới dạng: (i) hoặc là một tổ chức liên chínhphủ (các thành viên vẫn giữ chủ quyền quốc gia trong việc định đoạt chính sách,chẳng hạn như tổ chức Liên hiệp quốc, ASEAN…), (ii) hoặc là một tổ chức siêuquốc gia (các thành viên trao toàn bộ chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốcgia, hình thái này có thể giống như mô hình nhà nước liên bang, chẳng hạn nhưHoa Kỳ, Canada…), (iii) hoặc là một tổ chức lai ghép giữa hai hình thái trên (cácthành viên trao một phần chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia và vẫngiữ một phần chủ quyền cho riêng mình, chẳng hạn như trường hợp EU hiện nay)

xvii

Trang 18

Chủ thể của hội nhập quốc tế đầu tiên là các quốc gia, vùng lãnh thổ, chủ thểchính của quan hệ quốc tế có đủ thẩm quyền và năng lực đàm phán, ký kết và thựchiện các cam kết đã ký Bên cạnh chủ thể chính là các chủ thể khác cùng hợp thànhlực lượng tổng hợp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế

1.1.2.2 Nội hàm của hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của kinh tế xã hội (lĩnhvực kinh tế, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực an ninhquốc phòng, lĩnh vực văn hóa, giáodục, xã hội, ), nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên tất cả các lĩnh vực vớitính chất, phạm vi và hình thức khác nhau

a) Hội nhập quốc tế về kinh tế:

Hội nhập quốc tế về kinh tế hay còn gọi là hội nhập kinh tế quốc tế là quátrình gắn kết các nền kinh tế của từng quốc gia, vùng lãnh thổ với kinh tế khu vực

và toàn cầu thông qua các nỗ lực tự do hóa thương mại và mở cửa nền kinh tế theocác hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực, khu vực,đến liên khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ.Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình

cơ bản từ thấp đến cao như sau:

(a1) Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước tham gia là thành viêndành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng cònhạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) vàmức độ cắt giảm Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mạiViệtMỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hìnhliên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất

(a2) Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắtgiảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể baogồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóanội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoàikhối Ví dụ như: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (viết tắt là EFTA), Khu vực mậu

xviii

Trang 19

dịch tự do bắc Mỹ (viết tắt là NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (viết tắt

là AFTA) Trong các năm gần đây, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mớiphạm vi lĩnh vực điều tiết rộng hơn Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định nàycòn có những quy định tự do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như đầu tư, sở hữu trítuệ, lao động, môi trường, thương mại điện tử, mua sắm chính phủ… Ví dụ như:Hiệp định FTA giữa ASEAN với ÚcNiudilân, Hiệp định Đối tác Kinh tế chiếnlược xuyên Thái Bình dương (TPP)

(a3) Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên tham gia liên minh, thực hiệnviệc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối, đồng thời phải thựchiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối Ví dụ: NhómANDEAN và Liên minh thuế quan NgaBêlarútCadăcxtan

(a4) Thị trường chung (hay còn gọi là thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏthuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại trong khối đó và có chínhsách thuế quan chung đối với các quốc gia ngoài khối, các thành viên tham gia cònphải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác nhưvốn và lao động… để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối Ví dụ: KhốiLiên minh châu Âu (EU)

(a5) Liên minh kinh tếtiền tệ: Là một mô hình hội nhậpquốc tế về kinh tế ởgiai đoạn cao và sâu sắc nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung cộng thêm vớiviệc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung Ví dụ: đồng tiền chung ChâuÂu

Một quốc gia, vùng lãnh thổ có thể đồng thời tham gia vào các tiến trình hộinhập với phạm vi, hình thức và tính chất Song, về cơ bản phải trải qua các bướchội nhập từ mức độ thấp đến mức độ cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ratrong những điều kiện nhất định Hội nhập quốc tế về kinh tế là nền tảng quantrọng cho sự tồn tại và phát triển của hội nhập trong các lĩnh vực khác như: chínhtrị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ,…

xix

Trang 20

b) Hội nhập quốc tế về chính trị:

Hội nhập quốc tế về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chếquyền lực tập thể (giữa từ hai quốc gia trở lên) nhằm mục đích theo đuổi nhữngmục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các quy định chung, thống nhất Hộinhập quốc tế về chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt của các quốc gia, vùnglãnh thổ, trong đó các nước chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản như: tư tưởng, ýthức hệ chính trị, mục tiêu, lợi ích, nguồn lực và quyền lực chính trị Một quốc gia,vùng lãnh thổ có thể tiến hành hội nhập chính trị quốc tế thông qua việc ký kết cáchiệp ước với một hoặc một số quốc gia, vùng lãnh thổ khác trên cơ sở thiết lập cácmối liên kết quyền lực chung của họ hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị khuvực (ví dụ như Cộng đồng ASEAN, Liên minh Châu Âu) hay một tổ chức có quy

mô toàn cầu (ví dụ như Liên Hiệp quốc)

c) Hội nhập quốc tế về an ninhquốc phòng:

Hội nhập quốc tế về an ninhquốc phòng là sự tham gia của quốc gia, vùnglãnh thổ vào quá trình gắn kết các quốc gia, vùng lãnh thổ với các nước khác trongmục tiêu chung là duytrì hòa bình và an ninh Điều này đòi hỏi các nước hội nhậpquốc tế về an ninh – quốc phòng phải tham gia vào các thỏa thuận song phươnghoặc đa phương về an ninhquốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia sẻ và liên kếtcác nội dung: mục tiêu chung, đối tượng hoặc kẻ thù chung, tiến hành các hoạtđộng chung về đảm bảo an ninhquốc phòng

d) Hội nhập quốc tế về văn hóaxã hội:

Hội nhập quốc tế về văn hóaxã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa củanước này với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần của nước mìnhvới khu vực và thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của khu vực và thế giới

để bổ sung, hoàn thiện nền văn hóa dân tộc của nước mình; tham gia vào các tổchức hợp tác và phát triển văn hóagiáo dục và xã hội khu vực; hợp tác với cácnước thành viên tham gia hướng tới xây dựng một cộng đồng văn hóaxã hội rộnglớn trên phạm vi khu vực và thế giới (Cộng đồng văn hóaxã hội ASEAN,

xx

Trang 21

UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về phát triển vănhóagiáo dụcxã hội với các nước

1.1.3 Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu của thời đại ngày nay

Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động vàquan hệ giữa con người Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ vàliên kết với nhau tạo thành cộng đồng Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạothành xã hội và các quốc giadân tộc Các quốc gia liên kết với nhau tạo thànhnhững thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới mới

Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thịtrường quốc gia, hình thành thị trường khu vực và quốc tế thống nhất Đây là độnglực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc

tế nói chung

Trên cấp độ toàn cầu, ngay sau Chiến tranh thế giới II, Liên hiệp quốc vàhàng loạt các tổ chức chuyên môn của Liên hiệp quốc, trong đó gồm nhiều thiếtchế thuộc hệ thống Bretton Woods (đặc biệt là Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàngThế giới), ra đời với số lượng thành viên gia nhập ngày một nhiều hơn, bao quáthầu hết các nước trên thế giới Đây là một tổ chức hợp tác toàn diện, bao quát hầuhết mọi lĩnh vực và có quy mô toàn cầu Trong một số lĩnh vực, Liên hiệp quốc đã

có sự phát triển vượt lên trên sự hợp tác thông thường và đã đạt đến trình độ banđầu của hội nhập (lĩnh vực chính trịan ninh, lĩnh vực nhân quyền, lĩnh vực tàichính – tiền tệ,…)

Trong lĩnh vực thương mại, tiến trình hội nhập toàn cầu được thúc đẩy vớiviệc ra đời của một định chế đa phương đặc biệt quan trọng, Hiệp định chung vềThương mại và Thuế quan (GATT), sau đó được nối tiếp bằng Tổ chức Thươngmại Thế giới (WTO) Hiện nay, 153 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham gia với tưcách thành viên chính thức của Tổ chức WTO Trong hơn thời gia qua, Tổ chứcthương mại thế giới đã phát triển mạnh mẽ hệ thống các quy tắc về thương mạiquốc tế, bao gồm hầu hết các lĩnh vực của quan hệ kinh tế giữa các thành viên ở

xxi

Trang 22

hầu hết các lĩnh vực: hàng hóa, dich vụ, dệt may, gia dầy, hàng rào kỹ thuật thươngmại, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, hải quan, giám định hàng hóa, quytắc xuất xứ, quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại,… Các quy địnhchung của WTO đã trở thành nền tảng của tất cả các thỏa thuận kinh tế khu vựchay song phương trên thế giới hiện nay

Ở cấp độ khu vực, quá trình hội nhập phát triển rất nhanh trong những thậpniên 1960 và 1970, đặc biệt “nở rộ” từ thập niên 1990 trở lại đây Hàng loạt tổchức và thể chế khu vực đã ra đời ở khắp các châu lục Các tổ chức và thể chế khuvực hiện nay đã có mặt ở hầu hết các khu vực Các tổ chức và thể chế khu vực vềchính trịan ninh kinh tế là nhiều nhất

Bên cạnh các cấp độ toàn cầu và khu vực, quá trình hội nhập giữa các nướccòn được điều tiết bởi các hiệp định liên kết song phương, dưới dạng hiệp ước liênminh (chính trị, an ninh, quốc phòng), hiệp định đối tác toàn diện, hiệp định đối tácchiến lược, hiệp định kinh tếthương mại (BFTA, BCU…) Từ cuối thập niên 1990trở lại đây, xu hướng ký kết các hiệp định đối tác chiến lược và hiệp định mậu dịch

tự do (BFTA) phát triển đặc biệt mạnh mẽ Hầu hết các nước đều đã ký hoặc đangtrong quá trình đàm phán các BFTA Thậm chí, có nước hiện đã ký hoặc đàm phántới hàng chục hiệp định BFTA (Singapore, Thái Lan, Nhật, Úc…) Điều này được

lý giải chủ yếu bởi bế tắc của vòng đàm phán Đôha và những ưu thế của BFTA sovới các hiệp định đa phương (dễ đàm phán và nhanh đạt được hơn; việc thực hiệncũng thuận lợi hơn)

Như vậy có thể thấy hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn của thời đạingày nay Chung ta đang sống trong một thế giới hội nhập sâu, rộng hay nói mộtcách khác là thời đại hội nhập toàn cầu Xu thế này đã, đang và sẽ có ảnh hưởngtoàn bộ quan hệ quốc tế và làm thay đổi các cấu trúc của hệ thống thế giới cũngnhư bản thân các chủ thể và mối quan hệ giữa chúng

xxii

Trang 23

1.2 QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

1.2.1 Chủ trương, mục tiêu chỉ đạo Hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) của Việt Nam bắt đầu từ khásớm nhưng chủ yếu được đẩy mạnh từ sau khi Đảng ta phát động sự nghiệp đổimới HNKTQT là nội dung trọng tâm và quan trọng nhất của Hội nhập quốc tế và

là một bộ phận xuyên suốt của công cuộc đổi mới ở nước ta Các quan điểm và chủtrương của Đảng ta về HNKTQT mang tính nhất quán, có hệ thống và luôn đượccập nhật và mang tính kế thừa qua các kỳ Đại hội của Đảng

Ngay từ những năm 1980 của thế kỷ 20, Đảng và Nhà nước đã sớm nhận thứcsâu sắc sự cần thiết và tất yếu của HNKTQT Từ đó tới nay, đường lối, chủ trươnghội nhập kinh tế của Đảng đã được đề ra một cách nhất quán, không ngừng đượcphát triển và được các cấp, các ngành triển khai đồng bộ và tích cực, phù hợp vớitình hình cụ thể ở từng giai đoạn, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp Đổi mới và pháttriển kinh tế của đất nước Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đề ra đường lối Đổimới toàn diện và sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế Sự nghiệp Đổi mới của ViệtNam được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi sâu sắc và một cụcdiện, trật tự thế giới mới đang hình thành, trong đó các nước có chế độ chính trịkhác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác Đảng đã nhận thức rõ rằng bối cảnh đó làđiều kiện để chúng ta phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở Từcuối nhiệm kỳ đại hội VI, Đảng đã có những hoạt động đẩy mạnh quá trình khôiphục và bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, đánh dấu bằng việc ký kết bảnTuyên bố chung, thoả thuận khôi phục quan hệ bình thường giữa hai Đảng và haiNhà nước vào tháng 11 năm 1991

Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 xác định rõ chủ trương “độc lập tự chủ,

đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại” với phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn

xxiii

Trang 24

mới của nước ta Nhờ chủ trương này, Việt Nam đã đẩy lùi được chính sách baovây cô lập của các thế lực thù địch, không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tếđối ngoại song phương và đa phương sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âutan rã Một cơ chế hợp tác mới ra đời, vận hành theo những quy luật mà hôm naychúng ta đã rất quen thuộc: cơ chế thị trường Đây là một cột mốc quan trọng đánhdấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳmới Triển khai Nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết Trung ương 3 (Khoá VII) vềchính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại đã cụ thể hoá hơn nữa chính sách đối

ngoại của Việt Nam “phát huy những điểm đồng, hạn chế những điểm bất đồng”

và nêu rõ chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, trong đó nhấn

mạnh “cố gắng khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như

Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu

Á (ADB) , mở rộng hợp tác với các tổ chức khu vực, trước hết là ở Châu Á Thái Bình Dương”.

Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 xác định sự cần thiết phải xây dựng mộtnền kinh tế mới hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu Từ

đó, Đảng đưa nhiệm vụ đối ngoại lên một tầm cao mới: “Nhiệm vụ đối ngoại trong

giai đoạn tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa

để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”

và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” Đây là lần đầu tiên Nghị quyết

của Đảng đề cập đến việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mụctiêu phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước Nó đánh dấu một bước chuyển biến

cơ bản trong nhận thức về nhu cầu cần tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.Nghị quyết số 01/NQTƯ của Bộ Chính trị ngày 18 tháng 11 năm 1996 về mởrộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại và Nghị quyết 04/NQNHTƯ của Banchấp hành Trung ương (Khoá VIII) ngày 29 tháng 12 năm 1997 về tiếp tục đổimới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để công nghiệphoá, hiện đại hoá, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội đến năm 2000

là những văn kiện quan trọng chỉ đạo việc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của

xxiv

Trang 25

Việt Nam Nghị quyết 01/NQTƯ đã chỉ rõ 4 phương hướng phát triển kinh tế đốingoại thời kỳ này là tăng cường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút và sửdụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và phát triển các ngành dịch

vụ định hướng xuất khẩu thu ngoại tệ Trong đó, tăng cường xuất khẩu là trọngđiểm chiến lược của kinh tế đối ngoại Hội nhập kinh tế quốc tế cũng nhằm phục

vụ tích cực cho phương hướng này

Nghị quyết 04/NQNHTƯ của Ban chấp hành Trung ương ra đời trong bốicảnh Đảng ta đang nhìn lại những gì đã vượt qua để đánh giá khách quan nhữngthách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cả trong nước và từ bên ngoài.Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực và ở một số nước trên thế giới làmột bài học lớn để chúng ta đúc rút những kinh nghiệm cho quá trình hội nhập vànhận thức rõ rằng chúng ta hội nhập thành công bằng chính sức mình, với nội lựcđược phát huy tối đa, hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nângcao Từ thực tế đó, Đảng ta đã đề ra nguyên tắc định hướng cho hội nhập kinh tế

quốc tế: “Trên cơ sở phát huy nội lực, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách thu

hút các nguồn lực bên ngoài”, “tích cực và chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế”.

Vấn đề phát huy nội lực và chủ động hội nhập được đề ra từ Nghị quyết nàymang một ý nghĩa hết sức quan trọng: hội nhập không chỉ là tranh thủ thuận lợi từbên ngoài, hội nhập phải là sự thay đổi, đổi mới từ ngay bên trong nền kinh tế

Những nhiệm vụ cụ thể đã được đề ra để tích cực, chủ động hội nhập là “Chủ động

chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế Tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA”.

Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001 đã khẳng định tính tất yếu, đánh giá bảnchất của toàn cầu hoá và cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam khi tham

gia quá trình này: "Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày

xxv

Trang 26

càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh" Một trong những mặt tiêu cực của toàn cầu hoá được Đảng

ta chỉ rõ là chủ nghĩa tư bản hiện đại đang nắm ưu thế về vốn, khoa học và côngnghệ, thị trường Toàn cầu hoá đang là xu thế khách quan nhưng đang bị chi phốibởi các nước tư bản phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia, do đó việccần nhấn mạnh quan điểm độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

có ý nghĩa hết sức quan trọng Đảng ta cũng nhận thức rõ hội nhập kinh tế quốc tếmang lại nhiều cơ hội phát triển cho đất nước Đảng chỉ rõ nguy cơ tụt hậu xa hơn

về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới là một trong bốn nguy

cơ và chúng ta có thể tận dụng những cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại

để tránh khỏi nguy cơ này

Đại hội IX đã kiểm điểm lại quá trình thực hiện đường lối đối ngoại do Đạihội VIII đề ra, một lần nữa khẳng định đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, đaphương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế” và đề ra nguyên tắc cơ bản và baotrùm: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đanội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng

xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoádân tộc, bảo vệ môi trường” Đại hội IX đã đổi mới phương châm đối ngoại được

đề ra từ Đại hội VII, phát triển phương châm “Việt Nam muốn là bạn với các

nước ” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước trong

cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.

Đại hội Đảng lần thứ X năm 2006 tiếp tục cụ thể hóa, đưa ra các chủ trương

“chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”, “lấy lợi ích dân tộc làm mục tiêucao nhất”, “hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khuvực và song phương”, “chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các Hiệp định thươngmại tự do song phương và đa phương”

Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 1năm 2007, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 08NQ/TW

xxvi

Trang 27

ngày 5 tháng 2 năm 2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế pháttriển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO.

Đại hội Đảng lần thứ XI năm 2011 đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế

xã hội giai đoạn 2011 2020, trong đó nhấn mạnh việc “không ngừng tăng cường

tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả”, và “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế ; tạo môi trường hòa bình,

ổn định để xây dựng và phát triển đất nước” Nghị quyết Đại hội XI đã nâng chủ

trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tácquốc tế trên các lĩnh vực khác” lên thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”

Để cụ thể hóa chủ trương này, ngày 10 tháng 4 năm 2013, Bộ Chính trị đã banhành Nghị quyết 22NQ/TW về hội nhập quốc tế Trên cơ sở đó, chúng ta đangchuyển sang giai đoạn hội nhập toàn diện: hội nhập giờ đây không chỉ giới hạntrong lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác Tuy nhiên, “hộinhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi chohội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng,bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩyphát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộtrong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp vớiđiều kiện thực tế và năng lực của đất nước” (trích Nghị quyết 22NQ/TW)

Như vậy, với Nghị quyết 22NQ/TW, tiến trình hội nhập quốc tế quốc tế củanước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn hội nhập toàn diện trên tất cảcác lĩnh vực: kinh tế; chính trị, quốc phòng và an ninh; và văn hóa, xã hội, khoahọc công nghệ, y tế, giáo dục và đào tạo

Thực hiện Nghị quyết số 22NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã banhành Nghị quyết số 31/NQCP; Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số49/NQCP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục thực hiện

xxvii

Trang 28

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về một

số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi ViệtNam là thành viên của WTO Đây là các văn bản quan trọng, đề ra định hướng vàcác nhiệm vụ chủ yếu triển khai công tác hội nhập quốc tế nói chung và hội nhậpkinh tế quốc tế trong thời gian tới

Mục tiêu của Đảng về hội nhập quốc tế : được thể hiện rõ trong Nghị

Quyết số 22NQ/TW của Bộ Chính trị, cụ thể như sau:

Hội nhập quốc tế phải nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa cácđiều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đờisống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ vàbảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh ViệtNam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốcgia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệphòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

Quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập quốc tế: được đề ra trong

Nghị Quyết số 22 NQ/TW như sau:

Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối đốingoại độc lập tự chủ, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì hòa bình, hợp tác và phát triển,chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; quántriệt và vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan

hệ lớn được tổng kết trong Cương lĩnh; đồng thời chú trọng một số quan điểm sau: Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn củaĐảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa

Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới

sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước Mọi cơ chế, chính sách phảiphát huy tính chủ động, tích cực và khả năng sáng tạo của tất cả các tổ chức, cánhân, khai thác hiệu quả các tiềm năng của toàn xã hội, của các tầng lớp nhân dân,

xxviii

Trang 29

bao gồm cả cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoàivào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực; gắn kết chặt chẽ và thúcđẩy quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hiện đại hóakết cấu hạ tầng, nâng cao sức mạng tổng hợp và năng lực cạnh tranh quốc gia; gắnkết chặt chẽ với việc tăng cường mức độ liên kết giữa các vùng, miền, khu vựctrong nước

Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạothuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cốquốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dântộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thựchiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước điphù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước

Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi íchquốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơivào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minhcủa bên này chống bên kia

Nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi vớichủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệquốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đềxuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vaitrò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vìhòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

1.2.2 Tiến trình và kết quả hội nhập quốc tế hiện tại của Việt Nam

Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam được đánh dấu bằng một số điểmmốc quan trọng như sau:

xxix

Trang 30

Bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế: WB, IFM,ADB;

Tháng 7/1994 : Việt Nam được hưởng quy chế quan sát viên của Tổ chứcThương mại thế giới (WTO);

Tháng 1/1995: Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO

Tháng 7/1995: Việt Nam ký hiệp định khung về hợp tác kinh tế Liên minhChâu Âu (EU);

Tháng 7/1995: Việt Nam gia nhập ASEAN

Tháng 1/1996 :Thực hiện chương trình CEPT nhằm tiến tới khu vực tự doASEAN (AFTA)

Tháng 3/1996: tham gia sáng lập Diễn đàn Á ÂU (ASEM) với 25 thànhviên;

Tháng 11/1998: Việt Nam gia nhập diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á TháiBình Dương (APEC):;

Tháng 7/2000: Ký hiệp định thương mại song phương Việt Nam Hoa Kỳ(có hiệu lực thi hành từ 10/12/2001);

Tính đến này Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do: Hiệpđịnh Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh tế Á – Âu; Hiệp định Thươngmại tự do Việt Nam – Hàn Quốc, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Chi Lê;Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Lào; Hiệp định đối tác kinh tếViệt Nam – Nhật Bản; Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Nhật Bản; Hiệp địnhthương mại tự do ASEAN – Ấn Độ; Hiệp định thương mại tự do ASEAN –Australia/New Zealand; Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc; Hiệpđịnh đối tác toàn diện ASEAN – Nhật Bản; Khu vực tự do ASEAN – Trung Quốc;Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Tháng 12/2015: tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC)

xxx

Trang 31

Trong suốt thời gian qua, Việt Nam đã tiến hành các công việc cần thiết baogồm việc minh bạch hóa chính sách bằng các bị vong lục và giải đáp hơn 1.500câu hỏi của các thành viên WTO; tiến hành đàm phán song phương và đa phươngvới các nước thành viên WTO; ngày 7/11/2006 Việt Nam đã chính thức trở thành

thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Trên thực tế, việc gia nhập Tổ

chức Thương mại thế giới (WTO), ký kết Hiệp định TPP, cộng đồng kinh tếASEAN sẽ tạo cho Việt Nam nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển kinh tế, cụ thể : Hưởng những ưu đãi thương mại, tránh được tình trạng bị phân biệt đối xử,nâng cao thế và lực trong thương mại quốc tế Việt Nam sẽ được hưởng các ưu đãitrong thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà các nước thành viên giành chonhau thông qua Chế độ đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN), Chế độ đãi ngộ quốc gia(NT) Là một nước đang phát triển ở trình độ phát triển thấp, Việt Nam còn có thểđược hưởng những ưu đãi riêng về miễn trừ, ân hạn trong việc thực hiện các nghĩa

vụ thành viên cũng như trong việc tiếp cận thị trường để bán các sản phẩm củamình Việt Nam có thể sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, TPP đểbảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trong trường hợp có tranh chấp thương mạivới các nước thành viên, đặc biệt khi nước thành viên đó là cường quốc về kinh tế

Có cơ hội mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu Tham gia WTO, TPP,Việt nam sẽ tham gia vào một hệ thống thương mại rộng mở, tự do và bình đẳng,được hưởng các cam kết ưu đãi, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư màcác nước thành viên dành cho nhau thông qua kết quả của vòng đàm phán tự dohóa thương mại, mở cửa thị trường Việc gia nhập vào WTO, TPP như vậy sẽ tạođược môi trường thông thoáng cho phát triển kinh tế, mở rộng thị trường về mọimặt, đặc biệt là cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam với những mặt hàng có ưuthế như gạo, cà phê, hàng dệt may, giày dép

Tăng cường thu hút đầu tư và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cao từ cácnước thông qua việc tham gia và chấp nhận các luật lệ, quy tắc của WTO, TPP,AEC sẽ giúp cho Việt Nam tạo lập và củng cố lòng tin để các nhà đầu tư nướcngoài an tâm đầu tư vào Việt Nam Đồng thời, Việt Nam cũng tăng thêm cơ hội

xxxi

Trang 32

tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi, các hình thức tín dụng, tài trợ của các tổ chứctài chính quốc tế như WB, IMF

Gia nhập WTO, Tham gia TPP và Cộng đồng kinh tế ASEAN Việt Nam sẽ

có cơ hội tham gia các cuộc đàm phán đa phương, giải quyết các nhu cầu về thịtrường vì các quyền lợi chính đáng của mình Như vậy, Việt Nam có điều kiện, cơhội góp tiếng nói vì lợi ích các nước đang phát triển, nắm bắt tốt hơn các xu thếquốc tế cũng như sự điều chỉnh chính sách kinh tế thương mại của các nước khác,

từ đó xác định được hướng điều chỉnh phù hợp với tiến trình chung và khai tháctriệt để những cơ hội lợi nhất cho mình

Tăng sức cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Hộinhập quốc tế tạo cơ hội cho các nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam mở rộng quan

hệ làm ăn, chấp nhận cạnh tranh, nâng cao chất lượng quản lý và sản xuất, tiếp thukhoa học công nghệ mới, nâng cao hiệu quả hoạt động

Bên cạnh những cơ hội to lớn, việc gia nhập WTO, TPP, AEC cũng đặt ra choViệt Nam những thách thức chủ yếu như sau:

Sức mạnh cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ và đội ngũ các nhà doanh nghiệpcủa Việt Nam còn yếu kém Tham gia hợp tác kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện đểhàng hóa và dịch vụ Việt Nam có thêm cơ hội để xâm nhập thị trường quốc tế mớichỉ dừng lại ở dạng tiềm năng, trong khi đó hàng hóa và dịch vụ nước ngoài vớisức cạnh tranh cao sẽ có điều kiện xâm nhập thị trường Việt Nam

Hệ thống luật pháp, chính sách quản lý kinh tế thương mại chưa hoàn chỉnh.Việt Nam phải tiến hành điều chỉnh chính sách kinh tế, thương mại nhằm đáp ứngđược các nguyên tắc của WTO, TPP, AEC đồng thời hỗ trợ đắc lực cho sản xuất,dịch vụ trong nước phát triển mạnh mẽ để tạo thành một công cụ đắc lực cho đàmphán mở cửa thị trường Một điều dễ nhận thấy là hệ thống chính sách kinh tế,thương mại của Việt Nam còn chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, đặc biệt chính sách Thuế

và Phi thuế Bên cạnh đó, về mặt quản lý nhà nước, tổ chức và quản lý sản xuất

xxxii

Trang 33

kinh doanh, hỗ trợ xúc tiến thương mại cũng còn nhiều bất cập, thiếu hiệu quả, gâytình trạng chồng chéo, trách nhiệm không rõ ràng

Năng lực cán bộ còn nhiều hạn chế, mặc dù trong những năm gần đây ViệtNam đã tăng cường công tác đào tạo cán bộ, nhưng về cơ bản đội ngũ cán bộ cáccấp trong cả nước còn mỏng, trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế, nhất là việcnắm bắt các chính sách, luật lệ của WTO, TPP, AEC một cách thấu đáo để hoànthành tốt công tác xây dựng chính sách kinh tế thương mại và đàm phán quốc tế

xxxiii

Trang 34

2.1.1 Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về hội nhập quốc tế

Thực hiện các chủ trương của Đảng về hội nhập quốc tế nói chung, hội nhậpkinh tế quốc tế nói riêng, thành phố Hải Phòng luôn xác định công tác quán triệt,triển khai thực hiện các Nghị quyết, chương trình hành động về hội nhập quốc tếtrong các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người dân là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Thành phố tích cực chỉ đạo các cơ quan,đơn vị tổ chức quán triệt, phổ biến, tuyên truyền các văn bản chỉ đạo của Trungương và thành phố về hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nóiriêng cho các cán bộ, công chức, viên chức, cộng đồng doanh nghiệp và người dânnhư: Nghị quyết số 07NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị khóa IX về hộinhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số 09NQ/TU ngày 12/8/2002 của Ban Thường vụThành ủy Hải Phòng về thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số08NQ/TW ngày 05/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một

số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi ViệtNam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; Nghị quyết số 22/NQ/TWngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Chỉ thị 41CT/TW ngày15/4/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác ngoại giaokinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chỉ thị số01/CTTTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp triểnkhai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Nghị quyết số

Trang 35

16/2007/NQCP ngày 27/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chủ trương,chính sách lớn để nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam

là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới; Nghị quyết số 31/NQCP ngày13/5/2014 của Chính phủ về chương trình hành động của Chính phủ thực hiệnNghị quyết 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 49/NQCP ngày10//7/2014 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ nhằm tiếp tục thựchiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về một số chủ trương, chính sách lớn để nềnkinh tế phát triển nhanh và bền vững sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thươngmại thế giới (WTO),…

Hàng năm Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với Ban Tuyên giáo Thành

ủy thường xuyên định hướng, thông tin kịp thời cho cơ quan báo chí trên địa bànthành phố thông qua Hội nghị giao ban báo chí hàng tháng và Hội nghị cung cấpthông tin cho báo chí những chủ trương, quan điểm, lập trường của Đảng, chínhsách Nhà nước về các vấn đề trong nước và quốc tế cũng như thông tin về chủtrương, định hướng của thành phố trong quá trình hội nhập quốc tế

Thực hiện triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hộinhập quốc tế, thành phố Hải Phòng đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo

về hội nhập quốc tế, điển hình như: Nhằm cụ thể hoá Chương trình hành động củaChính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng khoá X về một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh

và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO), UBND thành phố Hải Phòng đã ban hành Chương trình hành động số3788/CTrUBND thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ sau khi ViệtNam gia nhập WTO Bên cạnh đó, hàng năm, Ủy ban nhân dân thành phố đã kịpthời ban hành và triển khai kế hoạch thực hiện công tác hội nhập quốc tế nóichung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, trong đó quy định cụ thể các danh mụccông việc cần triển khai thực hiện, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp thực hiện, sảnphẩm đầu ra và thời gian hoàn thành, cụ thể: Kế hoạch số 1429/KHUBND ngày28/3/2011 ban hành Chương trình công tác năm 2011 về hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 36

thành phố; Kế hoạch số 1679/CTrBHTKTQT ngày 03/4/2012 ban hành chươngtrình hoạt động của Ban Hợp tác kinh tế quốc tế thành phố năm 2012; Kế hoạch số2515/CtrBHTKTQT ngày 18/4/2013 ban hành Chương trình công tác hội nhậpquốc tế thành phố năm 2013; Kế hoạch số 1893/CtrBHTKTQT ngày 25/3/2014ban hành Chương trình công tác hội nhập quốc tế thành phố năm 2014; Kế hoạch

số 2722/CtrBHTKTQT ngày 27/4/2015 ban hành Chương trình công tác năm2015

Để triển khai các chương trình công tác về hội nhập một cách có hiệu quả,UBND thành phố giao Ban Hợp tác kinh tế quốc tế thường xuyên theo dõi, giámsát quá trình triển khai thực hiện, định kỳ sáu tháng tiến hành sơ kết, một năm tiếnhành tổng kết, đánh giá và đề xuất để điều chỉnh và đưa ra các giải pháp phù hợp

để chương trình công tác sát với thực tế và mang tính khả thi cao

2.1.2 Công tác kiện toàn tổ chức, bộ máy phục vụ hội nhập quốc tế thành phố

Đáp ứng xu hướng toàn cầu hóa và yêu cầu đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc

tế, ngày 26/11/2004, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số3088/QĐUB về việc thành lập Sở Ngoại vụ Hải Phòng trên cơ sở Ban Ngoại vụtrước đây Từ khi được thành lập, hoạt động ngoại giao đã thực hiện có hiệu quảđường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước cũng như mục tiêu pháttriển đối ngoại của thành phố Hải Phòng Các hoạt động đối ngoại Đảng, đối ngoạiNhà nước và đối ngoại nhân dân trên địa bàn thành phố được triển khai khá đồng

bộ gắn kết chặt chẽ với nhiều hoạt động phong phú, sôi động trên các lĩnh vực vềkinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, góp phần tích cực vào việc thực hiệnnhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của thành phố

Thực hiện chủ trương: “Mở rộng quan hệ đối ngoại, trước hết là kinh tế đối

ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” thành phố đặc biệt coi trọng đến việc

thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Các bộ phận chuyên môn đượcthành lập để đẩy mạnh hoạt động này như: Phòng Kinh tế đối ngoại thuộc Sở Kế

Trang 37

hoạch và Đầu tư được thành lập để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đầu

tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO), hợp tác kinh tế với các địa phương

và vùng lãnh thổ; Trung tâm xúc tiến đấu tư thuộc Ban Quản lý Khu Kinh tế HảiPhòng được thành lập nhằm đẩy mạnh hoạt động cung cấp thông tin về môi trườngđầu tư, tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đầu tưtrong các khu công nghiệp, khu kinh tế; phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước về xúctiến đầu tư trong các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn thành phố

Nhằm tăng cường công tác chỉ đạo, điều phối về hội nhập quốc tế nói chung,hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng của thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố đãban hành Quyết định kiện toàn Ban Hợp tác kinh tế quốc tế thành phố; kiện toàn

Tổ chuyên viên giúp việc Ban Hợp tác và Quy chế hoạt động của Ban Hợp táckinh tế quốc tế thành phố

2.1.3 Bố trí và sử dụng ngân sách cho công tác hội nhập quốc tế

Từ năm 2010 đến nay, kinh phí cho Chương trình Hội nhập quốc tế và côngtác của đoàn ra, đoàn vào phục vụ nhiệm vụ xúc tiến đầu tư đã được đảm bảo vớitổng số kinh phí là 90.586 triệu đồng (kinh phí cho công tác hội nhập quốc tế là31.786 triệu đồng, kinh phí cho các đoàn ra là 50.000 triệu đồng, kinh phí cho cácđoàn vào là 8.800 triệu đồng) Các đơn vị được thụ hưởng nguồn vốn hội nhậpquốc tế sử dụng đúng mục đích, hiệu quả về kinh phí đã cấp

2.1.4 Thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hội nhập quốc tế

Công tác thông tin, tuyên truyền và nâng cao nhận thức về hội nhập quốc tếđược triển khai rộng rãi, liên tục đến các cơ quan, các tổ chức chính trị xã hội,doanh nghiệp và người dân, đã tạo nên sự đồng thuận cao về sự cần thiết và ýnghĩa, cũng như cơ hội và thách thức của hội nhập quốc tế; từ đó ngày càng nhậnthức được rằng hội nhập quốc tế là một phương tiện, nội lực mới là nhân tố có ýnghĩa quyết định Công tác tuyên truyền và phổ biến thông tin về hội nhập kinh tế

Trang 38

quốc tế đã có những chuyển biến tích cực, phong phú về hình thức, chuyên sâu vềnội dung

Về việc mở các chuyên mục thông tin tuyên truyền về hội nhập từ các cơ quan báo chí: Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng đã kịp thời thực hiện các bản

tin và ghi nhanh các nội dung liên quan đến hội nhập quốc tế, định kỳ thực hiệnchuyên đề “Hội nhập và phát triển” Ngoài ra, còn có các chuyên đề hội nhập theotừng lĩnh vực như: phát sóng các Chương trình truyền thông về sở hữu trí tuệ,chương trình KH&CN và cuộc sống,… Hội nhập quốc tế được tuyên truyền đều kỳtrên tất cả các ấn phẩm của Báo Hải Phòng Báo duy trì đều đặn các chuyên trang,chuyên mục về hội nhập, trong đó đáng chú ý là chuyên trang Doanh nghiệp –Doanh nhân, Tài chính – Ngân hàng, Nông nghiệp – Nông thôn, Đối ngoại, Vănhóa, Văn nghệ, Xã hội… trải đều suốt trong tuần, phản ánh, điều tram ghi chép vềhoạt động của các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp liên quan tới hội nhập và pháttriển Chuyên mục hành lang hội nhập được duy trì hàng tuần với nhiều mẩuchuyện, nhiều kinh nghiệm cũng như những cảnh báo khi tham gia hội nhập quốctế

Về phía các cơ quan chức năng, công tác thông tin, tuyên truyền về hội nhập

quốc tế và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta được thực hiện thông qua các trangweb của sở ngành, đơn vị chức năng trên địa bàn thành phố

Về việc phổ biến cập nhật kiến thức về hội nhập, tổ chức các hội thảo chuyên

đề về hội nhập, các sở, ngành đã phối hợp tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức về

WTO, Tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học, lớp tập huấn phổ biến các văn bản quyphạm pháp luật mới của ngành, nhất là các văn bản quy định có liên quan đến cáccam kết WTO như: Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Quản lý thuế, các Nghị định liên quanđến quản lý và sử dụng đất đai, về chuyển đổi hình thức doanh nghiệp, Hiệp định

về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, quản lý an toàn bức xạ, chuyển giao côngnghệ, Cơ chế phát triển sạch (CDM) và hàng rào kỹ thuật trong thương mại v.v ;

Trang 39

Về việc tổ chức các sự kiện truyền thông liên quan đến gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, Thường trực Ban Hợp tác kinh tế quốc tế thành phố cùng sở

ngành thành phố phối hợp với các ngành của Trung ương, các dự án quốc tế tổchức nhiều buổi hội thảo chuyên đề về hội nhập quốc tế, về gia nhập WTO và thuhút đông đảo cán bộ tham dự Các hội thảo đã thu hút được sự quan tâm của cộngđồng doanh nghiệp và các nhà khoa học, cán bộ quản lý nhà nước và được cácphương tiện truyền thông đại chúng tập trung phản ánh, tiêu biểu là Hội thảo phổbiến về Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) 2015 và chủ trương hội nhập kinh tếquốc tế của Việt Nam; Hội thảo Du lịch Việt Nam Hội nhập trong ASEAN; Hộithảo Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – Những cơ hội và thách thức đốivới doanh nghiệp thành phố;…

2.1.5 Xây dựng thể chế và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế

Công tác cải cách hành chính: Thời gian qua, thành phố đã tổ chức thực hiện

toàn diện và có trọng tâm đối với các nhiệm vụ cải cách hành chính Mặc dù phảitập trung thực hiện các nhiệm vụ để giải quyết, tháo gỡ khó khăn do tình hình suygiảm kinh tế, song nhìn chung các cơ quan, đơn vị thuộc thành phố đã bám sát và

cụ thể hóa các yêu cầu, nhiệm vụ thực hiện cải cách hành chính được xác định tạiNghị quyết số 30c/NQCP của Chính phủ, Nghị quyết số 01NQ/TU của BanThường vụ Thành ủy, Nghị quyết số 06/2012/NQHĐND của Hội đồng nhân dânthành phố Về cơ bản, kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính của thànhphố đạt được hiệu quả toàn diện trên các lĩnh vực; chất lượng các văn bản quyphạm pháp luật được nâng cao hơn, phù hợp với thực tiễn, phát huy hiệu lực, hiệuquả Công tác cải cách hành chính góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật hànhchính; góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội thành phố Nền hànhchính của thành phố đang tiếp tục có bước chuyển biến quan trọng theo hướngchuyển sang nền hành chính phục vụ Mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với tổchức, nhân dân có tiến bộ rõ, người dân ngày càng quan tâm nhiều hơn, tham giagiám sát những hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Thông qua kết quảthực hiện công tác cải cách hành chính đã góp phần tạo môi trường thông thoáng

Trang 40

cho các nhà đầu tư, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào thành phố, tạo sứcđẩy quan trọng thực hiện phát triển kinh tế xã hội thành phố trong thời điểm kinh

tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn Tại phiên họp Chính phủ thường kỳtháng 01 năm 2014 vào ngày 25/01/2014, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã trình bày Báocáo kết quả xác định Chỉ số cải cách hành chính năm 2012 (PAR INDEX 2012)của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương Kết quả, thành phố Hải Phòng đứng thứ 6/63 tỉnh, thành phố (sau ĐàNẵng; Bà Rịa – Vũng Tàu; thành phố Hồ Chí Minh; Đồng Tháp; An Giang); đứngthứ nhất các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Bắc, miền Trung; đứng thứ 3/5thành phố trực thuộc Trung ương (sau Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh)

Về cải cách thể chế, điều chỉnh, bãi bỏ các văn bản quy phạm pháp luật không

phù hợp với các cam kết quốc tế Thành phố xác định công tác xây dựng, hoàn

thiện các cơ chế chính sách là một một trọng tâm phục vụ công cuộc hội nhập quốc

tế Hàng năm, thành phố ban hành Chương trình ban hành văn bản quy phạm phápluật, Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn thành phố; thamgia ý kiến vào các dự thảo văn bản của Trung ương; chủ động, tích cự thực hiệnthẩm định, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến hộinhập quốc tế Cụ thể như sau:

Năm 2010: thành phố chỉ đạo Sở Tư pháp rà soát 23 văn bản liên quan đếncam kết WTO của Việt Nam; đề xuất tiếp tục thi hành 14 văn bản; công bố hếthiệu lực, bãi bỏ 03 văn bản; sửa đổi, bổ sung 06 văn bản; đề xuất ban hành mới 01văn bản

Năm 2011: rà soát 22 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến các hoạtđộng đầu tư; chính sách hỗ trợ sản xuất, kinh doanh; công tác quản lý, kiểm tradoanh nghiệp; cải tổ doanh nghiệp nhà nước; quản lý và sử dụng đất; công khai,minh bạch hóa; phát triển thị trường chứng khoán và các chính sách quan trọngkhác về hội nhập quốc tế và xem xét xử lý như sau: tiếp tục thi hành 06 văn bản;

đề nghị công bố hiệu lực 10 văn bản; sửa đổi, bổ sung: 06 văn bản Cũng trongnăm này, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch số 1651/KHUBND ngày

Ngày đăng: 06/06/2016, 21:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ chính trị (2013), Nghị quyết số 22NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị khóa XI về hội nhập quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ chính trị (2013)
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2013
3. Sở Công Thương Hải Phòng, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sở Công Thương Hải Phòng
4. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Báo cáo tình hình thực hiện hội nhập kinh tế quốc tế thành phố các năm 2010, 2011, 2012, 2013,2014,2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng
6. Bộ Công Thương (2006), Đề án ổn định và phát triển thị trường trong nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Công Thương (2006)
Tác giả: Bộ Công Thương
Năm: 2006
9. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2013), Báo cáo “Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 32 của Bộ Chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2013)
Tác giả: Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng
Năm: 2013
5. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội Hải Phòng đến 2020 Khác
7. Niên giám thống kê Hải Phòng năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 Khác
8. Một số đề tài, dự án cấp Bộ, cấp Nhà nước về định hướng xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 Khác
10. Tìm hiểu về Tổ chức Thương mại thế giới WTO – Nhà xuất bản Lao động – xã hội năm 2005 Khác
11. Tiến sỹ Phạm Quốc Trụ (2013), Hội nhập quốc tế Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Khác
12. Học viện ngoại giao (2008), Lý luận quan hệ quốc tế Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 2.1: KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU VỀ HOẠT ĐỘNG NỘI THƯƠNG NGÀNH CÔNG THƯƠNG GIAI ĐOẠN 2011 - MỘT số BIỆN PHÁP đẩy MẠNH hội NHẬP QUỐC tế của THÀNH PHỐ hải PHÒNG GIAI đoạn 2016   2020
BẢNG 2.1 KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU VỀ HOẠT ĐỘNG NỘI THƯƠNG NGÀNH CÔNG THƯƠNG GIAI ĐOẠN 2011 (Trang 52)
BẢNG 2.2: KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG NGÀNH CÔNG THƯƠNG GIAI ĐOẠN - MỘT số BIỆN PHÁP đẩy MẠNH hội NHẬP QUỐC tế của THÀNH PHỐ hải PHÒNG GIAI đoạn 2016   2020
BẢNG 2.2 KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG NGÀNH CÔNG THƯƠNG GIAI ĐOẠN (Trang 53)
BẢNG 2.3: KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NGÀNH CÔNG THƯƠNG GIAI ĐOẠN - MỘT số BIỆN PHÁP đẩy MẠNH hội NHẬP QUỐC tế của THÀNH PHỐ hải PHÒNG GIAI đoạn 2016   2020
BẢNG 2.3 KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NGÀNH CÔNG THƯƠNG GIAI ĐOẠN (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w