1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích, đánh giá tình hình tài chính giữa công ty cổ phần Traphaco và công ty cổ phần Dược Hậu Giang

40 948 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 427 KB
File đính kèm QTTC_noi dung.rar (48 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

động là một trong những công tác rất quan trọng góp phần quyết định việc tiết liệmchi phí, hạ giá thành sản phẩm từ đó nâng cao được hiệu quả hoạt động* Vốn lưu động là số tiền ứng trước

Trang 1

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu ra trong bài tiểu luận là trung thực xuất phát từ báocáo tài chính, tình hình thực tế của doanh nghiệp

Sinh viên thực hiện:

Lê Kim Hoàng

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Mục đích nghiên cứu: 1

3 Phương pháp nghiên cứu: 1

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1

5 Ý nghĩa lý luận và thực tế: 2

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP 3

1.1 Những khái niệm cơ bản liên quan đến tài chính doanh nghiệp 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp 5

1.1.2.1 Chức năng phân phối 5

1.1.2.2 Chức năng Giám đốc 6

1.1.3 Nội dung cơ bản về quản trị tài chính doanh nghiệp 7

1.2 Những chỉ tiêu đặc trưng phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp 17

1.2.1 Các tỷ số về khả năng thanh toán 19

1.2.3 Nhóm tỷ số về hoạt động 24

1.2.4 Nhóm tỷ số sinh lời 26

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 27

2.1 Giới thiệu chung về các doanh nghiệp 27

2.1.1 Công ty Cổ phần Traphaco 27

2.1.1.1 Giới thiệu chung 27

2.1.1.2 Lịch sử hình thành, lĩnh vực kinh doanh của công ty 27

2.1.2 Công ty cổ phần Dược Hậu Giang 28

2.1.2.1 Giới thiệu chung 28

2.1.2.2 Lịch sử hình thành 29

2.2 Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp 29

Trang 4

1 Lý do chọn đề tài:

Các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường ngày nay muốn phát triển bềnvững và cạnh tranh lành mạnh, trước hết phải có được cơ cấu tài chính phù hợp.Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải thường xuyên tiến hành công tác phântích tài chính và không ngừng hoàn thiện công tác này để trên cơ sở đó định hướngcho các quyết định nằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cải thiện tình hìnhtài chính của doanh nghiệp

Vì vậy, em lựa chọn đề tài “Phân tích, đánh giá tình hình tài chính giữa công ty cổ phần Traphaco và công ty cổ phần Dược Hậu Giang” nhằm xác định

tầm quan trọng của việc phân tích tài chính

2 Mục đích nghiên cứu:

Vận dụng những lý luận về phân tích tình hình tài chính nhằm thấy rõ xuhướng , tốc độ tăng trưởng và thực trạng tài chính của doanh nghiệp

3 Phương pháp nghiên cứu:

Thu thập số liệu các báo cáo và tài liệu liên quan của công ty cổ phầnTraphaco và công ty cổ phần Dược Hậu Giang

Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu và đánh giá số liệu

về số tuyệt đối và số tương đối Từ đó, đưa ra nhận xét về thực trạng tài chính củadoanh nghiệp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: thông tin, số liệu, các chỉ tiêu thể hiện tình hình tàichính được tổng hợp trên báo cáo tài chính của 2 công ty

Phạm vi nghiên cứu: tập trung nghiên cứu về tình hình tài chính của 2 công tytrong giai đoạn từ năm 2013, 2014, 2015

Trang 5

6 Kết cấu nội dung:

Kết cấu luận văn gồm 2 phần chính:

Chương 1: Khái quát chung về tài chính và quản trị doanh nghiệp

Chương 2: Đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp

Trang 6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VÀ QUẢN TRỊ

Trang 7

Nhóm 1: Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà nước Đây là mối quan

hệ nộp, cấp Nhà nước có thể cấp vốn, góp vốn cho doanh nghiệp Doanh nghiệp cótrách nhiệm nộp các khoản nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước

Nhóm 2: Các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các tổ chức và cá nhân khác

ở các thị trường Đây là các quan hệ trong việc mua bán, trao đổi hàng hoá, sảnphẩm ở thị trường hàng hoá; mua bán trao đổi quyền sử dụng sức lao động ở thịtrường lao động hoặc trao đổi mua bán quyền sử dụng vốn ở thị trường tài chính

Nhóm 3: Các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ của doanh nghiệp Đây làcác quan hệ chuyển giao vốn, quan hệ trong việc thu hộ, chi hộ giữa các bộ phậntrong một doanh nghiệp với doanh nghiệp Quan hệ giữa doanh nghiệp và cán bộcông nhân viên như là việc thanh toán lương, thưởng, vay và trả tiền vốn, tiền lãi vàyêu cầu các cá nhân vi phạm hợp đồng và kỷ luật lao động bồi thường thiệt hạihoặc nộp các khoản tiền phạt

Hệ thống các mối quan hệ trên có những điểm chung là:

- Đó là những mối quan hệ kinh tế, những quan hệ liên quan đến công việctạo ra sản phẩm và giá trị mới cho doanh nghiệp

- Chúng đều được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, thông qua đồng tiền để đolường, để đánh giá

- Chúng đều nảy sinh trong quá trình tạo ra và phân chia các quỹ tiền tệ củadoanh nghiệp

Chỉ cần một sự mất cân đối hoặc sự phá vỡ của một trong những mối quan

hệ trên thì quá trình vận động biến đổi hình thái của vốn có thể bị đình trệ, quátrình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì thế mà sẽ bị đảo lộn thậm chí có thểdẫn đến phá sản Hệ thống các mối quan hệ như vậy được coi là tài chính củadoanh nghiệp

Như vậy tài chính doanh nghiệp không đơn thuần chỉ là những khoản tiềnhoặc những hoạt động liên quan đến tiền mà nó có thể được hiểu như sau:

Trang 8

Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ kinh tế biểu hiện dướihình thái tiền tệ giữa doanh nghiệp và môi trường xung quanh nó, những mối quan

hệ này nảy sinh trong quá trình tạo ra và phân chia các quỹ tiền tệ của doanhnghiệp

1.1.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp

1.1.2.1 Chức năng phân phối

Chức năng phân phối là một khả năng khách quan vốn có của phạm trù tàichính nói chung và tài chính doanh nghiệp nói riêng Con người nhận thức và vậndụng khả năng này để tiến hành phân phối nguồn tài chính của doanh nghiệp để tạolập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp, nhằm thoả những nhu cầu của chủdoanh nghiệp Đối tượng phân phối của tài chính doanh nghiệp là các nguồn tàichính của doanh nghiệp, đó chính là những giá trị của cải mới sáng tạo ra trong kỳ,những giá trị của cải doanh nghiệp tích luỹ từ trước…Chủ thể phân phối của tàichính doanh nghiệp là chủ doanh nghiệp và nhà nước Quá trình phân phối diễn ratrước, trong và sau quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể là phânphối về nguồn huy động vốn cho doanh nghiệp, phân phối số vốn huy động được

để đầu tư vào các loại tài sản và phân phối thu nhập sau quá trình kinh doanh Quátrình phân phối của tài chính doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục trongsuốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp

Tuy vậy, việc phân phối phải dựa trên các tiêu chuẩn và định mức được tínhtoán một cách khoa học trên nền tảng là hệ thống các mối quan hệ kinh tế củadoanh nghiệp với môi trường xung quanh Phân phối hợp lý là mục đích mà chủ thểmong muốn Để phân phối chủ thể phải dựa trên cơ sở quá trình phân tích, tínhtoán khoa học Việc phân tích không chi tiết, việc tính toán không chính xác có thểgây ra sự mất cân đối các mối quan hệ giữa doanh nghiệp và môi trường xungquanh làm cho quá trình sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả cao, thậm chí dẫnđến phá sản Các tiêu chuẩn và định mức phân phối ở mỗi quá trình sản xuất kinh

Trang 9

dịch mà thường xuyên được điều chỉnh, uốn nắn cho phù hợp với điều kiện và tìnhhình thực tế thường xuyên thay đổi Việc điều chỉnh uốn nắn đó được thực hiệnthông qua chức năng thứ hai của tài chính là chức năng giám đốc của tài chínhdoanh nghiệp

1.1.2.2 Chức năng Giám đốc

Đây cũng là một khả năng khách quan vốn có của phạm trù tài chính nóichung và tài chính doanh nghiệp nói riêng Giám đốc tài chính doanh nghiệp là việctheo dõi, giám sát Đối tượng của giám đốc tài chính là quá trình phân phối, cụ thể

là quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp Chủ thể giám đốc tàichính doanh nghiệp là chủ thể phân phối tài chính doanh nghiệp, cụ thể là chủdoanh nghiệp và nhà nước Mục đích của giám đốc tài chính doanh nghiệp là kiểmtra tính hợp lý, tính đúng đắn và hiệu quả của quá trình phân phối tài chính Từ kếtquả của việc giám đốc mà chủ thể có phương hướng, biện pháp điều chỉnh cho quátrình phân phối tài chính doanh nghiệp hợp lý hơn và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.Đặc điểm của giám đốc tài chính doanh nghiệp là giám đốc bằng đồng tiền Phươngpháp giám đốc là phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Thông qua các chỉtiêu tài chính và bằng phương pháp nghiên cứu khoa học, ta có thể thấy được thựctrạng tài chính doanh nghiệp cũng như các tiềm năng tài chính của doanh nghiệp.Dựa vào những kết luận của việc phân tích, chủ doanh nghiệp có thể đưa ra nhữngbiện pháp hữu hiệu hơn

Khi nói đến chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính doanh nghiệp, ta cóthể nhầm lẫn với công tác thanh tra, kiểm tra tài chính Thực ra hai khái niệm nàyrất khác nhau Công tác kiểm tra, thanh tra tài chính là một hoạt động chủ quan củacon người trong việc thực hiện chức năng tài chính, nó có thể tồn tại hoặc khôngtồn tại, có thể đúng đắn, cũng có thể sai lệch Công tác này thường chỉ được thựchiện bởi nhân viên của các cơ quan chức năng quản lý của Nhà nước, của ngànhđối với doanh nghiệp vi phạm chế độ quản lý kinh tế, tài chính, hay bị thua lỗ kéodài, nợ dây dưa, bị kiện cáo Nếu các nhân viên thanh tra có đủ năng lực, trình độ

Trang 10

chuyên môn, công minh chính trực thì kết quả thanh tra mới phản ánh đúng tìnhhình kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, trường hợp ngược lại thì kết quả thanh tra

sẽ bị sai lệch Còn chức năng kiểm tra hay giám đốc bằng đồng tiền của tài chính làthuộc tính vốn có của nó Nó luôn luôn tồn tại và luôn luôn đúng bởi vì khi đã cóquá trình sản xuất kinh doanh thì nhất định có hệ thống các chỉ tiêu tài chính cho dùnhà sản xuất kinh doanh có ghi chép nó vào các sổ sách hay không

Hai chức năng trên đây của tài chính có mối quan hệ mật thiết với nhau.Chức năng phân phối xảy ra ở trước, trong và sau mỗi quá trình sản xuất kinhdoanh, nó là tiền đề cho quá trình sản xuất kinh doanh, không có nó sẽ không thể

có quá trình sản xuất kinh doanh Chức năng giám đốc bằng tiền luôn theo sát chứcnăng phân phối, có tác dụng điều chỉnh và uốn nắn tiêu chuẩn và định mức phânphối để đảm bảo cho nó luôn luôn phù hợ với điều kiện và tình hình thực tế của sảnxuất kinh doanh

1.1.3 Nội dung cơ bản về quản trị tài chính doanh nghiệp

- Qua công tác quản lý Vốn cố định- tài sản cố định có thể làm căn cứ xácđịnh nhu cầu về vốn

*Ý nghĩa: Nhằm phát hiện ra những bất hợp lý, sai sót trong quá trình sửdụng, xác định nhu cầu để điều chỉnh Vốn cố định- tài sản cố định Từ đó đưa racác biện pháp phù hợp

Trang 11

* Khái niệm: - Tài sản cố định là những tư liệu lao động với nội dung vậtchất là Vốn cố định

* Đặc điểm: Tài sản cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và qua mỗimột chu kỳ nó vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó giảm dần

và dịch chuyển dần vào sản phẩm thông qua hình thức khấu hao

* Phân loại: tài sản cố định rất phong phú, đa dạng về chủng loại tính năngtác dụng, giá trị, thời gian sử dụng để quản lý tốt tài sản cố định người ta tiếnhành phân loại Tuỳ theo mục đích nghiên cứu người ta có các cách phân loạitương ứng và với mỗi cách phân loại sẽ cho một cơ cấu tài sản cố định tức là sốlượng và tỷ trọng của từng bộ phận trong tổng thể và qua mỗi một cơ cấu người ta

sẽ có các biện pháp quản lý phù hợp

+Phân loại căn cứ vào hình thái vật chất

- Tài sản cố định hữu hình: tài sản cố định có hình thái vật chất

- Tài sản cố định vô hình:tài sản cố định không có hình thái vật chất

+ Căn cứ vào tình hình sử dụng: Tài sản cố định đang khai thác, tài sản cốđịnh sửa chữa lớn, tài sản cố định chờ thanh lý, tài sản cố định chờ đưa vào sửdụng

+ Căn cứ vào tính năng tác dụng

- Nhà xưởng, kho tàng, vật kiến trúc

- Máy móc thiết bị công tác

- Phương tiện vận tải và thiết bị truyền dẫn

- Máy móc thiết bị công tác

- Tài sản cố định khác

- Tuỳ theo loại hình Doanh nghiệp mà Doanh nghiệp sẽ phân chia chi tiết tàisản cố định

* Hao mòn: là sự giảm dần về giá trị và giá tri sử dụng của tài sản cố định,

nó gắn liền với việc sử dụng tài sản cố định và tác động của điều kiện tự nhiêntrong suốt thời gian tài sản cố định có mặt tại Doanh nghiệp

Trang 12

+ Có hai loại hao mòn: Hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình.

* Khấu hao tài sản cố định là việc tính toán, phân bổ một cách khoa học hợp

lý giá trị của tài sản cố định vào sản phẩm trong suốt thời gian sử dụng chúng

+ Có ba phương pháp tính khấu hao:

- Phương pháp khấu hao theo đường thẳng

- Phương pháp khấu hao thep số dư giảm dần có điều chỉnh

- Phương pháp khấu hao theo sản lượng

* Các chỉ tiêu đánh giá việc sử dụng tài sản cố định

+ Mức trang bị cho lao động

+ Đánh giá tình hình sử dụng: Về mặt số lượng, về mặt chất lượng

+ Các chỉ tiêu hiệu quả: Sức sản xuất, hấp thụ vốn, tỷ suất lợi nhuận

b) Quản lý Vốn lưu động- Tài sản lưu động

- Vốn lưu động- Tài sản lưu động là một bộ phận vốn sản xuất tài sản củaDoanh nghiệp phản ánh được năng lực, mức độ đảm nhiệm về vốn Qua nghiên cứuxác định được nhu cầu về vốn, đảm bảo được nhu cầu về vốn, đảm bảo được vốncho sản xuất

- Vốn lưu động- Tài sản lưu động tham gia vào quá trình sản xuất tạo nên giátrị sản phẩm do đó chi phí vốn hợp lý sẽ xác định giá thành hợp lý góp phần nângcao hiệu quả Doanh nghiệp

* Ý nghĩa: Qua nghiên cứu sẽ xác định được nhu cầu về vốn đảm bảo vốncho sản xuất, đưa ra được biện pháp phù hợp Quản lý Vốn lưu động- Tài sản lưu

Trang 13

động là một trong những công tác rất quan trọng góp phần quyết định việc tiết liệmchi phí, hạ giá thành sản phẩm từ đó nâng cao được hiệu quả hoạt động

* Vốn lưu động là số tiền ứng trước để mua sắm, đầu tư các Tài sản lưuđộng, tài sản lưu thông và công cụ dụng cụ gắn liền với mục đích hoạt động củaDoanh nghiệp

* Tài sản lưu động là những đối tượng lao động với nội dung vật chất là một

bộ phận của Vốn lưu động, nó gắn liền với quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm

* Đặc điểm: Tài sản lưu động tham gia vào một chu kỳ sản xuất và qua mỗichu kỳ nó cấu thành nên thực thể của sản phẩm hoặc góp phần cấu thành nên thựcthể sản phẩm hoặc là gia tăng giá trị sản phẩm và qua mỗi chu kỳ, giá trị của nóchuyển toàn bộ vào sản phẩm mà nó tạo ra

* Phân loại: Với mỗi sản phẩm khác nhau Vốn lưu động- Tài sản lưu động sẽkhác nhau Chúng rất phong phú đa dạng về số lượng, chủng loại, tính năng, tácdụng Để quản lý tốt Vốn lưu động- Tài sản lưu động người ta tiến hành phân loại.Tuỳ theo mục đích nghiên cứu sẽ có các cách phân loại tương ứng và mỗi cáchphân loại sẽ xác định số lượng, tỷ trọng của từng loại trong tổng thể và qua cơ cấuđưa ra được các biện pháp quản lý phù hợp

+ Căn cứ vào phương pháp quản lý

- Vốn lưu động định mức

- Vốn lưu động không định mức

+ Căn cứ vào quy trình luân chuyển Vốn lưu động

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất

- Vốn lưu động trong lưu thông

+ Căn cứ vào khả năng chuyển hoá thành tiền của tài sản

- Tiền mặt

- Vàng bạc, chứng khoán

Trang 14

- Hàng hoá, vật tư ( nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ, sảnphẩm dở dang, phụ tùng thay thế)

* Quản lý Vốn lưu động- Tài sản lưu động là công tác định mức Vốn lưuđộng: đó là việc tính toán một cách chính xác khoa học, hợp lý số vốn lưu đọngnhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường

Có hai phương pháp định mức Vốn lưu động

+ Phương pháp gián tiếp: dựa vào các con số thống kê kinh nghiệm Có thể

là số liệu của kỳ kế hoạch trước của số thực tế đạt được kỳ trước hoặc theo tài liệu,

số liệu của một đơn vị điển hình tiên tiến

+ Phương pháp trực tiếp: tính nhu cầu Vốn lưu động cho từng nhóm Tài sảnlưu động ở các khâu của quá trình sản xuất Với mỗi nhóm ta lại tính cho từng loạisau đó tổng hợp lại xác định được nhu cầu Vốn lưu động phục vụ cho quá trình sảnxuất kinh doanh

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn lưu động

+ Quá trình luân chuyển Vốn lưu động

- Vòng luân chuyển

- Kỳ luân chuyển bình quân

+ Các chỉ tiêu hiệu quả: Sức sản xuất vốn lưu động, hấp thụ vốn, tỷ suất lợinhuận

c) Quản lý nguồn vốn của Doanh nghiệp

Để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh cácdn cần phải xác định đượcnhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình từ đó chủ động được nguồn vốn cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh Để tạo vốn hoạt động của Doanh nghiệp có thể hìnhthành từ rất nhiều nguồn khác nhau: từ bên trong, bên ngoài và thông qua các thịtrường tài chính

* Nguồn bên trong: Vốn tự có: vốn chủ sở hữu; Quỹ khấu hao; Bổ sung từlợi nhuận; Điều chỉnh cơ cấu

Trang 15

* Nguồn bên ngoài: Đi vay, thuê tài chính, nợ, ngân sách cấp, liên doanh,liên kết.

d) Quản lý chi phí giá thành

* Chi phí hoạt động của Doanh nghiệp là toàn bộ số tiền mà Doanh nghiệp

bỏ ra liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ

* Giá thành: tập hợp những chi phí liên quan đến quá trình sản xuất và tiêuthụ sản phẩm

* Ý nghĩa:

+ Chi phí phản ánh quy mô, kết quả công tác của Doanh nghiệp

+ Chi phí là chỉ tiêu làm căn cứ, cơ sở để tính giá cả sản phẩm, để tính hiệuquả hoạt động Doanh nghiệp, để hoàn thiện công tác hạch toán kế toán

* Các loại giá thành

+ Căn cứ vào công tác kế hoạch

- Giá thành kế hoạch: là tập hợp chi phí được xây dựng trên cơ sở kế hoạchđịnh mức

- Giá thành thực tế: là tập hợp chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinhdoanh bao gồm các chi phí đã được định mức kế hoạch và các chi phí phát sinhngoài kế hoạch

+ Căn cứ vào cách tính chi phí vào sản phẩm

- Giá thành sản lượng: là tập hợp tàon bộ chi phí liên quan tới việc sản xuất

và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm trong kỳ

- Giá thành đơn vị: là tập hợp toàn bộ chi phí liên quan tới quá trình sản xuấtmột đơn vị sản phẩm

+ Căn cứ vào phạm vi

- Giá thành phân xưởng: là tập hợp toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt độngcủa phân xưởng

- Giá thành công xưởng: bao gồm giá thành phân xưởng và chi phí quản lý

- Giá thành toàn bộ: bao gồm giá thành công xưởng và chi phí ngoài sản xuất

Trang 16

* Phân loại chi phí: Chi phí của Doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng vềđối tượng, về tính chất, về tác dụng, về quy mô để tiến hành quản lý chi phí thìngười ta tiến hành phân loại Với mỗi cách phân loại khác nhau sẽ xác định cơ cấutương ứng tức là xác định được số lượng và tỷ trọng của từng bộ phận trong tổngthể từ đó mới đưa ra biện pháp quản lý tương ứng

+ Phân loại theo tính chất hoạt động:

- Chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh: là toàn bộ chi phí liên quan đếnhoạt động của Doanh nghiệp nó gắn liền với chức năng nhiệm vụ của Doanhnghiệp

- Chi phí cho hoạt động tài chính: là chi phí cho tất cả các hoạt động liênquan tới tiền tệ

- Chi phí cho hoạt động bất thường: là chi phí cho các hoạt động khôngthường xuyên, liên tục không dự tính được

+ Phân loại theo khoản mục chi phí

Là những chi phí có cùng công dụng, địa điểm phát sinh hay là những chi phí

có cùng công dụng địa điểm thì được tập hợp thành một khoản mục Cách phân loạinày có mục đích cơ bản là tập hợp chi phí để tính giá thành sản phẩm và qua cơ cấutiến hành phân tích, xác định trọng tâm, trọng điểm để hạ giá thành sản phẩm.Khoản mục chi phí cấu thành lên giá thành thực tế

Đối với các Doanh nghiệp sản xuất vật chất nội dung các khoản mục chi phíthông thường bao gồm:Lương công nhân trực tiếp, các khoản trích theo lương,nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu ( năng lượng), khấu hao, sửa chữa, quản lý, chikhác

+ Phân loại theo nội dung kinh tế

Yếu tố chi phí là các chi phí có cùng nội dung kinh tế không kể đến côngdụng địa điểm phát sinh Mục đích cơ bản của cách phân loại này là để lập dự toánchi phí, tập hợp các yếu tố chi phí cấu thành nên giá thành kế hoạch

Trang 17

Các Doanh nghiệp sản xuất vật chất thì nội dung các yếu tố chi phí thôngthường bao gồm :Lương, các khoản trích theo lương, nguyên liệu, vật liệu, nhiênliệu, khấu hao, chi phí khác bằng tiền

+ Phân loại theo mối quan hệ chi phí sản lượng

Mục đích cơ bản của cách phân loại này là lựa chọn nhiệm vụ sản xuất khi

có sự thay đổi khối lượng sản phẩm tức là với khối lượng sản phẩm đã thực hiệntổng chi phí là nhỏ nhất

- Chi phí cố định

- Chi phí biến đổi

+ Phân loại theo cách tính

- Chi phí trực tiếp: là chi phí được tính trực tiếp vào giá thành sản xuất

- Chi phí gián tiếp : là chi những chi phí được phân bổ vào giá trị sản phẩmtuỳ theo đối tượng sẽ có cách phân bổ tương ứng

Các phân loại này có mục đích là : lựa chọn cách tính chi phí vào sản phẩmsao cho chi phí nào nhỏ nhất nhưng vẫn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh

+ Phân loại theo tính chất chi phí

- Chi phí lao động sống

- Chi phí lao động vật hoá

* Phương hướng biện pháp hạ giá thành

Mục đích phân loại giá thành và chi phí như trên là để các Doanh nghiệp cóthể quản lý và tính toán sao cho chi phí đạt tới mức là nhỏ nhất từ đó dẫn tới giáthành của sản phẩm cũng là nhỏ nhất nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm, thuhút và bán được nhiều sản phẩm Sau đây là một số biện pháp nhằm hạ giá thànhsản phẩm

+ Làm công tác định mức

Định mức : - Nguyên vật liệu

- Lương

- Khấu hao

Trang 18

+ Xác định mức tiết kiệm

- Tiết kiệm tuyệt đối

- Tiết kiệm tương đối

e) Thu nhập – Lợi nhuận của Doanh nghiệp

* Doanh thu : là số tiền Doanh nghiệp thu được từ việc bán các sản phẩm,dịch vụ trong một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh

* Thu nhập : là một số tiền Doanh nghiệp thu về liên quan tới hoạt động sảnxuất kinh doanh trong một kỳ

* Ý nghĩa của doanh thu : là chỉ tiêu phản ánh quy mô kết quả hoạt động củaDoanh nghiệp

- Là chỉ tiêu phản ánh vị thế chủa Doanh nghiệp trên thị trường

- Là chỉ tiêu nhằm bù đắp chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinhdoanh trong kỳ

- Là căn cứ, cơ sở để tính hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp

- Tăng tổng sản phẩm xã hội, tăng tích luỹ cho ngân sách

* Doanh thu từ hoạt động bất thường: là doanh thu từ hoạt động khôngthường xuyên liên tục không kế hoạch dự tính được

- Doanh thu từ hoạt động tài chính: là doanh thu được từ tất cả các hoạt độngliên quan tới tài chính tiền tệ

- Doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ: là doanh thu gắn liềnvới chức năng, nhiệm vụ về ngành nghề, phạm vi hoạt động của dn dịch vụ: làdoanh thu gắn liền với chức năng, nhiệm vụ về ngành nghề, phạm vi hoạt động củaDoanh nghiệp

* Nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới doanh thu đó là khối lượng sản phẩm và giá

cả sản phẩm và với những ý nghĩa của doanh thu như vậy thì các Doanh nghiệpmong muốn tăng doanh thu Để tăng doanh thu phải đưa các biện pháp tác độngtăng cả hai chỉ tiêu trên và có thể đưa ra một số biện pháp cơ bản sau:

Trang 19

- Tiết kiệm vốn lưu động, tăng vòng quay vốn

- Nâng cao hệ số sử dụng tài sản cố định

- Sử dụng lao động phù hợp, khuyến khích lao động tăng năng suất lao động+ Tăng giá cả sản phẩm

- Làm tốt công tác thị trường

- Nâng cao chất lượng sản phẩm, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng

* Lợi nhuận: là chênh lệch giữa toàn bộ số tiền mà Doanh nghiệp thu được

và số tiền Doanh nghiệp bỏ ra liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong

kỳ Nếu như chênh lệch đó lớn hơn 0 là lãi

Nếu chênh lệch đó nhỏ hơn 0 là lỗ

- Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả hiệu quả hoạt động của Doanhnghiệp

- Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng của các Doanh nghiệp khi tiến hành hoạtđộng sản xuất kinh doanh

- Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả của công tác tổ chức sản xuất, tổchức quản lý, tổ chức lao động

- Lợi nhuận là chỉ tiêu góp phần tăng tích luỹ cho ngân sách nhà nước

- Lợi nhuận góp phần bổ sung vốn hoạt động của Doanh nghiệp

- Lợi nhuận góp phần cải thiện nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên

* Tuỳ theo tính chất công tác, đặc điểm hoạt động của Doanh nghiệp có thểxác định được các loại lợi nhuận sau đó tổng hợp lại xác định tổng lợi nhuận trongmột kỳ

Lợi nhuận trước thuế = Tổnh thu – Tổng chi hợp lý

( Chi phí hợp lý là những chi phí được tính vaò thu nhập chịu thuế theo quyđịnh của nhà nước)

Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế – thuế thu nhập Doanh nghiệpThuế thu nhập Doanh nghiệp = Lợi nhuận trước thuế x thuế suất

Trang 20

* Để phản ánh được chất lượng của lợi nhuận có rất nhiều chỉ tiêu khácnhau Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, ý nghĩa của chỉ tiêu, ý nghĩa của phươngpháp quản lý có thể đưa ra các chỉ tiêu phù hợp

- Tỷ suất lợi nhận trên doanh thu

- Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí

- Tỷ suất lợi nhuận trên lao động

- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn

* Theo quy định của nhà nước sau một quá trình hoặc một kỳ sản xuất kinhdoanh, Doanh nghiệp tạo lợi nhuận thì phải phân phối lợi nhuận theo đúng quyđịnh của nhà nước, trình tự phân phối được thể hiện như sau:

- Tập hợp chênh lệch giữa toàn bộ thu và chi

- Nộp thuế thu nhập Doanh nghiệp

- Bù đắp các chi phí không được tính vào thu nhập chịu thuế

- Trả tiền cho ngân sách nếu Doanh nghiệp sử dụng vốn ngân sách

- Trích quỹ

* Để đảm bao Doanh nghiệp làm ăn có lãi và lãi ngày càng tăng thì Doanhnghiệp cần phải thực hiện các biện pháp trước mắt cũng như lâu dài Sau đây làmột số biện pháp làm tăng lợi nhuận

+ Lựa chọn phương án ản xuất tối ưu: tức là phương án đó thoả mãn đượctiêu chí đã đặt ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Có rất nhiều nhân

tố, các chỉ tiêu phản ánh tác động ảnh hưởng việc thoả mãn đồng thời các chỉ tiêu

đó là rất khó khăn

+ Tăng cường hiệu quả công tác quản lý

+ Tăng cường công tác khai thác

+ Đổi mới, nâng cao chất lượng máy móc, thiết bị

+ Lựa chọn, đào tạo đội ngũ nhân viên kỹ thuật, trình độ năng lực đáp ứngyêu cầu sử dụng

Ngày đăng: 06/06/2016, 16:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w