Khái niệm về chính sách thương mại, thương mại XNK và vai trò quản lý kinh tế của nhà nước * Khái niệm về chính sách thương mại: Chính sách thương mại là hệ thống các nguyên tắc và biện
Trang 1Kim ngạch XNK đã tăng qua từng năm cùng với tốc độ tăng trưởng caocủa đất nước đã nâng cao mức sống cho người dân, đưa đất nước ta ra khỏi tìnhtrạng đói nghèo, nâng vị thế của nước ta lên một tầm cao mới Thành công đóchính là sự phát huy tích cực của cả nguồn nội lực và cả những nguồn lực đượctận dụng tốt từ bên ngoài Để có cái nhìn tổng thể và khách quan về thực tại và
những năm gần đây của XNK nước ta, em chọn chuyên đề: “Phân tích nội dung các chính sách và các công cụ quản lý hàng hóa xuất, nhập khẩu Liên hệ thực tiễn với điều kiện Việt Nam hiện nay” để làm bài tiểu luận.
2 Mục đích nghiên cứu
Nhiệm vụ của chuyên đề là tìm ra được những điểm mạnh điểm yếu haynăng lực thực tế của Việt Nam trước những cơ hội , thách thức trong vấn đềXNK để từ đó chỉ ra được những biện pháp, phương hướng cho giai đoạn hiệntại và tương lai
3 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu và tài liệu liên quan về các công cụ quản lý hàng hóa xuấtnhập khẩu tại Việt Nam
Trang 2Sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu và đánh giá sốliệu về số tuyệt đối và số tương đối Từ đó, đưa ra nhận xét về thực trạng tàichính của doanh nghiệp.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là các công cụ, chính sách,chương trình…của Nhànước đối với vấn đề XNK, nhằm điều chỉnh hợp lý vấn đề này để mang lại mộthiệu quả tối ưu cho đất nước Phạm vi của đề tài là tất cả các hàng hoá dịchvụ,các ngành mà Việt Nam giao thương với thế giới Chúng ta sẽ tìm hiểu xemrằng các chính sách của Nhà nước ta khuyến khích ưu tiên cho những sản phẩmhay ngành nghề nào hơn hay rằng các công cụ đó của Nhà nước tác động nhưthế nào đối với XNK nước ta
5 Ý nghĩa phương pháp luận
Nhận thức được tầm quan trọng vấn đề xuất nhập khẩu tại Việt Nam vớinhững chính sách mà nhà nước đã ban hành
6 Kết cấu nội dung
Kết cấu nội dung gồm 2 phần chính:
Chương 1: Lý luận chung về chính sách và các công cụ quản lý hàng hóa xuất
nhập khẩu
Chương 2: Liên hệ thực tiễn với điều kiện của Việt Nam hiện nay
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CÁC
CÔNG CỤ QUẢN LÝ HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 1
1.1 Khái niệm về chính sách thương mại, thương mại XNK và vai trò quản lý kinh tế của nhà nước 1
1.2 Một số công cụ chủ yếu điều tiết hoạt động của chính sách thương mại XNK 3
1.2.1 Chính sách thị trường và chính sách mặt hàng 3
1.2.2 Chính sách thuế xuất nhập khẩu 5
1.2.3 Chính sách phi thuế quan 8
1.2.4 Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái 10
1.2.5 Chính sách cán cân thương mại và cán cân thanh toán 12
CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỚI ĐIỀU KIỆN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY 15
2.1 Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa trong 4 tháng đầu năm 2016 của Việt Nam 15
2.1.1 Xuất khẩu hàng hoá 15
2.1.2 Nhập khẩu hàng hoá 18
2.1.3 Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa so với các châu lục 22
2.2 Các chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới 22
2.2.1 Chính sách thuế ưu đãi đối với hàng xuất khẩu 22
2.2.2 Chính sách tỷ giá hối đoái 23
2.2.3 Chính sách đầu tư đối với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và tham gia hoạt động xuất khẩu 25
2.2.4 Chính sách, chiến lược xúc tiến xuất khẩu 26
PHẦN KẾT LUẬN 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU
1.1 Khái niệm về chính sách thương mại, thương mại XNK và vai trò quản
lý kinh tế của nhà nước
* Khái niệm về chính sách thương mại: Chính sách thương mại là hệ
thống các nguyên tắc và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnhhoạt động thương mại của quốc gia đó trong một thời kỳ nhất định nhằm đạtđược các mục tiêu đặt ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hộ nói chung vàlĩnh vực ngoại thương nói riêng của quốc gia đó Nó là một bộ phận quan trọngcủa chính sách kinh tế - xã hội của đất nước Có quan hệ chặt chẽ và phục vụcho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến quátrình tái sản xuất, cải tiến cơ cấu kinh tế, đến quy mô và phương thức của nềnkinh tế quốc dân tham gia vào phân công lao động và thị trường quốc tế
* Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước: trong quá trình phát triển kinh tế
của đất nước thì nhà nước luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong quản lýkinh tế đó là ổn định và phát triển kinh tế của đất nước, điều tiết kinh tế cả về vi
mô và vĩ mô để đa nền kinh tế nước nhà đi đúng hướng
* Chính sách thương mại XNK : Chính sách thương mại XNK là một hệ
thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụngquản lý, điều chỉnh các hoạt động thương mại XNK của một quốc gia trong mộtthời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục đích đã định trong chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội trong một quốc gia
Việc tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịchquốc tế, đang đa lại nhiều lợi ích to lớn nhưng với nhiều lý do khác nhau, mỗiquốc gia có chủ quyền đều có chính sách thương mại quốc tế cũng như chínhsách thương mại XNK riêng thể hiện ý chí và mục tiêu của nhà nước đó trongviệc can thiệp và điều chỉnh các hoạt động thương mại XNK có liên quan đếnnền kinh tế quốc gia
Trang 5Chính sách thương mại XNK của một quốc gia có ảnh hưởng đến nhiềuquốc gia khác Bởi vậy nó chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên tắc nhằm chống lại
sự phân biệt đối sử, đảm bảo sự có đi có lại cho các bên tham gia hợp tác vàbuôn bán quốc tế
Do môi trường kinh tế thế giới đang còn bị chi phối và tác động bởi vìmối quan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác cho nên chính sách th-ương mại quốc tế và chính sách thương mại XNK của mỗi quốc gia cùng phảiđáp ứng với nhiều mục tiêu cụ thể khác nhau của từng thời kỳ Những mục tiêuchung của chính sách thương mại XNK là nhằm điều chỉnh các hoạt động th-ương mại XNK theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội củaquốc gia trong điều kiện mở rộng và phát triển các quan hệ hợp tác và phân cônglao động quốc tế
* Nội dung của chính sách thương mại XNK
Chính sách XNK bao gồm nhiều nội dung khác nhau của hoạt động xuất nhập khẩu như xuất khẩu các hàng hoá hữu hình (như nông lâm hải sản, hàng hoá công nghiệp, khoáng sản v.v.) và các hàng hoá vô hình (các sản phẩm dịch vụ như dịch vụ viễn thông, du lịch v.v.), tạm nhập để tái xuất hay tạm xuất để tái nhập, quá cảnh hàng hoá, chuyển giao sử dụng công nghiệp, gia công chế biến hàng hoá xuất khẩu, đầu tư cho xuất khẩu, thuê nước ngoài gia công chế biến, đại lí bán hàng hoá, uỷ thác hoặc nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu
và XNK trực tiếp v.v đi cùng với chính sách này là một loạt các công cụ hỗ trợ cho hoạt động XNK này là các chính sách như :
Chính sách thị trường và chính sách mặt hàng
Chính sách thuế xuất nhập khẩu
Chính sách phi thuế quan
Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái
Chính sách cán cân thương mại và cán cân thanh toán
Chính sách tài trợ xuất khẩu
Chính sách kỹ thuật thực thi nhập khẩu
Chính sách điều chỉnh về thể chế thương mại
Trang 6 Chính sách điều chỉnh về khuôn khổ luật pháp
Chính sách điều chỉnh về hệ thống kinh doanh phục vụ
* Chính sách quản lý xuất nhập khẩu là: Nhà nước quản lý và điều tiết
hoạt động thương mại quốc tế thông qua công cụ rất quan trọng là chính sáchquản lý Chính sách quản lý thương mại quốc tế của nhà nước là các nghị định,quyết định, quy định của chính phủ và các cơ quan của chính phủ về lĩnh vực th-ương mại quốc tế đó là các chính sách quản lý xuất nhập khẩu
Nội dung của chính sách quản lý xuất nhập khẩu bao gồm: Chính sách
quản lý về mặt hàng xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về cơ chế giá cả,chínhsách quản lý về quốc tế và giấy phép xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về tỷgiá hối đoái, chính sách quản lý về đối tượng kinh doanh xuất nhập khẩu, chínhsách quản lý về thuế xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về cán cân thương mại
và cán cân thanh toán quốc tế, chính sách quản lý về tài trợ và bảo hiểm xuấtkhẩu
1.2 Một số công cụ chủ yếu điều tiết hoạt động của chính sách thương mại XNK.
1.2.1 Chính sách thị trường và chính sách mặt hàng.
a) Chính sách thị trường: đây là chính sách có tầm quan trọng đặc biệt
với sự phát triển kinh tế của một quốc gia và với mục đích đề ra là khai thôngnhững cản trở của thị trường Chính sách này chia thị trường thành hai loại nhưsau :
- Với thị trường trong nước chính sách đa ra định hướng cho tập trungnguồn lực để tổ chức sản xuất hàng hoá sao cho phù hợp với nhu cầu của sảnxuất và của thị trường, đồng thời nó đưa ra những quy hoạch và cơ cấu lại cácvùng chuyên canh một cách hợp lí và nâng cao hiệu quả trong sản xuất nôngnghiệp Đảm bảo cho hệ thống lưu thông hàng hoá thông suốt giữa các vùng, cácđịa phương và đảm bảo cho sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hoá cân đốitránh những khủng hoảng và bất ổn trên thị trường Bên cạnh đó chính sách thị
Trang 7trường đa ra để hình thành đồng bộ các loại thị trường và thực hiện chính sáchnhất quán, ổn định để các chủ thể chủ động với các tình thế trên thị trường
- Với thị trường ngoài nước: nó bao hàm những chính sách thúc đẩy xuấtkhẩu và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nh để đa dạng hoá thị trường xuấtkhẩu thì cụ thể cần có chính sách cung cấp các thông tin thị trường cho các nhàxuất khẩu
+ Chính sách thị trường nước ngoài yêu cầu tập trung chú trọng phát triểnnhững thị trường truyền thống đồng thời tiếp cận và phát triển thị trường mới dovậy nhà nước đa ra những chính sách khuyến khích động viên các doanh nghiệptìm kiếm thị trường xuất khẩu, tìm kiếm đối tác nước ngoài của doanh nghịêpnhư chính sách thưởng cho những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng từ 20%trở lên hoặc đa ra chính sách hỗ trợ tăng cường tổ chức các cuộc gặp gỡ tiếp xúcgiữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài
+ Trong chính sách việc tập trung hoạt động nghiên cứu thị trường vàcông tác thông tin về thị trường có ý nghĩa hết sức quan trọng ảnh hởng lớn đếnkhả năng thành công trong công tác XNK của các doanh nghiệp cũng như lợinhuận của họ Vì vậy cần nâng cao hiệu quả của công tác nghiên cứu dự báo thịtrường hiệu quả đảm bảo thông tin thường xuyên, thông suốt, nhiều chiều và cácthông tin dự báo về tình hình thị trường trong nước và quốc tế Kết hợp chặt chẽmạng lới thu thập thông tin chuyên ngành và đa ngành đồng thời ta cũng cầnphải thấy được vai trò của các tham tán và tuỳ viên thương mại trong việc cungcấp thông tin tìm kiếm thị trường nước ngoài
b) Chính sách mặt hàng:
Chính sách mặt hàng là nền tảng của chính sách thương mại quốc gia nóichung cũng như chính sách thương mại XNK nói riêng, nó là cơ sở để xác địnhđầu tư và cơ cấu lại sản xuất một cách hợp lí
Chính sách mặt hàng bao gồm: Chính sách mặt hàng cấp quốc gia đa radanh mục mặt hàng được đa vào cân đối của nhà nước, được nhà nước quản lítập trung Đây là những mặt hàng quan trọng đối với nền kinh tế của một nước
Trang 8như vũ khí, các mặt hàng công nghệ cao Danh mục mặt hàng cấp quốc gia gồm
tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia; những mặthàng xuất khẩu mũi nhọn và những mặt hàng cạnh tranh cấp quốc gia
Trong chính sách này cần xây dựng cơ cấu những mặt hàng xuất khẩu chủlực (mũi nhọn) đó là những mặt hàng có khả năng phát triển sản xuất trong nước
và đa nhanh sản xuất lên cao, có hiệu quả kinh tế nhiều hơn so với loại hàngkhác, có thị trường tiêu thụ rộng rãi, ổn định, vững chắc và lâu dài Những mặt
hàng chủ lực cần thoả mãn được 3 điều kiện; Một là phải chiếm vị trí trọng yếu
trong cơ cấu hàng xuất khẩu, có khối lượng lớn, có giá trị cao trong kim ngạch
XK, nếu là nguyên liệu sản suất thì phải có khả năng đảm bảo cung cấp thườngxuyên cho nhu cầu xuất khẩu, có phẩm chất và giá cả ổn định trong thời giandài, nếu là hàng tiêu dùng thì phải có số lượng lớn và phẩm chất ổn định, gây
thói quen cho ngời tiêu dùng Hai là phải có điều kiện thuận lợi để sản xuất trong nước với chi phí thấp nhất và ngày càng tiến bộ về công nghệ sản xuất Ba
là phải có thị trường tiêu thụ vững chắc và lâu dài, tạo thế chủ động trong việc
trao đổi quốc tế Nếu thiếu một trong 3 điều kiện này thì không thể coi là hàngxuất khẩu chủ lực
Chính sách mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu và chính sách xuất khẩu lànhững măt hàng mà sản xuất trong nước đã đáp ứng được nhu cầu Đó là nhữngmặt hàng dựa trên lợi thế tài nguyên quốc gia, lao động, công nghệ ví dụ như HàLan xuất khẩu hoa, Việt nam XK gạo, Mĩ XK các mặt hàng có hàm lượng côngnghệ cao như con chíp điện tử v.v Lúc đầu nhà nước đa ra chính sách mặt hàngthay thế nhập khẩu sau đó khi năng lực sản xuất đã có, đáp ứng tốt được nhu cầutiêu dùng trong nước thì tiến tới xuất khẩu cùng với những mặt hàng mà trongnước có lợi thế
1.2.2 Chính sách thuế xuất nhập khẩu
Thuế quan là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất nhập khẩuhoặc quá cảnh như vậy là thuế quan bao gồm cả thuế xuất khẩu và thuế nhậpkhẩu
Trang 9Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập khẩu, theo đó
người mua trong nước phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu một khoản lớn
hơn mức mà người xuất khẩu ngoại quốc thu đợc Khác với thuế nhập khẩu thuế xuất khẩu là thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu.Thuế nhập khẩu và
thuế xuất khẩu đều tác động đến giá hàng hoá có liên quan nhưng thuế xuất khẩu
khác thuế nhập khẩu ở hai điểm: Một là, nó đánh vào hàng hoá xuất khẩu chứ không phải hàng hoá nhập khẩu; Hai là, nó làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá
bị đánh thuế vượt quá xa giá cả trong nước (chứ không phải ngược lại), hay nóicách khác nó hạ thấp tương đối mức giá cả trong nớc của hàng hoá có thể xuấtkhẩu xuống so với mức giá cả quốc tế Điều đó sẽ làm cho sản lượng trong nướccủa hàng hoá có thể xuất khẩu giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợicho mặt hàng này (trong một số trường hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làmcho khối lượng xuất khẩu giảm đi nhiều mà vẫn có lợi nhiều cho nước xuấtkhẩu) Vì vậy mà các nước công nghiệp phát triển hiện nay hầu như không ápdụng thuế xuất khẩu cho nên thuế quan ở những nước này thường đồng nhất vớithuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu được áp dụng phổ biến ở các nước, tuy rằngmức thuế có khác nhau Đương nhiên, kết quả kinh tế của thuế nhập khẩu là làmcho giá trị hàng hoá trong nước vượt cao hơn mức giá nhập khẩu và chính ngườitiêu dùng trong nước phải trang trải cho gánh nặng thuế quan này Bởi vậy, việcquy định tỷ lệ thuế nhập khẩu luôn là đề tài quan tâm từ nhiều phương diện
Thuế quan được chia làm 3 loại: thuế quan tính theo giá trị, thuế quan tínhtheo số lượng và thuế quan hỗn hợp nhưng đa số các nước người ta dùngphương pháp tính thuế quan theo giá trị hàng hoá thương mại đây là một loạithuế đánh theo bằng tỉ lệ phần trăm theo giá trị của hàng hoá thương mạ Phầnlớn nội dung các hiệp định thương mại quốc tế đều dùng phương pháp này đểtính thuế
Thuế quan được biết đến từ lâu như một hình thức lâu đời nhất của chínhsách thơng mại và là một công cụ mang tính chất truyền thống làm tăng nguồnthu cho ngân sách nhà nước
Trang 10Thuế xuất nhập khẩu tác động đến hoạt động xuất khẩu trong hai trườnghợp sau:
Thuế nhập khẩu: Xem xét trong trường hợp một nước nhỏ áp dụng thuếđối với nhập khẩu để giảm sức cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu với hàng hoásản xuất trong nước Tại mức giá thế giới Pw, khi không có thuế, nước này sẽsản xuất ở mức So nhu cầu tiêu dùng ở mức Do, do vậy cần phải nhập khẩu mộtkhối lợng là Do-So (hình a) Khi chính phủ đánh thuế nhập khẩu, giá hàng hoátrong nước sẽ tăng lên tới Pw(1+t), cầu tiêu dùng trong nước sẽ giảm xuống D1,sản xuất trong nước sẽ tăng lên S1 và khối lợng hàng nhập khẩu sẽ giảm xuốngcòn D1-S1 Như vậy là đánh thuế nhập khẩu giúp cho sản xuất trong nước tănglên làm giảm lượng cầu về hàng hoá trên thị trường nội địa và tăng thu ngânsách nhà nước phân phối lại thu nhập từ những người tiêu dùng trong nước chonhững ngời sản xuất trong nước (tức là chuyển một phần tiềm năng sản xuấthàng hoá có hiệu quả sang duy trì sản xuất một hàng hoá không hiệu quả)
Thuế xuất khẩu: Khi đánh thuế xuất khẩu, giá cả trong nước sẽ thấp hơngiá cả quốc tế Sản xuất trong nước sẽ giảm từ S0 xuống S1, tiêu dùng trong n-ước sẽ tăng từ Do lên D1, do vậy xuất khẩu sẽ giảm từ So-Do xuống còn S1-D1(xem hình b) Thuế xuất khẩu đã làm giảm khả năng xuất khẩu của hàng hoátrong nước vì vậy mà hiện nay ngời ta ít áp dụng thuế xuất khẩu trừ một số trư-ờng hợp đánh vào các hàng hoá truyền thống nhằm thu được giá sao hơn và tănglợi ích quốc gia
Trang 11Sơ đồ: Tác động của thuế xuất nhập khẩu đến hoạt động xuất khẩu.
1.2.3 Chính sách phi thuế quan
Sau chiến tranh thế giới thứ 2 vai trò của thuế quan đã bị suy giảm đặcbiệt ở các nước công nghiệp, ngày nay mức thuế quan trung bình không quá10% trên các hàng hoá công nghiệp, xu hướng ngày nay của các nước là chuyển
từ hình thức thuế quan sang các hình thức phi thuế quan để bảo vệ sản xuấttrong nước Hạn ngạch là trở ngại phi thuế quan quan trọng nhất nó là hình thứchạn chế lượng trực tiếp đối với hàng hoá nhập khẩu hay xuất khẩu, nó ấn địnhmức nhập khẩu hay xuất khẩu cao nhất của một hàng hoá trong một thời kì nhấtđịnh thông thường qua hình thức cấp giấy phép xuất nhập khẩu Trên thế giớiquản lý bằng hạn ngạch thường chỉ đặt ra đối với hàng nhập khẩu, hạn ngạchnhập khẩu có thể mang tính chất chung nhằm quy định số lượng (hoặc giá trị)nhập khẩu đối với từng nước nhằm bảo vệ thị trường nội địa và cải thiện cán cânthanh toán hoặc là điều kiện để mặc cả trong các cuộc thương lượng buôn bán.Hạn ngạch nhập khẩu là một trong những biện pháp đầu tiên được đề cập đếntrong các cuộc đàm phán thương mại, nhất là khi cần thiết phải có một quyếtđịnh nhanh chóng vẫn đảm bảo tính hiệu quả và việc vận dụng hạn ngạch nhậpkhẩu tương đối đơn giản và dễ dàng hơn vì những quy định khá rõ ràng về lượnghàng và thời gian
Trang 12Ở các nước phát triển hạn ngạch nhập khẩu là hình thức quan trọng nhấtnhằm bảo vệ ngành công nghiệp của họ còn đối với các nước đang phát triểnhạn ngạch nhập khẩu cũng có một vị trí quan trọng không kém nhằm thực hiệnchiến lược thay thế hàng nhập khẩu và giải quyết các vấn đề về cán cân thanhtoán
Cũng như thuế quan, hạn ngạch xuất khẩu ít được sử dụng hơn so với hạnngạch nhập khẩu Biện pháp này thường được áp dụng trong những trường hợpsau:
Đối với những mặt hàng thiết yếu cần đảm bảo an toàn cho thị trườngtrong nước( chẳng hạn mặt hàng gạo đối với Việt Nam)
Những mặt hàng xuất sang các thị trường mà ở đó có quy định hạn ngạch(nh hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang EU và Canada) nhằm tránh tìnhtrạng “cung vượt quá cầu” và bị ép giá
- Nhìn chung, hạn ngạch có một số tác động tương tự như thuế quan ưng giữa chúng có một số điểm khác biệt, thể hiện:
+ Hạn ngạch cho biết trước số lượng hàng hoá xuất khẩu, còn thuế quanthì không
+ Hạn ngạch không đem lại thu nhập cho chính phủ và không có tácdụng hỗ trợ các loại thuế khác
+ Hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp trong nước trở thành nhà độcquyền (trong trường hợp chỉ có doanh nghiệp đó là người duy nhất nhận đượchạn ngạch)
Bên cạnh hạn ngạch nhập khẩu, ngày nay các quốc gia trên thế giới ápdụng một loạt các biện pháp hạn chế thương mại khác ngoài thuế quan gọi làhàng rào thương mại phi thuế quan(Nontariff trade bariers-NBT) Thuộc NBT
có rất nhiều hình thức hạn chế xuất nhập khẩu như:
- Hạn chế xuất khẩu tình nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu mà ở
đó một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng
Trang 13hàng xuất khẩu sang nước mình một cách “ tình nguyện” nếu không họ sẽ ápdụng biện pháp trả đũa kiên quyết
- Những quy định về kỹ thuật, quản lý và các quy định khác là những quyđịnh hoặc tập quán của các quốc gia làm cản sự lưu thông tự do hàng hoá, dịch
vụ và các yếu tố sản xuất giữa các nước
- Những cartels quốc tế là một tổ chức của các nhà cung ứng về một hànghoá nào đó, phân bố ở các quốc gia khác nhau (hay một nhóm khác chính phủ)đồng ý hạn chế sản xuất và xuất khẩu với mục đích cực đại hoá hay tăng lợi tứccủa tổ chức đó
- Bán phá giá (dumping) là xuất khẩu một hàng hoá nào đố thấp hơn giánội địa làm chiếm lĩnh thị trường thế giới Hai điều kiện để các nhà độc quyềnbán phá giá là thị trường cạnh tranh không hoàn toàn và bị chia cắt Thông th-ường bán phá giá chia làm ba loại: bền vững, chớp nhoáng và không thườngxuyên
- Trợ cấp xuất khẩu là một hình thức khuyến khích xuất khẩu do các chínhphủ tiến hành trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhàxuất khẩu quốc gia hay những nhà xuất khẩu có năng lực Bên cạch đó, chínhphủ còn thực hiện một khoản cho vay ưu đãi đối với những bạn hàng nước ngoài
để họ có điều kiện nhập khẩu các hàng hoá xuất khẩu từ quốc gia Như vậy, trợcấp xuất khẩu cũng có thể đợc coi như là một hình thức của bán phá giá
1.2.4 Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái.
Đây là hình thức nhà nước đòi hỏi tất cả các khoản thu chi ngoại tệ phảiđược thực hiện qua hệ thống ngân hàng hoặc cơ quan quản lý ngoại hối Trên cơ
sở đó nhà nước có thể kiểm soát được các nghiệp vụ thanh toán ngoại tệ của cácđơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu để qua đó điều tiết hoạt động ngoại thương
Ví dụ: nhà nước hạn chế việc rút ngoại tệ ở tài khoản để thanh toán hàng
nhập khẩu với các mặt hàng hạn chế nhập khẩu và tạo điều kiện thanh toánnhanh, đơn giản các mặt hàng khuyến khích xuất khẩu
Trang 14- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (The nominal exchange rate - NER):Tỷ giá
hối đoái có thể định nghĩa theo nhiều cách Cách định nghĩa đơn giản nhất, tỷ giá hối đoái danh nghĩa (NER) là giá đồng nội tệ của một đơn vị ngoại tệ Cách
định nghĩa khác, NER là tỷ lệ trao đổi tiền tệ hay tỷ lệ mà hai đồng tiền trao đổivới nhau Một đồng tiền được coi là giảm (tăng) giá trị khi tăng (giảm) đơn vịnội tệ được mua bởi một đơn vị ngoại tệ Tỷ giá hối đoái danh nghĩa có thể đượcxác định chính thức hoặc không chính thức Do vậy, ở trên thị trường khôngđược thừa nhận chính thức hoặc không có một thị trường tương tự Điều này cónghĩa là tỷ giá hối đoái danh nghĩa không nhất thiết phải là duy nhất Thôngthường, có thể có hai tỷ giá danh nghĩa hoặc nhiều hơn cùng được xác định
- Tỷ giá hối đoái thực tế (The real exchange rate - RER): Tỷ giá hối đoáithực tế được sử dụng để đo tỷ lệ trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa nền kinh tếtrong nước và nước ngoài Nó được xác định bởi sự điều chỉnh tỷ giá hối đoáidanh nghĩa theo giá trong nước và nước ngoài
RER = Ro(Pw/Pd)
Trong đó: RER là tỷ giá hối đoái thực tế, Ro là tỷ giá hối đoái danh nghĩa,
Pw là chỉ số giá quốc tế, Pd là chỉ số giá trong nước, hoặc chỉ số giá cả tiêudùng
Khi tỷ giá thực tế tăng, đồng tiền nội tệ giảm giá, và khi tỷ giá thực tếgiảm, đồng tiền nội tệ tăng giá Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giảm dẫn đến sựgiảm giá đồng tiền nội tệ, nhng nếu giá trong nước tăng nhanh hơn giá quốc tế,đồng tiền nội tệ sẽ tăng giá
Tỷ giá thực tế cũng có thể được áp dụng cho hàng hoá phi thương mại màđược đo bằng đơn vị của hàng hoá thương mại Trong ngắn hạn, mối quan hệgiữa tỷ giá thực tế và lợi nhuận của khu vực xuất khẩu và nhập khẩu được giảithích bởi Montiel Xem xét một nền kinh tế bao gồm 3 khu vực: xuất khẩu (X) ,nhập khẩu (Z) và hàng hoá phi thương mại (N) Hoạt động sản xuất cần có lao
Trang 15động và vốn, nhưng trong ngắn hạn , vốn đã được xác định Lợi nhuận cũngnhư mức sản lượng đầu ra tỷ lệ nghịch với chi phí sản phẩm trong từng khu vực.Theo Montiel, tỷ giá thực tế giảm làm giảm chi phí sản phẩm trong khu vực xuấtkhẩu, do vậy làm tăng lợi nhuận ngắn hạn của khu vực xuất khẩu và khuyếnkhích đầu tư phát triển sản xuất xuất khẩu Hơn nữa, chi phí cận biên của khuvực này tăng, việc duy trì tỷ giá hối đoái thực tế giảm sẽ làm tăng đầu tư và dovậy mở rộng quy mô sản xuất xuất khẩu trong dài hạn (độ co giãn xuất khẩutrong ngắn hạn nhỏ hơn trong dài hạn, do vậy cần thiết phải mở rộng quy môkhu vực xuất khẩu).
Tỷ giá hối đoái được coi là một công cụ tác động tới thương mại quốc tế,
mà trước hết là tác động tới xuất nhập khẩu, trong hai trường hợp: nâng giá hoặcgiảm đồng nội tệ
1.2.5 Chính sách cán cân thương mại và cán cân thanh toán
- Cán cân thương mại:
Cán cân kim ngạch xuất nhập khẩu vừa phản ánh “độ mở” của nền kinh tế
sự tiến triển của quốc tế công nghiệp hoá, vừa phản ánh “thể trạng sức khoẻ củanền kinh tế” quốc gia Tuy nhiên vấn đề không chỉ đơn thuần là xuất siêu haynhập siêu mà là những mục tiêu phát triển dài hạn Ví dụ như Hàn Quốc, ĐàiLoan những năm 60, Trung Quốc thập kỷ 80 - khi mà các nước này mới bắt đầutiến hành công nghiệp hoá đều ở trong tình trạng nhập siêu nhưng chỉ ít năm sautrên cơ sở nhập siêu trong trạng thái “nóng” của nền kinh tế nên các nước này đãcân bằng được xuất nhập và chuyển sang xuất siêu (Hàn quốc, Đài Loan đầuthập kỷ 70 Trung quốc đầu thập kỷ 90) Rõ ràng chấp nhận nhập siêu trongtương lai là phương hướng chiến lược và là vấn đề phương pháp luận của việc
sử lý cán cân thương mại của nước ta hiện nay Cố nhiên để thực hiện được ương hướng đó thì phải có điều kiện và những biện pháp đồng bộ
ph Cán cân thanh toán quốc tế:
Trang 16Cán cân thanh toán là một bản trình bày ngắn gọn các nguyên tắc, nhữnggiao dịch của dân cư một quốc gia với một quốc gia khác trong một thời kì nhấtđịnh thường là một năm Hay cán cân thanh toán quốc tế là một bản kết toántổng hợp toàn bộ các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn giữa các quốc gia và các nư-
ớc khác trên thế giới Cán cân thanh toán phản ánh vị trí của quốc gia trên thếgiới Tài liệu cán cân thanh toán biểu hiện một cách chính xác, rõ ràng về tàichính, tiền tệ và chính sách thương mại của quốc gia Đồng thời thông quanguồn tài liệu của cán cân thanh toán giúp chính phủ đề ra những chính sáchkinh tế, đối ngoại phù hợp Ngoài ra cácn cân thanh toán cần thiết cho ngânhàng Công ty, cá nhân có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thương mại quốc
tế trong qua trình kinh doanh của mình
Tuy vậy là một bảng ngắn gọn nên cán cân thanh toán tập hợp tất cả cáchình thức thương mại hàng hoá vào một vài khoản mục chính Có nghĩa là cáncân thanh toán không chia thương mại quốc tế thành những tiêu thức nhỏ cũngnhư vậy tất cả các luồng vốn vào ra của một quốc gia cũng chỉ được phản ánhtrong một khoản mục của cán cân thanh toán Cán cân thanh toán giúp đánh giáđược luồng ngoại tệ ra hoặc vào của một quốc gia với các quốc gia khác trêngiới Cho chúng ta thấy được mối quan hệ về kinh tế giữa hai hay nhiều quốcgia
Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm:
- Cán cân thanh toán vãng lai (trao đổi hàng hoá về dịch vụ) ghi chép cácluồng buôn bán hàng hoá và dịch vụ cũng như các khoản thu nhập ròng khác từnước ngoài
- Cán cân vốn (trao đổi vốn) ghi chép các giao dịch, trong đó tư nhân hoặcchính phủ cho vay và đi vay và phần lớn thực hiện dưới dạng mua hay bán tàisản – tài sản tài chính hoặc tài sản thực
Trang 17Tổng hợp các cán cân thanh toán vãng lai và cán cân vốn là cán cân thànhtoán quốc tế Khi dòng ngoại tệ ra lớn hơn dòng vào gọi là thâm hụt cán cânthanh toán quốc tế Trong trường hợp ngược lại gọi đó là thặng dư cán cân thanhtoán Cán cân vãng lai là tổng hợp các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ đượcthực hiện giữa nước ta với nước ngoài, bao gồm tất cả các hoạt động xuất nhậpkhẩu chênh lệch xuất nhập khẩu chỉ là một thành phần của cán cân vãng lainhưng là phần quan trọng nhất Hiện nay tất cả các nước, các tổ chức quốc tếđều chú trọng biến động của cán cân thanh toán vãng lai.