1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội

27 302 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 481,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ hay siêu thị luôn là câu hỏi mà những người sản xuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội cân nhắc.. Đã có một số nghiên cứu tậ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ TÂN LỘC

NGHIÊN CỨU TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ PHÁT TRIỂN

MÃ SỐ: 62.31.01.05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

Công trình hoàn thành tại:

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn: GS.TS ĐỖ KIM CHUNG

Phản biện 1: GS.TS HOÀNG NGỌC VIỆT

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam Vào hồi giờ, ngày tháng năm 2016

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Trang 3

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ hay siêu thị luôn là câu hỏi mà những người sản xuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội cân nhắc Khâu tiêu thụ sản phẩm luôn là vấn đề khó khăn nhất đối với họ Sự liên kết giữa các tác nhân thành chuỗi cung ứng rau còn lỏng lẻo, chưa bền vững dẫn tới giá cả sản phẩm bán ra thị trường với mức giá không ổn định, bấp bênh, sản xuất đối mặt với nhiều rủi ro, người sản xuất luôn là người chịu thiệt hại nhất Khó khăn này đã diễn ra nhiều năm và đặc biệt nay khó khăn hơn trong điều kiện thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp nên nhiều địa phương chuyển đổi sang trồng rau Việc hình thành chuỗi liên kết là cần thiết và điều này cũng đã được nhấn mạnh trong thông điệp đầu năm 2014 của thủ tướng Chính phủ Mặt khác, có nhiều người tiêu dùng (NTD) muốn mua sản phẩm rau an toàn (RAT) song RAT không dễ dàng phân biệt, nhiều nhà cung ứng còn trà trộn, điểm bán còn để lẫn lộn

Nhìn tổng thể thấy được tiêu thụ rau qua hệ thống chợ và siêu thị đều có những thuận lợi nhất định, trở ngại và khó khăn riêng, và khó khăn lớn nhất là hiện thành phố không dễ dàng dẹp bỏ được những người bán hàng không đúng vị trí quy định và quản lý người bán rong thật khó Rau được tiêu thụ qua hệ thống siêu thị ổn định đã giúp hình thành nên kênh tiêu thụ rau chất lượng Sản xuất theo kế hoạch tiêu thụ mang lại thu nhập ổn định không chỉ cho những người làm công tác thu gom mà cả cho những người sản xuất và NTD cũng hoàn toàn yên tâm với nguồn sản phẩm

Bên cạnh đó, người sản xuất rau trên địa bàn thành phố Hà Nội chịu rất nhiều

áp lực: về tốc độ đô thị hóa, biến đổi khí hậu, nguồn nước, môi trường ô nhiễm cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc

Vậy trong bối cảnh đó, các đối tượng sản xuất rau trên địa bàn thành phố đã thực hiện tiêu thụ sản phẩm của họ làm ra như thế nào? Kênh nào là kênh tiêu thụ phù hợp với họ hiện tại và chiến lược trong tương lai?

Đã có một số nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu những vấn đề về kỹ thuật, thị trường hoặc về tiêu dùng hoặc chỉ tập trung vào RAT song chưa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu từ việc tiêu thụ rau của người sản xuất, để thấy được thuận lợi, khó khăn và giải pháp giúp cho thúc đẩy phát triển tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị, từng bước khắc phục tình trạng bán sản phẩm tại các vị trí không chính thống mà Hà Nội lâu nay chưa giải quyết được

Trang 4

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu chung

Phản ánh hiện trạng và đề xuất các giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội, thông qua

đó góp phần thúc đẩy sản xuất rau phát triển, ổn định tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu

về rau ngày càng cao của NTD Hà Nội

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển tiêu thụ rau thông qua

hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội

1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu

1) Tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị bao gồm các nội dung nào? 2) Những bài học kinh nghiệm nào có thể áp dụng cho thành phố Hà Nội từ thực tiễn tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị của một số nước trên thế giới?

3) Người mua rau tươi tại hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn Hà Nội mong đợi chất lượng rau như thế nào?

4) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ

và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội?

5) Để phát triển tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn Hà Nội, cần áp dụng những giải pháp nào?

1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Đối tƣ ng nghiên cứu

Tập trung vào nghiên cứu tiêu thụ rau của các đối tượng sản xuất khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội thông qua hệ thống chợ và siêu thị

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về nội dung: Nội dung nghiên cứu tập trung vào tiêu thụ rau tươi được sản

xuất tại địa bàn Hà Nội thông qua hệ thống chợ và siêu thị

Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội

Về thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 2002 đến 2014 để thấy rõ sự thay đổi

trong tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống chợ và siêu thị Dữ liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu trong năm 2014 Các giải pháp được đề xuất đến năm 2020 và những năm tiếp theo

Trang 5

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

- Về mặt lý luận và học thuật: Đã hệ thống hóa và làm rõ được những vấn lý luận

và thực tiễn về tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị Tác giả đưa ra khái niệm về tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và hệ thống siêu thị Tất cả góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho các nghiên cứu có liên quan; Làm sáng tỏ nội dung về tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị Thấy được kinh nghiệm quản lý hai hệ thống này ở một số nước trên thế giới, nhất là ở các nước phát triển Nghiên cứu đã xây dựng phương pháp tiếp cận và khung phân tích về thực trạng tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống kể trên Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiện trạng tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống và xác định các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ

- Về thực tiễn: Đã phản ánh rõ hiện trạng tiêu thụ rau tươi thông qua hệ thống

chợ và siêu thị trên địa bàn Hà Nội Phát hiện được đối tượng tiêu thụ rau qua siêu thị thành công hơn cả là các hộ thuộc các HTX kiểu mới và doanh nghiệp nhờ vào công tác tổ chức từ sản xuất đến tiêu thụ Lượng rau tiêu thụ thông qua kênh siêu thị chỉ đáp ứng 3% nhu cầu rau của toàn thành phố Song lượng rau được sản xuất tại Hà Nội chỉ chiếm 70% lượng rau được tiêu thụ tại các siêu thị hiện nay, tức tương đương với 66,5 tấn/ngày, ước đạt 4,04% sản lượng rau của Hà Nội Trong khi đó lượng rau tiêu thụ thông qua hệ thống chợ là 40,31% và cũng lượng như vậy được tiêu thụ thông qua bán rong và những vị trí không chính thống Nghiên cứu đã xác định được

3 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới việc tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị Đồng thời đề xuất được 3 nhóm giải pháp nhằm phát triển tiêu thụ rau thông qua hai

hệ thống Các giải pháp phát triển tiêu thụ rau thông qua hai hệ thống này không chỉ

có ý nghĩa áp dụng thực tiễn đối với ngành hàng rau của Hà Nội mà còn là bài học kinh nghiệm cho các nông sản khác trong cùng địa bàn và các địa phương khác góp phần cải thiện việc quản lý trong tiêu thụ rau và làm đẹp mỹ quan thành phố Kết quả luận án là cơ sở khoa học cho việc định hướng và đưa ra giải pháp phát triển tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị Luận án là kênh cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý của Bộ, Thành phố, các cơ quan tham mưu, các tổ chức nghiên cứu, kinh tế - xã hội và các cá nhân tham khảo.

1.5 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Nội dung chính của luận án: Gồm 6 phần được trình bày trong 150 trang Phần

mở đầu bao gồm 6 trang, phần 2 từ trang 7 đến trang 35, phần 3 từ trang 36 đến trang

54, phần 4 từ trang 55 đến trang 124, phần 5 từ trang 125 đến 146, phần 6 có 4 trang

Trang 6

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 KHÁI NIỆM VỀ TIÊU THỤ VÀ CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN

2.1.1 Khái niệm về tiêu thụ

Tiêu thụ sản phẩm rau là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, kinh doanh rau Là quá trình dịch chuyển sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng và chuyển dần từ trạng thái vật chất sang hình thái tiền tệ Là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của người sản xuất, kinh doanh rau

Gần đây, hình thành phương thức marketing mới là dựa vào nhu cầu của thị trường

để có những quyết định sản xuất và kinh doanh nông nghiệp một cách đúng đắn nhất

2.1.2 Khái niệm về ch , siêu thị và hệ thống ch và siêu thị

Có nhiều khái niệm khác nhau về chợ, song theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP

thì khái niệm về chợ “Là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát

triển mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư";

Thực tế phân chia ra các chợ theo các cách gọi khác nhau: chợ loại 1, chợ loại 2

và chợ loại 3 (quy mô); Chợ quy hoạch và chợ tạm/chợ cóc (Tính chất); Chợ bán buôn và bán lẻ (Loại hình); Chợ kiên cố, bán kiên cố (Hình thức xây dựng) Ngày nay, chợ còn được hiểu rộng hơn đó là thị trường

Tác giả đưa ra khái niệm về Hệ thống chợ là tập hợp các loại chợ có liên quan

với nhau và có sự phân công, phân cấp trên phương diện: dòng lưu chuyển hàng hóa

và phân loại người tiêu dùng cuối cùng

Siêu thị: Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm Thương mại của Bộ Thương mại

Việt Nam (nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004:

“Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên doanh;

Có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất lượng; Đáp ứng các tiêu chuẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; Có các phương thức phục vụ văn minh, thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”;

Theo Kotler and Armstrong (2011), “Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ tương đối

lớn có mức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối lượng hàng hóa bán ra lớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bột giặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa"

Như vậy, dù nhìn nhận siêu thị theo khái niệm nào đi chăng nữa thì đó là mô hình kinh doanh hiện đại, một loại hình mới xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1993 Có siêu thị loại 1, loại 2 và loại 3; Siêu thị bán buôn và bán lẻ Về bản chất có siêu thị của Việt Nam và liên doanh

Từ các khái niệm về siêu thị kể trên, tác giả đưa ra khái niệm về hệ thống siêu

thị: Hệ thống siêu thị là tập hợp các loại siêu thị với quy mô, mức độ khác nhau có sự

phân công, phân cấp về địa điểm, quy mô, doanh số, người bán và người mua

Trang 7

2.2 ĐẶC ĐIỂM TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ

Đặc điểm chung: Các sản phẩm rau tươi được đưa vào tiêu thụ ngay sau khi

thu hoạch, có tỷ lệ nước cao, có khối lượng lớn, cồng kềnh, chiếm nhiều diện tích, dễ dập nát trong quá trình vận chuyển, chi phí bảo quản lớn

Đặc điểm riêng: Đó là 1 kênh truyền thống và 1 kênh hiện đại Chúng có điều

kiện cơ sở hạ tầng và hình thức quản lý khác nhau Đặc biệt là công tác quản lý chất

lượng rau của đơn vị bán hàng và cơ quan nhà nước Như vậy, chúng ta thấy bức

tranh nghịch cảnh giữa hai hệ thống chợ và siêu thị: tự do và yêu cầu chặt chẽ và qua đây khiến chúng ta suy nghĩ: ai là người sản xuất có thể tiếp cận để bán được hàng vào siêu thị? Tỷ trọng rau Hà Nội bán theo từng hệ thống?

2.3 THỰC TIỄN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

VÀ Ở VIỆT NAM

2.3.1 Tại một số nước trên thế giới

Nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua chợ và siêu thị của một số nước trên thế giới

đã có được bài học về sự cần thiết của hệ thống chợ bên cạnh vai trò quan trọng của

hệ thống siêu thị Tại các nước phát triển, tiêu thụ rau chủ yếu thông qua kênh siêu thị song hiện nay họ thấy được sự cần thiết của hệ thống chợ nên việc duy trì hệ thống chợ nông sản trong lòng địa bàn thành phố đã bổ sung và cùng nhau đáp ứng nhu cầu

đa dạng của NTD Đồng thời chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện cho các loại chợ không chính thức hoạt động Thấy được một trong những yếu tố quan trọng là tổ chức ngành hàng chặt chẽ của siêu thị với các nhà cung ứng và hạn chế tối đa các khâu trung gian Khuyến khích người sản xuất bán hàng trực tiếp cho NTD tại các chợ nông sản Tất cả các nguồn rau tại chợ và siêu thị cùng được kiểm soát

2.3.2 Tại một số địa phương ở Việt Nam

Tiêu thụ rau qua chợ là kênh tiêu thụ truyền thống, đã diễn ra từ bao đời nay đáp ứng nhu cầu của người sản xuất và NTD Hệ thống chợ nằm rải rác ở khắp các địa phương, tùy theo từng địa bàn mà quy mô chợ khác nhau song đến nay việc tiêu thụ rau tại chợ vẫn là kênh chủ lực Tiêu thụ rau thông qua siêu thị mới xuất hiện tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM kể từ khi có chương trình sản xuất RAT có sản phẩm (1997) và sau đó bắt đầu lan ra các thành phố khác như Đà Nẵng, Vinh, Hải Dương… Lượng rau tiêu thụ được thông qua hệ thống siêu thị còn rất nhỏ Ví dụ tại

Hà Nội luôn chỉ đáp ứng dưới 5% so với tổng nhu cầu rau của toàn thành phố trong suốt những năm qua Mặc dù vậy, việc hình thành tiêu thụ rau thông qua hệ thống siêu thị rất có ý nghĩa trong việc hình thành kênh tiêu thụ chất lượng Do đó, để từng bước phát triển, các địa phương vẫn cần duy trì song song cả hai hệ thống chợ và siêu thị nhằm cùng nhau đáp ứng nhu cầu rau đa dạng của NTD

Trang 8

2.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống

ch và siêu thị cho Hà Nội, Việt Nam

Qua nghiên cứu thực tiễn về tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam, thấy rằng để đáp ứng nhu cầu của các tầng lớp nhân dân và nhu cầu đa dạng của NTD, Hà Nội cần: Duy trì cả hai hệ thống chợ

và siêu thị; Quản lý chất lượng rau trên địa bàn thành phố, đặc biệt tại hệ thống chợ; Luôn tính đến khả năng tham gia của người nghèo vào chuỗi giá trị rau; Quản lý người bán hàng trên địa bàn thành phố, tại các chợ cũng như việc xây dựng, cải tạo

và nâng cấp chợ cần được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau giúp nâng cao hiệu quả của việc khai thác chợ và thu hút họ hoạt động trong chợ; Đặc biệt thúc đẩy liên kết giữa các tác nhân trong ngành hàng rau nhằm duy trì quan hệ giữa người sản xuất và người kinh doanh bền vững ở cả hai hệ thống

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

Hà Nội là một địa bàn có vùng sản xuất rau lớn tại các huyện ngoại thành và có thị trường tiêu thụ khối lượng rau rất lớn Diện tích gieo trồng rau của Hà Nội có xu hướng tăng dần, đạt kỷ lục 30.040 ha (2013), nhưng sản lượng rau đạt kỷ lục vào năm

2015 là 655 nghìn tấn Các chủng loại rau được sản xuất tại Hà Nội đa dạng, khoảng

40 loại, tuy nhiên, chủ yếu sản xuất rau theo mùa, phần sản xuất rau trái vụ chưa được nhiều do chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết Địa bàn Hà Nội có 3 đối tượng tham gia sản xuất rau chủ yếu: hộ nông dân thuộc các HTX NN hoặc HTX DV NN quản lý (gọi chung là HTX NN); Hộ nông dân thuộc các HTX kiểu mới hoặc nhóm sản xuất rau hữu cơ (RHC) và từ 2008 có xuất hiện các doanh nghiệp

Hà Nội với đa dạng kênh phân phối rau như chợ truyền thống, người bán rong và

từ sau 1993 xuất hiện các cửa hàng tự chọn và siêu thị nên từ 1997 đã có RAT được bán tại các hệ thống kênh phân phối hiện đại Hai hệ thống chợ và siêu thị được thành phố xác định là hai kênh tiêu thụ chính thống Tuy nhiên, tiêu thụ rau đang chịu tác động từ nhiều khía cạnh (thói quen mua, suy giảm kinh tế, chuyển đổi mạng lưới chợ…) nên những người kinh doanh rau chuyên nghiệp cũng như người sản xuất phải đối mặt với nhiều khó khăn Trong bối cảnh đó, kênh siêu thị đang được ủng hộ để phát triển nên có sự cạnh tranh ngày càng rõ khi số lượng điểm bán RAT tại các cửa hàng và siêu thị ngày càng gia tăng

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Phương pháp tiếp cận

Nghiên cứu áp dụng các phương pháp tiếp cận như theo chuỗi cung ứng; theo các hình thức tổ chức sản xuất và tiêu thụ; Theo vùng địa l‎ý; Tiếp cận theo khu vực công và tư nhân và tiếp cận hệ thống

Trang 9

 Nguồn và đối tượng cung

 Chủng loại và khối lượng tiêu thụ

 Đối tượng bán và khách hàng

 Giá bán và hình thức thanh toán

 Rủi ro của người bán và người mua

 Kết quả hoạt động tiêu thụ rau

Tiêu thụ rau thông qua

hệ thống ch và siêu thị Nguồn cung ứng

- Đặc điểm của các đối

tượng tham gia sản xuất

- Sự liên kết trong sản xuất

và tiêu thụ rau

2 Nhóm nhân tố đầu tư công

- Hỗ trợ cho sản xuất rau và RAT

- Hỗ trợ cho tiêu thụ rau và RAT

- Thói quen mua

- Tiêu chí lựa chọn địa điểm và sản phẩm

1 Giải pháp tạo nguồn

cung đảm bảo

- Đổi mới quy hoạch vùng

sản xuất rau và RAT,

- Cải thiện hiện trạng của các

đối tượng tham gia sản xuất

- Xây dựng và phát triển liên

kết trong sản xuất và tiêu thụ

rau

Nhóm những nhân tố ảnh hưởng tới thiêu thụ rau thông qua hệ thống ch và siêu thị

Nhóm giải pháp thúc đẩy tiêu thụ rau thông qua hệ thống ch và siêu thị

trên địa bàn TP Hà Nội

2 Giải pháp tiếp tục hỗ tr đầu tư công cho sản xuất

và tiêu thụ rau và RAT

- Đầu tư cho sản xuất rau và RAT

- Đầu tư cho tiêu thụ rau và RAT

- Khuyến khích thực hiện các chính sách quản lý chất lượng và tiêu thụ rau qua hợp đồng

3 Giải pháp thúc đẩy tiêu dùng rau

- Cung cấp đầy đủ thông tin cho NTD qua các kênh khác nhau

- Quảng bá giúp NTD nhận diện sản phẩm

Trang 10

3.2.3.Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Đối với người sản xuất: 5 huyện được chọn đại diện theo phương pháp chọn có

chủ đích là Gia Lâm, Hoài Đức, Thanh Trì, Đông Anh và Sóc Sơn Từ các địa bàn này chọn các đối tượng là các hộ gia đình sản xuất rau tại các HTX NN và HTX mới hay nhóm sản xuất RHC Chọn các doanh nghiệp có sự linh hoạt hơn do các doanh nghiệp nằm rải rác tại các địa bàn khác nhau

Đối với người kinh doanh: Chọn đại diện 04 chợ bán buôn (chợ nội thành:

Long Biên, Đền Lừ, Minh Khai); chợ ngoại thành: Vân Nội); 05 chợ bán lẻ tại khu vực nội thành (Chợ Hôm (chợ cũ), Nghĩa Tân (chợ mới), chợ 19/12 (mới chuyển đổi), chợ Gia Lâm (quận mới), chợ tạm tại phường Kim Liên và 02 chợ khu vực ngoại thành như chợ Vàng và chợ tạm tại khu đô thị Đặng Xá Các chợ trên là đại diện cho chợ quy hoạch, chợ tạm Chọn 06 siêu thị đại diện cho các siêu thị bán buôn, bán lẻ với các quy mô khác nhau và bản chất của chúng là các siêu thị liên doanh hoặc của Việt Nam

Người mua rau tại các chợ và siêu thị: Được chọn tại 11 chợ và 06 siêu thị kể trên

3.2.4 Phương pháp thu thập thông tin và dữ liệu

Thông tin thứ cấp: Là các thông tin đã công bố qua các nguồn khác nhau như

báo cáo, số liệu thống kê, báo, internet có liên quan đến nội dung nghiên cứu

Thông tin sơ cấp: Được thu thập bằng 4 phương pháp: Điều tra chọn mẫu, phỏng

vấn sâu, lấy ý kiến chuyên gia và quan sát ngoài thực tế Các cuộc khảo sát và phỏng vấn trực tiếp các đối tượng được thông qua các bản câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn

Số lượng mẫu được khảo sát cụ thể như sau: 138 hộ sản xuất rau, trong đó: (i)

120 hộ thuộc 4 HTX DV NN và HTX NN; (ii) 13 hộ thuộc 3 HTX kiểu mới; (iii) 05 hộ thuộc nhóm sản xuất RHC 04 doanh nghiệp (ở các hình thức khác nhau) 158 người bán rau thuộc 11 chợ và 06 siêu thị đã được lựa chọn 170 người mua rau tại các chợ và siêu thị kể trên Đồng thời trao đổi trực tiếp với 09 Ban quản lý (BQL) chợ, 07 Ban giám đốc (BGĐ) HTX, 01 liên trưởng nhóm sản xuất RHC và 01 nhóm trưởng nhóm RHC Có tham quan tại nhiều điểm sản xuất và kinh doanh khác trong toàn thành phố

Nội dung phiếu điều tra các đối tượng đề cặp đến các khía cạnh khác nhau tùy từng đối tượng là người sản xuất, thu gom, bán buôn, bán lẻ, NTD; BGĐ các HTX, các trưởng nhóm và liên trưởng nhóm sản xuất RHC, doanh nghiệp, các siêu thị

3.2.5 Phương pháp tổng h p thông tin và xử lý dữ liệu

Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel

Các phương pháp phân tích được áp dụng như thống kê mô tả; Phương pháp phân tổ thống kê; Phương pháp so sánh và phương pháp SWOT để thấy được sự khác nhau của các các đối tượng sản xuất, kênh tiêu thụ và hệ thống chung cho quy mô toàn thành phố

3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các nhóm chỉ tiêu như thể hiện nguồn cung cấp rau (Số

Trang 11

chủng loại rau được sản xuất, diện tích gieo trồng rau, Tỷ lệ rau được tiêu thụ qua các kênh khác nhau, giá bán và số lượng các đơn vị cung cấp rau); Thể hiện tiêu thụ rau tại chợ và siêu thị (Diện tích giành cho việc bày bán rau/điểm; Số lượng chủng loại rau được bán; Khối lượng rau được tiêu thụ/ngày; Giá bán; Số lượng phương tiện vận chuyển sản phẩm được sử dụng; Số lần kiểm tra, kiểm soát nguồn rau tại các hệ thống bán); và các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ (Diện tích vùng sản xuất rau và RAT được quy hoạch; Số lượng GCN RAT hoặc VietGAP được cấp; Chính sách quản lý sản xuất, tiêu thụ và chất lượng rau ra đời; Số điểm bán RAT của thành phố;

Tỷ lệ rau bán được thông qua hợp đồng; Tỷ lệ sản phẩm được cung ứng thông qua liên kết sản xuất và tiêu thụ thông qua liên kết; Số lượng chợ được cải tạo, xây mới;

Số lượng siêu thị tại từng giai đoạn và Số lần mua rau/tuần)

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 THỰC TRẠNG TIÊU THỤ RAU THÔNG QUA HỆ THỐNG CHỢ VÀ SIÊU THỊ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

4.1.1 Hệ thống ch và siêu thị trên địa bàn thành phố

Hiện nay, trên toàn địa bàn thành phố có 411 chợ, trong đó đã có 380 chợ được phân hạng: 12 chợ loại I, 69 chợ loại II và 299 chợ loại III Các chợ này được phân

bố rải rác khắp các quận, huyện trên địa bàn thành phố Tuy nhiên, chợ loại I chỉ có ở một số huyện và quận trung tâm Trong số 12 chợ loại I, có 8 chợ hiện đang hoạt động với hình thức chợ đầu mối có bán các sản phẩm rau Với sự phân bố như hiện nay, mạng lưới chợ đã rất thuận lợi cho cả người bán và người mua hoạt động

Số lượng siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng luôn ở trạng thái gia tăng song RAT chỉ được bán tại các siêu thị tổng hợp Tính đến tháng 6/2014 có 156 siêu thị, trong đó có 87 điểm bán rau trên toàn thành phố Một số kênh siêu thị chính đó là Metro Casch & Carry, Big C, Intimex, Fivimart…thuộc các siêu thị liên doanh và của Việt Nam Chúng bao gồm cả siêu thị bán buôn và bán lẻ Trong 5 năm gần đây, các siêu thị đã nỗ lực trong việc cung ứng rau nên chủng loại rau khá phong phú, khối lượng bán gia tăng và ngày càng thu hút nhiều NTD mua rau tại siêu thị

4.1.2 Nguồn và đối tƣ ng cung rau

Về nguồn rau tại thị trường Hà Nội Nguồn rau được sản xuất tại Hà Nội mới

đáp ứng được 52% nhu cầu rau của toàn thành phố, nên thành phố Hà Nội vẫn thiếu rau, nhất là các tháng mùa mưa Lượng rau bổ sung vào Hà Nội từ các tỉnh lân cận, các vùng chuyên canh và nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc Các chủng loại rau nhập khẩu chủ yếu là cà chua, cải bắp, cải thảo, khoai tây… (Trung Quốc) và khoai tây (Mỹ - vào các siêu thị) Mặc dù thiếu, rau được sản xuất tại Hà Nội vẫn được đưa đến một số địa bàn khác trong nước ở vụ đông và xuất khẩu (chủ yếu rau gia vị) Cụ thể thông tin được mô phỏng qua sơ đồ 4.1

Trang 12

Nguồn bổ sung rau vào Hà Nội

(48-50% nhu cầu rau của Hà Nội)

Ước từ 553.846 đến 600.000 tấn/năm)

Chuyển rau ra khỏi Hà Nội

(4,5-7,0% sản lượng rau của Hà Nội)

(Ước từ 27.000 đến 42.000 tấn/năm)

Sơ đồ 4.1 Tóm tắt nguồn cung rau tại thị trường Hà Nội và rau Hà Nội

cung ứng cho địa bàn khác (ngoài Hà Nội)

Đối tượng tham gia cung ứng rau: Trên địa bàn Hà Nội có ba đối tượng tham

gia sản xuất cung ứng rau ra thị trường đó các hộ thuộc các HTX NN, HTX kiểu mới

và nhóm sản xuất RHC và doanh nghiệp Bằng cách xác định các thành phần tham gia sản xuất trên từng địa bàn và tham khảo thống kê số lượng hộ tham gia sản xuất rau của Sở NN và PTNT Hà Nội, tính toán được các số liệu phản ánh tại bảng 4.1

Bảng 4.1 Tỷ lệ diện tích và sản lư ng rau của các đối tư ng

tham gia sản xuất rau trên địa bàn Hà Nội

ĐVT: %

và HTX DV NN

Hộ tại HTX kiểu mới và nhóm

Doanh nghiệp

1 Tỷ lệ diện tích rau sản xuất

trên toàn thành phố

Đối tượng tham gia cung ứng rau tới hệ thống chợ và siêu thị có sự khác nhau,

đó là các nhà cung ứng vào siêu thị phải do siêu thị đã lựa chọn, còn tại chợ, ai có sản phẩm nào hoặc có khả năng kinh doanh đều có thể tham gia Tại chợ bán buôn và bán

lẻ, tiêu chí chính lựa chọn nhà cung ứng là giá bán và bề ngoài sản phẩm, còn các tiêu chí khác như độ an toàn của rau (GCN) thì không ai yêu cầu Tại các siêu thị, có 6 tiêu chí lựa chọn nhà cung ứng được đặt ra là: giá, độ an toàn (GCN), mức độ đa dạng của chủng loại rau, Tình trạng pháp lý của nhà cung ứng, lượng hàng/lần giao, bề ngoài của rau và ngoài ra còn có siêu thị quan tâm đến mức độ chuyên nghiệp của nhà cung ứng (đóng gói, giao hàng đúng giờ…) Từ 2012 trở lại đây, các siêu thị quan tâm nhiều đến

Thị trường rau Hà Nội

Nhập khẩu (Trung Quốc, Mỹ…)

Từ các tỉnh lân cận và các

vùng chuyên canh rau

(Hưng Yên, Bắc Ninh, Vĩnh

Phúc… Lâm Đồng, Sơn La )

Rau đư c sản xuất

tại Hà Nội

Xuất khẩu (Hàn Quốc, Pháp…)

Đến các tỉnh Đông Bắc & miền Trung

(Quảng Ninh, Nghệ An,…)

Đến các tỉnh Tây Bắc

( Lào Cai, Sơn La, Lai Châu…)

Trang 13

tiêu chí an toàn thay bằng tiêu chí về giá được ưu tiên so với trước đây

Nguồn hàng rau tới hệ thống chợ và siêu thị: Tóm tắt sơ đồ tiêu thụ rau thông qua các kênh tại hệ thống chợ như sơ đồ 4.2

Sơ đồ 4.2 Tóm tắt các kênh tiêu thụ rau thông qua hệ thống ch tại Hà Nội

Nguồn rau được sản xuất ra trên địa bàn Hà Nội được đưa đến các chợ chủ yếu bởi các hộ thuộc các HTX NN, phần do các hộ thuộc các HTX kiểu mới và doanh nghiệp không đán kể, chỉ là phần dôi dư so với kế hoạch hoặc rau không đủ tiêu chuẩn bán vào siêu thị hoặc bếp ăn

Tóm tắt nguồn hàng cung ứng đến kênh siêu thị trên địa bàn thành phố (sơ đồ 4.3)

Sơ đồ 4.3 Tóm tắt nguồn rau tới hệ thống siêu thị tại Hà Nội

Nguồn rau tươi tới các siêu thị hiện tại bao gồm chủ yếu nguồn rau được sản xuất tại Hà Nội Ước nguồn từ Hà Nội được bán tại các siêu thị chiếm 70% tổng lượng rau do các siêu thị bán được Chủ yếu là các loại rau ăn lá theo mùa

Quan hệ giữa nhà cung ứng và người kinh doanh: Tại các chợ bán buôn có

62,5% những người thu gom, bán buôn thường duy trì quan hệ thường xuyên Tỷ lệ này là 68% tại các chợ bán lẻ Có 25% người được hỏi lại không muốn duy trì việc trao đổi thường xuyên vì lo rằng khi người bán có rau xấu vẫn nài ép mua, tỷ lệ này ở chợ bán lẻ là 29% Số còn lại cho rằng thuận mua, vừa bán Giữa họ thường không có những bản hợp đồng, nếu họ đã quen biết chỉ cần thoả thuận miệng Đối với các siêu thị, 100% mong muốn duy trì quan hệ thường xuyên và việc mua bán thông qua hợp đồng, thời hạn ký kết thường là 1 năm Các chỉ tiêu về tiêu chuẩn sản phẩm cũng được đề cặp tại các phụ lục hợp đồng

Người bán

lẻ (Tại ch bán lẻ)

Người

sản

xuất

Người thu gom

Người bán

buôn (Tại ch bán buôn

Người tiêu dùng

hàng RAT

Người thu gom

(HTX, Doanh nghiệp)

Người bán buôn

(Ch bán buôn)

Người tiêu dùng

Ngày đăng: 06/06/2016, 15:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Khung phân tích tiêu thụ rau thông qua hệ thống ch  và siêu thị - Nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hình 3.1. Khung phân tích tiêu thụ rau thông qua hệ thống ch và siêu thị (Trang 9)
Sơ đồ 4.1. Tóm tắt nguồn cung rau tại thị trường Hà Nội và rau Hà Nội - Nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội
Sơ đồ 4.1. Tóm tắt nguồn cung rau tại thị trường Hà Nội và rau Hà Nội (Trang 12)
Bảng 4.7. Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của các đối tƣ ng tham gia sản xuất - Nghiên cứu tiêu thụ rau thông qua hệ thống chợ và siêu thị trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 4.7. Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của các đối tƣ ng tham gia sản xuất (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w