50 Bảng 4.12 Ý kiến của công dân về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại UBND Huyện Đại Từ.. Đánh giá ý kiến của cán bộ địa chính và người sử
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
ĐỖ THỊ QUỲNH
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ MỘT CỬA
VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI CỦA HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN
GIAI ĐOẠN 2008 - 2013”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai Khoa : Quản lý tài nguyên
Khoá học : 2010 - 2014 Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Yến
Khoa Quản lý tài nguyên - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là khâu cuối cùng và rất quan trọng của mỗi sinh viên trong quá trình học tập Qua đó giúp cho mỗi sinh viên có đủ điều kiện củng cố lại kiến thức đã học trong nhà trường và ứng dụng trong thực tế, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác có thể vững vàng khi ra trường Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự phân công của khoa Tài nguyên và Môi trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em được về thực tập tại phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đại Từ – tỉnh Thái Nguyên với
khóa luận: “Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế một cửa về quản lý đất đai
của huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 -2013”
Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo đã giảng dạy em trong suốt quá trình học tập Đặc biệt là cô giáo
TH.s Nguyễn Thị Yến , người đã trực tiếp hướng dẫn để em hoàn thành khóa
luận này
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới các bác, các anh, các chị trong phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đại Từ đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ
em hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian thực tập
Em xin cảm ơn tất cả bạn bè, người thân và gia đình đã giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu khóa luận
Do điều kiện thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bài khóa luận của
em không tránh khỏi những thiếu sót Em mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy các cô và bạn bè để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm
Sinh viên
ĐỖ THỊ QUỲNH
Trang 310 TT- BTNMT Thông tư bộ tài nguyên môi trường
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tăng trưởng giá trị sản xuất qua các năm (theo giá cố định 29
Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Đại Từ 32
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2008 42
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2009 43
Bảng 4.6 Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2010 44
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2011 45
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2012 46
Bảng 4.9 Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2013 47
Bảng 4.10 Kết quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại huyện Đại Từ - từ 2008 đến 2013 48
Bảng 4.11: So sánh kết quả trước và sau khi thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ 50
Bảng 4.12 Ý kiến của công dân về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại UBND Huyện Đại Từ 52
Bảng 4.13 Ý kiến của cán bộ về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại UBND Huyện Đại Từ 54
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà
nước về đất đai tại huyện Đại Từ năm 2008 42 Hình 4.2: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà
nước về đất đai tại huyện Đại Từ năm 2009 43 Hình 4.3: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà
nước về đất đai tại huyện Đại Từ năm 2010 44 Hình 4.4: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà
nước về đất đai tại huyện Đại Từ năm 2011 45
Vẽ lại hình này lấy số liệu bảng trên Error! Bookmark not defined
Hình 4.5: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà
nước về đất đai tại huyện Đại Từ năm 2012 46 Hình 4.6: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà
nước về đất đai tại huyện Đại Từ năm 2013 48 Hình 4.7: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà
nước về đất đai tại huyện Đại Từ giai đoạn 2008-2013 49 Hình 4.8: Kết quả trước và sau khi thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý
hành chính nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ 51
Trang 6
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
MỤC LỤC v
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Khái quát về quản lý nhà nước về đất đai 3
2.1.1 Khái niệm “ quản lý nhà nước về đất đai” 3
2.1.2 Các quy định chung trong quản lý nhà nước về đất đai 3
2.1.3 Căn cứ pháp lý trong quản lý nhà nước về đất đai 7
2.1.4 Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam 9
2.2 Tìm hiểu cơ chế một cửa 14
2.2.1 Khái niệm “ một cửa” 14
2.2.2 Các quy định chung về cơ chế một cửa 15
2.2.3 Căn cứ pháp lý về cơ chế “một cửa” 17
2.3 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 17
2.3.1.Kinh nghiệm thực hiện cơ chế một cửa của Indonesia 17
2.3.2 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Bồ Đào Nha 18
2.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 19
2.4 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Việt Nam 20
2.5 Quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” về quản lý đất đai tại huyện Đại Từ 20
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
Trang 73.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Địa điểm 22
3.3 Nội dung nghiên cứu 22
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và quản lý sử dụng đất của huyện Đại Từ 22
3.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại huyện Đại Từ giai đoạn 2008 - 2013 22
3.3.3 Thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân tồn tại và một số giải pháp trong quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” tại huyện Đại Từ giai đoạn 2008 - 2013 23
3.3.4 Đánh giá ý kiến của cán bộ địa chính và người sử dụng đất về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thông tin 23
3.4.2 Phương pháp xử lý, tổng hợp , phân tích số liệu 24
3.4.3 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài24 Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và quản lý sử dụng đất của huyện Đại Từ 25
4.1.1 Đặc điểm về tự nhiên 25
4.1.2 Các nguồn tài nguyên 26
4.1.3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên 28
4.1.4 Điều kiện kinh tế, xã hội của huyện Đại Từ 28
4.1.5 Tình hình quản lý và sử dụng đất của huyện Đại Từ 34
4.2 Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại huyện Đại Từ tỉnh thái nguyên giai đoạn 2008 - 2013 40
4.2.1 Quá trình triển khai đề án “một cửa” tại huyện Đại Từ 40
4.2.2.Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại huyện Đại Từ lĩnh vực tài nguyên và môi trường giai đoạn 2008-2013 41
4.2.3 So sánh kết quả trước và sau khi thực hiện cơ chể “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ 50
Trang 84.3 Đánh giá ý kiến của cán bộ, công dân về việc thực hiện cơ chế “một
cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại Huyện Đại Từ 51
4.3.1 Đánh giá ý kiến của công dân về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại Huyện Đại Từ 51
4.3.2 Đánh giá ý kiến của cán bộ phòng về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại Huyện Đại Từ 53 4.3.3 Đánh giá chung tình hình thực hiện cơ chế một cửa tại huyện Đại Từ 55 4.4 Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác cải cách hành chính và công tác thực hiện cơ chế “một cửa” về quản lý đất đai tại huyện Đại Từ 57
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
Trang 9Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với lịch sử phát triển của đất nước, công tác quản lý đất đai của nước ta đang ngày càng hoàn thiện Trong những năm vừa qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, cải cách hành chính (CCHC) đã được triển khai, từng bước đi vào chiều sâu và đã góp phần tích cực vào những kết quả, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên so với yêu cầu của đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhất là trong bối cảnh hiện nay Việt Nam đã chính thức ra nhập WTO, đang tích cực hội nhập vào kinh tế khu vực
và toàn cầu thì chúng ta phải cải cách mạnh mẽ hơn nữa nền hành chính Nhà nước mới có thể nâng cao được sức cạnh tranh của nền kinh tế, nhanh chóng thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa Ngày nay, cải cách hành chính đang là vấn đề mang tính toàn cầu Cả các nước phát triển và đang phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội Ở nước ta, cải cách hành chính là một trong những yếu tố hết sức quan trọng, được toàn Đảng, toàn dân đặc biệt quan tâm, chú ý Bởi hành chính tốt, thông suốt thì mang lại hiệu quả tạo điều kiện cải thiện đời sống nhân dân; hành chính không tốt, trước hết người dân phải chịu thiệt thòi, không thể đảm bảo ổn định chính trị Sau nhiều năm thực hiện với những bước đi và lộ trình khác nhau cải cách hành chính ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ góp phần bảo đảm cho sự phát triển và ổn định đất nước
Hòa chung với sự đổi mới của đất nước, huyện Đại Từ đang từng bước
cố gắng hoàn thiện các chính sách về cải cách hành chính, và một trong những lĩnh vực được các cấp lãnh đạo quan tâm đó là cải cách hành chính trong vấn đề quản lý Nhà nước về đất đai Trong những năm qua, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước huyện Đại Từ đã đề ra phương án thực hiện cơ chế “một cửa” nhằm đưa công tác quản lý đất đai ở các cấp đi vào nề nếp, bước đầu đã đạt được một số thành tựu đáng kể Tuy nhiên đây là vấn đề còn mới mẻ nên trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn
Trang 10Xuất phát từ những vấn đề nói trên: Được sự nhất trí của BGH nhà trường Đại học Nông Lâm và ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Th.s Nguyễn Thị Yến tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế một cửa về quản lý
đất đai của huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008 - 2013”
1.2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế một cửa trong quản lý Nhà nước
về đất đai của huyện đại từ tỉnh thái nguyên giai đoạn 2008- 2013 Tìm hiểu thuận lợi, khó khăn và những nguyên nhân tồn tại khi thực hiện cơ chế một cửa trong công tác quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại huyện đại từ
Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác thực hiện cơ chế một cửa về quản lý đất đai của huyện đại từ
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Khái quát về quản lý hành chính nhà nước về đất đai và cơ chế “một cửa”
- Xem xét tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính Nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ tỉnh thái nguyên giai đoạn 2008 - 2013 Tìm hiểu thuận lợi, khó khăn và những nguyên nhân tồn tại khi thực hiện cơ chế “một cửa” trong công tác quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác cải cách hành chính và công tác thực hiện cơ chế “một cửa” về quản lý đất đai tại huyện Đại Từ
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Đây là cơ hội cho bản thân củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường, đồng thời là cơ hội áp dụng lý thuyết đã học vào thực tiễn Giúp bản thân rèn luyện kĩ năng, nghiên cứu sau khi ra trường
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác cải cách hành chính và công tác thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái quát về quản lý nhà nước về đất đai
2.1.1 Khái niệm “ quản lý nhà nước về đất đai”
- Khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một
hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định
- Khái niệm “quản lý nhà nước về đất đai”: quản lý nhà nước về đất đai
là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch
2.1.2 Các quy định chung trong quản lý nhà nước về đất đai
2.1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Thống kê, kiểm kê đất đai
- Quản lý tài chính về đất đai
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
Trang 12- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai
- Giải quyết các tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý, sử dụng đất đai
2.1.2.2.Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai
- Nguyên tắc thống nhất về quản lý nhà nước: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý
- Nguyên tắc phân cấp gắn liền với các điều kiện bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ: Cơ quan địa chính ở trung ương và địa phương chịu trách nhiệm trước Chính phủ và cơ quan chính quyền cùng cấp trong quản lý nhà nước về đất đai
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền phải tuân thủ quy định của pháp luật và thực hiện quyền chủ sở hữu toàn dân về đất đai
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với địa phương và vùng lãnh thổ: có sự hài hoà giữa quản lý theo lãnh thổ và quản lý theo chuyên ngành
- Nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử: quản lý nhà nước của chính quyền phải tuân thủ việc kế thừa các quy định của luật pháp của Nhà nước
trước đây, cũng như tính lịch sử trong quản lý đất đai qua các thời kỳ
2.1.2.3 Vai trò quản lý nhà nước về đất đai
- Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả
- Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, Nhà nước nắm được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất
- Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai
- Phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm
2.1.2.4 Công cụ quản lý nhà nước về đất đai
- Công cụ pháp luật Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và các nghĩa vụ khác
- Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai: trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong công tác quản lý nhà nước về đất đai
Trang 13- Công cụ tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế - xã hội
2.1.2.5 Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai
- Phương pháp hành chính: là phương pháp tác động mang tính trực tiếp Phương pháp này dựa vào mối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý, mà thực chất đó là mối quan hệ giữa quyền uy và sự phục tùng
- Phương pháp kinh tế: là phương pháp tác động gián tiếp lên đối tượng
bị quản lý không trực tiếp như phương pháp hành chính
- Phương pháp tuyên truyền, giáo dục: là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và lòng nhiệt tình của họ trong quản lý đất đai nói riêng và trong hoạt động kinh
kế - xã hội nói chung
*Cơ sở khoa học và thực tiễn về công tác quản lý và sử dụng đất đai
Trong những năm vừa qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chính sách, văn bản pháp luật quy định chế độ quản lý sử dụng đất đai, đó chính là cơ sở khoa học và pháp lý của công tác quản lý và sử dụng đất đai Quyền sở hữu đất đai được Nhà nước ta khẳng định qua các Hiến pháp từ năm 1980 đến Hiến pháp năm 1992 và Luật đất đai năm 1988 đến Luật đất đai năm 1993 như sau: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý” (Điều 1 Luật Đất đai 1993)
Cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương đã được thành lập vào năm 1958,
cơ quan đo đạc và xây dựng bản đồ được thành lập một năm sau đó, năm 1959 Đến năm 1964 Chính phủ đã quyết định thành lập Tổng cục Địa chính - cơ quan này trực thuộc Chính phủ, thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước về đất đai và đo đạc bản đồ trên phạm vi cả nước Hệ thống tổ chức cơ cấu ngành Địa chính cũng đã được thành lập ở 4 cấp: Trung ương, Tỉnh, Huyện, Xã
Cơ sở khoa học của công tác quản lý sử dụng đất được thể hiện cụ thể thông qua các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành
+ Thông tư 735/NN/ĐC ngày 24/10/1994 của Bộ Nông Nghiệp về “Kiểm tra việc quản lý và sử dụng ruộng đất”
+ Chỉ thị 231/TTg ngày24/09/1974 của Thủ tướng Chính phủ về việc
“Thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất
Trang 14trong cả nước” Trong đó đã quy định rõ các nội dung của công tác quản lý Nhà nước đối với đất đai như sau:
- Điều tra, khảo sát và quy hoạch phân bổ các loại đất
- Quy hoạch sử dụng đất
- Quy định các chế độ, thể lệ quản lý việc sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các chế độ thể lệ ấy
- Giao đất, thu hồi đất, trưng dụng đất
- Thống kê, đăng ký đất đai
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các chế độ, thể chế quản lý và sử dụng đất đai
- Giải quyết các tranh chấp về đất đai
* Theo điều 13 Luật đất đai năm 1993, nội dung quản lý Nhà nước về đất đai gồm 7 nội dung
- Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất đai và lập bản đồ địa chính
- Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất đai
- Quy định các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các chế độ thể chế ấy
- Giao đất, thu hồi đất
- Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống kê đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể chế về quản lý và sử dụng đất đai
- Giải quyết tranh chấp đất đai
* Theo điều 6 Luật đất đai 2003, nội dung quản lý Nhà nước về đất đai gồm 13 nội dung
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Trang 15- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Thống kê, kiểm kê đất đai
- Quản lý tài chính về đất đai
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai
- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
Luật đất đai năm 2003 được ban hành đã đáp ứng kịp thời nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế quản lý cũ
Như vậy, ở giai đoạn nào thì công tác quản lý đất đai cũng được quan tâm, chú ý Nhà nước đã xây dựng một cơ sở cho công tác quản lý sử dụng đất, cơ sở này dựa trên những đặc điểm riêng: kinh tế, xã hội, chế độ chính trị của Nhà nước Từ đó hệ thống pháp luật và chính sách đất đai được hình thành với trên 189 văn bản pháp quy Trong đó, có 80 văn bản có hiệu lực trên phạm vi cả nước, trên 100 văn bản hướng dẫn của cấp tỉnh nhằm hướng mọi hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai thực hiện theo đúng mục tiêu đã đề ra
2.1.3 Căn cứ pháp lý trong quản lý nhà nước về đất đai
Trên cơ sở các quy định của Luật đất đai năm 2003, Nghị định 181/2004/NĐ-CP, Nghị định 84/2007/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn khác của Trung ương, của Tỉnh có liên quan, UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi hướng dẫn về trình tự, thủ tục trong việc lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất và các bước để thực hiện xử lý, cưỡng chế đối với các trường hợp tự ý chuyển mục đích sử dụng đất trái phép Cụ thể:
- Các văn bản chỉ đạo trong công tác cấp GCNQSD đất:
+ Công văn số: 610/CV-UB ngày 20/8/2004 V/v điều tra thực trạng cấp GCNQSD đất trên địa bàn huyện
Trang 16+ Công văn số 1044/CV-UB ngày 17/12/2004 V/v cử cán bộ tham gia Ban chỉ đạo cấp GCNQSD đất
+ KH số 243/KH-BCĐ ngày 29/3/2005: Triển khai kế hoạch cấp GCNQSD đất cho hộ gia đình, cá nhân
+ Công văn số 74/CV-TNMT ngày 30/8/2005: Tập trung đẩy nhanh tiến
+ Hướng dẫn trình tự, thủ tục cấp đổi GCNQSD đất đã cấp vượt hạn mức đất
ở theo Quyết định 1597/QĐ-UBND ngày 10/8/2007 của UBND tỉnh Thái Nguyên
Trang 172.1.4 Tình hình quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam
Các triều đình phong kiến không ngừng mở rộng diện tích lãnh thổ thông qua việc lấn chiếm và khai khẩn đất hoang Khi người Pháp đặt chân đến đất Đông Dương đã đưa phương pháp luận và kỹ thuật mới vào lĩnh vực địa chính, đặt nền tảng cho một hệ thống địa chính hiện đại Hệ thống luật đất đai của Pháp đã thay thế luật Gia Long, hệ thống bản đồ địa chính được đo lại và
áp dụng giấy chứng nhận thay thế cho địa bạ ở khu vực đô thị, tọa độ, độ cao quốc gia và hệ thống bản đồ địa chính cơ bản 1/100.000 được thành lập thống nhất phủ kín Đông Dương
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngành Địa chính từ Trung ương đến địa phương được duy trì
và củng cố để bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất và công tác quản lý ruộng đất
- Ngày 02/02/1947 các Ty Địa chính được xác nhập thành Ty Canh nông
- Ngày 18/6/1949 thành lập Địa chính trực thuộc Bộ Tài chính
- Ngày 05/03/1652 Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về sử dụng công điền, công thổ nhằm đảm bảo chia ruộng đất có lợi cho dân nghèo
- Ngày 14/12/1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành luật cải cách ruộng đất Mục tiêu là: Thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và chế độ xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp phong kiến
- Năm 1954 cuộc cải cách ruộng đất cơ bản hoàn thành
Ngày 03/7/1958 có Chỉ thị 345/TTg cho tái lập hệ thống Địa chính trong
Bộ Tài chính và ủy ban nhân dân các cấp để làm nhiệm vụ đo đạc, lập bản đồ giải thửa và sổ sách địa chính
- Năm 1960, hợp tác hóa nông nghiệp cơ bản đã hoàn thành 90% đất canh tác được tập thể hóa, hình thức sở hữu ruộng đất ra đời Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định rõ 3 hình thức sở hữu đất đai như sau:
+ Sở hữu toàn dân
+ Sở hữu tư nhân
+ Sở hữu tập thể
Sau mùa xuân 1975 miền nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, Nhà nước có chủ trương kiểm kê, thống kê đất đai trong cả
Trang 18nước Để thực hiện nội dung này Chính phủ đã ra quyết định số 69/CP ngày 20/6/1977 về công tác kiểm kê đất đai trong cả nước
Ngày 07/11/1979 Hội đồng Chính phủ ra nghị định 404/CP thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất thuộc Chính phủ
* Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Xây dựng chính sách pháp luật là vấn đề mà Đảng, Nhà nước và nhân dân hết sức quan tâm Trong những năm vừa qua, với sự cố gắng vươn lên của mình Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã từng bước xây dựng hoàn chỉnh Luật đất đai, xây dựng trình Chính phủ ban hành
14 Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai, phối hợp với các ngành soạn thảo 38 Nghị định về các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động quản lý đất đai
và đo đạc bản đồ địa chính Ban hành 15 Thông tư hướng dẫn thi hành các Nghị định của Chính phủ, nhằm đáp ứng thời kỳ đổi mới kinh tế, nâng cao hiệu quả và hiệu lực của chính sách pháp luật đất đai trong cơ chế mới ở các địa phương Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố ban hành nhiều văn bản quy phạm, nhằm cụ thể hóa 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai và đo đạc bản đồ
Ngày 10/12/2003 Luật đất đai được ra đời và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 Đến nay, Nhà nước đã hoàn thành hơn 70 vạn văn bản pháp luật,
ở các tỉnh và thành phố đã ban hành trên 400 văn bản triển khai, thi hành và
cụ thể hóa Luật đất đai cho phù hợp với từng địa phương Cùng với việc ban hành các văn bản thì việc phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng thường xuyên tuyên truyền các chính sách pháp luật đất đai
* Công tác thống kê, kiểm kê đất đai
Việc làm cần thiết trong công tác thống kê, kiểm kê đất đai là tập hợp và sắp xếp các số liệu đất đai đối với tất cả các đơn vị tập thể, cá nhân sử dụng đất về từng loại đất, hạng đất ở mỗi cấp quản lý Đây là việc làm hết sức quan trọng của công tác thống kê, kiểm kê giúp các cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình đất đai Chính vì tầm quan trọng của công tác thống kê, kiểm kê đất đai, ngày 31/03/1995 Tổng cục Địa chính ra Chỉ thị 382/CT-ĐC quy định
“việc thống kê đất đai được tiến hành một năm một lần, kiểm kê được tiến hành 5 năm một lần”
Trang 19* Công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về đất đai, hạn chế việc sử dụng đất tùy tiện Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã hình thành từng bước theo quy định của pháp luật, đến nay vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho giai đoạn 5 năm (2010 - 2015) và 10 năm (2010 - 2020) đang đi vào nề nếp Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cả nước được Chính phủ xem xét để trình Quốc hội Hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang tiếp tục xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình
Mặc dù, có rất nhiều cố gắng nhưng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn chưa thực hiện đồng bộ giữa các cấp, chưa gắn liền với quy hoạch chi tiết của các ngành, việc lập quy hoạch cấp huyện, cấp xã còn chậm, chưa bồi dưỡng chất lượng, phân cấp quản lý quy hoạch chưa rõ ràng
* Công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hạt nhân của hệ thống quản lý đất đai, là một trong những nhiệm vụ quan trọng và hết sức nặng nề mang tính cấp bách, được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước Trên cơ sở Luật đất đai 1993 đã hai lần sửa đổi vào năm 1998, 2001 và Luật đất đai năm 2003, Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã xây dựng nhiều văn bản pháp lý về đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn các địa phương trên cả 3 lĩnh vực này Thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nhà nước đã lập được hồ sơ địa chính để quản lý nguồn tài nguyên đất đai Đồng thời các chủ sử dụng đất cũng được xác lập quyền sử dụng hợp pháp, làm cơ sở để thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của người sử dụng đất
Đến nay, công tác này đã đạt được nhiều bước tiến quan trọng, 26 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cơ bản hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, 15 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị, 20 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nông thôn, 05 tỉnh cơ bản hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả các loại đất ( Đà Nẵng, Long An,
Trang 20Bắc Ninh, Hậu Giang, Sóc Trăng ) Ngoài ra một số tỉnh đã đạt kết quả thấp như Hòa Bình mới chỉ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được 6,37% đối với đất ở, Hưng Yên 40,8%, Thái Bình 53%
* Công tác giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất
Là công việc đặc thù của Nhà nước khi Nhà nước đại diện cho toàn dân thực hiện quyền hạn của chủ sở hữu Nói chung cho đến nay công việc này đã
đi vào nề nếp, thực hiện đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo tính hợp pháp Vấn
đề nan giải đặt ra không phải là những phát sinh hiện tại mà là việc giải quyết các bất cập, sai phạm đã là nguyên nhân chính gây ra tình trạng khiếu kiện hiện nay
Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ IX, tập trung chỉ đạo tiếp tục đổi mới chính sách và pháp luật về đất đai để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó công tác giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất được sửa đổi một số vấn đề sau:
- Với đất dùng làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối của các tổ chức kinh tế, áp dụng cả hai hình thức giao đất có thu tiền và cho thuê đất
- Về thu hồi đất: có quy định cụ thể việc thu hồi đất đã giao, cho thuê mà không sử dụng, sử dụng sai mục đích, sử dụng nhưng kém hiệu quả Các doanh nghiệp đã thuê hoặc được giao sử dụng không đúng mục đích thì Nhà nước sẽ thu hồi mà không phải bồi thường
* Công tác thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai
Trong những năm qua, cán bộ thanh tra toàn ngành Địa chính đã có nhiều cố gắng để khắc phục khó khăn, giải quyết kịp thời nhiều nội dung bức xúc trong quản lý và sử dụng đất Thanh tra của Bộ đã tổ chức công tác tổng kiểm kê sản phẩm đo đạc bản đồ, đôn đốc hướng dẫn các địa phương thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm tra tình hình quản lý và
sử dụng đất ở các cấp xã, phường, quận, huyện, các tổ chức, các nông lâm trường đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn và trả lời những vấn đề liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai đối với Sở, Ngành liên quan
Theo thống kê của Thanh tra Nhà nước, hằng năm có khoảng 10 vạn vụ việc khiếu nại, tố cáo có nội dung liên quan đến đất đai trên phạm vi toàn quốc Riêng Thanh tra Nhà nước hàng năm nhận từ 2.500 - 7.000 đơn thư Tổng cục Địa chính trước đây nhận 2.500 - 3.000
Trang 21Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo ở các địa phương và Trung ương
đã có những chuyển biến tích cực Hiện nay có 13 tỉnh không có đơn thư đến
Bộ Tài nguyên và Môi trường, còn 23 tỉnh, thành phố khác có 2.143 vụ việc giải quyết, trong năm 2005 đã giải quyết 1.779 đơn thư, năm 2006 đã giải quyết 2.070 đơn thư, số đơn thư tồn đọng giảm đáng kể
* Công tác quản lý tài chính về đất đai
Công tác quản lý tài chính về đất đai là công tác mới được đưa vào Luật đất đai, nhằm xây dựng các quy định trong quá trình quản lý đất đai Đây cũng là một nguồn thu lớn của ngân sách Nhà nước như: thu tiền thuế sử dụng đất, thu tiền chuyển quyền sử dụng đất, phí và lệ phí trong quản lý và sử dụng đất đai, thu tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất ở, tiền thuê đất nhưng các khoản thu hiện nay từ đất đai vẫn còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng và tình hình thực tế của các địa phương Công tác này còn nhiều bất cập, hạn chế, thủ tục rườm rà
* Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
Công tác quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản là một nội dung mới được đưa vào Luật đất đai năm
2003, nhằm phục vụ tốt công tác quản lý Nhà nước về đất đai Vì từ trước tới nay, thị trường tồn tại như một thị trường ngầm, mặc dù có diễn ra khá sôi động nhưng Nhà nước không quản lý được Điều này gây rất nhiều vướng mắc trong quản lý Nhà nước về đất đai Luật đất đai năm 2003 nêu rõ quyền
sử dụng đất trong thị trường bất động sản quy định tại điều 61, 62, 63 Điều
63 nổi bật lên việc Nhà nước quản lý đất đai trong việc phát triển thị trường bất động sản bằng các biện pháp:
- Tổ chức đăng ký hoạt động giao dịch về quyền sử dụng đất
- Tổ chức đăng ký hoạt động phát triển quỹ đất đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản
- Tổ chức đăng ký hoạt động cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho thị trường bất động sản
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia giao dịch về quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản Công tác quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản sẽ giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai thuận lợi hơn
Trang 22* Quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Trước khi Luật đất đai 2003 ra đời quy định quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất thì công việc này được thực hiện từ rất lâu và thường xuyên liên tục, nhằm phát hiện vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai Nhưng quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế, do
đó các văn bản luật cũng như văn bản dưới luật đều không quy định đủ hành
vi vi phạm về đất đai của người sử dụng đất Chính vì thế, Luật đất đai 2003 hiện hành đưa ra các quy định rõ cụ thể cho từng trường hợp, giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai tốt hơn
* Công tác quản lý dịch vụ công về đất đai
Đây là công tác rất mới được quy định trong Luật đất đai năm 2003 Các lĩnh vực dịch vụ công về đất đai bao gồm:
- Tư vấn về giá đất
- Tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Dịch vụ về đo đạc bản đồ
- Dịch vụ về thông tin đất đai
Các hoạt động về dịch vụ đất đai ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày một nhiều trong việc quản lý và sử dụng đất đai Tuy nhiên để các hoạt động này phát triển đúng hướng của Nhà nước thì cần có sự tổ chức chặt chẽ Ở nước ta, theo Luật đất đai năm 2003 cho đến thời điểm này mới có một vài tỉnh thành lập Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, nhân sự phục vụ chưa
có do đó công tác này vẫn chưa được mạnh nên việc học hỏi kinh nghiệm còn hạn chế
2.2 Tìm hiểu cơ chế một cửa
2.2.1 Khái niệm “ một cửa”
"Một cửa" là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc
thẩm quyền của cơ quan hành chính Nhà nước từ tiếp nhận yêu cầu, hồ sơ đến trả lại kết quả thông qua một đầu mối là "Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả" tại
cơ quan hành chính Nhà nước
Việc thực hiện cơ chế “một cửa” nhằm đạt được bước chuyển căn bản
trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính Nhà nước với tổ chức, công dân, giảm phiền hà cho tổ chức, công dân, chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền của cán bộ, công chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước
Trang 232.2.2 Các quy định chung về cơ chế một cửa
Theo quy định tại Điều 2, Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg, ngày 22/6/2007, của Thủ tướng Chính phủ, việc thực hiện cơ chế "một cửa", tại cơ quan hành chính Nhà nước quy định:
Cơ chế “một cửa” được áp dụng trong các cơ quan hành chính Nhà nước
ở địa phương, cụ thể là UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (các sở, ban, văn phòng HĐND và UBND); UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; UBND xã, phường, thị trấn
* Cơ chế “một cửa” được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
+ Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật
+ Công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, công dân
+ Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
+ Việc phối hợp giữa các bộ phận có liên quan để giải quyết công việc của tổ chức, công dân là trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước
+ Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức, công dân
* Cơ chế “một cửa” được thực hiện trong các lĩnh vực:
+ Tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: phê duyệt các dự án đầu tư trong nước và ngoài nước, xét duyệt cấp vốn xây dựng cơ bản, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất, cho thuê đất, giải quyết chính sách xã hội
+ Tại quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc cấp tỉnh: cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các hộ kinh doanh cá thể, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất, đăng ký hộ khẩu, công chứng và chính sách xã hội
+ Tại xã, phường, thị trấn: xây dựng nhà ở, đất đai, hộ tịch, chứng thực Ngoài các lĩnh vực này, chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương quyết định lựa chọn thêm một số lĩnh vực công tác khác để áp dụng cơ chế “một cửa”
* Quy trình giải quyết công việc theo cơ chế một cửa
+ Tổ chức, công dân có yêu cầu giải quyết công việc liên hệ, nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
Trang 24+ Cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm xem xét yêu cầu, hồ sơ của tổ chức, công dân
Tiếp nhận và viết giấy biên nhận hồ sơ, hẹn ngày trả kết quả theo quy định Trường hợp yêu cầu của tổ chức, công dân không thuộc phạm vi giải quyết thì hướng dẫn để tổ chức, công dân đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết Trường hợp hồ sơ chưa đúng, chưa đủ theo quy định thì hướng dẫn cụ thể một lần, đầy đủ để tổ chức, cá nhân bổ sung, hoàn chỉnh
+ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm chuyển hồ sơ của tổ chức, công dân đến các bộ phận chức năng có liên quan giải quyết
+ Các bộ phận chức năng liên quan có trách nhiệm giải quyết hồ sơ của
tổ chức, công dân do bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chuyển đến, trình lãnh đạo có thẩm quyền ký và chuyển về bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo đúng thời gian quy định
+ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả nhận lại kết quả giải quyết công việc
và trả lại cho tổ chức, công dân theo đúng thời gian đã hẹn, thu phí, lệ phí đối với những công việc được thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật
+ Trường hợp giải quyết hồ sơ không đúng hẹn thì bộ phận tiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm thông báo cho tổ chức, công dân lý do và hẹn thời gian trả lại kết quả
+ Quy trình giải quyết công việc theo cơ chế một cửa tại UBND huyện Đại Từ
Trang 255 Trả hồ sơ về văn phòng đóng dấu vào sổ
6 Trả kết quả cho tổ chức công dân tiến hành thu lệ phí theo quy định
2.2.3 Căn cứ pháp lý về cơ chế “một cửa”
- Căn cứ quyết định số 181/2003/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
- Căn cứ quyết định số 93/2007/QĐ-UB ngày 10/12/2003 của chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Đề án cơ chế “một cửa” tại UBND Huyện Đại Từ
- Căn cứ quyết định số 3120/QĐ-UB ngày 10/12/2003 của Chủ tịch UBND Huyện Đại Từ về việc phê duyệt Đề án cơ chế “một cửa” tại UBND Huyện Đại Từ
- Căn cứ Kế hoạch số 83/KH-UBND ngày 10/08/2011 cuả UBND tỉnh Thái Nguyên về việc triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 đối với các cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn Huyện Đại Từ
2.3 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.3.1.Kinh nghiệm thực hiện cơ chế một cửa của Indonesia
Indonesia đã trải qua một thời gian dài để hồi phục sau cuộc khủng khoảng tài chính Châu Á vào năm 1997, Chính phủ đã đưa ra một loạt các sáng kiến quan trọng để đáp ứng được những thách thức phát triển lâu dài và tiến hành những cải cách cần thiết cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong việc phát triển kinh tế và tăng số lượng việc làm Trong khi Chính phủ trung ương đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội và cấu trúc nền hành chính quốc gia, chính quyền địa phương vẫn có một vai trò thiết yếu trong việc tạo lập môi trường pháp lý và phân bổ chi tiêu công (hơn một nửa chi tiêu phát triển diễn ra ở cấp địa phương) Một số chính quyền địa phương đã thúc đẩy tự do mới để tạo ra một môi trường kinh doanh năng động, đặc biệt,
Trang 26sự phân quyền cho chính quyền địa phương ở Indonesia diễn ra từ năm 2001
đã ảnh hưởng lớn đến việc quản lý hành chính thuế và phí
- Cơ chế một cửa: Chương trình nhằm giúp chính quyền địa phương xử
lý giấy phép hiệu quả hơn qua việc sử dụng các bộ phận một cửa Đây là nơi kết hợp việc quản lý của nhiều bộ chuyên môn riêng biệt với nhau thành một
cơ quan nơi có thể xử lý nhanh chóng việc cấp giấy phép
- Chương trình đánh giá tác động pháp lý: Chương trình nhằm hỗ trợ chính quyền địa phương thực hiện việc đánh giá tác động pháp lý như một nhiệm vụ thường xuyên khi soạn thảo các quy định mới Chương trình bổ sung và hỗ trợ cho Cơ chế một cửa trong việc giúp đỡ Chính phủ rà soát lại các quy định liên quan đến giấy phép kinh doanh
* Quy trình cấp phép Chính phủ và các cấp ban hành
Cơ chế một cửa tại Indonesia được thực hiện dưới nhiều hình thức Vị trí của Cơ chế một cửa trong nền hành chính địa phương, có thể xem xét 3 yếu tố: nền tảng pháp lý, cấp độ tổ chức, và thẩm quyền hoạt động Nền tảng pháp lý: Xu hướng thiết lập cơ chế một cửa ở cấp địa phương được phát động từ giữa những năm 1990 Tuy nhiên, trước khi diễn ra việc phân quyền cho địa phương, các cơ quan cấp phép là một phần của cấu trúc chính phủ quốc gia, không có sự tích hợp cấp phép kinh doanh cho tới sau khi diễn ra sự phân quyền Bộ Nội Vụ đã ban hành một thông tư vào năm 1997 hướng dẫn chung việc xây dựng cơ chế một cửa tại địa phương
Cơ chế một cửa có thể được thực hiện ở nhiều cấp độ tổ chức khác nhau:
- Thành công của bộ phận một cửa còn được quyết định bởi nhận thức của công chúng Cơ chế một cửa có thể được quảng bá qua đài phát thanh, tài liệu, tờ rơi và biển quảng cáo ở các địa điểm công cộng hoặc các chiến dịch thông tin trực tiếp được tiến hành bởi các nhân viên của bộ phận một cửa
2.3.2 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha bắt đầu tổ chức thực hiện và thiết lập bộ phận một cửa từ năm 1999 với tên gọi là The Citizen Shops (Tạm dịch là: Bộ phận tiếp công dân) Bộ phận này được thiết lập với mục đích thành lập những tổ chức hiện đại, cập nhật và hiện đại hóa ở các thành phố lớn để cung cấp dịch vụ công, thống nhất các dịch vụ công tại một đầu mối, cải thiện chất lượng dịch vụ công và được quản lý bởi MICS (Management Institue of Citizen Shops) Bộ phận tiếp công dân này được tổ chức thực hiện theo cơ chế một cửa phục vụ
Trang 27cho cả người dân và doanh nghiệp, các tổ chức công cũng như tổ chức tư nhân với hàng loạt dịch vụ công như cung cấp điện, nước, dịch vụ sức khỏe, đào tạo, việc làm… Cho tới năm 2008 đã có 72 triệu lượt người được cung cấp dịch vụ công Bộ phận tiếp doanh nghiệp với những nội dung ở cách thức
tổ chức thực hiện cũng tương tự như Bộ phận tiếp công dân Bộ phận tiếp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ công và tư nhân cho doanh nghiệp với các hoạt động bao gồm các bước trong chu kỳ kinh doanh: Thành lập doanh nghiệp, quản lý các hoạt động doanh nghiệp, mở rộng kinh doanh, đóng cửa hoặc bán doanh nghiệp Ngoài ra, có hàng loạt dịch vụ công được cung cấp bởi Bộ phận ‘một cửa” như: Dịch vụ tại Chính phủ trung ương, thuế, an sinh
xã hội, đăng ký (đất đai, kinh doanh, xe cộ, dân sự), chăm sóc sức khoẻ, lao động, nhập cư, giấy phép được cấp bởi một số Bộ, dịch vụ tại chính quyền địa phương, giấy phép cấp thành phố, dịch vụ cung cấp nước thành phố, dịch vụ
tư nhân, ngân hàng, dịch vụ điện, nước, khí đốt, điện thoại di động, dịch vụ bưu điện
2.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Có thể thấy cơ chế “một cửa” được áp dụng và thực hiện tại nhiều quốc gia, cụ thể như quốc gia Bồ Đào Nha và Indonesia đã đem lại những hiệu quả nhất định trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đây là những quốc gia có quá trình đổi mới, cải cách hành chính và phát triển kinh tế
- xã hội trong bối cảnh gần giống với Việt Nam Cũng như nhiều quốc gia khác, thực hiện cơ chế “một cửa” ở Việt Nam cần được nhìn nhận cụ thể hơn
về cách thức đánh giá và đo lường thực chất hiệu quả của cơ chế “một cửa”, góp phần nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công của cơ chế
“một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Công cụ đo lường quá trình thực thi của cơ chế “một cửa” cần được xem xét từ sự xuất hiện cùng với những giá trị truyền thống của nền hành chính, cách thức đánh giá
và đây có thể được coi là những định hướng tương lai của cơ chế “một cửa” Đồng thời với đó, cần phải giải quyết những vấn đề từ lý luận đến thực tiễn ở một số khía cạnh như:
- Làm thế nào để nền hành chính quan liêu truyền thống có thể ứng dụng nền quản lý công mới hướng tới khách hàng trong bối cảnh đất nước đang chuyển đổi và cải cách hành chính?
Trang 28- Liệu cơ chế “một cửa” có thật sự là một sự cải cách hay chỉ là diện mạo mới cho cách cung cấp dịch vụ trước đây, làm thế nào để nâng cao chất lượng
cơ chế “một cửa”?
- Khung thể chế và văn hoá thống trị trong hệ thống đang kìm hãm các cải cách dịch vụ công theo những cách nào?
2.4 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thực hiện Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong những năm qua, các địa phương đã tập trung triển khai thực hiện cơ chế cơ chế “một cửa”, cơ chế “một cửa” liên thông tại cơ quan hành chính nhà nước các cấp từ cấp tỉnh, cấp huyện đến cấp xã để nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công, góp phần từng bước làm thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa chính quyền và cá nhân, tổ chức theo hướng hành chính phục vụ, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức khi đến giao dịch với cơ quan hành chính Nhiều địa phương đã chủ động triển khai thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông hiện đại tại Ủy ban Nhân dân cấp huyện Trong số 700 đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước, hiện đã có 686 đơn vị triển khai thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông, đạt 98% Những đơn vị hành chính cấp huyện cho đến nay chưa triển khai thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông đều là các huyện đảo, các huyện mới thành lập
Cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông hiện đại cũng đã bắt đầu xuất hiện với việc áp dụng công nghệ thông tin, các trang thiết bị hiện đại tại một
số địa phương từ những năm 2006 Tính đến nay đã có 42/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đang triển khai cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông hiện đại tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, trong đó có 9 tỉnh, thành phố triển khai ở tất cả các đơn vị hành chính cấp huyện là Bà Rịa-Vũng Tàu, Bắc Giang, Bắc Ninh, Ninh Bình, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng (không tính các huyện đảo của Hải Phòng và Đà Nẵng) Tính chung cả nước có 203/700 đơn vị hành chính cấp huyện đang triển khai
cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông hiện đại
2.5 Quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” về quản lý đất đai tại huyện Đại Từ
Ngay sau khi UBND Tỉnh ban hành quyết định số 2868/QĐ - UB ngày 04/11/2003 V/v Thực hiện cơ chế "Tiếp nhận và trả kết quả" trong các cơ
Trang 29quan hành chính Nhà nước thuộc Tỉnh UBND huyện Đại Từ đã triển khai nội dung tinh thần Quyết định số 181/QĐ- TTg ngày 04/9/2003 của Thủ Tướng Chính phủ và Quyết định số 2868/QĐ - UB ngày 04/11/2003 của UBND tỉnh Thái Nguyên V/v Thực hiện cơ chế một cửa trong cơ quan hành chính Nhà nước tại địa phương đến các cơ quan, đơn vị, phòng ban chuyên môn, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn Đồng thời giao cho một số cơ quan chuyên môn tuyên truyền, phối kết hợp thực hiện đề án
Đúng ngày 01/01/2004 "Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả" của huyện khai trương đi vào hoạt động, ngày 01/01/2005 "Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả" ở cấp xã đi vào hoạt động theo chỉ đạo của UBND tỉnh Thái Nguyên Khi quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 27/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ “Quyết định ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương", UBND huyện đã chỉ đạo 31/31 xã, thị trấn xây dựng đề án thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông; tiếp tục thực hiện tốt cơ chế một cửa và tổ chức triển khai thực hiện cơ chế một cửa liên thông từ tháng 7/2009 tại UBND huyện
Đến nay nhiều TTHC và quy trình giải quyết công việc được đổi mới theo hướng hợp lý, khoa học, giảm phiền hà cho dân, người dân không phải tự
đi liên hệ nhiều nơi, nhiều lần so với trước Thời gian giải quyết công việc được rút ngắn khi giải quyết hồ sơ, công việc của tổ chức, công dân, các quy trình, thủ tục, hồ sơ, giấy tờ, phí, lệ phí được thu đúng theo quy định giải quyết công việc được công khai, minh bạch tạo điều kiện để nhân dân giám sát cơ quan, tổ chức và cán bộ thực thi công vụ
Trang 30Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Kết quả cải cách hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai của huyện Đại Từ
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Cơ chế một cửa về quản lý đất đai tại UBND huyện Đại Từ
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 20 tháng 1 năm 2014 đến ngày 30 tháng
4 năm 2014
3.2 Địa điểm
- Địa điểm nghiên cứu: UBND huyện Đại Từ
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và quản lý sử dụng đất của huyện
Đại Từ
3.3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Đại Từ
- Vị trí địa lý
- Địa hình
- Sông ngòi thủy văn
- Các nguồn tài nguyên
3.3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Đại Từ
3.3.2.1 Quá trình triển khai đề án “một cửa” tại huyện Đại
3.3.2.2 Đánh giá kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” tại huyện Đài Từ giai đoạn từ 2008- 2013
Trang 31- Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2008
- Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2009
- Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2010
- Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2011
- Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2012
- Kết quả thực hiện cơ chế một cửa tại cấp huyện năm 2013
3.3.2.3 So sánh kết quả trước và sau khi thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại huyện Đại Từ
3.3.3 Thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân tồn tại và một số giải pháp trong quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” tại huyện Đại Từ giai đoạn
3.3.4.1 Ý kiến của người sử dụng đất, hộ gia đình, cá nhân
3.3.4.2 Ý kiến của cán bộ chuyên môn
3.4 Ph ương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thông tin
* Tài liệu thứ cấp: (tài liệu đã được công bố)
- Các thông tin, số liệu thứ cấp được thu thập từ các bài báo, báo cáo và các văn bản đã được công bố
- Điều tra thu thập số liệu, tài liệu có liên quan từ cơ sở, tại các phòng ban có liên quan đến cơ chế một cửa
- Các Nghị quyết, quyết định, công văn hướng dẫn thực hiện cơ chế một cửa
* Tài liệu sơ cấp:
Điều tra phỏng vấn cán bộ địa chính và đối tượng sử dụng đất để tìm
hiểu những thuận lợi và khó khăn trong cải cách hành chính, thực hiện cơ chế
Trang 32một cửa trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai thông qua bộ câu hỏi
đã chuẩn bị sẵn Chia đối tượng phỏng vấn ra làm 2 nhóm:
Nhóm 1: Các cán bộ địa chính, cán bộ phòng Tài nguyên & Môi trường Nhóm 2: Đối tượng sử dụng đất tham gia giao dịch tại phòng tài nguyên
& Môi trường Phỏng vấn được thực hiện theo bộ phiếu điều tra ở phần phụ lục Mỗi câu hỏi trong bộ phiếu điều tra sẽ tương ứng là một chỉ tiêu trong hệ thống bảng biểu
3.4.2 Phương pháp xử lý, tổng hợp , phân tích số liệu
* Phương pháp so sánh:
Từ số liệu thu thập kết quả đạt được về cải cách hành chính, thực hiện cơ chế một cửa trong quản lý Nhà nước về đất đai so sánh với kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về đất đai trước khi thực hiện cải cách hành chính, áp dụng cơ chế một cửa
- Các số liệu được phân tích, so sánh qua các năm, các giai đoạn để thấy được thực trạng của vấn đề nghiên cứu Từ đó mới rút ra nhận xét, đánh giá cụ thể mang tính khách quan
* Phương pháp thống kê:
- Thống kê các tài liệu đã thu thập được về số hồ sơ tiếp nhận, số hồ sơ đã trả, số hồ sơ chưa giải quyết của tất cả các lĩnh vực cũng như chi tiết của từng loại đối với lĩnh vực đất đai
- Các số liệu được xử lý bằng chương trình phần mềm Microsoft Excel
2003, soạn thảo và trình bày văn bản bằng chương trình phần mềm Microsoft Word 2003 Kết quả được trình bày bằng các bảng số liệu và biểu đồ Trên
cơ sở đó tổng hợp, phân tích để rút ra nhận xét, kết luận phù hợp với mục tiêu
đề tài
3.4.3 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài
- Ví dụ: Kế thừa tài liệu điều tra cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thổ nhưỡng, các nguồn tài nguyên
- Kế thừa các tài liệu, báo cáo trong giai đoạn nghiên cứu: báo cáo thực hiện nhiệm vụ kinh tế, xã hội của địa phương
- Kế thừa các kết quả nghiên cứu những thông tin, số liệu đã có phục vụ thiết thực nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 33Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và quản lý sử dụng đất của huyện Đại Từ
4.1.1 Đặc điểm về tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lí
Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25 km, với tổng diện tích tự nhiên 57.415,73 ha, huyện nằm trong toạ độ từ 21030' đến 21050' độ vĩ bắc, 105032' đến 1050
42' độ kinh đông Ranh giới của huyện xác định cụ thể theo các hướng như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Định Hoá
- Phía Nam giáp huyện Phổ Yên và Thành phố Thái Nguyên
- Phía Đông giáp huyện Phú Lương
- Phía Tây Bắc và Đông Nam giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Phú Thọ Với điều kiện vị trí địa lý như trên, huyện Đại Từ có điều kiện phát huy khai thác tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện nói riêng và toàn tỉnh Thái Nguyên nói chung (UBND huyện Đại Từ, 2013)
4.1.1.2 Địa hình
Huyện Đại Từ được bao bọc xung quanh bốn phía bởi các dãy núi:
- Phía Tây và Tây Nam có dãy núi Tam Đảo ngăn cách giữa huyện Đại
Từ và tỉnh vĩnh phúc, Phú Thọ, có độ cao từ 300 m - 600 m
- Phía Bắc có dãy núi Hồng và dãy núi Chúa
- Phía Đông là dãy núi Pháo cao bình quân 150 m - 300 m
- Phía Nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần từ bắc xuống nam
Huyện Đại Từ có địa hình tương đối phức tạp, mang đặc trưng của vùng núi, trung du, đồng bằng Hướng chủ đạo địa hình của huyện theo hướng Tây bắc - Đông nam
4.1.1.3 Sông ngòi, thuỷ văn
* Sông ngòi: Hệ thống sông Công chảy từ Định Hóa xuống theo hướng
Trang 34Bắc Nam với chiều dài chạy qua huyện Đại Từ khoảng 2 km Hệ thống các suối, khe như suối La Bằng, Quân Chu, Cát Nê v.v cũng là nguồn nước quan trọng cho đời sống và trong sản xuất của huyện
* Hồ đập: Hồ Núi Cốc lớn nhất tỉnh với diện tích mặt nước 769 ha, vừa
là địa điểm du lịch nổi tiếng, vừa là nơi cung cấp nước cho các huyện Phổ Yên, Phú Bình, Sông Công, Thành phố Thái Nguyên và một phần cho tỉnh Bắc Giang Ngoài ra còn có các hồ: Phượng Hoàng, Đoàn Uỷ, Vai Miếu, Đập Minh Tiến, Phú Xuyên, Na Mao, Lục Ba, Đức Lương với dung lượng nước tưới bình quân từ 40 - 50 ha mỗi đập và từ 180 - 500 ha mỗi hồ
* Thuỷ văn: Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các đồi núi bao
bọc Đại Từ thường có lượng mưa lớn nhất Tỉnh, trung bình lượng mưa hàng năm từ 1.800 mm - 2.000 mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của huyện (đặc biệt là cây chè)
4.1.1.4 Điều kiện khí hậu thời tiết
Đại Từ là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa song chủ yếu là 2 mùa chính: Mùa mưa và mùa khô Trung bình lượng mưa hàng năm từ 1800 mm - 2000 mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của huyện (đặc biệt là cây chè)
Do mưa nhiều nên độ ẩm không khí khá cao, độ ẩm trung bình từ 70 - 80%, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22,90C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là 27,20C, nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm là 200C (UBND huyện Đại Từ, 2013)
4.1.2 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên 57.848 ha Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 28,3%; đất lâm nghiệp chiếm 48,43%; đất chuyên dùng 10,7%; đất thổ cư 3,4% Tổng diện tích hiện đang sử dụng vào các mục đích là 93,8%; còn lại 6,2% diện tích tự nhiên chưa sử dụng (UBND huyện Đại Từ, 2013)
* Tài nguyên rừng:
Diện tích đất lâm nghiệp 28.020 ha, trong đó rừng tự nhiên là 16.022 ha
và rừng trồng từ 3 năm trở lờn là 11.000 ha Chủ yếu là rừng phòng hộ, diện
Trang 35tích rừng kinh doanh không còn hoặc còn rất ít vì những năm trước đây đó bị khai thác bừa bãi và tàn phá (UBND huyện Đại Từ, 2013)
* Tài nguyên nước
Trên địa bàn huyện có hai nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của người dân là nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm
+ Nguồn nước mặt:
Hồ Núi Cốc là hồ lớn nhất tỉnh Thái Nguyên với diện tích mặt nước thuộc địa phận huyện Đại Từ là 769 ha, vừa là trung tâm du lịch, vừa là nơi cung cấp nước cho các huyện, trong đó có huyện Đại Từ
Các đập nhỏ ở các xã trong huyện với dung lượng nhỏ chủ yếu cung cấp khoảng 50 ha mỗi đập
+ Nguồn nước ngầm:
Có ở độ sâu từ 5 m đến 20 m với chất lượng nước đảm bảo vệ sinh đáp ứng đủ nước sinh hoạt của nhân dân với khoảng 95% số hộ Nguồn nước này được nhân dân khai thác chủ yếu với hình thức giếng đào và giếng khoan
* Tài nguyên khoáng sản
Đại Từ được thiên nhiên ưu đãi phân bổ trên địa bàn nhiều tài nguyên khoáng sản nhất tỉnh Thái Nguyên, 15/31 xã, thị trấn có mỏ và điểm quặng Được chia ra làm 4 nhóm quặng chủ yếu sau:
- Nhóm khoáng sản là nguyên liệu cháy: Chủ yếu là than nằm ở 8 xã của huyện: Yên Lãng, Hà Thượng, Phục Linh, Na Mao, Minh Tiến, An Khánh, Cát Nê Có 3 mỏ lớn thuộc Trung ương quản lý và khai thác: Mỏ Núi Hồng, Khánh Hoà, Bắc làng Cẩm Sản lượng khai thác hàng năm từ 10 đến 20 nghìn tấn/năm
- Nhóm khoáng sản kim loại:
+ Nhóm kim loại màu: Chủ yếu là thiếc và Vonfram Mỏ thiếc Hà Thượng lớn nhất mới được khai thác từ năm 1988, có trữ lượng khoảng 13 nghìn tấn, mỏ Vonfram có trữ lượng lớn khoảng 28 nghìn tấn Ngoài các mỏ chính trên quặng thiếc còn nằm rải rác ở 9 xã khác trong huyện như: Yên Lãng, Phú Xuyên, La Bằng, Hùng Sơn, Tân Thái, Văn Yên, Phục Linh, Tân Linh, Cù Vân
Trang 36+ Nhóm kim loại đen: Chủ yếu là Titan, sắt nằm rải rác ở các điểm thuộc các xã phía Bắc của huyện như Khôi Kỳ, Phú Lạc trữ lượng không lớn lại phân tán
- Nhóm khoáng sản phi kim loại: pyrit, barit, nằm ở rải rác các xã trong huyện, trữ lượng nhỏ, phân tán (UBND huyện Đại Từ, 2013)
* Tài nguyên du lịch
Khu du lịch Hồ Núi Cốc với câu chuyện huyền thoại về Nàng Công chàng Cốc đã thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước, nằm ở phía Tây nam của huyện, đây còn là điểm xuất phát đi thăm khu di tích trong huyện như: Núi Văn, Núi Võ, khu rừng Quốc gia Tam Đảo, di tích lịch sử 27/7 v.v Nhìn chung tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch ở Đại Từ đã và đang được quan tâm phát triển, đây là tiềm năng lớn của huyện cũng như của tỉnh Thái Nguyên
4.1.3 Đánh giá về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý thuận lợi là điều kiện quan trọng cho sự phát triển Là huyện miền núi chỉ cách trung tâm tỉnh lị hơn 20 km Hạ tầng cơ sở thuận lợi hơn các huyện miền núi khác trong tỉnh, sự nắm bắt về thông tin và tiếp nhận
sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông lâm nghiệp thuận lợi hơn
- Là huyện có nhiều tài nguyên khoáng sản, mặc dù trữ lượng nhỏ, không lớn Đây là nhân tố quan trọng hình thành các cơ sở công nghiệp khai thác phục vụ cho sản xuất công nghiệp phát triển và xuất khẩu
- Vị trí địa lý có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của tập đoàn vật nuôi và cây trồng phong phú, lợi thế này thích hợp cho sự phát triển kinh tế nông lâm nghiệp hiện nay của huyện
- Tiềm năng về du lịch cũng là một lợi thế để phát triển ngành dịch vụ thương mại trên địa bàn, trên cơ sở hồ Núi Cốc kết hợp với các điểm di tích lịch sử cách mạng
4.1.4 Điều kiện kinh tế, xã hội của huyện Đại Từ
4.1.4.1 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Đại Từ
* Tăng trưởng giá trị sản xuất qua các năm
Trang 37Bảng 4.1 Tăng trưởng giá trị sản xuất qua các năm (theo giá cố định
(Giá trị: triệu đồng, cơ cấu %)
Công nghiệp - tiểu thủ
công nghiệp - xây dựng
cơ bản
(Nguồn số liệu: UBND huyện Đại Từ)
Thời kỳ 2011 - 2013 mặc dù nền kinh tế của huyện còn gặp nhiều khó khăn do thời tiết khí hậu bất thường làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất, nhưng kinh tế vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao và tương đối ổn định, giá trị sản xuất (giá cố định) tăng bình quân 17,2%/năm, giá trị sản xuất (giá cố định) tăng từ 10.671,56 tỷ đồng năm 2011 lên 14.667,47 tỷ đồng năm 2013, trong đó tăng trưởng mạnh nhất là thương mại dịch vụ tăng bình quân 23,5 %/năm, công nghiệp xây dựng tăng bình quân 21,4%/năm, nông lâm thuỷ sản tăng bình quân 4,8%/năm
Về tăng trưởng kinh tế của huyện vượt mục tiêu Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Đại Từ đề ra (thời kỳ 2001 - 2005 là 8 - 10%/năm), đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, GDP bình quân đầu người tăng từ 8,6 triệu đồng/người năm 2011 lên 11,17 triệu đồng/người năm 2013
Huyện đại từ chủ yếu tập trung vào:
- Nông nghiệp chủ yếu là tập trung trông cây lương thực lúa, ngô, khoai, sắn…đáp ưng nhu cầu của người dân và còn bán ra thị trường với giá cả hợp lý
- Tiểu thủ công nghiệp: ngành tiểu thủ công nghiệp của huyện đang phát triển mạnh tập trung chủ yếu vào các mặt hàng dân dụng như gò, hàn, mộc, chế biến gỗ …trong kinh doan chủ yếu tập trung vào kinh doanh các loại vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp, sản phẩm từ nông nghiệp, lâm nghiệp vật