1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hoạt động lập pháp của quốc hội lí luận và thực tiễn

12 399 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 90,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các cơ quan này được nhân danh quyền lực nhân dân để tiến hành các hoạt động theo quy đinh của Pháp luật, phải chịu trách nhiệm và báo cáo trước nhân dân cử tri về mọi hoạt động của mình

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MÔN LUẬT HIẾN PHÁP

BÀI TẬP NHÓM: HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI – LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LỚP: 4036

NHÓM: 4036A1

MỤC LỤC

A. LỜI NÓI ĐẦU

I lí luận về hoạt động lập pháp của Quốc hội

1 khái lược về Quốc hội

2, khái niệm lập pháp

Trang 2

II lịch sử phát triển chức năng lập pháp qua các kiểu nhà nước

III thực tiễn hoạt động lập pháp của Quốc hội Việt Nam

1 hoạt động lập pháp của Quốc hội

2 một số giải pháp nâng cao hoạt động lập pháp của Quốc hội

IV ý nghĩa của hoạt động lập pháp của Quốc hội

A. LỜI NÓI ĐẦU

B. NỘI DUNG

I. LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI

1. Khái quát về Quốc hội.

Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước (còn gọi là cơ quan đại diện), do nhân dân trực tiếp bầu ra Các cơ quan này được nhân danh quyền lực nhân dân để tiến hành các hoạt động theo quy đinh của Pháp luật, phải chịu trách nhiệm và báo cáo trước nhân dân (cử tri) về mọi hoạt động của mình

Trên thế giới tồn tại một số loại Quốc hội như:

Trang 3

+ Một viện: Quốc hội chỉ bao gồm một viện duy nhất Ví dụ: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc,

+ Lưỡng viện: Quốc hội bao gồm hai viện là Thượng nghị viện và Hạ nghị viện

Ví dụ như Hoa Kỳ, Canada, Liên Xô (cũ)… Đại biểu quốc hội tại hạ nghị viện thường là do người dân trực tiếp bầu, nên còn gọi là dân biểu Trong khi đại biểu

quốc hội tại thượng nghị viện thường được gọi là nghị sĩ, hay là thượng nghị sĩ.

a. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hiến pháp 2013 quy định : “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân,

cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Các đại biểu Quốc hội do cử tri cả nước bầu ra

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước Quốc hội có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, củng cố và phát triển bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật

Các cơ quan của quốc hội gồm: Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội

a. Sự ra đời và phát triển của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngày 16, 17 tháng 8 năm 1945, tại Tân Trào, Quốc dân đại hội được triệu tập đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng, lập ra Ủy ban dân tộc giải phóng Trung ương Quốc dân đại hội được coi là tiền thân của Quốc hội nước ta

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, nhân dân ta tiến hành cuộc Tổng tuyển cử tự do trong

cả nước, bầu ra Quốc hội nước Việt Nam dân chủ công hòa Đó là Quốc hội khóa 1 của nước ta

Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội vào ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ liên hiệp kháng chiến được thành lập và Quốc hội bầu ra Ban dự thảo hiến pháp Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội thông qua Hiến pháp đầu tiên Do hoàn cảnh lịch sử khó khăn

Trang 4

lúc bấy giờ, Quốc hội không thể giải tán để bầu ra Nghị viện mới theo quy định của Hiến pháp 1946 Do đó, Quốc hội tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến năm 1959

Kỳ họp thứ sáu của Quốc hội khóa I từ ngày 29 tháng 12 năm 1956 đến ngày 25 tháng 1 năm 1957 đã quyết định sửa đổi bản Hiến pháp 1946 cho phù hợp với tình hình Và Hiến pháp 1959 được ra đời Theo Hiến pháp 1959, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất không phải là Nghị viện nhân dân mà chính là Quốc hội

Quốc hội khóa II (1960 – 1964 ) : tiếp tục truyền thống, củng cố, tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân

Quốc hội khóa III ( 1964 – 1971 ): Quốc hội lãnh đạo nhân dân đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ, tiếp tục xây dựng CNXH ở miền Bắc Quốc hội khóa IV ( 1971 – 1975 ): Quốc hội lãnh đạo nhân dân đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giành được độc lập, tự do cho đất nước

Quốc hội khóa V ( 1975 – 1976): Ngày 25 tháng 6 năm 1976, nhân dân cả nước bầu ra Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, có nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Đó là Quốc hội khóa VI

Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ bảy thông qua Hiến pháp 1980

Quốc hội khóa VII ( 1981 – 1987 ): Tiếp tục nhiệm vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa Quốc hội khóa VIII ( 1987 – 1992): Là Quốc hội của thời kỳ đổi mới tại kỳ hợp thứ mười một, bản Hiến pháp 1992 được thông qua Nhân dân ta bầu ra Quốc hội khóa IX

Quốc hội khóa IX ( 1992 – 1997 ): Động viên cả nước tiếp tục công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Quốc hội khóa X ( 1997 – 2002): Tiếp tục công cuộc đổi mới đất nước Tại kỳ hợp thứ mười, Quốc hội đề ra nghị quyết về sửa đổi và bổ sung Hiến pháp 1992 Quốc hội khóa XI ( 2002 – 2007): Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Quốc hội khóa XII ( 2007 – 2011): Đây là Quốc hội của thời kỳ hội nhập và phát triển toàn diện đất nước sau khi Việt Nam gia nhập WTO

Quốc hội khóa XIII ( 2011 – 2016): Quốc hội tiếp tục thời kỳ hội nhập và phát triển toàn diện đất nước Thông qua Hiến pháp 2013 tại kỳ hợp lần thứ sáu

Trang 5

2 Khái niệm lập pháp

a Định nghĩa lập pháp

Lập pháp là hành vi giám sát hành pháp của Quốc hội từ việc thẩm tra ở các Ủy ban đến việc chất vấn, tranh luận, thảo luận của các đại biểu Quốc hội tại nghị trường hay tổ, rồi biểu quyết thong qua một đạo luật

Lập pháp không đồng nghĩa với làm luật, không phải là tìm ra các quy tắc xử

sự hợp lí của xã hội mà chỉ là hành vi kiểm tra, giám sát quy tắc xử sự mà hành pháp tìm ra có hợp luật tự nhiên hay không

b Đặc điểm của hoạt động lập pháp

- Hoạt động lập pháp mang tính tất yếu, bởi pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất

mà Nhà nước sử dụng để quản lí xã hội nhằm duy trì trật tự xã hội, bảo vệ quyền

và lợi ích của mọi người dân

- Hoạt động lập pháp phải mang tính khach quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của một cá nhân hay tổ chức nào mà phải xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ xã hội

- Hoạt động lập pháp là một nội dung quan trọng trong cơ chế tổng thể lãnh đạo

và quản lí xã hội, là sự chuyển hóa nội dung, hình thức lãnh đạo của Đảng thành nội dung, hình thức pháp lý

- Hoạt động lập pháp thể hiện quyền lực nhà nước, là lĩnh vực hoạt động đặc thù riêng của nhà nước, mang tính bắt buộc thi hành đối với mỗi cá nhân, tổ chức trong

xã hội

- Hoạt động lập pháp mang tính nhân dân, nhân dân bầu ra Quốc hội, quyền lực Quốc hội là sự tín nhiệm của nhân dân đối với đại biểu Quốc hội

3 Quy trình lập pháp:

Theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, quy trình lập pháp nước ta trải qua 6 bước

Bước 1: lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh

+ Đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh (đưa sáng kiến lập pháp): Luật Việt Nam quy định rất rộng rãi, cụ thể các chủ thể tại điều 33 Luật văn bản hiện hành

Trang 6

+ Thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.

+ Ủy ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh + Quốc hội xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng

+ Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh chương trình

Bước 2: Soạn thảo luật, pháp lệnh:

+ Thành lập ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo

+ Lấy ý kiến đối với dự án Luật, pháp lệnh

+ Thẩm định dự án Luật do Chính phủ trình.

Bước 3: Thẩm tra dự án Luật:

+ Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự án Luật thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách

+Ủy ban Pháp luật có trách nhiệm thẩm tra để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp

và tính thống nhất của dự án Luật với hệ thống pháp luật

+ Ủy ban Các vấn đề xã hội thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong

dự án Luật

Bước 4: Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét cho ý kiến về dự án Luật (điều 48)

- Giai đoạn này nhằm đảm bảo đưa trình dự án Luật ra Quốc hội được chuẩn bị chu đáo, đúng quy trình Luật định và nâng cao chất lượng của dự án Luật;

- Trên cơ sở ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án Luật có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý hoàn thiện dự án

Bước 5: Thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua:

- Quốc hội: xem xét, thông qua dự án Luật tại một hoặc hai kỳ họp Quốc hội (điều 51)

Bước 6: Công bố Luật.

Trang 7

- Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố Luật chậm nhất là mười lăm ngày kể

từ ngày luật được thông qua

II. LỊCH SỬ LẬP PHÁP QUA CÁC KIỂU NHÀ NƯỚC

Cho đến nay vẫn chưa có một kết luận cụ thể nào về thời điểm ra đời quyền lập pháp.Nhưng chắc chắn dù hiểu quyền lập pháp theo quan điểm nào đi chăng nữa thì quyền lập pháp cũng do nhà nước quy định và pháp luật bảo đảm thực hiện nên

ta có thể khẳng định:sự ra đời quyền lập pháp gắn liền với sự ra đời của nhà nước

và pháp luật,bởi bất cứ một nhà nước nào cũng cần cũng cần xây dựng một hệ thống pháp luật và những thiết chế đảm bảo cho hệ thống pháp luật đó được thực hiện

Tuy quyền lập pháp luôn đi cùng với nhà nước và pháp luật nhưng quan niệm về quyền lập pháp ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi kiểu nhà nước khác nhau là không giống nhau

1. Nhà nước chủ nô:

Thời kì đầu khi xuất hiện nhà nước và pháp luật,quyền lực nhà nước được tổ chức hết sức đơn sơ,chủ yếu dựa vào sự cưỡng bức của giai cấp chủ nô với tầng lớp nô lệ.Quyền lực nhà nước không được phân chia rạch rũi thành quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp.Tuy nhiên ở một góc độ nào đó ta vẫn thấy được sự phân chia nhiệm vụ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước.Ví dụ như trong bộ máy nhà nước Aten,Lamã…đại hội nhân dân là cơ quan làm luật.Như vậy,ở nhà nước chủ nô,quyền lập pháp đó xuất hiện

2 Nhà nước phong kiến

- Trong nhà nước phong kiến, quyền lực tập trung vào tay vua Vua là người đứng đầu triều đình, giúp việc cho vua là bộ máy quan lại ở trung ương và địa phương Vua nắm giữ toàn bộ quyền lực tối cao của nhà nước, vừa ban hành pháp luật, vừa tổ chức thực hiện pháp luật, vừa là quan tòa tối cao xét xử những vụ án lớn

Trang 8

- Bước đầu đã có sự phân biệt chức năng giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, song cũng chỉ là sự phân công nhiệm vụ giữa các cơ quan giúp việc cho vua

- Riêng ở phương Tây, khi chế độ phong kiến mới được thiết lập, trong xã hội diễn ra tình trạng phân quyền cát cứ Quyền lực của nhà vua bị hạn chế Quyền lập pháp lúc này thuộc về các lãnh chúa trong phạm vi lãnh địa của mình

3 Nhà nước tư sản

- Thời kì đầu khi nhà nước tư sản ra đời, một loạt các học thuyết mới được hình thành và phát triển, điển hình là thuyết phân chia quyền lực của Montesquieu Theo đó, quyền lực nhà nước gồm ba thứ quyền lực chủ yếu là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, được phân chia cho ba hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau nhưng có thể kiềm chế, đối trọng và tương tác lần nhau Quyền lập pháp được trao cho nghị viện – cơ quan đại diện cao nhất cho các tầng lớp dân chủ trong xã hội

- Trong thời kì đầu của cuộc cách mạng tư sản, tư tưởng tự do và phong trào đấu tranh đòi bình đẳng của nhân dân diễn ra mạnh mẽ Nghị viện ra đời nhằm hạn chế quyền lực nhà vua Đây có thể coi là thời kì hoàng kim của quyền lập pháp Quyền hành pháp chỉ mang tính chấp hành quyền lập pháp, phụ thuộc ý chí của Nghị viện – cơ quan do nhân dân bầu ra, thay mặt cho nhân dân, thực hiện quyền lực nhà nước (tức quyền lực nhân dân)

- Ở giai đoạn phát triển sau của nhà nước tư sản, quyền hành pháp dần dần bị quyền lập pháp thao túng Theo xu hướng đó, cho đến nay, quyền hành pháp trở thành quyền lực trung tâm trong cơ cấu quyền lực nhà nước của các nhà nước dân chủ và pháp quyền

4 Nhà nước xã hội chủ nghĩa:

Sự phát triển của quyền lập pháp trong các nước xã hội chủ nghĩa mà ví dụ tiêu biểu là Việt Nam:Trước đây do những nhận thức hạn chế mà thuyết tam quyền phân lập không được vận dụng một cách hợp lí.Trải qua một thời gian dài dưới chế

độ tập trung quan liêu bao cấp,nền kinh tế nước ta có tụt hậu rất nhiều so với thế giới.Đứng trước sự lựa chọn phải đổi mới hay là mãi mãi tụt hậu,đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI đã mạnh dạn đề ra đường lối đổi mới,trong đó có

Trang 9

sự nhận thức lại một số quan điểm về tổ chức quyền lực nhà nước Hiến pháp 1992 ghi nhận sự thay đổi tích cực đó,đó khẳng định nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân,do dân và vì dân,quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.Quốc hội là cơ quan đại diện của nhân dân,do nhân dân bầu ra,là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất,đồng thời là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp

III THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI

Trong thời gian qua, công tác lập pháp của Quốc hội thường xuyên được đổi mới

và ngày càng có hiệu quả hơn Đặc biệt, từ năm 1992 đến nay, hoạt động lập pháp được Quốc hội quan tâm đẩy mạnh trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 và quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng, và do vậy đã đạt được những kết quả quan trọng

Nhìn chung, số lượng các văn bản luật, pháp lệnh do Quốc hội, Ủy ban Thường

vụ Quốc hội ban hành ngày càng tăng, với chất lượng ngày càng được nâng lên Cụ thể, nếu Quốc hội khóa IX (1992 - 1997) ban hành được 41 luật, bộ luật và 43 pháp lệnh; Quốc hội khóa X (1997 - 2002) ban hành được 34 luật, bộ luật và 40 pháp lệnh thì với việc thực hiện các quy định mới qua sửa đổi, bổ sung của Hiến pháp năm 1992 (năm 2001) và việc cải tiến mạnh mẽ quy trình xem xét, thông qua luật, Quốc hội khóa XI (2002 - 2007) đã thông qua 84 luật, bộ luật (đạt kỷ lục, hơn gấp đôi các khóa trước) Trong đó có những đạo luật lần đầu tiên ban hành ở Việt Nam, như Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Xây dựng, Luật Thủy sản, Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế Trong nhiệm kỳ rút ngắn, chỉ gần 4 năm, nhưng Quốc hội khóa XII (2007 - 2011) cũng đã thông qua được 67 luật, bộ luật và 14 pháp lệnh Trong nửa đầu nhiệm kỳ khóa XIII (từ năm 2011 đến tháng 9-2013), Quốc hội đã thông qua 37 luật, bộ luật và 7 pháp lệnh

Nội dung các vấn đề được điều chỉnh trong các luật ngày càng mở rộng, bao phủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quy trình, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật đến các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tổ chức bộ máy nhà nước, hành chính, dân sự, hình sự, tư pháp, Quốc hội đã quy định tổ chức và hoạt động của

Trang 10

Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương; quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước Nhiều văn bản luật về kinh tế thuộc các lĩnh vực: doanh nghiệp, đầu tư, ngân hàng, tín dụng, thương mại, kinh doanh bất động sản, cải cách chính sách thuế,… được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, bảo đảm phù hợp với điều kiện, mục tiêu phát triển đất nước, yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế, thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Một số quan hệ kinh tế quan trọng, phức tạp, nhạy cảm, như quản lý và sử dụng tài sản nhà nước; quản lý nợ công; trưng mua, trưng dụng tài sản; thuế sử dụng đất nông nghiệp; thuế tài nguyên; thuế thu nhập cá nhân; đã được Quốc hội dành nhiều thời gian, trí tuệ, công sức xây dựng thành luật và ban hành Đồng thời, Quốc hội đã quan tâm sửa đổi, bổ sung kịp thời các chế định pháp luật không còn phù hợp thuộc các lĩnh vực, như ngân hàng; tín dụng; thuế; đầu tư xây dựng cơ bản; phòng, chống tham nhũng; quốc tịch; giao thông đường bộ; xuất bản; sở hữu trí tuệ, điều ước quốc tế; để đáp ứng nhu cầu hội nhập, phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội

VI GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI

V Ý NGHĨA HOAT ĐỘNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI

Quốc hội do nhân dân bầu ra, là cơ quan đại biểu cao nhất đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân vì vậy hoạt động lập pháp của Quốc hội có ý nghĩa:

- Đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm, thúc đẩy và phát triển quyền dân tộc tự quyết, nhân quyền và dân quyền của cá nhân, con ngưới Việt Nam

- Góp phần xây dựng nhà nước Việt Nam trở thành nhà nước pháp quyền XHCN

“ của dân, do dân và vì dân”

- Quốc hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhân dân, nắm rõ tâm tư, nguyên vọng của nhân dân, vì vậy hiểu rõ nhân dân muốn gì và cần sinh hoạt theo quy tắc nào,

Ngày đăng: 06/06/2016, 10:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w