Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm Dạy học các tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi pháp loại thể không phải là vấn đề mới mẻ nhưng việc áp dụng nó một cách bài bản, có hiệu quả
Trang 1MÔN VĂN M CH M I M: V13
THI PHÁP TRUYỆN NGẮN QUA CÁC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO, THẠCH LAM
Phần 1 MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong quá trình phát triển lâu dài của văn học, loại thể là một yếu tố mà bên cạnh mặt biến động đổi thay lại có những yếu tố tương đối ổn định Các tác phẩm của nhiều tác giả, ở nhiều thời đại, quốc gia đều khác nhau về nội dung, tư tưởng nhưng có những mặt gần gũi về điệu cảm xúc của tâm hồn, về ý thức biểu hiện thế giới nội tâm của nhà thơ Những yếu tố tương đồng và tương đối ổn định đó trong văn học biểu hiện nhiều mặt và loại thể văn học là một yếu tố quan trọng
Loại thể văn học thuộc về ý thức, về cách thể hiện cuộc sống trong văn học cũng như cách cấu tạo và biểu hiện nội dung trong tác phẩm văn học cụ thể Tác phẩm văn học tồn tại trong những hình thức của các loại thể văn học Không
có tác phẩm nào tồn tại ngoài hình thức quen thuộc của loại thể Phân tích một tác phẩm về nội dung cũng như nghệ thuật không thể xem nhẹ đặc trưng loại thể
Dạy học theo đặc trưng thi pháp của từng loại thể là để từng bước bám sát việc đổi mới phương pháp dạy học theo yêu cầu chung của trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, do văn học là lĩnh vực của sự sáng tạo nên ở mỗi nhà văn, thể loại văn học lại có những điểm sáng tạo mang tính cá nhân Ở đây tôi xin được nhấn mạnh đặc trưng thi pháp của thể loại truyện ngắn qua một số tác phẩm của Nam Cao, Thạch Lam
2 Mục đích yêu cầu:
Khái quát những đặc điểu cơ bản và chính yếu của thi pháp truyện ngắn qua các tác phẩm của Nam Cao, Thạch Lam, nhằm tiếp cận các giá trị của tác phẩm Nam Cao, Thạch Lam một cách sâu sắc và mới mẻ, rút ra những vấn đề lí luận về thi pháp từ thực tiễn ngiên cứu và về phương pháp luận nghiên cứu văn chương theo góc độ thi pháp học
3 Giới hạn vấn đề:
Vận dụng lý thuyết thi pháp để nghiên cứu thi pháp truyện ngắn và thi pháp truyện ngắn của Nam Cao, Thạch Lam Thi pháp truyện ngắn Nam Cao vừa là đối tượng tiếp cận vừa là giới hạn mục tiêu cần đạt được của đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu:
Với sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu:
– Phương pháp tiếp cận thi pháp học
– Phương pháp so sánh văn học
– Phương pháp thống kê
5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Dạy học các tác phẩm văn chương theo đặc trưng thi pháp loại thể không phải là vấn đề mới mẻ nhưng việc áp dụng nó một cách bài bản, có hiệu quả hay không lại cần cả một quá trình đánh giá của từng đơn vị, từng nhóm chuyên môn
Trang 2của nhà trường Bởi vậy trong phạm vi của bài viết mang tính kinh nghiệm này, chúng tôi chỉ đề xuất những giải pháp nhằm xác định rõ hơn những yêu cầu cơ bản khi giảng dạy tác phẩm truyện ngắn theo đặc trưng loại thể của nó:
Dạy học theo đặc trưng thi pháp loại thể là chú ý hơn đến những yếu tố hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật – không gian – thời gian, kết cấu – cốt truyện – điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại… Nội dung trong tác phẩm phải được suy ra từ hình thức, đó là “hình thức mang tính quan niệm” (Trần ình Sử) Phương pháp chủ yếu của dạy học theo đặc trưng loại thể là chú trọng đến yếu
tố hình thức “Phương pháp hình thức là phương pháp phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó” (Nguyễn Văn Dân) ây là điểm bổ sung thêm để kết hợp với cách dạy học trước đó là chú trọng đến những vấn đề nằm ngoài văn bản như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội của tác phẩm…
Dạy học tác phẩm truyện theo đặc trưng loại thể là cách dạy học theo hướng cung cấp tri thức công cụ để học sinh tự lĩnh hội và khám phá giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm (thực ra là tạo điều kiện cho học sinh được thực hành những hiểu biết về loại thể để tìm hiểu văn bản), đó cũng là điều phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Với học sinh chuyên, việc thấy được những đặc trưng thi pháp truyện ngắn và những sáng tạo mới mẻ của từng nhà văn là một yêu cầu vô cùng quan trọng
6 Đóng góp của sáng kiến kinh nghiệm
Trong thực tế giảng dạy tại đơn vị, chúng tôi đã áp dụng những suy nghĩ trong bài viết này vào công việc soạn giảng và thấy có hiệu quả nhất định ở một
- Thấy được những đổi mới của thi pháp truyện ngắn của Nam Cao và Thạch Lam
Phần 2 NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 THI PHÁP
1.1 Khái niệm thi pháp
Thi pháp học là bộ môn khoa học lâu đời, nó xuất hiện từ thời Hi Lạp cổ đại Ở Việt Nam, Thi pháp học mới chỉ phổ biến sau năm 1986
“Từ điển tiếng Việt” có giải thích: “Thi pháp: Phương pháp, quy tắc làm
thơ.”(Hoàng Phê; Từ điển tiếng Việt, Nxb, à Nẵng 1998)
Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học”, tác giả Lại Nguyên Ân có viết:
“Thi học, thi pháp Ngành học thuật nghiên cứu hệ thống các phương thức, phương tiên biểu hiện trong các tác phẩm văn học; một trong những bộ môn lâu đời nhất của nghiên cứu văn học… Trong nghĩa rộng “thi học” trùng với “lý luận văn học”; trong nghĩa hẹp, “thi học” trùng với một số các nghành của thi
Trang 3học lý thuyết Là một ngành của lý luận văn học, thi học nghiên cứu đặc trưng của các loại hình loại thể văn học, các trào lưu và khuynh hướng, các phong cách và phương pháp, nghiên cứu các quy luật liên hệ và quan hệ nội tại giữa các cấp độ khác nhau của chỉnh thể nghệ thuật”).(Lại Nguyên Ân; 150 thuật ngữ văn học, Nxb ại học quốc gia Hà Nội, H 1999, tr.307-308) Cũng theo tác giả, tuỳ theo đối tượng nghiên cứu người ta chia ra thành: thi pháp chủ nghĩa lãng mạn, thi pháp tiểu thuyết(thi pháp của thể loại), thi pháp sáng tác của một nhà văn nào đó…
Như vậy chúng ta có thể hiểu thi pháp là: hệ thống các yếu tố hình thức tạo nên tác phẩm, cách thức hoặc quy tắc sáng tác một tác phẩm văn học theo một loại thể nhất định
1.2 Loại thể và dạy học bám sát đặc trƣng thi pháp loại thể
Dạy học bám sát đặc trưng thi pháp loại thể là việc dẫn dắt học sinh khám phá, phát hiện, phân tích các khía cạnh hình thức của tác phẩm văn học nghệ thuật để rút ra ý nghĩa thẩm mỹ của nó ây là một trong những phương pháp dạy học bổ sung hữu ích cho cách dạy học truyền thống là chú trọng tới các yếu
tố bên ngoài tác phẩm nhiều hơn như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội Dạy học bám sát đặc trưng thi pháp loại thể cũng là yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay “Một trong những con đường đi vào tác phẩm văn chương là nhận diện được loại thể ến với thơ không giống với tự sự hay kịch ến với văn học dân gian không hoàn toàn giống như đến với văn học viết Văn học trung đại và hiện đại có những đặc trưng thủ pháp nghiên cứu riêng
Với văn học dịch cũng cần có cách tiếp cận riêng.”(Phan Trọng Luận; Tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương, trong cuốn “Hướng dẫn thực hiện chương trình
sách giáo khoa lớp 12”, Nxb GD.H.2008)
2 ĐẶC TRƢNG CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN
Truyện có những đặc trưng cơ bản: “tính khách quan trong sự phản ánh; cốt truyện được tổ chức một cách nghệ thuật; nhân vật được miêu tả chi tiết, sống động gắn với hoàn cảnh; phạm vi miêu tả không bị hạn chế về không gian
và thời gian; ngôn ngữ linh hoạt, gần với ngôn ngữ đời sống” (Sách giáo viên Ngữ văn 11 tập 1, Nxb GD, H 2007 tr 152)
2.1 Hình tƣợng nhân vật: (là yếu tố quan trọng hàng đầu)
Nhân vật là con người (có tên hoặc ko có tên, dù dưới hình thức loài vật hay cây cỏ) Hình tượng nhân vật là nhân vật được phản ánh một cách sinh động, toàn vẹn, là sản phẩm trí tưởng tượng sáng tạo của nhà văn Hình tượng nhân vật được xem như là một phương tiện để chuyển tải những quan niệm , những suy nghĩ về con người và cuộc đời
2.2.Cốt truyện
Cốt truyện là hệ thống các sự kiện, các biến cố xảy ra trong cuộc sống của nhân vật, có tác dụng bộc lộ số phận, tính cách nhân vật
2.3 Chi tiết là những biểu hiện nhỏ nhặt, nhưng lại cho chúng ta thấy tính
cách nhân vật và diễn biến quan hệ của chúng, đồng thời thể hiện sự quan sát và
NT kể chuyện của tác giả Tác dụng: chi tiết có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhân vật, vừa tạo ra sự hấp dẫn thú vị, vừa bộc lộ ý nghĩa của chúng
Trang 42.4.Sự miêu tả hoàn cảnh:
Hoàn cảnh là toàn bộ các quan hệ xã hội, các điều kiện sống, tạo thành nền tảng khách quan của đời sống nhân vật Tác dụng: Biểu hiện địa vị, tâm tình nhân vật, gây hứng thú cho người đọc
2.5 Cốt truyện, kết cấu của truyện ngắn:
Nếu tính thời điểm là nét thẩm mĩ đặc trưng của truyện ngắn được hầu hết các nhà văn công nhận, thì cốt truyện và cách kết thúc truyện ngắn lại là những vấn đề gây nhiều tranh cãi Theo nguyên tắc lí thuyết, mỗi truyện ngắn là một câu chuyện; câu chuyện đó được xây dựng trên cơ sở một cốt truyện bao gồm
"hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề tư tưởng tác phẩm" (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB ại học Quốc gia Hà Nội,
Cách tổ chức tác phẩm có tác dụng làm nổi bật ý nghĩa và gây hứng thú
2.6 Lời kể:
Thể hiện điểm nhìn của người kể trong việc hướng dẫn người đọc cảm thụ tác phẩm (ai kể, kể theo điểm nhìn của ai), thể hiện tính mới mẻ, sáng tạo, cá tính tác giả, mang giọng điệu riêng
ọc kĩ lời kể của người kể chuyện Qua các xưng gọi, cách miêu tả, điểm nhìn trần thuật, các biện pháp tu từ có thể nắm bắt thông tin về tình cảm, thái độ, khuynh hướng thẩm mĩ và phong cách độc đáo của nhà văn
2.7 Về thời gian, không gian trong truyện ngắn:
Trong nghệ thuật tự sự luôn tồn tại hai khái niệm: thời gian của câu chuyện được kể và thời gian kể chuyện Nhịp độ nhanh chậm của câu chuyện phụ thuộc vào thủ pháp làm cô đọng hay giãn nở thời gian kể chuyện ây cũng
là một trong những yếu tố tạo sự khác biệt giữa truyện ngắn và tiểu thuyết Hầu hết các nhà văn cho rằng "truyện ngắn là thời điểm, tiểu thuyết là thời gian" (Roger Grenier) Nếu tiểu thuyết luôn cố gắng thể hiện bề dày thời gian thì truyện ngắn chỉ dừng lại ở thời gian "sự kiện" Nếu tiểu thuyết là "một đoạn của dòng đời" thì truyện ngắn là "lát cắt của dòng đời" Theo cách nói của Hervé Bazin, truyện ngắn chỉ "quan tâm đến một khắc ngừng của thời gian", luôn biết cách "tóm lấy con người vào thời điểm đặc biệt ý nghĩa trong cuộc đời họ" Vì vậy, viết truyện ngắn, như A Bragance nhận định, là viết về những "nút thời gian"
Trang 5Về thủ pháp khai thác và xử lí thời gian trong truyện ngắn, ý kiến của các nhà văn cũng khá thống nhất Hầu hết cho rằng nếu tiểu thuyết khai thác một quãng đời của nhân vật và biểu đạt thời gian theo "chiều nằm ngang", thì truyện ngắn lại khai thác phần "nổi trồi lên của một khoảnh khắc", và "bắt buộc phải theo chiều thẳng đứng, với tất cả độ cao và chiều sâu của nó" Truyện ngắn tập trung xoáy vào thời điểm đã lựa chọn, không dàn trải vào những gì xảy ra
"trước" hoặc "sau" thời điểm đó François Thibaux giải thích: "Mỗi truyện ngắn nói về một thời điểm xác định, thời điểm ở đó số phận của nhân vật tròng trành rồi định vị Trong tiểu thuyết, tất cả đều có thể tán rộng ra, cho người đọc cái nhìn tổng thể về số phận của nhân vật Ngược lại, truyện ngắn không nán lại ở những hệ quả mà thời điểm đó gây ra [ ] Khi số phận nhân vật bị chao đảo cũng là lúc truyện ngắn kết thúc" Có nhà văn còn so sánh truyện ngắn với những "điện áp nhỏ" chuyên thu bắt "những thời khắc đắt của cuộc sống" Tác giả truyện ngắn phải biết chọn trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất ó là cái khoảnh khắc con người ta ở vào một tình thế buộc phải bộc lộ ra phần tâm can nhất, phần ẩn náu sâu kín nhất; đôi khi là một khoảnh khắc chứa cả một đời người, một quãng đời nhân loại ây cũng chính là yếu tố làm nên nét độc đáo của truyện ngắn, một thể loại có thể "nêu được những điều cốt yếu chỉ từ một chi tiết nhỏ và chỉ với vài trang giấy"
có thể thấy được cả trăm năm của đời thảo mộc, là "một khoảnh khắc mà trong
đó sự sống hiện ra rất đậm đặc", "khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người, thậm chí cả một đời nhân loại" (Nguyễn Minh Châu) ịnh nghĩa như thế là xoáy vào nghịch lí thú vị sau đây của tình huống : qua cái ngắn mà thấy được cái dài, qua một khoảnh khắc ngắn ngủi mà thấy được diện mạo toàn thể Nghĩa là tính "đặc biệt điển hình" của cái tình thế cuộc sống chứa đựng trong đó ây là một tố chất thẩm mĩ tiềm ẩn của tình huống Ở một chỗ khác Nguyễn Minh Châu có nói đến một khái niệm na ná là "tình thế" Nghĩa là một khoảnh khắc nào đó của đời sống mà ở đó một mối quan hệ (con người với con người, hoặc con người với ngoại vật) bị đẩy đến trước một tương quan éo le Ông gọi là "cái tình thế nảy ra truyện" Như vậy, có khi tình huống bao chứa tình thế, lại có khi tình thế bao chứa tình huống
Tình huống là hạt nhân của cấu trúc thể loại truyện ngắn Nghĩa là nó quyết định đến sự sống còn của một truyện ngắn Hãy nhìn vào hai dạng biến
động cơ bản về qui mô của truyện ngắn : a) dạng mở rộng : khi một truyện ngắn
có đến hai sự kiện "tranh nhau" đóng vai trò hạt nhân, vai trò quán xuyến, thì
truyện ngắn đang "vươn vai" thành truyện dài ; b) dạng giản lược : khi một
truyện ngắn co mình lại trong một số chữ hạn định để thành truyện cực ngắn,
Trang 6truyện mini, thì có thể thấy các thành tố khác của truyện như nhân vật, cảnh vật, lời trần thuật có thể giảm thiểu đến kiệt cùng, còn cái mà nó quyết giữ chính là tình huống Mất "tình huống" nó có thể thành tản văn, thành tuỳ bút, thành thơ văn xuôi, thành kí, nghĩa là thành gì gì khác… chứ quyết không thể còn là truyện ngắn Mất tình huống tức là mất tính cách truyện ngắn
Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM TRUYỆN
NGẮN TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN NGỮ VĂN
CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, chúng tôi thấy việc dạy – học các tác phẩm, đoạn trích truyện trong chương trình tại đơn vị chưa thật bám sát đặc trưng thi pháp loại thể của truyện iều đó, thể hiện
ở những tồn tại chưa bám sát đặc trưng thể loại truyện ngắn khi dạy tác phẩm, chỉ chú trọng phân tích nội dung dẫn đến hiểu tác phẩm còn phiến diện
Chúng ta đều biết rằng, khi đọc – hiểu bất kì một tác phẩm thuộc thể loại nào cũng nên chú ý tới hoàn cảnh sáng tác, đây là yêu cầu quan trọng để thấy được tính lịch sử cụ thể của diễn biến đời sống được miêu tả trong truyện từ đó hiểu thêm ý nghĩa của truyện ọc truyện cũng cần thiết phải rút ra ý nghĩa tư tưởng của nó thông qua cốt truyện và nhân vật Nhà văn thường sáng tạo nhân vật để phát hiện những vấn đề của đời sống, gửi gắm tư tưởng, quan niệm của mình về cuộc đời Tuy nhiên, tất cả những điều đó phải được rút ra từ việc phân tích kỹ càng các yếu tố nội tại của tác phẩm như: hình tượng nhân vật – không gian – thời gian, kết cấu – cốt truyện – điểm nhìn, ngôn ngữ, thể loại Nhưng trong thực tế, nhiều giáo viên cho học sinh tìm hiểu quá nhiều tới các yếu tố bên ngoài tác phẩm như: tiểu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội của tác phẩm… rồi đưa ra những nhận định, đánh giá về nội dung mà bỏ qua hay rất ít đề cập tới các yếu tố hình thức nghệ thuật iều đó không tránh khỏi cách hiểu và dạy học áp đặt
Chương 3 THI PHÁP TRUYỆN NGẮN QUA CÁC TÁC PHẨM CỦA NAM CAO, THẠCH LAM
1 Thi pháp truyện ngắn Nam Cao
Truyện ngắn Chí Phèo là kiệt tác của đời văn Nam Cao ra đời năm 1941
và đã có mặt trong chương trình Ngữ văn THPT hàng chục năm nay Giới nghiên cứu, giảng dạy đã có rất nhiều bài viết bàn luận về truyện ngắn bất hủ này, thế nhưng đến nay vẫn còn đó những vấn đề chưa được lí giải một cách thấu đáo Tiếp nối những người đi trước, tác giả bài viết này xin được bàn thêm
về giá trị tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn này
1.1 Kết cấu không đơn thuần là hình thức mà còn mang chức năng tạo nghĩa
1.1.1.Về phương diện cốt truyện, truyện ngắn truyền thống thường có kết
cấu cốt truyện theo trình tự tuyến tính, sự kiện xảy ra trước kể trước, sự kiện xảy
ra sau kể sau Trong truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao sử dụng kiểu cốt truyện gấp khúc; trật tự chuyện kể bị đảo ngược, sự việc xảy ra trước được kể sau, sự
việc xảy ra sau nhảy cóc lên trước, quan hệ nhân – quả không còn được duy trì
Trang 7Truyện được mở đầu bằng một trạng huống ở thì hiện tại, khi nhân vật trung tâm – Chí Phèo đã bị tha hóa và trở thành con quỹ dữ của làng Vũ ại Việc đảo lộn trật tự sự kiện, đưa hình tượng Chí Phèo ở đỉnh điểm của sự tha hóa lên đầu truyện đã tạo ra hiệu ứng thẩm mỹ nhất định Thứ nhất, nhà văn muốn thể hiện ý
đồ nhấn mạnh, khắc sâu bi kịch đời sống hiện tại của nhân vật Chí Phèo, hướng nhãn lực người đọc tập trung vào khám phá cuộc đời chí Phèo – nơi quy tụ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn trong truyện ngắn này Thứ hai, nhà văn đã ngầm
ý đặt ra cho người đọc một câu hỏi cần được giải đáp: vì sao Chí Phèo lại trở nên hư đốn như vậy? Thứ ba, hiện tại hết sức bi kịch của Chí Phèo được đặt trong quan hệ đối trọng với quá khứ hiền lương của nhân vật này sẽ giúp tác giả lên án sự tàn nhẫn của chế độ xã hội Thứ tư, việc đảo lộn trật tự sự kiện trong
cốt truyện có tác dụng hiện tại hóa những chuyện được kể
1.1.2.Về kết cấu nhân vật, Nam Cao mở đầu cuộc đời Chí Phèo bằng
hình ảnh đứa trẻ bị bỏ rơi bên cái lò gạch cũ, và khi Chí Phèo chết, cái xuất xứ đau thương của Chí Phèo lại một lần nữa hiển hiện qua chi tiết Thị Nở nhìn xuống bụng của mình và nghĩ đến hình ảnh cái lò gạh cũ bỏ không Chí Phèo chết thì một Chí Phèo con lại sắp sửa ra đời Nam cao đã nhìn thấy bi kịch của người nông dân nhưng ông vẫn chưa nhìn thấy hướng mở để giải phóng người
nông dân ra khỏi bi kịch đó Nếu so sánh truyện Chí Phèo của Nam Cao với Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) vàVợ nhặt (Kim Lân) chúng ta sẽ thấy rõ hơn sự bế tắc
của người nông dân trong sáng tác của Nam Cao Nếu Tô Hoài và Kim Lân bước đầu đã hé lộ đường thoát cho người nông dân bằng cách đi theo cách
mạng, thì ở Chí Phèo người nông dân vẫn còn trong vùng luẩn quẩn ó chính
là hạn chế của thời đại được Nam cao phản ánh trong tác phẩm của mình
1.1.3 Về kết cấu thời gian nghệ thuật, trong tác phẩm Chí Phèo,
giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật có một độ chênh khá lớn
Thời gian được trần thuật là cả cuộc đời của Chí Phèo, còn thời gian trần thuật tính từ khi “Hắn vừa đi vừa chửi…” cho đến kết thúc truyện chỉ vẻn vẹn sáu ngày Nếu thời gian trần thuật được Nam Cao bắt đầu từ chỗ “Hắn vừa đi vừa chửi” cho đến câu kết thúc truyện, thì thời gian được trần thuật lại có thể được người đọc chúng ta kể lại bắt đầu từ xuất xứ của Chí Phèocho đến lúc nhân vật
này giết chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình Nhịp độ thời gian trần thuật trong tác phẩm Chí Phèo thay đổi trong từng đoạn văn, từng tình huống Những đoạn
miêu tả cảnh Chí Phèo say rượu dưới trăng thì thời gian như được kéo dài ra Cảnh Chí Phèo giết Bá Kiến lại được tác giả thể hiện với tốc độ cực nhanh Những lúc tác giả miêu tả về hình dạng các nhân vật thì thời gian chậm lại, dường như là dừng lại (đoạn văn kể Chí Phèo ngay sau khi ở tù về) Những đoạn nói về quãng đời quá khứ của Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức thì tác giả lại lướt qua rất nhanh Chẳng hạn như đoạn “Không biết tù mấy năm, nhưng hắn đi biệt tăm đến bảy tám năm, rồi một hôm hắn lại lù lù ở đâu trở về Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai Trông đặc như thằng săng đá” Trong trường hợp này tác giả đã dùng hình thức tĩnh lược, sự tĩnh lược này thể hiện một cách gián tiếp qua sự thay đổi của Chí Phèo so với lúc chưa đi ở tù Chỉ cần vài câu ngắn gọn thế nhưng Nam Cao đó giúp người đọc hình dung được cả một quãng đời của Chí Phèo, đồng thời cũng đã thể hiện được sự nghiệt
Trang 8ngã của xã hội đã đẩy con người đến cảnh bị tha hoá ọc Chí Phèo chúng ta
thấy có một chi tiết rất thú vị, đó là đoạn văn: “Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn cày thuê Vợ dệt vải Chúng lại
bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm” Nếu đứng ở thời điểm sau khi Chí đã ở tù về thì đó là thời gian quá khứ Nếu đứng ở thời điểm Chí còn làm canh điền cho nhà Bá Kiến thì đó là tương lai, là
mơ ước của Chí Phèo Hay đoạn văn kết thúc truyện: “…thị nhìn trộm bà cô, rồi nhìn ngay xuống bụng… ột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua” Trong cả hai đoạn văn vừa trích dẫn, quá khứ - hiện tại và tương lai như hoà nhập làm một
ến đây, chúng ta có thể thấy rõ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật có một độ chênh khá lớn ể đạt được điều đó, Nam Cao đã theo nguyên tắc liên tưởng, hồi tưởng, và cả theo quy luật tương đồng, tương phản (tương phản giữa quá khứ - hiện tại của Chí Phèo, tương phản giữa ước mơ cuộc sống yên bình trong quá khứ với hiện tại tối tăm trong cuộc đời Chí) Sự tương phản này thể hiện sự biến đổi, tha hoá của Chí Phèo, đồng thời cũng thể hiện cách nhìn và thái độ của nhà văn trước hiện thực cuộc sống Tương đồng ở chỗ quá khứ, hiện tại và tương lai nhiều lúc như hoà làm một iều này càng làm cho sức khái quát cuộc sống của tác phẩm cao hơn Nhịp điệu thời gian trong tác phẩm rất hấp dẫn Những đoạn kể về quá khứ của nhân vật thì thời gian lướt qua rất nhanh, những đoạn kể về thời điểm hiện tại thì thời gian như bị cô đặc lại, ông chú ý kể một cách cụ thể, sinh động và sâu sắc về cuộc sống ở thời điểm
hiện tại của nhân vật Có thể hình dung nhịp điệu thời gian trong truyện Chí Phèo theo cấu trúc: căng dần - đỉnh điểm - chùng dần - căng dần Nguyễn Thái Hoà - tác giả cuốn sáchNhững vấn đề thi pháp của truyện gọi đó là “cấu trúc làn
sóng”
1.1.4 Về cách kết thúc truyện, Nam cao đã không đi theo lỗi mòn xưa cũ,
không chọn một cái kết có hậu, nhưng vì thế mà truyện ngắn này lại có giá trị
hiện thực sâu sắc và chân thực hơn, khách quan hơn Trong truyện ngắn Chí Phèocó ba nhân vật chính Bên cạnh Chí Phèo là nhân vật trung tâm còn có hai
nhân vật có quan hệ trực tiếp với Chí Phèo là bá Kiến và Thị Nở Chí Phèo kết thúc cuộc đời khốn khổ khốn nạn bằng chính lưỡi dao của mình Bá Kiến nổi danh với bản chất tham lam và tàn nhẫn với đầy mưu ma chước quỷ cuối cùng cũng bị tiêu giệt bởi Chí Phèo – sản phẩm do chính Bá Kiến trực tiếp tạo ra; còn Thị Nở - người đàn bà có ngoại hình xấu xí nhưng tiềm ẩn khát vọng hạnh phúc cũng có kết cục bất hạnh ọc lại một số truyện ngắn khác của Nam Cao cũng không thấy có một nhân vật nào được hạnh phúc tròn vẹn cả Truyện của ông không một kết thúc có hậu, không một mảnh đời yên lành, không một cuộc tình
êm ả, không có gì tròn trịa, nguyên vẹn Chỉ có cái chết và sự tàn lụi mà thôi Nam Cao từng quan niệm: “cuộc đời là một tấm áo cũ bị xé rách tả tơi”, kết cục
bi kịch của ba nhân vật này là một minh chứng rõ ràng cho quan niệm đó
1.2 Nhân vật của những định kiến và nhân vật biến thể
Hầu hết những nhân vật hữu hình, xấu xí về nhân hình , xấu xa về nhân
tính trong tác phẩm của Nam Cao đều được dựng lên bằng điểm nhìn của nhân
Trang 9vật vô hình định kiến xã hội làng Vũ Đại, một điểm nhìn đầy thành kiến, đầy ác cảm
1.2.1 Những nhân hình xấu xí và những nhân tính xấu xa
Nam Cao có một loạt nhân vật xấu xí về nhân hình, xấu xí đến mức ghê tởm, khác hẳn lối mô tả nhân vật xấu xí truyền thống iểm mới căn bản ở Nam Cao so với các nhà văn khác khi miêu tả nhân vật là ở chỗ ông không miêu tả nhân vật bằng con mắt trực diện của mình mà bằng điểm nhìn của chính nhân vật, bằng quan điểm lập trường của chủ thể khác, tách khỏi chủ thể người dẫn truyện Bằng tầm nhìn của chủ thể khác tách khỏi nhà văn, độc lập với nhà văn, hình tượng nhân vật hiện lên trong cái thiện, ác cảm của tầm nhìn trực diện ấy Nam Cao đã mô tả cái xấu của Chí Phèo, Thị Nở, Trương Rự, Lang Rận trong tầm nhìn định kiến của làng Vũ ại Nhân vật định kiến xã hội làng Vũ ại như một bóng ma luôn luôn ám ảnh con người, bóng ma nếp mòn lưu cữu của tệ định kiến và thành kiến của xã hội tồn tại dai dẳng hàng nghìn năm trong xã hội phong kiến Việt Nam
Con người không chỉ bị thoái hoá về nhân hình mà còn bị thoái hoá về nhân tính với những mức độ khác nhau, nhưng tính chất thoái hoá cực kỳ gay găt nghiêm trọng Loại nhân vật này cũng được tác giả mô tả qua cái nhìn định kiến của dư luận xã hội Những nhân vật thoái hoá về nhân hình và nhân tính là
bi kịch thảm khốc về quá trình vật hoá của con người
Bi kịch của sự phi nhân tính hoá
Với Nam Cao, con người bị phi nhân tính hoá là một thực thể phổ biến, và
là một quá trình quyết liệt, dai dẳng, tàn khốc Có những con người, ngay lúc mới lọt lòng đã bị khai trừ ra khỏi xã hội, lớn lên tiếp tục bị xua đuổi, cuối cùng phải tự sát, hoặc hoá điên Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm bi kịch này chính là tệ nạn áp bức bóc lột của chế độ người bóc lột người, gián tiếp là cuộc sống cơ cực, tống khổ về vật chất, mù tối về tinh thần truyền kiếp tưởng như là định mệnh, nó chính là hậu quả của chế độ người bóc lột người gây ra Tuy bị dồn đuổi, nhưng con người với sức đề kháng của bản năng nhân tính tiềm tàng của mình, không hắn tất cả đều bị đẩy vào tình trạng phi nhân tính hoá và hoàn toàn gục ngã Lòng nhân ái của Thị Nở, lòng tự trọng của Lang Rận, sự thèm khát lương thiện của Chí Phèo là sự khẳng định điều đó
Nhân vật Những biến thể
Lời nói là hiện thực trực tiếp của tư duy, do đó có thể nói trong văn chương, nếu nhà văn có ý thức sâu sắc về đặc trưng phương tiện nghệ thuật của mình, thì mỗi nhân vật của họ là "một nhà tư tưởng" Nam Cao đã sáng tạo ra
những nhân vật thiên về suy ngẫm, có dáng dấp của các "nhà tư tưởng"
Biến thể nhân vật trí thức
Nam Cao bộc lộ rõ khát vọng không miêu tả người trí thức nghèo mà miêu tả tự ý thức về mình của người trí thức nghèo theo kiểu ôstôiepski Xây dựng nhân vật trí thức, Nam Cao thường ít miêu tả ngoại hình Trong tất cả các truyện về người trí thức, Nam Cao chỉ tập trung bút lực miêu tả nhân vật chỉ để giải đáp câu hỏi "nó là ai", "nó là gì" mà còn để trả lời câu hỏi" nó ý thức về mình như thế nào" Nhân vật của Nam Cao thường ít khi là nhân vật của thị giác
mà là nhân vật của tư duy Nhân vật hiện lên bằng những trăn trở, băn khoăn,
Trang 10cắn rứt, ngẫm nghĩ triền miên; theo kiểu mỗi nhân vật là một tấn bi kịch nội tâm Xây dựng những bi kịch tự ý thức của người trí thức, Nam Cao luôn luôn có ý thức tạo ra từng cặp ý thức nhân vật đối thoại với nhau Các ý thức nhân vật không chỉ là những tấm kính phẳng soi vào nhau, mà còn là những tấm lăng
kính để cho nhân vật khác khúc xạ Do đó nhân vật có nhiều khuôn mặt
Biến thể những loại nhân vật khác
Những loại nhân vật khác ngoài nhân vật trí thức, Nam Cao cũng có xu hướng xây dựng thành những nhân vật ý thức Có những nhân vật, tác giả hoàn toàn không mô tả ngoại hình, chỉ tập trung mô tả ý thức Nhân vật bà phó Thụ, nhân vật bá Kiến chẳng hạn Bá Kiến hiện lên một cách sắc nét hơn bất kì nhân vật nghị, bá nào trong văn chương hiện thực, bằng chính ngôn ngữ của mình mà chủ yếu là ngôn ngữ thầm, ngôn ngữ đối thoại nội tâm: những suy nghĩ đầy mưu mô, mánh lới Nhân vật những đứa trẻ vào đời sớm như Hồng, ật đều là nhân vật tâm trạng Lại có nhân vật "rất ngoại hình" như Chí Phèo Nhưng nhân
vật Chí Phèo vẫn là nhân vật đặc sắc ở nội tâm Biến thể Chí phèo nội tâm, lấn
át thực thể Chí Phèo ngoại hình
1.3 Thời gian và không gian ý thức
Nam Cao là một trong số ít nhà văn không mô tả thời gian và không gian của nhân vật như một thực tại khách quan theo cách nhìn của mình, mà mo tả ự
tự thức của nhân vật về thực tại khách quan đó Nghĩa là, Nam Cao đã truyền cái thế giới bao quanh nhân vật vốn nằm trong tầm nhìn tác giả sang tầm nhìn của nhân vật
1.3.1 Thời gian kiếp người
Người ta chỉ có thể nhận biết thì gian qua sự vận động của các sư vật và hiện tượng Nhưng hình thức tioonf tại cụ thể của thời gian lại chính là ý thức của con người về thời gian
Ý niệm về đơn vị thời gian của nhân vật
Qua Nam Cao, ta nhận ra rằng: ý niệm về thời gian của mọi con người khốn cùng, dù là nông daan hay trí thức đều gắn chặt với miếng ăn Có thể nói, thời gian trong truyện ngắn Nam Cao được hiện hình lên bằng sự lụi tàn quanh miếng cơm, manh áo của cả một đời người, kiếp người Các khái niệm đo lường thời gian như buổi, ngày, tháng, mùa, năm, đời người, ddeuf gắn chặt với miếng ăn.Nếu cuộc đời cn người là sống và phát triển, thì cuộc đời con người trong tuyện ngắn Nam Cao: sống là có cái để mà ăn, là được ăn; phát triển là sự đắp đổi để qua đi của từng bữa ăn
Thời gian huỷ diệt con người
Cỗ xe thời gian kiếp người ấy cứ lê thê, ì ạch dịch chuyển một cách nặng
nề trên ộ trình không đích đến Thể hiện thời gian ấy, Nam Cao chọn một vài thời điểm điển hình rồi nhét vào dấy thật đầy, thật chặt hành động nhân vật, àm cho thời gian dường như bị kéo căng ra một cách tức tối, khiến cho cái không khí đời sống vốn ngột ngạt, bế tắc ấy chực muốn nổ tung ra, và thực sự đã nổ tung ra Hầu hết thời gian trong truyện ngắn Nam Cao, vì vậy, nổi đậm lên tính chất vận hành chậm chạp nặng nề, căng thẳng
Các bình diện thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai trong sáng tác của Nam Cao luôn được soi chiếu vào nhau và trên thời điểm hiện tại.Nhân vật đứng
Trang 11trên thời điểm hiện tại, xót xa cho hiện tại, nuối tiếc quá khứ, lo sợ tương lai Qua khứ dầu thật tồi tệ thì so với cái hiện tại xám xịt kia vẫn cứ là" vàng son", còn tương lai thì hoàn toàn mù mịt Con người không hi vọng gì vào tương lai
cả Trên thời điểm hiện tại, họ ngoái về quá khứ, thương tiếc thời gian đã mất
Thời gian có sức huỷ diệt cuộc sống thật là khủng khiếp Con người mòn mỏi, quy phục dần theo thời gian do phải chống chọi với đói khổ và bệnh tật Thời gian đã tàn phá triệt để từ nhân hình đến nhân tính, từ thể xác đến tâm hồn con người
Nam Cao không dừng lại ở chỗ miêu tả thời gian Ông miêu tả để giải thích, nhưng là sự giải thích chủ động Mỗi nhan vật tìm lấy lời giải đáp cho mình
1.3.2 Không gian thù địch con người
Không gian trong văn chương gắn chặt với chỗ đứng, cách nhìn, tầm nhìn của tác giả Trong truyện ngắn Nam Cao, không gian không hiện ra trực diện qua con mắt của nhà văn mà hầy hết hiện ra trong tầm nhìn của nhân vật, qua con mắt nhân vật ối tượng miêu tả không gian của Nam Cao chủ yếu là ở chỗ: nhân vật của mình ý thức thế nào về không gian
Không gian tự nhiên đối lập với con người
Không gian vũ trụ " Trời" trong truyện ngắn Nam Cao chỉ là mọt khái niệm " Trời" trừu tượng Trời là đấng quyền năng vô hình đang bám sát và thít chặt cuộc sống của người lao động, mà thực chất nó là hiện thân của chế độ xã hội áp bức bất công Không gian phong cảnh thiên nhiên có thể tương hợp, có thể tương phản với tâm trạng nhân vật, nhưng đều là một thứ phong cảnh thiên nhiên phân tích tâm lý nhân vật
Không gian địa lý - xã hội nô dịch con người
Hầu hết làng quê trong văn Nam Cao đều có cái không khí chung là vắng lặng hoang vu đến ghê người Lại cũng có lúc náo động trong những âm thanh nhức nhối, man dại Thành thị là ảo ảnh về một lối thoát cho cuộc sống cùng quẫn ở làng quê, nhưng cũng là một hiện thực xót xa bóp chết mọi ước mơ của những ai đi tìm kiếm sự sống, và hất trả lại họ về nơi họ đã ra đi "Phương xa" là một miền đất không hề hứa Bao nhiêu người ra đi đều bị hất trở về mới một hành trang ốm đau bệnh tật về thể chất cũng như về tâm tính Gia đình là nạn nhân của xã hội Tất cả mọi gia đình trong truyện Nam Cao đều trong trạng thái tan rã: đã, đang và sẽ tan rã Gia đình không chỉ là nạn nhân của xã hội, mà gia đình còn là nạn nhân của chính nó Gắn liền với không gia gia đình là không gian "nhà ở, căn buồng" Nếu Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng tung các nhân vật của mình ra ngoài không gian xã hội, để khai thác con người giai cấp, thì Nam Cao lại "đóng khung" nhân vật mình trong không gian nhà ở, căn buồng để khai thác con người đời tư, khai thác không gian tâm tưởng Con người trong tác phẩm Nam Cao chủ yếu hiện lên bằng thế giới nội tâm, bằng độc thoại, đối thoại nội tâm Ít thấy những con người hành động
Tóm lại: Có thể nói thời gian và không gian nghệ thuật của Nam Cao không phải là những hình tượng khách thể rắn chắc của hiện thực, mà nó là thời gian, không gian trong tầm nhìn của ý thức nhân vật, không gian thời gian ý thức Trong tầm nhìn nhân vật, thời gian và không gian là kẻ thù Thời gian và