Khi giảng dạy các truyện ngắn đó, chúng tôi nhận thấy các em học sinh có thể nắm bắt khá nhanh và tốt những đổi mới về phương diện nội dung của tác phẩm nhưng lại lúng túng khi tìm hiểu
Trang 11
MÔN VĂN M M M V
NGƯỜ K UYỆN TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN
SAU 1975, ƯƠNG TRÌN NGỮ VĂN T PT
A MỞ ẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn học Việt Nam từ sau năm 1975 là một giai đoạn văn học rất đa dạng, phong phú, có nhiều đổi mới trong cả cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Việc giảng dạy các tác phẩm văn học thuộc giai đoạn này, đặc biệt là giảng dạy cho học sinh giỏi, học sinh lớp chuyên Văn đòi hỏi giáo viên phải dày công nghiên cứu để có thể giúp các em nắm bắt được những điều đổi mới trong từng tác phẩm cụ thể
So với các thể loại khác thì truyện ngắn sau 1975 có sự chuyển biến mạnh
mẽ, sâu sắc trên mọi mặt Ở thể loại này, chương trình Ngữ văn THPT có đưa
hai tác phẩm vào để giảng dạy: Một người Hà Nội (Nguyễn Khải) và Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) Khi giảng dạy các truyện ngắn đó, chúng
tôi nhận thấy các em học sinh có thể nắm bắt khá nhanh và tốt những đổi mới về phương diện nội dung của tác phẩm nhưng lại lúng túng khi tìm hiểu về sự đổi mới trên phương diện nghệ thuật, trong đó có vấn đề người kể chuyện Mà việc lựa chọn vai kể, người kể chuyện trong truyện ngắn rất quan trọng, giúp thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn Do vậy, những hướng dẫn cụ thể, mạch lạc về vấn đề này của giáo viên là vô cùng cần thiết
2 Mục đích của đề tài
Với những lí do kể trên, chúng tôi chọn đề tài này, một mặt là để tự trau dồi kiến thức chuyên môn, mặt khác là để chia sẻ với đồng nghiệp Mong rằng chúng tôi sẽ nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của đồng nghiệp
B NỘ DUNG
I Vài nét khái quát về người kể chuyện
1 Khái niệm
Trang 22
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, người kể chuyện là “hình tượng ước lệ
về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm”
Truyện ngắn có các phương thức trần thuật sau: Trần thuật từ ngôi thứ nhất do nhân vật tự kể chuyện (lời trực tiếp); trần thuật từ ngôi thứ ba của người
kể chuyện tự giấu mình; trần thuật từ ngôi thứ ba của người kể chuyện tự giấu mình, nhưng điểm nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vật trong tác phẩm (lời nửa trực tiếp)
Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất còn gọi là “người kể tường minh” hay
“người kể lộ diện” (câu chuyện được kể lại bởi người kể chuyện hiện diện như
nhân vật trong truyện)
Người kể chuyện xưng “tôi” có thể giữ vai trò là người giới thiệu nhân vật, dẫn ra câu chuyện rồi sau đó chuyển việc kể cho một cái “tôi” khác; cũng
có thể là nhân vật tham gia vào câu chuyện, hoặc là nhiều người kể chuyện lồng ghép các mạch kể tạo ra hình thức truyện lồng truyện, lời của nhiều người kể bổ sung, xen kẽ, điểm nhìn di động từ cái “tôi” này qua cái “tôi” khác có tác dụng tạo ra điểm nhìn đa tuyến
Người kể chuyện có khi đồng nhất với tác giả, có khi không phải là tác giả; có khi đồng nhất với người trần thuật có khi không Trong một tác phẩm, có thể có nhiều người kể chuyện nhưng người trần thuật thì chỉ có một
2 Nét đổi mới về người kể chuyện trong văn xuôi sau 1975
Một trong những phương diện đổi mới quan trọng của văn xuôi sau 1975
là đổi mới về quan niệm trần thuật thể hiện ở cách lựa chọn người kể chuyện và
tổ chức điểm nhìn trần thuật
Nếu trong văn xuôi giai đoạn trước 1975, người kể chuyện thường ở ngôi thứ 3, chỉ có một điểm nhìn trần thuật (người kể chuyện biết tuốt, luôn đúng) thì văn xuôi sau 1975 thường sử dụng ngôi kể thứ nhất, tác phẩm có thể có nhiều người kể chuyện với nhiều điểm nhìn trần thuật tạo nên cái nhìn đa chiều, đa diện, góp phần tạo ra tinh thần dân chủ, cởi mở và tính đối thoại của văn học sau
1975
Trang 33
Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn xuôi thời kì đổi mới có thể di chuyển từ người kể chuyện này sang người kể chuyện khác giúp cho nhà văn
“nói” được nhiều hơn, khiến câu chuyện chân thực, đáng tin cậy hơn, đồng thời cũng tạo ra sự bất ngờ cho người đọc
Thậm chí, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất của văn xuôi sau 1975 còn giữ vai chính, tham gia vào các tình tiết của câu chuyện, nhờ đó được soi chiếu với các nhân vật khác trong tác phẩm, khiến cho tính cách, bản chất của nhân vật “tôi” ấy hiện lên rõ nét, tự nhiên hơn
Trong những truyện ngắn kể ở ngôi thứ nhất, với điểm nhìn đa tuyến, lời
kể vừa miêu tả sự việc lại vừa miêu tả tâm trạng Tâm trạng là tâm trạng của nhân vật mà cũng có thể là tâm trạng của chính tác giả Lời kể như vậy tạo ra giọng điệu đa thanh cho tác phẩm
Như vậy, sự đa dạng trong lựa chọn ngôi kể, người kể chuyện, sự phong phú về điểm nhìn trần thuật chính là một sự cách tân nghệ thuật của văn xuôi sau 1975
II Người kể chuyện trong Một người Hà Nội (Nguyễn Khải) và Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh hâu)
1 Người kể chuyện trong Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)
Một trong những điểm khác biệt nổi bật của văn học sau 1975 với giai đoạn văn học 1945 - 1975 là ở tinh thần dân chủ Tinh thần dân chủ không chỉ thấm sâu trong nội dung văn bản mà còn thể hiện ở cả hình thức nghệ thuật của văn bản Trong nhiều trường hợp, sự lựa chọn ngôi kể xưng "tôi" trong tác phẩm
tự sự là minh chứng cho tinh thần ấy Người kể chuyện trong truyện ngắn Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải là một trường hợp như thế
Một người Hà Nội là một truyện ngắn tiêu biểu cho sáng tác sau 1978 của
Nguyễn Khải trong cảm hứng đi tìm vẻ đẹp của con người trong cuộc sống đời thường, chiêm nghiệm và triết lí về nhân sinh, tìm kiếm những giá trị bền vững vĩnh hằng của con người và đời sống Truyện được tác giả chia làm 7 phần, có đánh số mỗi phần, kể những chuyện về bà Hiền và gia đình bà trong một khoảng thời gian dài suốt mấy chục năm từ sau cuộc kháng chiến chống Pháp Hà Nội
Trang 44
được giải phóng cho đến những năm đầu đổi mới, qua lời kể của nhân vật kể chuyện xưng tôi - người cháu họ gọi bà Hiền bằng cô Lựa chọn điểm nhìn trần thuật từ góc nhìn bên trong của người kể chuyện xưng "tôi", ngòi bút Nguyễn Khải được tự do trong việc lựa chọn chi tiết, sự việc, không bị quá lệ thuộc vào xây dựng cốt truyện, thêm nữa lại thoải mái xen vào những lời bình luận nhận xét của người kể chuyện - vốn là một sở trường của ông Mặt khác, sử dụng cách trần thuật ở ngôi thứ nhất giúp nhà văn tạo được một ngữ cảnh gần gũi với độc giả, gợi không khí một cuộc trò chuyện trực tiếp dễ làm cho người đọc tin vào những điều được kể, bởi đó là câu chuyện mà người kể chuyện từng chứng kiến, tham gia Ngoài những lợi thế như đã nói trên, người kể chuyện ở ngôi thứ
nhất trong Một người Hà Nội còn có một vai trò khác là làm phong phú hơn cho
chủ đề và tư tưởng của truyện
Xâu chuỗi các sự kiện, người đọc có thể hình dung một cách trọn vẹn về cuộc đời bà Hiền qua bao biến động thăng trầm của lịch sử Từ khi còn là một
cô gái tuổi đôi mươi cho đến khi là một bà lão ngoài bảy mươi, bà Hiền vẫn vẹn nguyên là một người Hà Nội thanh lịch, thông minh, khôn ngoan, tinh tế, tỉnh táo, đặc biệt giàu lòng tự trọng và đầy bản lĩnh Nhà văn đã khéo léo và cũng rất
tự nhiên khi để tính cách của người cô họ hàng xa của mình bộc lộ qua những tình huống tưởng như bình thường của cuộc sống như việc chọn chồng, sinh con, nuôi dạy con cái, kiếm kế sinh nhai cho đến những việc trọng đại hơn là quan hệ xã hội và thái độ chính trị của nhân vật Là một cô gái xuất thân trong
gia đình giàu có, lương thiện với ông bố đậu tú tài, mê văn thơ, nuôi dạy con cái theo khuôn phép nhà quan, lại thông minh và tài hoa (từng mở xa lông văn học,
nơi gặp gỡ của nhiều văn nhân nghệ sĩ có tiếng của đất Hà Thành tại nhà),
nhưng khi lấy chồng bà khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc khi lấy một ông giáo Tiểu học hiền lành, chăm chỉ, bà ngừng sinh con ở tuổi bốn mươi vì nếu tôi và ông sống đến sáu chục thì con út đã hai mươi, có thể tự lập được, khỏi phải sống bám vào các anh chị Bà chú ý dạy con cái từ những điều nhỏ nhất trong
cuộc sống như cách cầm đũa, cách múc canh, đến việc nói chuyện trong bữa ăn
với quan niệm là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không
Trang 55
được sống tuỳ tiện, buông tuồng Khi người con đầu tình nguyện xin đi đánh
Mĩ, trả lời câu hỏi của "tôi", cô Hiền nói Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè Nó dám đi cũng là biết tự trọng Ba năm sau, khi người con thứ cũng viết đơn xin tòng quân, cô buồn bã trả lời "tôi" Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo
nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó Thái độ chính trị cũng được cô phát biểu rất thành thật chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao, trai gái yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công sá cho người ở hay chế độ này không thích cá nhân làm giàu, chỉ cần
họ đủ ăn, thiếu ăn một chút càng hay, thiếu ăn là vinh chứ không là nhục Một đời bà Hiền đã sống đầy bản lĩnh và tự trọng chưa từng bị ai cám dỗ kể cả chế
độ, muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống hoặc chết cả, vui
lẻ thì có hay hớm gì Một đời bà sống gắn bó với Hà Nội vì một lẽ đơn giản là không thể xa Hà Nội Tình yêu Hà Nội, những trầm tích văn hóa của vùng đất
Tràng An xưa đã thấm sâu và tâm hồn bà để qua bao thăng trầm của lịch sử, bà
Hiền mãi là một người Hà Nội của hôm nay, thuần túy không pha trộn trở thành
biểu tượng cho vẻ đẹp của một văn hóa sống bền vững sâu xa, vượt qua tất thảy mọi biến thiên, xô bồ thăng trầm của xã hội
Đọc Một người Hà Nội, người đọc dường như cũng cảm nhận được
Nguyễn Khải không chỉ kể về một con người mà quan trọng hơn là nhà văn đang ngẫm nghĩ về con người đó - một nhân cách Hà Nội bình dị mà cao đẹp Theo thời gian, "tôi" càng ngày càng cảm nhận được một cách sâu sắc vẻ đẹp
nhân cách của bà Hiền để đến cuối truyện thốt lên rằng một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng
Nếu như trước đổi mới, Nguyễn Khải thường soi ngắm, thể hiện con người trên bình diện chính trị với quan niệm viết về cách mạng, về cái tiên tiến, viết về quần chúng lao động - mẫu hình con người mới của văn học cách mạng
Trang 66
là văn học mới; còn viết về sinh hoạt đời thường, về những điều vụn vặt của đời
sống riêng tư là thứ văn học cũ thì đến Một người Hà Nội, ông đã soi ngắm,
định giá con người từ những thang bậc giá trị khác - những giá trị bền vững về nhân cách, về lối sống trong cuộc sống đời thường với tinh thần nhân văn và dân chủ sâu sắc
Người kể chuyện xưng "tôi" trong tác phẩm còn tự tiết lộ những chi tiết tiểu sử về mình như cậu em họ gọi ¨đồng chí Khải¨, các quan hệ họ hàng, nơi cư trú trùng khớp với tác giả trong thực tại đem đến cho tác phẩm màu sắc tự truyện rõ nét Nghĩa là nhà văn có hứng thú thể hiện hình tượng chính mình trong tác phẩm Điều này không chỉ khiến cho người đọc cảm thấy tính chân thực của câu chuyện mà quan trọng hơn, nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Thị
Bình thì Khi nhà văn tự tin lấy chuyện mình làm chất liệu văn học, hứng thú với việc đưa ra cái nhìn riêng, là khi kinh nghiệm cá nhân được quyền bình đẳng với kinh nghiệm cộng đồng do đó tác phẩm sẽ như một tiếng nói đối thoại dân chủ, chứ không phải sự áp đặt những chân lý đã mặc định Quả thực, trong
truyện ngắn, độc giả nhận thấy "tôi" không chỉ kể về bà Hiền và gia đình bà, mà còn ở nhiều chỗ còn tách ra để tự bộc lộ suy nghĩ của anh ta, hoặc có khi kể về chính mình và gia đình mình như một sự đối sánh với nhân vật chính của truyện Ta có thể thấy không ít lần trong truyện, "tôi" đã tỏ bày những triết lí riêng của anh ta về con người và cuộc đời như khi suy nghĩ về người chồng làm
nghề giáo của bà Hiền - một ông giáo dạy cấp Tiểu học anh ta cho rằng đó là người cần thiết cho mọi chế độ, chế độ cộng sản cũng phải khuyến khích trẻ con
đi học, học văn hóa và học làm người; hay khi suy nghĩ sự đánh giá của một thời với người vô sản, ở quá rộng là một cái tội; hoặc khi anh ta nhận thấy vai trò quan trọng của người lính sau chiến thắng là người lính vừa chiến thắng, người lính được cả xã hội trọng vọng, chất lính mùi lính tráng thâm nhiễm vào mọi nơi, mọi chỗ, quan hệ kiểu lính, vui chơi kiểu lính, ăn nói kiểu lính, văn chương cũng là một mùi lính; cả chiêm ngẫm chua chát về thực tại, về sự đổi thay của những giá trị trong hoàn cảnh mới Còn bây giờ sau bữa tiệc mừng đại thắng mười lăm năm, tầng lớp lính đã mất ngôi vị độc tôn của mình rồi Bây
Trang 77
giờ là thời các giám đốc công ti, các tổng giám đốc công ti, các cố vấn, chuyên viên kinh tế thật, giả đủ loại lên ngôi ban phát mọi tiêu chuẩn giá trị cho cả xã hội hay nỗi lo âu trước sự mai một của những nét đẹp văn hóa trước sự hỗn tạp
xô bồ của cuộc sống mới Ví thử có thủy tiên liệu còn có người biết gọt tỉa thủy tiên Lại thêm cái cách sống, cái tâm lí sống ào ạt, xô bồ, vụ lợi ( ) dễ gì có được sự bình tĩnh để thưởng thức vẻ đẹp trang trọng của một dò hoa thủy tiên
Đặc biệt, qua những cuộc trò chuyện giữa người kể chuyện với bà Hiền, người đọc thực sự được đến với một cuộc đối thoại thú vị giữa hai ý thức độc lập, hai quan niệm giá trị khác nhau Trong nửa đầu truyện khi kể về bà Hiền và cung cách sinh hoạt, lối sống của gia đình bà, người kể chuyện thỉnh thoảng lại liên hệ tạt ngang với cung cách sống của gia đình mình Một bên là lối sống cầu
kì, kiểu cách của bà cô mang đầy chất tư sản, còn một bên là lối sống của những
người cách mạng của tầng lớp vô sản Sự khác biệt từ cái ở, cái ăn, cung cách
sinh hoạt và nếp suy nghĩ Một bên ở rộng quá, một cái nhà tọa lạc ngay tại một đường phố lớn, hướng nhà nhìn thẳng ra cây si cổ thụ và hậu cung của đền Ngọc Sơn, một bên phải ở chen chúc trong những khu nhà tập thể, có khi phải ở ngay dưới gầm cầu thang của nhà bạn bè Bữa ăn ở nhà bà Hiền, nhất là những
bữa bà tiếp các bạn bè, thì bàn ăn trải khăn, có lọ hoa nhỏ giữa bàn, bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản, người nào ngồi đúng chỗ người ấy Còn bữa ăn ở gia đình anh nhà văn cách mạng, thì cái mâm nhôm đặt ngay giữa nhà, thức ăn
có khi múc ra đĩa, có khi để cả nồi, nồi to để giữa, nồi bé để quanh mâm cứ việc sục muôi vào, sục đũa vào, vừa ăn vừa quát con mắng cái, nhồm nhoàm hả hê,
không cần phải khuôn bó theo quy tắc nào cả Một bên quan niệm là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng còn một bên cho rằng ăn cốt để sống, để làm việc, hay hớm gì cái thứ lễ nghi rườm rà của giai cấp tư sản Một bên hỏi nghiêm túc Xã hội nào cũng phải có một giai tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị Theo anh, ở xã hội ta thì là tầng lớp nào? còn một bên cười phá lên ngạo nghễ Thưa
cô, là bọn lính chúng tôi, là giai cấp lính chúng tôi, chứ còn ai nữa mà hoàn
toàn quên rằng văn hóa thời chiến chỉ là nhất thời Một bên điềm tĩnh, một bên
Trang 88
nông nổi Ngay cả trong tình cảm với Hà Nội Khi được sống năm đầu ở Hà Nội
vừa giải phóng, "tôi" cảm thấy cực kì khoan khoái, sung sướng mỗi ngày đều ở
Hà Nội, mỗi đêm đều ở Hà Nội, mãi mãi còn ở Hà Nội, thế mà trong buổi liên hoan mừng Dũng - cậu con trai cả của bà Hiền trở về, "tôi" đã có nói hơi nhiều
về thành phố Sài Gòn rộng hơn, đông hơn, đẹp hơn cái Hà Nội của mình, về người dân Sài Gòn cũng lịch thiệp, nhã nhặn hơn người dân Hà Nội Những
năm Hà Nội đổi mới, "tôi" đã tỏ ra bức xúc trước những nét chưa đẹp, thiếu văn minh trong lối sống, cách ứng xử của một bộ phận người Hà Nội, còn bà Hiền trước những lời phàn nàn ấy chỉ nói về cái lẽ vào ra huyền bí của tạo hoá, về câu chuyện cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn sống lại sau trận bão để cho người cháu chiêm nghiệm thấm thía về niềm tin của bà rằng sau những biến động dữ dội của xã hội nhiều giá trị vốn bền vững và quen thuộc của đời sống, đã bị lung lay bật gốc, tưởng như sắp tiêu tan, nhưng sự sống rất huyền nhiệm, những giá trị tốt đẹp đã được hình thành và xây đắp từ bao đời sẽ được đặt lại đúng với vị trí của nó; mọi thứ xô bồ, hỗn tạp của Hà Nội hiện thời chỉ là những rác nổi trên bề mặt của đời sống, rồi đến lúc nó sẽ bị cuốn đi, để một Thủ đô với 1000 năm văn hiến, với sự "thanh lịch của người Tràng An" sẽ trở lại
Sự tương tác đối thoại giữa "tôi" và bà Hiền không chỉ giúp người đọc thấy được vẻ đẹp trong nhân cách của một con người bình dị mà cao đẹp của nhân vật chính - bà Hiền - mà còn thấy được sự đổi thay, sự điều chỉnh nhận thức của "tôi" qua thời gian Càng tiếp xúc với người cô họ qua nhiều năm, "tôi" càng hiểu về bà, càng thay đổi cách suy nghĩ về bà, kể cả cách suy nghĩ của bản thân về những giá trị đích thực của cuộc đời Ban đầu, thái độ của "tôi" với bà
Hiền và gia đình bà là sự nghi kị tôi vẫn nghi ngại gia đình này rất khó gắn bó với chế độ mới và chế độ mới cũng không thể tin cậy được ở họ vì thế nên trong
lí lịch cán bộ, "tôi" đã muốn khước từ quan hệ họ hàng với cô Hiền, không ghi
tên cô bởi một suy nghĩ được láy lại tới hai lần trong phần đầu tác phẩm dính líu nhiều có ngày lại rắc rối, dính líu vào lại thêm phiền Không chỉ vậy, có lúc tôi còn có phần giễu cợt cô vì là tư sản mà không phải học tập, cải tạo cô giấu cũng tài nhỉ? hay khi dò hỏi thái độ của cô khi các em xung phong đi chiến đấu Cô
Trang 99
bằng lòng cho em đi chiến đấu chứ?, cô cũng đồng ý cho nó đi à? Song càng
chứng kiến cách xử sự của bà, lối sống của bà, "tôi" càng nhận ra sự nông nổi, những định kiến hẹp hòi, những sự thất thố trong cách cư xử, nói năng của bản
thân để rồi khâm phục bà bà già vẫn giỏi quá, bà khiêm tốn và rộng lượng quá
và ca tụng bà như một hạt bụi vàng của Hà Nội Đó thực sự là một "cái tôi" biết
"tự phê", "tự nghiệm", "tự nhận thức lại" để tự vấn, tự phê phán, tự nhìn lại một thời đã qua với thái độ phê phán, tuy có vẻ chỉ là giễu cợt nhẹ nhàng, nhưng không phải là không sâu sắc Điều này giúp cho tác phẩm của Nguyễn Khải hòa vào dòng chảy nhận thức lại - một xu hướng nổi bật của văn học đương thời với
những tác phẩm và tên tuổi gây nhiều tiếng vang như Thời xa vắng của Lê Lựu, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Bến không chồng của Dương Hướng, Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh
Không phải là nhà văn đầu tiên hay duy nhất sử dụng ngôi kể thứ nhất
trong trần thuật nhưng rõ ràng trong Một người Hà Nội, người kể xưng "tôi"
thực sự là một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Khải Với ngôi kể này, một nhà văn
ưa triết luận như Nguyễn Khải có dịp thể hiện thật rõ sở trường của ông - thích khám phá, ngẫm nghĩ và lí giải về con người, cuộc đời, về những giá trị bền vững của cuộc sống qua góc nhìn riêng Trong truyện ngắn này, nhà văn đã phát
hiện và trân quý bà Hiền - một người Hà Nội từ trong cốt tủy, thuần túy không pha trộn - một hạt bụi vàng của Hà Nội - đó là niềm tin riêng của nhà văn mà
ông đã đưa ra để mời gọi độc giả cùng tham gia đối thoại
2 Người kể chuyện trong Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh hâu)
Trong thời kì văn học sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu không phải là nhà văn đổi mới đầu tiên nhưng lại là một trong những nhà văn mở đường tài năng và tinh anh nhất Hướng đổi mới trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu thể hiện rõ rệt trên tất cả các phương diện Trong phạm vi đề tài này chúng tôi tìm hiểu đặc điểm lời người kể chuyện trong tác phẩm
Người kể chuyện có thể được tác giả sử dụng theo ngôi thứ nhất hoặc thứ hai, thứ ba Kể theo ngôi thứ 3 là hình thức kể chuyện khá quen thuộc, trong đó
Trang 1010
người kể chuyện giấu mặt, coi như đứng ở một vị trí nào đó trong không gian và thời gian, bao quát hết mọi diễn biến của câu chuyện đã xảy ra và thuật lại Còn
kể chuyện theo ngôi thứ nhất là hình thức khá mới mẻ, trong đó người kể chuyện xưng “tôi” xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm và kể lại cho bạn đọc Với
“Chiếc thuyền ngoài xa” Nguyễn Minh Châu đã chọn hình thức kể theo ngôi thứ nhất - nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng, nhân vật chính của truyện
Với tư cách người nghệ sĩ nhiếp ảnh, người kể chuyện đã kể lại câu chuyện về chuyến đi công tác của mình: Được trưởng phòng giao nhiệm vụ chụp ảnh bổ sung vào bộ lịch một cảnh biển buổi sáng có sương, anh đã đến một vùng biển miền Trung, nơi phong cảnh thật là thơ mộng, còn sương mù vào tháng bảy Tại đây, sau nhiều ngày phục kích, anh ngẫu nhiên gặp được một
cảnh trời cho: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh của một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích Trước vẻ đẹp ấy người nghệ sĩ trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào Trong khoảnh khắc đó, anh tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn Nhưng ngay sau cái khoảnh khắc hạnh
phúc tràn ngập tâm hồn, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh đem lại anh đã chứng kiến một cảnh hoàn toàn đối lập với vẻ đẹp của chiếc thuyền khi còn ở ngoài xa Bước ra từ chính chiếc thuyền ấy là hai người, một đàn ông và một đàn bà Sau khi đi đến chiếc xe rà phá mìn trên bãi cát, người đàn ông trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào người đàn bà, vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất
xuống, lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: Mày chết đi cho ông nhờ Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ! Còn người đàn bà với một vẻ cam