Các bài báo, các bài diễn thuyết, tranh luận trên văn đàn; Các Lời tựa, Lời giới thiệu các tập thơ bộc lộ khá rõ ý tưởng lí luận, quan niệm về thơ ca; Tham khảo các tác phẩm Thơ Mới ti
Trang 1TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG LẦN THỨ XI - 2015
M N NG V N M CHẤM IỂM V 3
Ề TÀI THAM LUẬN (M N NG V N)
HỆ THỐNG QUAN NIỆM THƠ
THỜI THƠ MỚI ( 1932 – 1945 )
Trang 2
I ẶT VẤN Ề
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Sự bùng nổ của trào lưu Thơ Mới thời kì 1932 -1945 là một hiện
tượng lớn, một dấu ấn, một thành tựu rực rỡ của thơ ca trong tiến trình lịch sử thơ ca dân tộc Cùng với sự sôi động của hoạt động sáng tác, mảng lí luận - phê bình về thơ trong giai đoạn này cũng vô cùng sôi động, phong phú Tìm hiểu
những quan niệm về thơ trong thời kì Thơ Mới là nghiên cứu những gì Thơ Mới bàn về chính nó, trong suốt quá trình hình thành, phát triển và tự hoàn thiện nên diện mạo của chính mình
1.2 Trong chương trình phổ thông, Thơ Mới cũng có một vị trí khá quan
trọng Bên cạnh việc góp phần vào việc nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về Thơ Mới, luận văn đồng thời cũng là tư liệu hỗ trợ cho công việc giảng dạy Thơ Mới
ở nhà trường phổ thông Vì tất cả những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Hệ
thống quan niệm thơ trong thời Thơ Mới 1932 - 1945 nhằm đi sâu nghiên
cứu, tìm hiểu về vấn đề có ý nghĩa lí luận và thực tiễn này
2 Lịch sử vấn đề
Thơ Mới là một hiện tượng lớn, một dấu ấn đậm nét của văn học dân tộc đầu thế kỉ XX Bởi vậy mà trong suốt hơn nửa thế kỉ qua, người ta vẫn không ngừng tìm hiểu, nghiên cứu về nó Công việc đánh giá về Thơ Mới của giới nghiên cứu phê bình ngày càng có chiều sâu, thể hiện ở nhiều công trình nghiên cứu khá công phu, sâu sắc, song chủ yếu vẫn lấy đối tượng là văn bản tác phẩm
và sự nghiệp của tác giả để khảo cứu, nhận định Một số ít trong đó có đề cập đến phương diện “quan niệm thơ” song không mang tính chất tập trung, hệ thống
Những quan niệm về thơ trong thời kì Thơ Mới 1932 - 1945 được thể
hiện khá phong phú Các khía cạnh khác nhau của vấn đề quan niệm thơ như: luật thơ, hình thức thơ, khuynh hướng thơ… đã được đề cập, song vẫn nhiều khía cạnh cần được đi sâu nghiên cứu Với mong muốn nhìn lại một cách tập
Trang 3chúng tôi sẽ phác họa được những nét chính yếu gương mặt của Thơ Mới, nhìn
từ góc độ lí luận, trong thời kì 1932 - 1945
3 ối tƣợng nghiên cứu
Các bài báo, các bài diễn thuyết, tranh luận trên văn đàn; Các Lời tựa, Lời
giới thiệu các tập thơ bộc lộ khá rõ ý tưởng lí luận, quan niệm về thơ ca; Tham
khảo các tác phẩm Thơ Mới tiêu biểu để đối chiếu các khía cạnh của hệ thống quan niệm về thơ, bởi hình tượng thơ cũng thể hiện nhận thức lí luận của chính nhà thơ
4 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của đề tài
4.2.1 Một nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về quan niệm thơ trong thời
kì Thơ Mới, như trên đã xác định, là một công việc cần thiết Đề tài cố gắng bước đầu thực hiện công việc này
4.2.2 Xác định quan niệm về thơ trong thời kì Thơ Mới là một nhu cầu,
một bước phát triển theo hướng hiện đại hóa thơ ca Đề tài, bằng việc khảo cứu
hệ thống quan niệm về thơ, có sự soi chiếu vào sáng tác sẽ cung cấp một góc nhìn, một hướng đi nhằm hiểu thêm về thơ trong “buổi bình minh” đầy hứa hẹn của thơ Việt Nam hiện đại
4.2.3 Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích, thiết thực, giúp cho công
việc giảng dạy và học tập trong trường phổ thông, cũng như người đọc quan tâm đến Thơ Mới và văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
5 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tư liệu tham khảo, Phần Nội dung của
đề tài gồm ba chương:
Chương 1: Quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống quan
niệm thơ thời Thơ Mới
Trang 4Chương 2: Quan niệm về bản chất của thi ca và sứ mệnh của nhà thơ
Chương 3: Quan niệm về các phương diện luật thơ và hình thức thơ
II PHẦN NỘI DUNG
Chương I
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG QUAN
NIỆM VỀ THƠ CỦA THƠ MỚI
1 Giới thuyết về Thơ Mới và khái niệm “Hệ thống quan niệm về thơ thời Thơ Mới”
1.1 Giới thuyết về Thơ Mới
Thơ Mới là một hiện tượng nổi bật của Văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỉ XX Đồng thời đây cũng là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến tranh luận khác nhau trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả trong suốt thời gian từ khi nó ra đời cho đến nay uận văn sẽ khảo cứu về
hệ thống quan niệm thơ thời kì Thơ Mới trên những kiến giải về khái niệm “Thơ Mới” như sau:
Phạm trù Thơ Mới, hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất, là các sáng tác trong phong trào Thơ Mới, hay những sáng tác theo lối mới, ra đời từ 1932 và trào lưu này đã hoàn tất sứ mệnh của mình năm 1945
à một mô hình tư duy và hình thức thơ hiện đại đối lập với Thơ cũ , Thơ Mới bao chứa trong nó nhiều khuynh hướng, bao trùm lên cả chặng đường
lịch sử thơ ca dân tộc thời kì 1932 - 1945 Thơ Mới bao gồm cả thơ lãng mạn,
thơ cách mạng, thơ hiện thực trào phúng Thơ Mới được định danh như một phong trào - phong trào Thơ Mới, nhưng có thể gọi nó bằng một tên gọi tổng
quát, đó là thơ Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945
1.2 Về khái niệm “Hệ thống quan niệm thơ thời Thơ Mới”
“Hệ thống quan niệm thơ” thời Thơ Mới là một bộ phận hợp thành của khái niệm Thơ Mới, là cách Thơ Mới bàn về chính nó, là sự bộc lộ bản chất của
Thơ Mới trên cấp độ quan niệm Hệ thống này được cấu thành từ các bộ phận
sau:
Trang 5- Các bài tranh luận, bút chiến chủ yếu tập trung ở thời kì đầu hình thành Thơ Mới cũng như các bài viết nghiêng về nghiên cứu lí luận, những bài khảo cứu - phê bình
- Các Lời tựa, Lời nói đầu, các bài giới thiệu, phê bình tác giả tác phẩm
- Trong nhiều bài thơ của Thơ Mới, thi sĩ cũng gửi gắm trong đó những quan niệm về thơ và sáng tạo thơ Những phát ngôn trực tiếp đầy tính cảm xúc này cũng có ý nghĩa “tuyên ngôn”, hàm chứa những tư tưởng về thơ ca
Trong hệ thống quan niệm này, đề tài tập trung vào những vấn đề chính: các vấn đề về bản chất thơ ca và chân dung tinh thần của người thi sĩ ; đặc điểm của Thơ Mới, những phong cách sáng tạo thơ…; những vấn đề về hình thức thơ
mà Thơ Mới đang tạo dựng: luật thơ, việc sử dụng các hình thức, thể thơ và ngôn ngữ thơ Nó không phải là một “hằng số” bất biến mà luôn vận động, mở rộng song song với sự phát triển của nền thơ
2 Quá trình hình thành và phát triển những quan niệm về thơ của Thơ Mới
Để có được diện mạo phong phú của thơ Mới 1932 - 1945, trước đó, ở chặng đường văn học 1900 - 1930 đã có những “mầm mống”, những dấu hiệu
ban đầu: Năm 1917, trên tờ Nam Phong tạp chí số 5, Phạm Quỳnh cho thơ cũ là phiền phức, ràng buộc Năm 1928, trên tờ Đông Pháp thời báo, Phan Khôi đã đả
kích luật lệ thơ cũ, cho đó là sự trói buộc thơ ca Cũng trong năm 1928, trên tờ
Trung Bắc tân văn, xuất hiện một bài thơ không niêm luật, không hạn chữ, hạn
câu- bài thơ Con ve và con kiến do Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ của a Fontaine Đến năm 1929, Trịnh Đình Rư đã có một loạt bài đăng báo Phụ nữ tân văn cho
rằng luật thơ Đường quá gò bó, “buộc người ta phải làm theo khuôn phép tỉ mỉ, mất cả hứng thú tự do, ý tưởng dồi dào” Đây có thể được coi là bước chuẩn bị,
là giai đoạn “phôi thai” cho sự đổi mới tất yếu của thơ ca
2.1 Cuộc tranh luận Thơ cũ – Thơ mới
Cuộc đấu tranh giữa Thơ mới - Thơ cũ được bắt đầu với Phan Khôi Với
bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” 1932 , ông đả phá sự trói buộc của thơ cũ và đề xuất một lối thơ mới, với đại ý là: đem cái ý thật có trong tâm
khảm tả ra bằng những câu có vần mà không phải bó buộc bởi những niêm luật
gì hết” Phan Khôi còn trình làng bài “Tình già”- một bài thơ vượt thoát khỏi mô
Trang 6hình thơ truyền thống cả về tình điệu lẫn ngôn từ Cách gieo vần, điệu thơ, số từ trong câu, luật bằng trắc vốn là cái khung bền chắc của thơ cũ, đã bị phá vỡ hoàn
toàn Đây có thể được coi là bài thơ đầu tiên của Thơ Mới cũng như những phát ngôn rõ ràng mang tính quan niệm về thơ mở đầu cho thời kì Thơ Mới
Ngay sau đó, trên thi đàn, đã nổ ra cuộc tranh luận gay gắt giữa hai phái: phái bênh vực và phái phản đối Thơ Mới Có thể tóm tắt cuộc tranh luận ấy như sau:
Năm 1933, cô Nguyễn Thị Kiêm đăng đàn tại Hội Khuyến học Sài gòn
tán dương Thơ Mới; Việt Sinh- Nhất inh đăng bài Chế giễu các ông làm thơ
cũ Phong hóa số 31, ngày 12.1.1933; Phong hóa số Tết 24.1.1933 đăng lại
bức thư của ưu Trọng ư gửi Phan Khôi và các bài thơ mới của ưu Trọng ư, Thế ữ, Tân Việt và sau đó tiếp tục đăng Thơ Mới của Tứ y, Thế ữ, Nhất inh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình iên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông
Năm 1934: Ông ưu Trọng ư diễn thuyết tại nhà học hội Qui Nhơn Năm 1935: Ông Đỗ Đức Vượng diễn thuyết tại Hội Trí tri Hà Nội; Cô Nguyễn Thị Kiêm lại diễn thuyết tại hội Khuyến học Sài Gòn để tranh luận với ông Nguyễn Văn Hanh; Ông Vũ Đình iên diễn thuyết tại hội Trí tri Nam Định
Năm 1936: Ông Trương Tửu diễn thuyết về thơ Bạch Nga tại hội Khai trí tiến đức Hà Nội; Ông ưu Trọng ư gửi hai bức thư lên Khê Thượng nói chuyện thơ mới với Tản Đà Ông ê Tràng Kiều viết tám bài ca tụng các nhà Thơ Mới để trả lời ông Tùng âm và ông Thái Phỉ
Tất nhiên là các học giả bênh vực thơ cũ cũng tranh luận rất quyết liệt để bài xích thơ mới Tuy vậy, trước sự bành trướng mãnh liệt của Thơ Mới, trước những sự hô hào rầm rộ của những người trong phái Thơ Mới, Thơ Mới đã thắng thế “Bước sang năm 1936 sự toàn thắng của Thơ Mới đã rõ rệt ”
Cũng qua cuộc tranh luận Thơ mới - Thơ cũ trên thi đàn, dần hình thành một số quan niệm nền tảng của Thơ Mới…Sau nhiều thăng trầm, những quan niệm về thơ dần hướng đến các chuẩn mực, nguyên tắc cho lối thơ này
2.2 Từng bước hoàn chỉnh và mở rộng hệ thống quan niệm về một
mô hình thơ ca mới
2.2.1 Vận động và hoàn chỉnh
Trang 7Từ 1936, Thơ Mới được nhận định là đã hoàn toàn thắng thế, thơ đã định hình theo lối mới Song lí luận thơ vẫn tiếp tục phát triển, hệ thống quan niệm thơ vẫn tiếp tục vận động để hoàn chỉnh dần, đảm nhận vai trò củng cố, hoàn thiện
nguyên tắc cho sáng tác Từ tháng 5.1937 đến tháng 10.1938, trên mục Lá thắm của báo Tinh hoa và mục Tin thơ báo Ngày nay, Thế ữ viết các bài điểm thơ,
bình thơ, “chăm chú dạy nghề thơ cho những ai nuôi giấc mộng một ngày kia trở
thành thi sĩ” Bên những tác phẩm, tập thơ mới xuất bản - là các Lời tựa, Lời giới
thiệu, các ý kiến khen chê bộc lộ quan điểm lí luận khá rõ về một mô hình thi ca
mới Đời sống thi ca chặng đường này, tuy không “nóng bỏng” như chặng trước, song vẫn sôi nổi, khẩn trương, bộc lộ một nội lực, sức vươn dậy mạnh mẽ Và với nhiệm vụ nhận diện thơ ca, bảo vệ và định hướng cho sự phát triển của thơ ca, hệ thống quan niệm về thơ cũng dần đi tới sự hoàn thiện Thơ Mới và lí luận thơ thời Thơ Mới đã có một gương mặt mới hiện đại, phong phú hơn rất nhiều so với thơ cũ; hệ thống quan niệm về thơ được xây dựng, tiếp tục củng cố, hoàn thiện nguyên tắc cho sáng tác thơ theo xu hướng hiện đại hóa, và luôn không ngừng tìm tòi, khám phá những vấn đề, đề tài, lĩnh vực mới cho sáng tác
2.2.2 Mở rộng và cách tân
Từ những năm 1937 - 1938, xuất hiện một số tư tưởng, quan điểm lạ, chuyên chở trong nó ý thức tiên phong và tinh thần sang tạo mạnh mẽ Thơ, chưa lúc nào biểu hiện rõ như thế khát vọng vươn tới những cảm xúc tận cùng của bản thể, rọi sâu vào cõi tâm hồn bí ẩn và đau đớn của con người Xin được nêu ra đây một số quan niệm “mới” về thơ trong giai đoạn này:
2.2.2.1 Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên với Trường thơ Loạn, Thơ “điên”
Hàn Mặc Tử đã dựng lên một thế giới riêng đầy kinh dị, hoàn toàn xa lạ
với thế giới thực quen thuộc mà ta vẫn thường thấy, ở đó, có “máu cuồng và hồn
điên” Hàn Mặc Tử có quan điểm về thơ và thi nhân vượt ra ngoài ranh giới của
quan niệm thơ lãng mạn đương thời “Thơ là những tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao được trở lại trời, nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy
vô chung”; âm điệu của thơ là “âm điệu thiêng liêng tạo ra trong khi máu cuồng rền vang dưới ngọn bút”, và làm thơ là sự siêu thoát tuyệt đối, như một thứ bệnh
lí tinh thần: “Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên”
Trang 8Chế an Viên với Điêu tàn đã dựng lên một thế giới lạ lùng, kì dị- một
“Trường thơ oạn” Theo Chế an Viên, “làm thơ là sự phi thường Thi sĩ không phải là Người Nó là người mơ, người say, người điên Nó gào, nó thét,
nó khóc, nó cười, cái gì của nó cũng tột cùng Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tủy là tủy”
Những quan niệm mới lạ và độc đáo về thi nhân và thi ca của Hàn Mặc
Tử, Chế an Viên đã có ảnh hưởng không nhỏ đến sáng tác của một số nhà thơ đương thời như Hoàng Diệp, Quỳnh Dao, Xuân Khai, Bích Khê…
2.2.2.2 Nhóm “Xuân Thu nhã tập” và quan niệm thơ thuần tuý, siêu
thực: Thơ gắn liền với ạo
Nhóm Xuân Thu nhã tập có một “chương trình” khá đầy đủ, gồm cả lí
luận và thực tế, quan niệm và sáng tác Họ, với quan niệm thơ thuần túy, siêu thực, muốn thơ vươn tới sự hài hòa không cùng của cái đẹp lí tưởng Với họ, thơ gắn liền với Đạo, thơ là Đạo, là tôn giáo, là tình yêu - thơ thiêng liêng cao quý như một tín ngưỡng, và người làm thơ có chung một đạo để thờ: Đạo sáng tác
àm thơ là “một cuộc chân thành đi tìm đạo sống” Theo họ, thơ không cần phải sáng sủa dễ hiểu, bởi “Cái gì thật thơ, sẽ thấy trong tuệ giác cái đầy đủ tuyệt
vời” Từ đó, các tác giả Xuân Thu đã sáng tác một lối thơ kín đáo, bí hiểm, gây
ra không ít những tranh luận, bàn cãi… Người bênh vực, có người lại lên án
kịch liệt Song có một thực tế không thể phủ nhận, Xuân Thu nhã tập là sự tìm
tòi thể nghiệm đáng chú ý của Thơ Mới
2.2.2.3 Nhóm Dạ đài và phái thơ Tƣợng trƣng
Những tác giả của nhóm Dạ đài tự nhận mình là thi sĩ Tượng trưng và có hẳn một Bản tuyên ngôn Tượng trưng Trước hết, với thi sĩ Tượng trưng, một tác
phẩm thơ ca phải tạo được sức rung động cho người đọc Vì vẻ đẹp của bài thơ nằm ở sức rung động tâm lí, tạo nên bởi thế giới hình tượng Theo họ, chìa khóa
để hiểu một thi phẩm, đó là “không được dùng lí trí, không được dùng cảm tình…Hãy đem tất cả linh hồn, hãy mở tất cả cửa ngách của tâm tư mà lí hội.”
Tuy xuất hiện muộn và trong thời gian ngắn, song những quan niệm khá
đầy đủ, mạch lạc của tuyên ngôn tượng trưng đã có ảnh hưởng nhất định đến
Trang 9quan niệm thi ca đương thời và sau này, đồng thời cũng cho ta thấy tinh thần cách tân của lí luận thi ca vào chặng cuối của nó
2.3 Tổng kết Thơ Mới từ góc độ hệ thống quan niệm thơ và thành tựu thơ
ca: cuôn Thi nhân Việt Nam
2.3.1 Tổng kết chung về thành tựu Thơ Mới
Thơ Mới, qua sự tổng kết của Hoài Thanh về mười năm phát triển, đã hiện lên một cách đầy đủ, toàn cảnh, với diện mạo trọn vẹn và những thành tựu nổi bật Thơ Mới đã đưa thơ Việt Nam đương thời phát triển mạnh mẽ và nhiều thành tựu: phong phú trong số lượng tác giả và tác phẩm thơ, về giọng điệu và các phong cách khác nhau của các nhà thơ; phong phú trong việc phân hóa thành các nhóm thơ, dòng thơ, ảnh hưởng thơ ca; phong phú trong sự kế thừa và sáng tạo các thể thơ, lối thơ, nghệ thuật thơ; khám phá ra khả năng diễn đạt kì diệu của ngôn ngữ Việt…
Hoài Thanh đã rất sâu sắc khi nhận ra tinh thần cơ bản nhất, cái động lực
mạnh mẽ nhất tạo nên Thơ Mới, ấy là sự xuất hiện và khẳng định cái Tôi, khác với cái Ta phi ngã vốn là linh hồn của thơ truyền thống
Thơ Mới hiện ra trong Thi nhân Việt Nam không chỉ trong sáng tác, mà
còn được phân tích từ góc độ lí luận Đây là cuộc “hiện đại hóa” toàn diện, trên
cơ sở kế thừa truyền thống và học hỏi có sáng tạo các trào lưu thơ Tây phương
mà vẫn giữ được bản sắc Việt trong thể thơ, lối thơ, cách gieo vần, diễn đạt và nhiều “khuôn phép” khác
2.3.2 Tổng kết về hệ thống quan niệm thơ
Thi nhân Việt Nam đã có công xâu chuỗi những hiện tượng văn học vốn
rải rác trong sốt quá trình phát triển của Thơ Mới, soi chiếu nó dưới một góc nhìn, đặt nó vào từ trường của tư duy nghiên cứu Và tất cả đã hiện lên sáng rõ,
mạch lạc trong sự liên kết cấu trúc để trở thành một hệ thống Trước tiên là một quan niệm về thơ và Thơ Mới, trong thế đối lập với Thơ cũ: một lối thơ mang
tinh thần mới Từ cách hiểu về khái niệm Thơ Mới rộng như vậy, Hoài Thanh đã
có cơ sở để nhận diện các thể thơ trong Thơ Mới, chỉ ra nguyên tắc và luật lệ, cấu trúc và mô hình của nó trong sự vận động liên tục trong “một thời đại vừa chẵn mười năm” đầy phong phú và phức tạp
Trang 10Chương II QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT THI CA VÀ SỨ MỆNH CỦA THI SĨ
1 Bản chất của thi ca
1.1 Thi ca là gì? ịnh nghĩa về thi ca - ặc trƣng của thi ca
1.1.1 Thơ là tiếng nói của lòng
Quan niệm này cũng xuất phát từ quan niệm vững chãi của thể loại và thơ truyền thống: thơ diễn đạt tâm tình, cảm xúc của con người Điều làm nên sự
khác biệt, mang tính “cách mạng” của Thơ Mới chính là tính chất mới của thơ
“trữ tình”: thơ phải là tiếng lòng của cái tôi, nói lên cảm xúc chân thật của cá
nhân Cảm xúc thơ mang tính cá thể và được thể hiện một cách thành thật trong mọi hình thức tự do nhất
1.1.2 Thơ là một cái Đạo, “ ạo làm thơ”
“Thơ là một giống thiêng liêng người ta chỉ đọc trong giờ thiêng liêng, khi không khí trong trẻo và bằng phẳng như một tấm gương” ê Tràng Kiều Không tuyệt đối hóa, trừu tượng hóa thơ ca, song quan niệm trên về thơ đã nâng thơ lên một tầm mới: thiêng liêng, trong trẻo, cao cả của cái đẹp Chỉ khi hướng
về thơ với một thái độ như vậy, người ta mới có thể cảm được thơ và chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp, giá trị đích thực của thơ ca
Sau này, trong sự tìm tòi mở rộng những chiều kích, giới hạn không cùng cho thơ ca, có những thi sĩ coi thơ như một thứ tôn giáo, một tín ngưỡng Những
luận thuyết về thơ của Xuân thu nhã tập đã nâng thơ lên mức thần bí, tuyệt đối,
trở thành một thứ tôn giáo cao siêu
1.1.3 “Thơ là những lời nói êm đẹp có vần”
Đây là cách phân loại văn học khá giản đơn, dễ hiểu, chỉ thuần dựa vào tiêu chí hình thức văn học, đã từng được sử dụng khá phổ biến Và có khá nhiều học giả của thời Thơ Mới đã trở lại với quan điểm: là thơ thì phải có vần; vần là một trong những chuẩn nhận diện thơ
Tóm lại: Trong hệ thống quan niệm thơ của Thơ Mới, một định nghĩa thống
nhất về thơ vẫn là điều không thống nhất Song, việc đi tìm một định nghĩa về thơ
Trang 11đã thể hiện ý thức sâu sắc của Thơ Mới về bản thân nó, cũng như những yêu cầu của thời đại, góp phần định hướng cho sáng tác của thi sĩ
1.2 Chức năng của thi ca
1.2.1 Thơ nói tình:
Thơ Trung đại của Việt Nam xưa thiên về nói chí “Thi dĩ ngôn chí” Thơ Mới đòi hỏi thơ phải “đi vào tận tâm hồn của mình, đến những chỗ cùng sâu, mà vạch những cái kín nhiệm uất ức, rồi đưa phả vào những cái âm điệu du dương cho mình được nhẹ nhàng thư thả” Các nhà Thơ Mới là những người “chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc” Xuân Diệu Có thể khẳng định: chức năng quan trọng nhất, tiêu biểu nhất của thi ca, đặc biệt được nhấn mạnh trong thời Thơ
Mới, là nói tình: “thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại Nó đã ra
đời giữa vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế”
1.2.2 Thơ ghi lại sự sống, cuộc đời:
Thơ cũ có quá nhiều công thức, quá nhiều ước lệ, nên đã không đáp ứng được nhu cầu cảm xúc rất thật của con người hiện đại Bởi vậy, lối thơ mới được
xây dựng trên nguyên tắc của sự thực và lòng thành thực Nhà thơ “cứ việc ở trong đời, và tạo nên những cung điện thực, vô cùng đẹp đẽ, bằng những vật liệu
thực của trần gian” Tất nhiên, sự sống ấy đã được cảm nhận qua lăng kính của
thi nhân, trở thành nghệ thuật: “Thơ vẫn là sự sống, nhưng đây là sự sống đọng lại, kết tinh lại, biến thành cái đẹp” Các tác phẩm Thơ Mới, theo nhiều cách khác nhau đã khẳng định một chức năng, một đặc trưng của thi ca: Thơ ghi lại
sự sống, cuộc đời
1.2.3 Thơ có công dụng giáo hoá
Kế thừa quan điểm truyền thống về công dụng giáo hóa của văn chương, các tác giả thời Thơ Mới cũng đã khẳng định chức năng này: “Thơ là những lời nói êm đẹp tả cảnh tả tình để ngâm hát mà di dưỡng tính tình” Những tác phẩm
có giá trị, nó sẽ lay động tâm hồn người đọc, đánh thức những tình cảm đẹp đẽ trong mỗi con người, “trục xuất ở tâm hồn ta những ý tưởng và tình cảm thô lậu
và giục ta hăm hở đi tìm cái Chân, cái Thiện, cái Mĩ” “Thi ca chân chính là một cái sức mạnh huyền bí, nó nâng cao tâm hồn chúng ta lên” Trong thực tế sáng