Hiện tại, chúng ta có khoảng 10.000 cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên cả nước,trong lĩnh vực phân phối bán lẻ xăng dầu có tới 80% các cửa hàng xăng trực thuộc hệthống tư nhân và các tổ chức
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế vô cùng sôi động và mang tính cạnh tranh vô cùng gay gắtnhư hiện nay, để đứng vững trên thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp cần có rất nhiều
nỗ lực Bên cạnh việc phát triển các sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm, thực hiện cáchoạt động xúc tiến, các chương trình khuyến mại…thì hoạt động phân phối cũng làmột yếu tố quan trọng tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Không phải tựnhiên khi gần đây, việc triển khai một kênh phân phối sản phẩm hiệu quả được coi làmột trong những lựa chọn ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển sản phẩm, nhất
là với những công ty không có tiềm năng mạnh về tài chính Họ đã lựa chọn phương
án tập trung phát triển kênh phân phối với đội ngũ nhân viên bán hàng cần cù, chămchỉ, với các chính sách bán hàng và chiết khấu hợp lý đã thực sự kích thích nhà phânphối và người kinh doanh trở thành đồng minh, với các chương trình khuyến mãi hấpdẫn cho kênh phân phối và người tiêu dùng, họ đã lặng lẽ từng bước xây dựng thịtrường một cách vững chắc Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng hệ thống đôi khi cácnhà quản lý cũng gặp phải một số lúng túng liên quan đến các quyết định chiến lược
về hệ thống phân phối và thực hiện các quyết định chiến lược này Hầu hết các doanhnghiệp thiết kế các kênh phân phối của mình theo từng yêu cầu riêng lẻ mà chưagắn kết với các đối tác trong hệ thống kênh phân phối cũng như với người tiêudùng sản phẩm cuối cùng Việc thay đổi các kênh phân phối là việc làm khókhăn nhất so với thay đổi các yếu tố khác trong chiến lược tiếp thị của doanhnghiệp Vì vậy các doanh nghiệp cần có một chiến lược mới để tiếp cận thị trường,
đó là thực hiện quản trị kênh phân phối, đây là mắt xích quan trọng nhất để có thểmang lại lợi ích cho tất cả các đối tác tham gia trong kênh Quản lý kênh phân phốiluôn là thách thức đối với các doanh nghiệp Hệ thống này vận hành có hiệu quảkhông chỉ giúp quy trình quản lý chặt chẽ, cung cấp dịch vụ rộng khắp, kịp thời màcòn là cách tiếp cận người tiêu dùng nhanh nhất nhằm tạo ưu thế cạnh tranh của doanhnghiệp trên thị trường
Từ trước đến nay, hoạt động đại lý xăng dầu được xem là nghề kinh doanh "hốtbạc", bởi vậy hệ thống đại lý, của hàng bán lẻ xăng, dầu phát triển khá nhanh trong cả
Trang 2nước Hiện tại, chúng ta có khoảng 10.000 cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên cả nước,trong lĩnh vực phân phối bán lẻ xăng dầu có tới 80% các cửa hàng xăng trực thuộc hệthống tư nhân và các tổ chức khác.
Công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên là một doanh nghiệp kinh doanh mặt hàngchủ yếu là xăng dầu, hoạt động trên địa bàn 02 tỉnh Tây nguyên rộng lớn với trên 02triệu dân, giao thông chủ yếu là đường bộ, địa hình phức tạp, công tác vận chuyển gặpnhiều khó khăn, cơ sở vật chất kỹ thuật, mạng lưới cửa hàng bán lẻ xăng dầu chưa pháttriển kịp so với yêu cầu nhiệm vụ hiện nay Nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của cáccẩp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, các cơ quan ban ngành của tỉnh và sự chỉ đạotrực tiếp của Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam Trải qua 30 năm xây dựng và trưởngthành, tập thể cán bộ công nhân viên Công ty đã nổ lực phấn đấu vượt qua mọi khókhăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao Thị trường được giữ vững và ổn định, sảnlượng, doanh thu, vốn và lợi nhuận đều tăng qua các năm Thu nhập của người laođộng tăng, đời sống được cải thiện Đảm bảo an toàn các mặt trong hoạt động kinhdoanh, thực hiện tốt công tác xã hội từ thiện ở địa phương
Hiện nay hệ thống kênh phân phối của công ty hoạt động khá hiệu quả Hệthống đại lý và các cửa hàng bán lẻ của công ty đã trải rộng khắp địa bàn hai tỉnhĐăkLăk và Đăk Nông Thị phần của Công ty chiếm khoảng gần 60% tổng thị phần haitỉnh nam Tây Nguyên Tuy nhiên hiện nay tình hình cạnh tranh đang ngày càng diễn ragay gắt Các đối thủ cạnh tranh đang tìm cách nâng cao thị phần của mình Trong đóThanh Lễ (chiếm 12% thị phần) và PDC Vũng Tàu (chiếm 13% thi phần) là hai doanhnghiệp có mức cạnh tranh cao nhất đối với Công ty Ngoài ra còn rất nhiều đối thủkhác cũng đang cố gắng mở rộng thị phần của mình trên thị trường để cạnh tranh Đây
là thách thức không nhỏ đối với công ty Để có thể cạnh tranh thành công trên thịtrường, một trong những việc mà công ty cần chú trọng đó là cải thiện hệ thốngphân phối và quản trị kênh một cách hiệu quả hơn Xuất phát từ lý do đó Tôi quyết
định lựa chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống phân phối hàng hóa vật chất cho mặt hàng xăng dầu tại công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên ”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hệ thống kênh phân phối xăng, dầu tại
Trang 3Công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt đông phân phối xăng dầu củacông ty nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của kênh phân phối, nâng cao khả năngcạnh tranh trên thị trường
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Lý luận và thực tiễn liên quan đến hệ thống kênh phân phối các sản phẩm xăng,dầu trên địa bàn hai tỉnh ĐăkLăk và Đăk Nông của công ty xăng dầu Nam TâyNguyên
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi về thời gian
- Thời gian nghiên cứu: số liệu nghiên cứu trong 3 năm 2006-2008
- Thời gian thực hiện đề tài: từ ngày 05/03/2009 đến 18/06/2009
Trang 4PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
- Hiệp hội thị trường tiêu dùng Mỹ cho rằng: kênh phân phối là cơ cấu tổ chứccủa các nhà đại lí và các nhà bán buôn trong và ngoài doanh nghiệp Thông qua tổchức này hàng hoá mới đưa tới thị trường tiêu thụ
- Học giả kinh doanh tiêu thụ Streen lại định nghĩa rằng: kênh phân phối là một
hệ thống gồm các tổ chức có liên quan với nhau cùng dựa vào nhau làm cho sản phẩmhoặc dịch vụ được sử dụng hoặc tiêu thụ thuận lợi
- Theo quan điểm tổng quát phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp và cánhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sảnxuất đến người tiêu dùng Nói cách khác đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thựchiện các hoạt động làm cho sản phẩm và dịch vụ sẵn sàng cho mọi người tiêu dùng hoặcngười sử dụng công nghiệp, để họ có thể mua và sử dụng Các kênh phân phối tạo nêndòng chảy hàng hóa từ người sản xuất qua hoặc không qua các trung gian tới người muacuối cùng Nằm giữa người sản xuất và người mua cuối cùng là các trung gian
Tuy cách diễna các định nghĩa trên có khác nhau nhưng về bản chất là giốngnhau Phân phối là hoạt động nhằm thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu từngười bán sang người mua đồng thời thực hiện việc tổ chức, điều hòa, phối hợpcác tổ chức trung gian khác nhau bảo đảm cho hàng hóa tiếp cận và khai thác tối đacác loại nhu cầu của thị trường Đây cũng là con đường hoàn chỉnh và thông suốt từđầu đến cuối làm cho sản phẩm hoặc dịch vụ từ tay người sản xuất đến người tiêudùng Con đường này tuỳ theo doanh nghiệp cụ thể, hàng hóa cụ thể khác nhau, có thể
là con đường trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể dài, có thể ngắn, có thể rộng có thể hẹp
Trang 52.1.1.2 Tầm quan trọng của phân phối
2.1.1.3 Vai trò của phân phối
Các nhà sản xuất sử dụng các trung gian trong kênh phân phối bởi vì họ nhậnthấy các trung gian bán hàng hóa và dịch vụ hiệu quả hơn nhờ tối thiểu hóa số lần tiếpxúc bán cần thiết để thỏa mãn thị trường mục tiêu Nhờ quan hệ tiếp xúc, kinh nghiệm,việc chuyên môn hóa và quy mô hoạt động, những người trung gian sẽ đem lại lợi íchnhiều hơn so với công ty tự làm lấy Vai trò chính của trung gian là làm cho cung vàcầu phù hợp một cách trật tự và hiệu quả Trong một số trường hợp nhà sản xuất có thểphân phối trực tiếp nhưng phần lớn sản phẩm cần phải phân phối qua nhiều trung giantheo nguyên tắc chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội Sử dụng giới trunggian phân phối có thể đem lại những sự tiết kiệm khá lớn (hình 2.1)
Ký hiệu quy ước: SX: Nhà sản xuất
KH: Khách hàng
Hình 2.1: Vai trò của phân phối
Trang 6Như hình vẽ cho thấy: Bốn nhà sản xuất trực tiếp làm marketing để phân phốicho bốn khách hàng đòi hỏi tới 16 lần tiếp xúc Nhưng nếu sử dụng trung gian phânphối số lần tiếp xúc giảm xuống chỉ còn 8 Vậy:
- Phân phối là công cụ quan trọng nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng đồng thờicho phép giảm bớt đầu mối giao dịch
- Làm thỏa mãn tốt hơn các yêu cầu của người tiêu dùng
- Là chìa khóa để thiết lập Marketing chiến lược và Marketing hỗn hợp
2.1.1.4 Chức năng của phân phối
Kênh phân phối là con đường mà hàng hóa được lưu thông từ nhà sản xuất đếnngười tiêu dùng Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục được những khácbiệt về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với những người tiêudùng các hàng hóa và dịch vụ Tất cả các thành viên kênh phải thực hiện các chứcnăng chủ yếu sau:
- Nghiên cứu thị trường: Nhằm thu thập thông tin cần thiết để lập chiến lượcphân phối
- Xúc tiến khuyếch trương cho những sản phẩm họ bán Soạn thảo và truyền bánhững thông tin về hàng hóa
- Thương lượng: Để thỏa thuận phân chia trách nhiệm và quyền lợi trong kênh.Thỏa thuận với nhau về giá cả và những điều kiện phân phối khác
- Phân phối vật chất: Vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hóa
- Thiết lập các mối quan hệ: Tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những ngườimua tiềm năng
- Hoàn thiện hàng hóa: Làm cho hàng hóa đáp ứng được những yêu cầu củangười mua, nghĩa là thực hiện một phần công việc của nhà sản xuất
- Tài trợ: Cơ chế tài chính trợ giúp cho các thành viên kênh trong thanh toán
- San sẻ rủi ro liên quan đến quá trình phân phối
Vấn đề đặt ra là phải phân chia hợp lý các chức năng này giữa các thành viênkênh Nguyên tắc để phân chia các chức năng là chuyên môn hóa và phân công laođộng Nếu nhà sản xuất thực hiện các chức năng này thì chi phí sẽ tăng và giá cả sẽcao hơn Khi một số chức năng được chuyển cho người trung gian thì chi phí hoạt
Trang 7động của người trung gian sẽ tăng lên.Vấn đề ai thực hiện các công việc của kênh sẽlàm cho năng suất và hiệu quả cao hơn.
2 1.1.5 Cơ cấu kênh phân phối
Các thành viên trong kênh
* Thành viên cơ bản:
- Nhà bán lẻ: là tất cả các hoạt động có liên quan đến việc bán hàng hóa haydịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng để họ sử dụng cho bản thân chứ không phải kinhdoanh Có nhiều tổ chức, nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ thực hiện các chứcnăng bán lẻ, nhưng phần lớn công việc bán lẻ do những nhà bán lẻ chuyên nghiệp thựchiện Việc bán lẻ có thể thực hiện qua nhân viên bán trực tiếp, bưu điện, điện thoại haycác máy bán lẻ tự động
- Nhà bán buôn Nhà bán buôn là cơ cấu trung gian nhận hàng từ công ty sau đótiêu thụ cho các nhà bán buôn khác, nhà bán lẻ, các hộ tiêu dùng cuối cùng
- Người tiêu dùng (khách hàng): là thị trường của doanh nghiệp đồng thờikhách hàng lại là một trong những lực lượng - yếu tố quyết định tới hoạt đông củadoanh nghiệp Mỗi sự biến đổi về nhu cầu, về quyết định mua sắm của khách hàng đềubuộc các doanh nghiệp phải xem xét lại các quyết định của mình
ta phải xá định được 3 biến số chủ yếu: Chiều dài kênh, chiều rộng kênh và loại trunggian kênh
- Các loại kênh marketing thường dùng nhất được trình bày trong hình 2.2
Trang 8Hình 2.2 Các loại kênh marketing
Kênh cấp 0
Kênh cấp 0 là trường hợp sản phẩm được tiêu thụ trực tiếp từ nhà sản xuất đếntay người tiêu dùng, mà không phải qua bất kì một kênh trung gian nào Kênh cấp 0được gọi là kênh tiêu thụ trực tiếp Kênh tiêu thụ trực tiếp thường dùng để tiêu thụnhững sản phẩm công cụ sản xuất bởi vì rất nhiều sản phẩm công cụ sản xuất là đượcchế tạo theo nhu cầu đặc biệt của hộ sử dụng có tính kỹ thuật cao
Kênh cấp 3
Kênh tiêu thụ cấp III gồm 3 cơ cấu tiêu dùng trung gian, thí dụ ở giữa nhà bánbuôn và bán lẻ thường có 1 nhà trung gian và bán buôn chuyên nghiệp Nhà trung gian
Trang 9cất hàng bán buôn và bán lại cho các nhà bán buôn nhỏ hơn, mỗi đại lý được sử dụng
để phối hợp cung cấp sản phẩm với khối lượng lớn
Một số kênh tiêu thụ khác còn có nhiều cấp trung gian hơn, nhưng cũng thường
ít gặp Đối với nhà sản xuất nếu cấp trung gian càng nhiều thì kênh tiêu thụ càng tăng,nhưng cũng rất khó khống chế
Nói chung, căn cứ vào cấp bậc kênh tiêu thụ, chúng ta có thể chia kênh tiêu thụ làm
2 loại : kênh tiêu thụ trực tiếp và kênh tiêu thụ gián tiếp Kênh tiêu thụ trực tiếp làkênh cấp 0, còn kênh cấp 1, 2, 3 đều là kênh gián tiếp là loại kênh tiêu thụ chiếm địa vịchủ yếu trên thị trường hàng tiêu dùng
- Chiều rộng kênh (số lượng trung gian): để đạt được sự bao phủ thị trường, tiếpcận và khai thác thi trường tốt nhất, doanh nghiệp phải xác định số lượng các trunggian ở mỗi cấp độ phân phối trong kênh Có ba phương thức phân phối là phân phốirộng rãi, phân phối chọn lọc và phân phôí độc quyền
+ Nhà tiêu thụ độc quyền
Nhà sản xuất giao cho mỗi khu vực một nhà phân phối để họ tiêu thụ sản phẩmcủa nhà sản xuất trong khu vực của họ thì được gọi là kênh tiêu thụ nhà tiêu thụ độcquyền Khi sử dụng kênh tiêu thụ này nhà sản xuất phải lựa chọn để kí hợp đồng vớinhà kinh doanh độc quyền Hợp đồng đảm bảo người tiêu thụ độc quyền chỉ tiêu thụsản phẩm của nhà sản xuất không tiêu thụ sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Đồng thờinhà sản xuất phải tạo điều kiện đặc biệt thuận lơị và giúp đỡ các nhà phân phối trongviệc tiêu thụ sản phẩm, vận chuyển và kỹ thuật quản lí
+ Kênh tiêu thụ có nhiều nhà phân phối
Loại kênh tiêu thụ này có càng nhiều nhà phân phối càng tốt, sản phẩm luônđược cung ứng đến nơi kịp thời, loại kênh này được gọi là kênh tiêu thụ nhiều nhàphân phối
Trang 10Các nhà sản xuất lựa chọn loại kênh phân phối này cần lưu ý những vấn đề sau:
- Cần dự tính đầy đủ đến việc các nhà tiêu thụ trung gian cùng một lúc kinhdoanh tiêu thụ sản phẩm của nhà sản xuất khác, họ có thể không có khả năng thực hiệnviệc khuyến khích tiêu thụ cho từng loại sản phẩm, thiếu các kinh phí cần thiết choquảng cáo, cho các chương trình khuyến mại Vì vậy rất cần sự hỗ trợ của nhà sảnxuất, do đó kinh phí tiêu thụ trong kênh của nhà sản xuất sẽ tăng lên
- Về mặt kinh tế, kênh tiêu thụ nhiều nhà phân phối sẽ phát sinh kinh phí tươngđối lớn Đồng thời vì con số các nhà tiêu thụ trung gian quá nhiều, doanh nghiệp sảnxuất rất khó khống chế được các hoạt động trong kênh tiêu thụ
Việc lựa chọn kênh tiêu thụ trong 3 loại nói trên được quyết định bởi mục tiêuchiến lược, đặc điểm sản phẩm của nhà sản xuất và mức độ phân tán của khách hàng
2.1.1.6 Hệ thống kênh.
- Hệ thống kênh truyền thống: Trong hệ thống kênh tiêu thụ truyền thống cómột hoặc nhiều nhà sản xuất, nhà bán buôn và nhà bán lẻ Họ đều là những doanhnghiệp độc lập mưu cầu lợi nhuận tối đa Trong kênh tiêu thụ truyền thống, nghiệp vụcủa rất nhiều doanh nghiệp được thực hiện trên một hoặc nhiều hệ thống kênh tiêu thụ Vì
họ không thừa nhận việc dựa vào nhau để cùng tồn tại, vì vậy đã hình thành nên 1 hệthống của các thành viên không hoàn toàn tham dự vào toàn bộ hệ thống Để thực hiệnviệc tối đa hoá lợi nhuận cho bản thân, họ có thể hy sinh lợi nhuận của toàn bộ hệthống.Kênh tiêu thụ truyền thống mới chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà bán buôn và nhà bán
lẻ độc lập nhau Giữa các thành viên không có quyền hành và sự khống chế đối với nhau
- Hệ thống kênh dọc : Hệ thống kênh tiêu thụ dọc là một tổng thể thống nhất donhà sản xuất, nhà bán buôn và nhà bán lẻ hình thành Một hệ thống kênh tiêu thụ cóthể còn có các thành viên khác hoặc kí hợp đồng với họ, hoặc cho họ có quỳên lực lớn
để thúc đẩy việc hợp tác giữa các thành viên với nhau Kênh tiêu thụ dọc có thể do nhàsản xuất hoặc nhà bán buôn hay nhà bán lẻ khống chế Sự ra đời của kênh tiêu thụ dọc
là để khống chế các hành động trong kênh và quản lí các mâu thuẫn xung đột trongkênh, dựa vào qui mô kinh doanh, dựa vào năng lực về mặc giá cả, trả giá và loại bỏnhững dịch vụ trùng lặp để xây dựng hệ thống với mục đích tiết kiệm Đối với hệthống kênh tiêu thụ dọc, căn cứ vào quan hệ quyền sở hữu của các thành viên và mức
độ khống chế khác nhau giữa các thành viên, có thể chia thành 3 hình thức hệ thống
Trang 11tiêu thụ dọc: hệ thống kênh tiêu thụ dọc kiểu công ty, hệ thống kênh tiêu thụ dọc kiểukhế ước, hệ thống kênh tiêu thụ dọc kiểu quản lí.
- Hệ thống kênh ngang: Hệ thống kênh tiêu thụ ngang là sự kết hợp giữa 2 nhà,hoặc nhiều nhà tiêu thụ cùng cấp, để khai thác các cơ hội kinh doanh mới xuất hiện.Thông qua việc hợp tác, các doanh nghiệp có thể cùng góp vốn, sức sản xuất hoặcnguồn kinh doanh tiêu thụ để thực hiện công việc mà một nhà doanh nghiệp khônglàm nổi Doanh nghiệp có thể liên hợp với nhà cạnh tranh, cũng có thể tạm thời hoặcvĩnh viễn cùng nhau hợp tác
- Hệ thống kênh hỗn hợp: Trước đây nhiều doanh nghiệp dùng 1 kênh để thâmnhập vào thị trường tiêu thụ Hiện nay khách hàng chia nhỏ thị trường và các kênh tiêuthụ được phát triển Cho nên ngày càng có nhiều doanh nghiệp sử dụng hệ thống kênhtiêu thụ nhiều kênh, thường được gọi là hệ thống kênh tiêu thụ hỗn hợp Tiêu thụ nhiềukênh thường phát sinh khi doanh nghiệp thiết lập hai hay nhiều kênh tiêu thụ để thâmnhập vào một hoặc nhiều thị trường nhỏ của khách hàng Trong mấy năm gần đây, tìnhhình sử dụng hệ thống tiêu thụ hỗn hợp đã tăng lên rất nhanh Hệ thống tiêu thụ hỗnhợp là cách làm do một công ty thiết lập, hai hoặc nhiều hơn hai kênh tiêu thụ khimuốn thâm nhập vào thị trường chia nhỏ của khách hàng
2.1.2 Phân phối hàng hóa vật chất
2.1.2.1 Giới thiệu về phân phối hàng hóa vật chất
Việc lựa chọn kênh phân phối đúng là rất quan trọng, nhưng nếu chỉ như vậythì không đảm bảo sản phẩm được chuẩn bị sẵn sàng đúng thời gian và địa điểm tiêudùng Ở đây cần có các quyết định phân phối vật chất
Phân phối hàng hóa vật chất là hoạt động lập kế hoạch, thực hiện và kiểm traviệc chuyển và lưu kho hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng nằm phục vụ nhucầu của người tiêu dùng ở thị trường mục tiêu và thu được lợi nhuận cao nhất Phânphối vật chất cung cấp lợi ích về thời gian, địa điểm và việc chuyển quyền sở hữu cóthể thực hiện Các quyết định phân phối vật chất phải đảm bảo rằng hệ thống phânphối vật chất cung cấp lợi ích và đáp ứng nhu cầu khách hàng với mức dịch vụ và chiphí thích hợp Chi phí phân phối vật chất chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí phânphối và tổng doanh số của doanh nghiệp Vì vậy, nhà quản trị marketing rất quan tâmđến tổng chi phí phân phối, cố gắng tìm ra những khoản tiết kiệm Những chi phí
Trang 12phân phối vật chất cơ bản bao gồm các chi phí vận tải, lưu kho, bảo quản hàng dự trữ,bốc xếp, giao nhận, đóng gói hàng hóa, những chi phí hành chính và chi phí xử lý đơnđặt hàng Phân phối vật chất là công cụ có tiềm năng để tạo ra nhu cầu Nhờ hệ thốngphân phối vật chất tốt có thể giảm chi phí và qua đó giảm giá bán, thu hút thêm đượckhách hàng Ngược lại công ty sẽ mất khách hàng nếu không đảm bảo cung ứng đúngthời hạn Các doanh nghiệp cần khai thác hết tiềm lực và phối hợp các quyết định vềlưu kho, cách thức vận tải, địa diểm của nhà máy, kho bãi và cửa hàng để giảm chi phíphân phối.
Chi phí phân phối hiện chiếm khoảng 14% doanh số của các nhà sảnxuất và 26% doanh số các Công ty thương mại Trong đó chi phí cho vận tảichiếm khoảng 46%, kho bãi 26%, lưu kho 10%, giao nhận 6%, bao gói 5%, điềuhành 4% và xử lý đơn đặt hàng khoảng 3% trên tổng chi phí phân phối
Trong hoạt động Marketing, phân phối hàng hóa vật chất không chỉ đơnthuần là một loại chi phí mà nó còn là công cụ hữu hiệu tạo ra và đẩy mạnh sứccầu Doanh nghiệp có thể thu hút thêm khách hàng nhờ đưa ra được các dịch vụcung ứng tốt hơn, kịp thời hơn và giá bán hạ hơn dựa trên sự cải tiến và hiện đại hóahoạt động phân phối hàng hóa vật chất
Phân phối hàng hóa vật chất là quan trọng vì 2 lý do Thứ nhất, các hoạt độngphân phối hàng hóa vật chất chiếm trung bình khoảng 1/5 chi phí sản xuất hànghóa Ngày trước, công việc kinh doanh tập trung vào việc cải thiện hiệu quả sản xuất
để giảm chi phí Tuy nhiên ngày nay các nhà quản lý bắt đầu nhận ra rằng việc cắtgiảm chi phí của hoạt động phân phối hàng hóa vật chất là một chìa khóa khác đểcải thiện năng suất và đạt được những thuận lợi cạnh tranh Phân phối hàng hóa vậtchất cũng quan trọng bởi vì sự thỏa mãn của khách hàng trong một chừng mực nào
đó lại phụ thuộc vào việc vận chuyển hàng hóa và dịch vụ
2.1.2.2 Mục tiêu của việc phân phối hàng hóa vật chất
Phân phối sản phẩm vật chất là việc lập kế hoạch, thực hiện và kiểm tra cácdòng lưu chuyển nguyên liệu và thành phẩm từ nơi sản xuất đến nơi sử dụng nhằmđáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng và đạt được lợi nhuận Mục đích củaphân phối sản phẩm vật chất là quản trị các mạng lưới cung ứng, tức là các dòng giatăng giá trị từ người cung ứng đến người sử dụng cuối cùng
Trang 13Vì những hoạt động phân phối sản phẩm vật chất bao hàm nhiều vấn đề màcần phải cân nhắc rất phức tạp nên việc đưa ra mục tiêu và quyết định phải đượcthực hiện trên cơ sở phối hợp của toàn bộ hệ thống.
- Đáp ứng yêu cầu và mong đợi của khách hàng: về mặt phân phối, khách hàngthường quan tâm đến việc giao hàng đúng hẹn, đáp ứng nhu cầu đột xuất, bốc dỡcẩn thận, chấp nhận đổi hàng không đạt tiêu chuẩn…
- Đáp ứng tốt hơn các đối thủ cạnh tranh: cần phân tích chi phí và các mứcđáp ứng của đối thủ để xác định các tiêu chuẩn phục vụ thích hợp của doanh nghiệp
- Thiết lập các chỉ tiêu cụ thể cho từng hoạt động dịch vụ: giao hàng về khốilượng và thời gian như thế nào? Giải quyết đơn hàng ra sao? Bảo đảm mức thiệt hạihàng hóa là bao nhiêu? Mức độ phục vụ lắp đặt và sửa chữa như thế nào?
2.1.2.3 Các quyết định phân phối vật chất
+ Xử lý đơn đặt hàng
Việc phân phối sản phẩm vật chất bắt đầu từ đơn đặt hàng của khách hàng.Sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng, bộ phận đơn hàng chuẩn bị cácbảng sao thành nhiều văn bản và gửi tới các bộ phận cần thiết để lập chứng từ hóađơn và vận chuyển một cách chính xác và kịp thời Bộ phận này xử lý nhữngvấn đề sau:
- Đơn hàng yêu cầu
- Kiểm tra khả năng chi trả của khách hàng
- Xác định mức tồn kho của hàng hóa và địa điểm chứa hàng hóa
- Các yêu cầu bổ sung hàng hóa đối với bộ phận sản xuất
+ Lưu kho
Mọi doanh nghiệp đều phải tồn trữ hàng trong khi chờ bán Việc lưu trữ làmột đòi hỏi khách quan nhằm tạo sự cân bằng và ăn khớp về khối lượng, địa điểm,thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng hàng hóa
Trang 14dụng kho bãi công cộng thì tốn chi phí thuê gửi và chi phí bổ sung (kiểm tra, đóng gói,giao hàng) nhưng lại dễ dàng lựa chọn kiểu loại và địa điểm thuận tiện.
Việc xác định mức tồn kho cần thiết nhằm thực hiện hai mục tiêu: có mộtmức dự trữ để tránh mọi sự gián đoạn (mục tiêu an toàn) và giảm đến mức thấpnhất có thể được về những chi phí kho hàng (mục tiêu tài chính) Có hai vấn đề đặtra: một là lúc nào cần đặt thêm hàng, hai là số lượng đặt thêm là bao nhiêu
X
á c đ ị n h đ i ể m đ ặ t h à ng : là thời điểm phải nhập thêm hàng khi dự trữ đã giảmđến một mức nhất định Điểm đặt hàng phải phụ thuộc vào các mức dự trữ, mức tiêudùng, thời gian thực hiện đơn hàng và các tiêu chuẩn phục vụ Điểm đặt hàng phảicàng cao nếu thời gian chờ thực hiện đ ơn hàng dài, tốc độ sử dụng càng lớn
và tiêu chuẩn dịch vụ càng cao Nếu thời gian chờ đợi thực hiện đơn hàng và tốc
độ tiêu hao của khách hàng thay đổi thì phải xác định điểm đặt hàng cao hơn đểđảm bảo lượng tồn kho an toàn Điểm đặt hàng tối ưu phải đảm bảo sự cân đối giữanguy cơ cạn hàng và chi phí ứ đọng hàng
T
í n h t oá n l ư ợ n g hàn g c ầ n đ ặ t t h ê m : phải đảm bảo sự cân đối về chi phí
Xử lý đơn hàng và chi phí giữ hàng lưu kho thường xuyên Chi phí xử
lý đơn hàng gồm chi phí chuẩn bị và chi phí quản lý của mặt hàng đó Nếu chi phíchuẩn bị thấp thì nhà sản xuất có thể sản xuất mặt hàng đó thường xuyên và chi phícho mặt hàng đó hoàn toàn ổn định và bằng chi phí quản lý Nếu chi phí chuẩn bịcao thì người sản xuất có thể giảm bớt chi phí trung bình tính trên đơn vị sản phẩmbằng cách sản xuất và duy trì lượng hàng dự trữ dài ngày hơn
Chi phí dự trữ hàng hóa gồm phí lưu kho, phí vốn, thuế và bảo hiểm, khấu hao
và hao mòn vô hình Mức dự trữ bình quân càng lớn thì chi phí dự trữ càng cao
Trang 15+ Vận chuyển
Hình thức vận chuyển được sử dụng để vận chuyển sản phẩm phụ thuộc chủyếu vào chủng loại sản phẩm, khoảng cách và chi phí Người quản lý phân phốisản phẩm vật chất có một số Công ty và hình thức vận chuyển để lựa chọn Có 5 hìnhthức vận chuyển chính là đường sắt, đường bộ, đường biển, đường ống và đường hàngkhông Chi phí của mỗi hình thức liên quan đến tốc độ mà nó thực hiện Hình thứcnhanh hơn thì ít tốn kém hơn các hình thức chậm
Đường sắt: khoảng 36% hình thức vận chuyển được thực hiện bởi đường sắt,hầu hết là các hãng vận tải công cộng Vận chuyển giữa các thành phố được tính theođơn vị tấn – dặm, đó là khoảng di chuyển của 1 tấn trong khoảng cách là 1 dặm Khôngphải tất cả đường sắt quốc gia là của hãng vận tải công cộng và chỉ một vài đường sắtthuộc sở hữu và được thực hiện bởi những Công ty nhỏ và các nhà sản xuất lớn chẳnghạn các Công ty sắt thép là của các hãng vận tải tư nhân Đường sắt là hình thức vậnchuyển hàng hóa hiệu quả nhất cho khoảng cách xa Chẳng hạn như khoảng 70% hạtngũ cốc được vận chuyển bằng tàu lửa Ngoài ra còn có than, nước mắm
Đường bộ: vận chuyển bằng đường bộ chiếm khoảng 25% vận chuyển trongnước Thuận lợi chính của vận chuyển bằng đường bộ là tính linh hoạt Một hãng vậntải đường bộ có thể hoạt động bất cứ nơi đâu có đường trong khi xe lửa phụ thuộc vàođường ray và máy bay phụ thuộc vào sân bay Một số hãng vận tải đường bộ thực hiệnviệc vận chuyển xuyên lục địa nhưng nó có hiệu quả với khoảng từ 300 đến 400 dặm.Với khoảng cách xa thì đường sắt thuận lợi hơn Hãng vận tải đường bộ được chiathành hãng vận tải công cộng, hãng vận tải tư nhân và hãng vận tải hợp đồng
Đường thủy: vận chuyển bằng đường thủy rất chậm nhưng có chi phí thâp nhấttrong các hình thực vận chuyển Hai loại cơ bản của hình thức vận chuyển bằng đườngthủy là các tàu loại nhỏ vận chuyển trong nội địa và các tàu lớn vận chuyển trên các lộtrình quốc tế
Đường ống: 24% việc vận chuyển được thực hiện bằng đường ống, chủ yếu làcác sản phẩm dầu khí từ dầu thô tới sản phẩm đã được lọc, gas thiên nhiên Một vàikinh nghiệm thành công đã được thực hiện trong việc vận chuyển theo cách này nhưthan Những sản phẩm này nằm trong lòng đất ở dạng những miếng nhỏ và trộn vớinước tạo thành chất lỏng đặc sệt mà sau đó trôi theo đường ống Đường ống có thể
Trang 162DaS H
vận chuyển nhiều chất lỏng và gas rẻ hơn và nhanh hơn các loại khác
Đường hàng không: trong khi các hình thức vận chuyển khác vẫn chậm chạp thìviệc thực hiện bằng đường hàng không chỉ mất 3/10 của 1% tất cả các hình thức vậnchuyển Trong những năm gần đây việc vận chuyển bằng đường hàng không ngày càngtrở nên quan trọng hơn
2.1.3 Các yếu tố liên quan đến quá trình phân phối hàng hóa vật chất
2.1.3.1 Mô hình quy mô lô đặt hàng hiệu quả
Mục tiêu của chúng ta là tìm chính sách đặt hàng tối ưu nhằm tối thiểu chiphí mua sắm và chi phí tồn kho hàng năm trong khi vẫn thỏa mãn nhu cầu
Quy mô lô đặt hàng hiệu quả
Trong đó Da là nhu cầu tiêu thụ trong 1 năm
Q là quy mô đặt hàng
I là mức tồn kho
S là chi phí đơn đặt hàng không phụ thuộc vào quy mô
H là chi phí tồn kho 1đơn vị tồn kho trong năm
Trang 172.1.3.2 Dự báo nhu cầu
Dự báo cung cấp một bức tranh ước tính về nhu cầu tương lai và là cơ sở chohoạch định và các quyết định kinh doanh Vì thế mục tiêu của kỹ thuật dự báo tốt là tốithiểu hóa sai lệch giữa nhu cầu thực tế và dự báo Thực hiện dự báo chính xác giúpgiảm mức tồn kho, giảm cạn kiệt nguồn dự trữ hàng hóa, kế hoạch sản xuất đều đặn, hạthấp chi phí và cải thiện dịch vụ khách hàng
2.2 Cơ sơ thực tiễn
2.2.1 Vài nét về tình hình tiêu thụ xăng dầu tại Việt Nam
Như chúng ta đã biết xăng dầu vừa là mặt hàng chiến lược liên quan đến an ninhnăng lượng của quốc gia, vừa là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu của mỗi gia đình Mỗinăm VN tiêu thụ khoảng 15 triệu tấn xăng dầu Theo Bộ Công thương, nhu cầu tiêu thụsản phẩm xăng dầu ở Việt Nam được dự báo là sẽ tăng trung bình 8 – 10%/năm (giaiđoạn 2006 - 2010) Có thể ước tính, lượng xăng, dầu tiêu thụ mỗi ngày của Việt Nam
là 12,5 triệu lít xăng và 25 triệu lít dầu Nếu tính bình quân một tháng, Việt Nam sẽtiêu thụ khoảng 3.750 triệu lít xăng và 7.500 triệu lít dầu các loại Đồng nghĩa sốlượng xăng dầu tiêu thụ mỗi năm là 135.000 triệu lít
Những tháng đầu năm 2008 với sự biến động của nền kinh tế thế giới, giá dầu cóbiến động lớn theo xu hướng tăng rất cao Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sốngcủa nhân dân vì sự thay đổi giá xăng dầu luôn có ảnh hưởng đến các mặt hàng thiết yếukhác Nhằm mục tiêu bình ổn giá, chống lạm phát, chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2008,Chính phủ đã phải bỏ ra khoảng 14.500 tỷ đồng để bù lỗ, điều này cũng thể hiện nỗ lựcrất lớn của Chính phủ trong việc bình ổn giá xăng dầu trong nước Bên cạnh đó cũngphải kể đến sự chung vai gánh vác của các doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu xăng dầu
Tính đến đầu năm 2009 xăng dầu là mặt hàng mà Việt Nam vẫn phải nhập khẩu100% Theo Bộ Công thương, dự kiến mức tiêu dùng xăng dầu trong năm 2009 khoảng
14 triệu tấn, tăng 1 triệu tấn so với năm trước Năm 2009 là năm đầu tiên cơ cấu tạonguồn có thay đổi khi Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động cho sản phẩm vàotháng 2 sẽ góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu như các năm trước Theo kếhoạch, tháng 2/2009 khi Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động, mức nhập khẩuxăng dầu cả năm sẽ khoảng 12,2 triệu tấn, trong đó có 1 triệu tấn tái xuất, tiêu dùngtrong nước khoảng 11,2 triệu tấn
Trang 182.2.2 Vài nét về hệ thống phân phối tại Việt Nam
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 8% một năm, Việt Nam trở thành mộttrong những nền kinh tế phát triển ở Châu Á, điều này thu hút sự quan tâm của các
doanh nghiệp bán buôn và bán lẻ trong và ngoài nước Theo bộ Công thương, số lượng
các công ty, cửa hàng, đại lý, chợ… đều tăng lên rất nhanh Hiện cả nước đã có trên9.000 chợ, 200 siêu thị và trung tâm thương mại, hàng chục ngàn cửa hàng bán lẻ và 2,5triệu hộ kinh doanh cá thể tham gia bán buôn, bán lẻ hàng hoá
Hệ thống phân phối tại Việt Nam hiện nay chủ đạo bởi hệ thống phân phối truyềnthống với kênh phân phối chính là chợ và các tiệm bán lẻ rải rác khắp các địa phương.Điều này đối chọi với hệ thống kinh doanh bán lẻ hiện đại và chủ yếu là siêu thị nhưCo.opMart, MaxiMark và các trung tâm bán sỉ lẻ lớn như Metro, BigC Tại các đô thịlớn - nơi có sức mua lớn nhất, nhịp sống dần dần được thay đổi trong các gia đình trẻbởi thói quen cuối tuần đi siêu thị mua đồ dùng cho cả gia đình trong một tuần Thêmnữa, sự chênh lệch về phương thức kinh doanh, sự đa dạng hàng hóa, giá cả, nhãnhiệu, an toàn thực phẩm đã nghiêng cán cân lợi thế về phía hệ thống phân phối hiệnđại Với sự phát triển nhãn tiền thì hệ thống phân phối hiện đại tất nhiên sẽ làm suyyếu kênh phân phối truyền thống trong thời gian tới
Theo thống kê, chỉ số phát triển bán lẻ của Việt Nam năm 2007 đạt 74/100điểm, đứng thứ tư trên thế giới, chỉ sau các nền kinh tế Ấn Độ, Nga và Trung Quốc
Thời gian qua thị trường phân phối bán lẻ trong nước đã đóng góp rất lớn vào
sự phát triển của nền kinh tế và chiếm một tỷ trọng rất quan trọng trong việc tăngtrưởng GDP
Thời gian qua khi Việt Nam gia nhập WTO, chúng ta đã thực hiện lộ trình mởcửa thị trường trong lĩnh vực phân phối, bên cạnh đó việc thực thi hiệp định thương mạiViệt Nam - Hoa Kỳ cũng thực hiện cam kết mở cửa thị trường phân phối đối với bốnphân ngành dịch vụ phân phối là bán buôn, bán lẻ, đại lý và nhượng quyền thương mại
Theo đánh giá chung, lưu thông hàng hóa và thị trường trong nước nói chung,các hệ thống phân phối hàng hóa trên thị trường bán lẻ nói riêng trong thời gian qua cóbước phát triển khá rõ, đạt được những thành tựu quan trọng Tổng mức bán lẻ hànghóa liên tục tăng trên dưới 20%/năm Những sản phẩm hàng hóa trong nước hầu hếtđược tiêu thụ và đáp ứng đủ nhu cầu của sản xuất và đời sống
Trang 19Tuy nhiên, đến nay, thị trường trong nước vẫn đang còn bộc lộ những hạn chế
hệ thống phân phối, dễ bị tổn thương, ứng phó yếu trước các diễn biến bất thường vềquan hệ cung cầu và giá cả trong nước và thế giới Trong đó, tồn tại và yếu kém cơ bảnnhất là về tổ chức, phát triển và quản lý Nhà nước đối với hệ thống phân phối bán lẻ
Hiện thị trường trong nước còn quá ít doanh nghiệp và hệ thống phân phối đủmạnh, có khả năng tài chính, mạng lưới kinh doanh, nhân lực, công nghệ quản lý vàđiều hành phù hợp với xu thế hiện đại hóa và chuyên nghiệp hóa Trong khi đó, lại cóquá nhiều loại hình tổ chức mua bán nhỏ lẻ, hoạt động tự phát, làm thị trường manhmún và lộn xộn, pháp luật của Nhà nước và lợi ích người tiêu dùng không được tôntrọng
Quá trình quản lý Nhà nước về lưu thông hàng hóa và thị trường trong nướcnhìn chung vẫn còn không ít những vướng mắc, bất cập Nhiều chủ trương, chính sách
và giải pháp chưa thực sự đi vào đời sống và thị trường, tác dụng cũng như hiệu lực vàhiệu quả chưa rõ ràng và chưa cao Theo đánh giá của bộ Công thương, hiện nay quánhiều loại hình tổ chức mua bán, kinh doanh hàng hoá hoạt động tự do, ngoài vòngkiểm soát khiến thị trường manh mún, lộn xộn và rối loạn Trong khi, Nhà nước lạithiếu các doanh nghiệp và hệ thống phân phối nòng cốt để kiểm soát và chi phối, nhất
là trong những thời điểm thị trường căng thẳng, gay gắt
* Các điểm yếu của ngành phân phối Việt Nam
Do ngành phân phối của Việt Nam chưa mạnh và chưa chuyên nghiệp, nên hiệnnay có những nguyên lý căn bản của phân phối đang bị vi phạm mà cả nhà sản xuất vàngười tiêu dùng đang tạm thời phải chấp nhận
Thứ nhất, đó là hiện tượng chồng lấn giữa phân phối và bán lẻ
Thứ hai, do thiếu các nhà phân phối đủ năng lực nên hiện nay một doanhnghiệp có thể phân phối nhiều sản phẩm cạnh tranh với nhau
Thứ ba, cũng như trong bán lẻ, ngành phân phối phải có cạnh tranh Cạnh tranh
sẽ bảo đảm việc phân phối có hiệu quả với chi phí thấp nhất, từ đó cả nhà sản xuất vàngười tiêu dùng cùng được lợi
2.2.3 Vài nét về hệ thống phân phối xăng dầu tại Việt Nam
Từ trước đến nay, hoạt động đại lý xăng, dầu được xem là nghề kinh doanh "hốtbạc", bởi vậy hệ thống đại lý, của hàng bán lẻ xăng, dầu phát triển khá nhanh trong cả
Trang 20nước Hiện tại, chúng ta có khoảng 10.000 cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên cả nước,trong lĩnh vực phân phối bán lẻ xăng dầu có tới 80% các cửa hàng xăng trực thuộc hệthống tư nhân và các tổ chức khác.
VN hiện có 9 đầu mối nhập khẩu xăng dầu, trong đó Tổng Công ty Xăng dầuViệt Nam (Petrolimex) làm nòng cốt, chiếm tỷ lệ 60% khối lượng nhập khẩu mặt hàngnày Mỗi doanh nghiệp đều xây dựng hệ thống phân phối kinh doanh thứ cấp riêng Đó
là nguyên nhân dẫn đến sự nở phình của mạng lưới phân phối, kinh doanh tổng thể.Với 290 tổng đại lý và gần 9.000 đại lý, cửa hàng bán lẻ, hệ thống phân phối này đượcđánh giá là quá kềnh càng, phát triển mạnh về bề rộng, nhưng thiếu chiều sâu
Hiện nay trong ngành kinh doanh xăng dầu, các doanh nghiệp được chia ra 3loại khác nhau:
- Các công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối - Là các đơn vị được phép nhậpkhẩu xăng dầu từ nước ngoài về Việt Nam, hiện nay có hơn 9 đầu mối được phép nhậpkhẩu xăng dầu vào Việt Nam như Petrolimex, Petec, PDC, Xăng dầu Quân Đội,Vinapco vv với Petrolimex là đầu mối nhập khẩu được coi là lớn nhất Các công tynày vừa được phép nhập khẩu và được phép phân phối xăng dầu cho mọi nhu cầu tiêuthụ xăng dầu trong nước
- Các tổng đại lý kinh doanh xăng dầu: là các đơn vị phân phối xăng dầu trựctiếp từ doanh nghiệp đầu mối, có sản lượng tiêu thụ, sức chứa, hệ thống bán buôn, bán
lẻ đủ lớn (theo quy định riêng của bộ Công thương về điều kiện kinh doanh xăng dầuban hành năm 2007)
- Các đại lý kinh doanh xăng dầu: là các đơn vị đầu cuối trong chuỗi nhập- phânphối xăng dầu tại Việt Nam, bao gồm các hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu, trạm cấpnhiên liệu cho các nhà máy sản xuất, cho vận tải thủy bộ
Ở các loại hình doanh nghiệp trên có những đặc điểm cần lưu ý: loại cấp caohơn có thể tham gia hoạt động hoặc hoạt động như tư cách của loại cấp dưới, ví dụPetrolimex vừa có công ty nhập khẩu, vừa có các tổng đại lý, có các xí nghiệp bán lẻxăng dầu
Tuy nhiên, hiện nay do chưa có quy hoạch nên ở các khu vực trung tâm thànhphố lớn, các thị trấn và dọc theo những tuyến giao thông chính, mật độ cửa hàng xăngdầu khá dày đặc, trong khi ở nông thôn, các xã vùng sâu, vùng xa lại không có hoặc
Trang 21quá ít Các cửa hàng trong khu vực thành phố, thị trấn phần lớn đều nằm gần khu dân
cư nên không đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy, vi phạm chỉ giới xây dựng,không đạt yêu cầu vệ sinh môi trường Phần lớn các cửa hàng bán lẻ xăng dầu có quy
mô vừa và nhỏ, trang thiết bị cũ kỹ lạc hậu nên hiệu quả kinh doanh đạt chưa cao Một
số cơ sở chưa chấp hành tốt các chính sách quản lý Nhà nước về sản xuất kinh doanh,kinh doanh không có giấy phép, giấy phép hết thời hạn, hoặc không đạt yêu cầu quyđịnh về mặt hàng kinh doanh có điều kiện, có biểu hiện gian lận thương mại, tiêu thụxăng dầu ngoài luồng, gian lận trong đo lường chất lượng và cạnh tranh không lànhmạnh…Vì vậy việc quy hoạch bố trí lại hệ thống kinh doanh xăng dầu của nước tatrong thời gian đến phải phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm anninh quốc phòng và môi trường sinh thái giữa các vùng, miền trong tỉnh Vì vậy bêncạnh việc thường xuyên chú trọng phát triển mạng lưới xăng dầu trên địa bàn tỉnh mộtcách có khoa học nhằm đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững, cần phải kịp thời tổ chứcsắp xếp lại hệ thống kinh doanh xăng dầu hiện có để từng bước hiện đại hóa ngànhxăng dầu theo hướng văn minh, hiện đại
Trang 22PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
3.1 Giới thiệu tổng quát về công ty xăng đầu Nam Tây Nguyên
3.1.1 Giới thiệu về công ty xăng dầu nam Tây Nguyên
Tên công ty: CÔNG TY XĂNG DẦU NAM TÂY NGUYÊN
Trụ sở chính: 06 Nguyễn Tất Thành – TP Buôn Ma Thuột – Tỉnh Đăklăk
Điện thoại: 05003.852443 – 05003.856948
Fax: 05003.855073
3.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên
Công ty Xăng dầu Nam Tây Nguyên - tiền thân là Công ty Vật tư tổng hợpĐăklăk là doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực thương mại được thành lậpngày 14/02/1976 theo Quyết định số 151/VTQĐ của Bộ Vật Tư với chức năng nhiệm
vụ chủ yếu là cung ứng vật tư kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàntỉnh Đăklăk
Năm 1980 Bộ Vật tư ra Quyết định số 228/VT-QĐ giao nhiệm vụ, quyền hạn
về tổ chức bộ máy cho Liên hiệp cung ứng vật tư khu vực 5 Công ty Vật tư tổng hợpĐăklăk là đơn vị trực thuộc Liên hợp cung ứng vật tư khu vực 5
Trang 23Năm 1985 theo Quyết định số 747/ VT-QĐ ngày 20/12/1985 của Bộ Vật tư vềviệc chuyển các Công ty Vật tư tổng hợp phía nam về trực thuộc Bộ, Công ty lại trởthành một đơn vị hoạt động độc lập trên địa bàn tỉnh trực thuộc Bộ
Suốt thời gian từ 1976-1989 Công ty chỉ thực hiện nhiệm vụ cung ứng các loạivật tư kỹ thuật cho các cơ quan, đơn vị trong tỉnh theo chỉ tiêu hạn mức được nhà nướcphân bổ
Từ năm 1989 trở lại đây bước sang thời kỳ đổi mới kinh tế, Công ty Vật tư tổnghợp Đăklăk từng bước ổn định và không ngừng phát triển Các mặt hàng kinh doanhchính trong thời kỳ này là: xăng dầu, kim khí, hoá chất, vật liệu điện, thiết bị phụ tùng,vật liệu xây dựng
Năm 1994 Bộ Thương mại ra quyết định số 1446/TM-TCCB ngày 05/12/1994chuyển Công ty Vật tư tổng hợp Đăklăk từ Bộ thành Công ty thành viên trực thuộcTổng Công ty Xăng dầu Việt Nam Từ đây mặt hàng kinh doanh chính của Công ty làxăng dầu và các sản phẩm hoá dầu Đến ngày 20/07/2000 theo quyết định số 1029/TM-TCCB của Bộ Thương mại, Công ty Vật tư tổng hợp Đăklăk đổi tên thành Công ty xăngdầu Đăklăk
Năm 2004, tỉnh Đăklăk được tách ra thành hai tỉnh Đăklăk và Đăknông, để phùhợp với nhiệm vụ kinh doanh trên địa bàn hai tỉnh, Bộ thương mại đã có quyết định số360/2004/QĐ-BTM ngày 25/03/2004 đổi tên Công ty xăng dầu Đăklăk thành Công tyxăng dầu Nam Tây Nguyên
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Xăng dầu Nam Tây Nguyên gắnliền với sự đổi mới và phát triển kinh tế của cả nước nói chung và hai tỉnh Tây Nguyênnói riêng Từ một cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn tiếp nhận được sau giải phóng,đến nay Công ty đã có được mạng lưới bán lẻ rộng khắp trên địa bàn hai tỉnh TâyNguyên Hiện nay cơ sở vật chất của Công ty được đầu tư hiện đại, quy mô ngày cànglớn mạnh Năm 2007 công ty được bình chọn là một trong số 500 doanh nghiệp lớnnhất Việt Nam
3.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên
3.1.3.1 Chức năng
Công ty Xăng dầu Nam Tây Nguyên là doanh nghiệp nhà nước hoạt động tronglĩnh vực thương mại, đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng công ty xăng
Trang 24dầu Việt Nam Mục đích kinh doanh của Công ty là lợi nhuận, bảo toàn và phát triểnvốn được nhà nước giao thông qua việc thỏa mãn tốt nhất nhu cầu xăng dầu và các sảnphẩm hoá dầu trên thị trường khu vực Đồng thời là doanh nghiệp nhà nước, Công ty cóvai trò ổn định thị trường, mở rộng kinh doanh, đảm bảo thu nhập cho người lao động
và thực hiện tốt các nghĩa vụ với ngân sách nhà nước Để thực hiện mục đích trên, Công
ty phải huy động và sử dụng vốn có hiệu quả, không ngừng mở rộng hệ thống phân phối
và có chính sách đại lý thích hợp để phát triển thị trường Trong quá trình hoạt động,Công ty có trách nhiệm chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh, cân đối nhu cầu vốnnhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh thường xuyên, ổn định và phát triển Thực hiệnnghiêm túc việc quản lý và sử dụng vốn theo cơ chế tài chính hiện hành của nhà nước,đảm bảo hiệu quả cao và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước
3.1.3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, Công ty phải huy động và sử dụng vốn có hiệu quả,
mở rộng mạng lưới bán lẻ trên các trục giao thông huyết mạch của tỉnh và những khuvực đông dân cư, đáp ứng tối đa nhu cầu của các nông trường, xí nghiệp và có chínhsách đại lý thích hợp để khai thác tiềm năng tại những nơi mà Công ty chưa vươn tới
Trong quá trình hoạt động kinh doanh Công ty có trách nhiệm chủ động xâydựng kế hoạch kinh doanh, cân đối nhu cầu vốn nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanhthường xuyên, ổn định và phát triển Thực hiện nghiêm túc việc quản lý, sử dụng đồngvốn theo cơ chế quản lý tài chính hiện hành của nhà nước, đảm bảo hiệu quả cao vàthực hiện đầy đủ nghĩa vụ chấp hành nộp thuế vào ngân sách nhà nước
3.1.4 Đặc điểm hoạt động và tổ chức bộ máy quản lý ở Công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên
3.1.4.1 Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh
Các mặt hàng kinh doanh của Công ty hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từnước ngoài để phân phối trên địa bàn hai tỉnh Tây Nguyên, có thể phân chia các mặthàng công ty kinh doanh thành ba nhóm như sau:
- Mặt hàng xăng dầu: Bao gồm các mặt hàng xăng Mogas 95, Mogas 92, dầuDiesel, dầu hỏa và mazut Đây là nhóm mặt hàng kinh doanh chính của công ty, năm
2008 doanh thu nhóm hàng này là 1.415 tỷ đồng, chiếm 97.7% tổng doanh thu củaCông ty
Trang 25- Mặt hàng dầu nhờn: Bao gồm các loại dầu mỡ nhờn, trong đó chủ yếu là cácloại dầu nhờn động cơ.
- Các mặt hàng gas, phụ kiện gas: Gồm gas phục vụ nhu cầu tiêu dùng gia đình,công nghiệp
Bên cạnh việc kinh doanh các mặt hàng trên, Công ty còn thực hiện dịch vụ vậnchuyển, dịch vụ giữ hộ hàng hoá cho nhà nước (hàng dự trữ quốc gia) Đặc điểm chủyếu các mặt hàng công ty đang kinh doanh là chất lỏng và chất khí, dễ bay hơi và cháy
nổ Để có thể vận chuyển, dự trữ và xuất bán các loại hàng này cần phải có các thiết bịchuyên dùng
3.1.4.2 Đặc điểm môi trường kinh doanh:
Môi trường kinh doanh là tập hợp các yếu tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếpđến quá trình kinh doanh Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường yếu tố môi trường tácđộng không nhỏ đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
- Môi trường vĩ mô: Bao gồm các yếu tố như chính trị, pháp luật, kinh tế, tình
hình gia tăng dân số, phát triển khoa học kỹ thuật, Môi trường này tác động gián tiếpđến hoạt động của Công ty, tạo nên cơ hội hay đe doạ trong kinh doanh
+ Chính trị: Môi trường chính trị Việt Nam ngày càng trong sạch, Nhà nướcđang tạo mọi điều kiện tốt nhất để doanh nghiệp hoạt động như giảm thuế, đẩy mạnhhoạt động xuất nhập khẩu, bãi bỏ các thủ tục và điều kiện không cần thiết cản trở hoạtđộng kinh doanh ở thị trường nội địa cũng như đưa ra những chính sách ưu đãi về đấtđai, thủ tục, thuế để thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào ViệtNam Chính những thuận lợi này đã thúc đẩy Công ty an tâm hoạt động, mạnh dạn bỏvốn đầu tư
+ Pháp luật: Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước quản lý kinh tế thông qualuật, các văn bản dưới luật, tạo nên kỷ cương trong quản lý kinh tế, hệ thống phápluật đang dần hoàn chỉnh dựa trên một nền tảng hành lang pháp lý hoàn thiệnbao gồm: luật thương mại Việt Nam, luật thương mại quốc tế, luật chứng khoán,luật thuế thu nhập cá nhân, luật thuế tiêu thụ đặc biệt…đã tạo ra những điềukiện thuận lợi trong việc ổn định thị trường, thu hút đầu tư nước ngoài cũng như
mở rộng thị trường sang các nước trong khu vực ASEAN và trên thế giới Song một
số luật, văn bản dưới luật còn chưa hiệu chỉnh, thiếu đồng bộ, ít ổn định gây khó khăn
Trang 26cho hoạt động kinh doanh của Công ty Đối với các đơn vị kinh doanh mặt hàng xăngdầu còn chịu hạn chế bởi giá bán tối đa trong nước phải theo quy định của Chính phủ
để không ảnh hưởng đến các ngành nghề khác trong nền kinh tế
+ Kinh tế: đây là yếu tố vô cùng quan trọng, là nền tảng cho sự hoạt động lâudài của Công ty Các tác nhân kinh tế như tỷ lệ lạm phát, chính sách tiền tệ, tỷ giáhối đoái, cán cân thanh toán quốc tế, mức độ thất nghiệp…Mỗi yếu tố kinh tế nóitrên có thể là cơ hội hoặc nguy cơ đối với Công ty, mang tính chất quyết định đếnhoạt động kinh doanh của Công ty Nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước cùng tồn tại nhiều thành phần kinh tế bình đẳngtrước pháp luật đã tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường Với sự phát triển chung của cảnước, kinh tế các tỉnh Tây Nguyên cũng không ngừng phát triển, thu nhập bình quântrên đầu người tăng, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ổn định và phát triển làmcho nhu cầu tiêu thụ xăng dầu và các sản phẩm hoá dầu tăng, tác động đến hoạt độngkinh doanh của Công ty
+ Công nghệ: Sự phát triển khoa học kỹ thuật cũng tác động lớn đến hoạt độngkinh doanh của Công ty Để tồn tại và phát triển Công ty phải ứng dụng các công nghệhiện đại trong quản lý và các thiết bị bơm rót có độ chính xác cao, từng bước phảiđược tự động hoá
- Môi trường vi mô: Là những nhân tố tác động đến khả năng kinh doanh củaCông ty, bao gồm:
+ Nhà cung cấp: Nhà cung cấp chủ yếu của Công ty hiện nay là Tổng Công tyXăng dầu Việt Nam Xăng dầu được nhập khẩu từ nước ngoài về các kho lớn như khoQuảng ninh, Nhà bè, Hải phòng, Sau đó được bán cho các đơn vị thành viên Ngoài
ra công ty nhận dầu nhờn từ PLC, gas và phụ kiện từ Công ty dầu nhờn, gas
+ Quy chế tài chính nội bộ: Đó là quy định của Tổng Công ty về việc lưuchuyển tiền trong hệ thống nội bộ Quy định về phương thức tài trợ vốn cho các đơn vịthành viên Các định mức được áp dụng trong tại các đơn vị thành viên trực thuộcTổng công ty
+ Khách hàng của Công ty: Khách hàng của công ty bao gồm khách hàng đại lý
và tổng đại lý chiếm 46% sản lượng bán ra của công ty, Nhóm các doanh nghiệp tiêuthụ trực tiếp gồm Điện lực, các nông lâm trường, các nhà máy đường, nhóm khách
Trang 27hàng này tiêu thụ gần 4% khối lượng bán ra Nhóm khách vãng lai và khách hàng tiêuthụ trực tiếp tại cửa hàng bán lẻ của Công ty chiếm 50% sản lượng của công ty.
+ Đối thủ cạnh tranh: Đó là các doanh nghiệp kinh doanh cùng mặt hàng Hiệnnay cùng tham gia kinh doanh mặt hàng xăng dầu và các sản phẩm hoá dầu trên địabàn các tỉnh Nam Tây Nguyên gồm: SaigonPetro, Petec, Thanh lễ, PDC Vũng Tàu,xăng dầu quân đội và trên 20 hãng dầu nhờn, gas Ta có bảng đánh giá thi phần xăngdầu năm 2008 trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk của Công ty như sau:
B ng 3.1: ánh giá th ph n trên đ a bàn t nh ảng 3.1: Đánh giá thị phần trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk năm 2008 Đánh giá thị phần trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk năm 2008 ị phần trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk năm 2008 ần trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk năm 2008 ị phần trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk năm 2008 ỉnh ĐăkLăk năm 2008 Đánh giá thị phần trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk năm 2008ăkLăk năm 2008 ăkLăk năm 2008kL k n m 2008ăkLăk năm 2008
Tóm lại: Qua việc nghiên cứu đặc điểm môi trường kinh doanh của Công ty yếu
tố gây ảnh hưởng lớn đến quá trình kinh doanh của Công ty là khách hàng và đối thủcạnh tranh Để tồn tại và phát triển lâu dài Công ty cần tạo uy tín và khai thác nhữnglợi thế vốn có của Công ty như tiềm năng về vốn, lao động và ưu thế về mạng lưới đểcạnh tranh với các đối thủ
Trang 283.1.4.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Quan hệ trực tuyến Quan hệ chức năng
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức tại Công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên
Phòng tổ chức hành chính
Phòng quản
lý kỹ thuật
Phòng Kinh doanh tổng hợp
Giám đốc chi nhánh
Phòng
Kinh
doanh
phòng kế toán tài chính
Phòng tổ chức hành chính
Phó giám đốc chi nhánh
chuyển
Các cửa hàng bán lẻ
Các cửa hàng
bán lẻ
Các cửa hàng bán lẻ
Các cửa hàng bán lẻPhó giám đốc
Trang 29Bộ máy quản lý Công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng, đứngđầu là Giám đốc và có 2 Phó Giám đốc, dưới có các phòng chức năng, các trung tâm,các chi nhánh.
- Giám đốc: Do tổng công ty bổ nhiệm, là đại diện pháp nhân của đơn vị, làngười điều hành hoạt động của cả Công ty và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt độngkinh doanh của Công ty trước tổng công ty Giám đốc là người chủ trương phươnghướng hoạt động của cả Công ty trên cơ sở bàn bạc, thỏa thuận với cấp dưới, đảm bảotheo đúng chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, là người trực tiếp lãnh đạo vàkiểm tra hoạt động của các chi nhánh
- Phó Giám đốc: Là trợ lý của Giám đốc, giải quyết công việc trong phạm viđược giao, tham mưu cho Giám đốc về lĩnh vực liên quan và chịu trách nhiệm về côngviệc được giao, Phó Giám đốc cũng do tổng công ty bổ nhiệm
- Phòng Tổ chức – Hành chính: Quản lý về nhân sự của Công ty, quản lý hồ sơcán bộ, công nhân viên, bình chọn thi đua, khen thưởng, phê bình, xem xét lương nhânviên, ban hành nội quy lao động Tổ chức công tác in ấn, đánh máy, lưu chuyển côngvăn, giấy tờ đi, đến kịp thời, đúng nguyên tắc, thủ tục Thực hiện đảm bảo các điềukiện và phương tiện phục vụ làm việc, sinh hoạt cần thiết của Công ty, thực hiện côngtác bảo mật, văn thư, lưu trữ
Phòng Kế toán – Tài vụ: Có nhiệm vụ hạch toán theo đúng quy định của Nhànước, quản lý vốn, tài sản của đơn vị, tổ chức hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán, theodõi, phản ánh kịp thời, đầy đủ cho ban lãnh đạo Lập báo cáo tổng hợp về tình hình tàichính của Công ty, tham mưu cho ban lãnh đạo trong việc lập kế hoạch tài chính, quản
lý hàng hóa, đề xuất việc thành lập và số dư các quỹ của Công ty theo đúng nguyêntắc kế toán hiện hành Thực hiện công tác cân đối, tìm nguồn và đề ra giải pháp vốn chohoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, theo dõi, quản lý các đơn vị kinh doanhtrực thuộc trong việc hạch toán, quyết toán cũng như thực hiện chế độ tài chính theođúng quy định của pháp luật
- Phòng kế hoạch – kinh doanh: Theo dõi thị trường, sự biến động của thị trường
để tham mưu cho Giám đốc trong việc thực hiện nhiệm vụ kinh doanh của Công ty.Tìm kiếm thị trường mới cũng như tìm nguồn hàng để xác định nên kinh doanh mặthàng nào, mua hàng từ nguồn nào, số lượng bao nhiêu, nên giao dịch, buôn bán với thị
Trang 30trường nào Đồng thời chỉ đạo trực tiếp việc thu mua hàng hóa Xuất phát từ tình hìnhthực tế, tham mưu cho Giám đốc để Giám đốc có các quyết định thích hợp trong việckhai thác nguồn hàng cũng như tiêu thụ hàng hóa sao cho đem lại hiệu quả cao nhất.Xây dựng kế hoạch kinh doanh, tổ chức thực hiện và hướng dẫn cho chi nhánh thựchiện kế hoạch đã đề ra Theo dõi vật tư, hàng hóa, trực tiếp giao dịch với khách hàng,
tổ chức công tác thu gom hàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, nghiên cứu thị trườngthành lập các kênh phân phối và triển khai thực hiện Theo dõi, thống kê hoạt động củacác bộ phận liên quan, kết hợp nhịp nhàng, triển khai phương án, tổ chức các nghiệp vụ
về giao, nhận hàng theo đúng thông lệ Trong quá trình thực hiện, phát hiện những saisót, lệch lạc để kịp thời điều chỉnh
- Chi nhánh của Công ty: Bộ phận này trước kia chỉ thực hiện tiêu thụ hàng hóa
do Công ty giao bán, là đơn vị báo số Nhưng đến nay, các chi nhánh đã nhận vốn kinhdoanh do Công ty cấp và tự huy động thêm để thực hiện kinh doanh, hạch toán độc lập
- Ưu điểm của cơ cấu tổ chức
+ Đảm bảo hệ thống thông tin nhanh hơn cho quá trình ra quyết định
+ Phát huy sức sáng tạo của nhân viên
+ Các trung tâm sản xuất kinh doanh độc lập với nhau, chịu sự chỉ đạo trực tiếpcủa Giám đốc Công ty, còn các phòng ban Công ty chỉ có quan hệ chức năng và chỉđược phép kiểm tra và quản lý theo chức năng
+ Tạo sự uyển chuyển, linh hoạt trong quản lý
- Nhược điểm: đôi khi có sự chồng chéo trong công việc giữa các phòng ban gâykhó khăn trong việc thực hiện công việc tại Công ty
3.1.5 Các nguồn lực của công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên
3.1.5.1 Nguồn lực về lao động
Lao động là một trong những nguồn lực đầu tiên không thể thiếu của bất kì mộtdoanh nghiệp nào và nó cũng là nhân tố cực kì quan trong quyết định thành công haythất bại của doanh nghiệp Ta có thể thấy được nguồn lực về lao động của công ty quabảng tình hình lao động sau:
Trang 31Bảng 3.2: Tình hình lao động của Công ty qua 3 năm
VT: ng iĐánh giá thị phần trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk năm 2008 ười
2008 lao động của Công ty tăng thêm 4 người tương ứng tỷ lệ tăng là 1,5% so với năm
2007 Đây là để đáp ứng kịp thời nhu cầu mua bán của khách hàng trên địa bàn tiêuthụ và để mở rộng quy mô kinh doanh, số lượng lao động thuộc trình độ cao tăng quacác năm do Công ty có nhu cầu tuyển thêm lao động có trình độ cao để nâng cao hiệuquả công việc và trong năm có nhân viên được công ty cử đi học thêm đại học để nângcao trình độ Số lao đông thuộc trình độ trung cấp giảm do công ty cử đi học nâng caonghiệp vụ Nhìn chung tình hình lao động của Công ty không ngừng nâng cao cả về sốlượng và chất lượng Ngoài ra đối với lao động thuộc bộ phận bán hàng hàng năm được
tổ chức tập huấn về nghiệp vụ và được trang bị những kiến thức cơ bản phù hợp vớingành nghề
Trang 323.1.5.2 Tình hình và cơ cấu vốn của công ty:
Vốn là một vấn đề hết sức quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, tuỳ
theo đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà nó được sửdụng và phân bố khác nhau
Bảng 3.3: Tình hình và cơ cấu vốn của Công ty qua 3 năm
Trang 33Nhìn vào bảng cân đối kế toán của Công ty qua 3 năm 2006, 2007, 2008 có sựbiến động tăng giảm Tuy nhiên cuối năm 2008 vừa qua, cơ cấu tài sản và nguồn vốnđều tăng lên đáng kể cho thấy qui mô hoạt động được phát triển tương ứng với việc ápdụng mô hình tổ chức quản lý mới trong năm 2008.
Qua bảng báo cáo ta thấy tổng tài sản và nguồn vốn của Công ty đều tăng qua cácnăm, năm 2007 tăng so với năm 2006 là 392.802 ngàn đồng tương ứng tăng 0.8% Năm
2008 tăng so với năm 2007 là 3.303.791 ngàn đồng tương ứng tăng 6.7% Đây là mộtlợi thế cho Công ty vì việc tăng quy mô tài sản đồng nghĩa với việc mở rộng hoạt độngkinh doanh Để biết được nguyên nhân của sự biến động đó cần phải tìm hiểu từng loạitài sản của Công ty:
- Chỉ tiêu vốn bằng tiền của Công ty năm 2007 giảm so với năm 2006 là876.375 ngàn đồng hay giảm 30.4% Nhưng năm 2008 so với năm 2007 tăng 247.493ngàn đồng hay tăng 12.3% là do năm 2008 Công ty cần một khoản tiền để thanh toán
và đáp ứng các yêu cầu chi tiêu
- Các khoản phải thu năm 2007 tăng so với năm 2006 là 442.445 ngàn đồnghay tăng 4.9, năm 2008 khoản phải thu lại tăng 4.389.424 ngàn đồng hay tăng 46.4%cho thấy công tác thu hồi, quản lý công nợ, khoản phải thu của Công ty chưa chặtchẽ, sẽ làm rủi ro tài chính phát sinh trong khâu thanh toán tăng Công ty cần đề racác giải pháp để giảm trừ các khoản phải thu trong năm tiếp theo
- Giá trị hàng tồn kho chiếm một tỷ trọng tương đối lớn, bao gồm tồn khonguyên vật liệu và tồn kho hàng hóa Trong tồn kho hàng hóa thì tồn kho xăng dầu làcao nhất Năm 2007 tồn kho của công ty tăng so với năm 2006 là 299.262 ngànđồng hay tăng 1.3% Năm 2008 giảm so với năm 2007 là 5.871.935 ngàn đồng haygiảm 24.7% Đây là dấu hiệu rất tốt, Công ty đã có các biện pháp quản trị hiệuquả hàng tồn kho nhằm giảm chi phí
- Tổng tài sản cố định của công ty năm 2007 và 2008 đều tăng, năm 2007tăng so với năm 2006 là 2.853.697 ngàn đồng hay tăng 9%; năm 2008 tăng so vớinăm 2007 là 7.509.124 ngàn đồng hay tăng 21.8% Điều này cho thấy Công ty đãchú trọng đến việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị để đáp ứng nhucầu ngày càng cao của khách hàng
Trang 340.0 5.0 10.0 15.0 20.0 25.0 30.0 35.0 40.0
TSCĐ và đầu tư dài hạn
Xét theo nguồn hình thành thì vốn của Công ty được chia thành từ 2 nguồn là
nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Xem xét cơ cấu 2 nguồn vốn này cho thấy trong 3năm qua các khoản nợ phải trả của Công ty chiếm một tỷ trọng khá lớn nhưng có
xu hướng giảm dần cụ thể: Năm 2007 giảm 15.4%; năm 2008 giảm 39.7%
0.0 5.0 10.0 15.0 20.0 25.0 30.0 35.0 40.0
Ở biểu đồ cơ cấu nguồn vốn ta thấy Công ty sử dụng cho hoạt động kinh doanhbằng nguồn vốn ngắn hạn nhiều (chiếm 60-75% trong tổng nguồn vốn), Trong khi phảithu của khách hàng thường chiếm từ 20-25%, như vậy Công ty phải sử dụng các khoảnvay để bù đắp cho phần chiếm dụng vốn của khách hàng
3.1.6 Tình hình trang bị cơ sở vật chất tại công ty
Trụ sở của Công ty đặt tại 06 Nguyễn Tất Thành – TP Buôn Ma Thuột – TỉnhĐăklăk, chi nhánh tại ĐắkNông và công ty có các cửa hàng, đại lý bán lẻ xăng dầu trênđịa bàn hai tỉnh Đăklăk và ĐắkNông Với vị trí hiện nay của Công ty rất thuận lợi choviệc mở rộng thị trường, mạng lưới trải rộng khắp các huyện thuộc hai tỉnh Tây Nguyên,
Trang 35công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên ngày càng khẳng định vị thế của mình trên thịtrường.
Bảng 3.4: Tình hình trang bị tài sản cố định tại công ty qua 3 năm
Đvt:1.000.000đ
TSCĐ 2006 cấu Cơ 2007 cấu Cơ 2008 cấu Cơ
So sánh 2007/2006 2008/2007
Nhà cửa, vật kiến
trúc 17189 54.4 19068 55.3 22488 53.6 1879 10.9 3420 17.9Máy móc, thiết bị 6285 19.9 6675 19.4 8918 21.2 390 6.2 2243 33.6Phương tiện vận
tải, truyền dẫn 6998 22.1 7573 22.0 9419 22.4 575 8.2 1846 24.4Thiết bị, dụng cụ
Tổng 31610 100 34464 100 41973 100 2854 9.0 7509 21.8
Nguồn:phòng TC
KT-Qua bảng trang bị tài sản cố định của Công ty qua 3 năm ta thấy tổng giá trị tàisản cố định của Công ty tăng qua 3 năm cho thấy Công ty luôn trú trọng đầu tư cơ sởvật chât kĩ thuật phục vụ tốt nhất cho công tác quản lý, bán hàng tại Công ty Năm
2007 tổng giá trị tài sản cố định là 34.464 triệu đồng, tăng 2.854 triệu, tương ứng 9.0%
so với năm 2006 Năm 2008 tổng giá trị tài sản cố định là 41.973 triệu đồng, tăng7.509 triệu đồng so với năm 2007, tương ứng với mức tăng là 21.8% Trong đó giá trịcủa giá trị nhà cửa, vật kiến trúc có tốc độ tăng cao nhất trong năm 2006, 10.9% Đếnnăm 2007 thì máy móc thiết bị lại có tốc độ tăng nhanh nhất, 33.6%
Trong cấu trúc tài sản cố định thì nhà cửa, vật kiến trúc chiếm tỷ lệ cao nhất,chiếm hơn 53% tổng tài sản cố định tại Công ty Tiếp theo là phương tiện vận tải vàthiết bị truyền dẫn, chiếm 22% tổng giá trị tài sản cố định Máy móc thiết bị chiếm gần20% Còn lại là thiết bị, dụng cụ quản lý và tài sản cố định khác
3.1.7 Tình hình tài chính
3.1.7.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên
Trang 36Qua bảng số liệu về kết quả hoạt động kinh doanh thu được của 3 năm 2006,
2007, 2008 dưới đây, cho thấy doanh nghiệp hoạt động tương đối hiệu quả, các chỉtiêu về doanh thu, lợi nhuận năm sau đều cao hơn năm trước
Trang 37Bảng 3.5: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty xăng dầu Nam Tây Nguyên qua 3 năm
vt:1000đĐánh giá thị phần trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk năm 2008
Trang 38Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phảnánh trình độ tổ chức và quản lý sản xuất, cũng như việc sử dụng các nguồn lực sẵn có.
Nó là đại lượng so sánh giữa đầu vào và đầu ra, giữa chi phí bỏ ra và kết quả mang lại.Qua bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cho thấy các chỉ tiêu doanh thu,chi phí và lợi nhuận của Công ty có sự biến động rõ rệt qua 3 năm:
- Doanh thu thuần tăng đáng kể: Năm 2007 so với năm 2006 tăng 188.089.203ngàn đồng hay tăng 23% Năm 2008 so với năm 2007 tăng 501.281.107 ngàn đồnghay tăng 49.8% Cùng với sự gia tăng của doanh thu thuần thì giá vốn hàng bán cũngtăng lên hơn cả tỷ lệ tăng của doanh thu thuần cụ thể: Năm 2007 so với năm 2006 tăng185.288.996 ngàn đồng hay tăng 23.9%, năm 2008 so với năm 2007 tăng 488.777.387ngàn đồng hay tăng 50.9% Mặc dù vậy nhưng lợi nhuận gộp của Công ty vẫn tăng.Năm 2007 so với năm 2006 tăng 2.800.207 ngàn đồng hay tăng 6.6%, năm 2008 so vớinăm 2007 tăng 12.503.721 ngàn đồng hay tăng 27.7%
- Chỉ tiêu chi phí bán hàng năm 2007 tăng so với năm 2006 là 10.1%,năm 2008 so với năm 2008 cũng tăng khá cao là 29.1% Công ty cần có các biệnpháp tích cự hơn nhầm giảm thiểu được chi phí này nhằm đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuậnsau thuế của Công ty
- Lợi nhuận sau thuế của Công ty năm 2007 so với năm 2006 tăng 549.088ngàn đồng hay tăng 5.7%, năm 2008 so với năm 2007 tăng 3872039 ngàn đồng haytăng 38.0% Như vậy tình hình này được đánh giá là rất tích cực Kết quả đạt được
là nhờ chiến lược đúng đắn của Công ty cộng với sự quyết tâm của cán bộ nhânviên Công ty cùng phấn đấu vì mục tiêu chung là đưa Công ty ngày càng lớn mạnh
3.1.7.2 Tình hình tài chính
Tình hình tài chính của Công ty chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến tìnhhình thanh toán Để đánh giá được tình hình tài chính của Công ty có khả quanhay không cần phải xem xét đến khả năng thanh toán đúng hạn, nó thể hiện trên sốtiền và tài sản hiện có của Công ty Thông qua số liệu ở bảng cân đối kế toán vàcác số liệu có liên quan ta lập được bảng tính toán phân tích các thông số tài chínhcủa Công ty như sau:
Trang 39B ng 3.6: B ng thông s tài chính qua 3 n m c a Công ty ảng 3.1: Đánh giá thị phần trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk năm 2008 ảng 3.1: Đánh giá thị phần trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk năm 2008 ố tài chính qua 3 năm của Công ty ăkLăk năm 2008 ủa Công ty
Thông số khả năng thanh toán
Vòng quay phải thu khách hàng Vòng 88.57 108.94 129.38
Thông số khả năng sinh lợi
Nguồn: phòng KT-TC
Thông số khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán của Công ty có xu hướng tăng dần do: năm 2007 so vớinăm 2006 thì tài sản ngắn hạn giảm 30.4% trong khi nợ ngắn hạn giảm tới 44.4%, tiếp
đó đến năm 2008 tài sản ngắn hạn tăng 12.3% còn nợ ngắn hạn lại tiếp tục giảm 44.6%
so với năm 2007 Do vậy khả năng thanh toán hiện thời tăng từ 0.75 lần năm 2006 lên0.94 lần năm 2007 và 1.91 lần năm 2008 Đây là một dấu hiệu rất khả quan vì nó thểhiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Công ty tăng do đó mức độ rủi ro trong kinhdoanh sẽ giảm xuống Bên cạnh đó khả năng thanh toán nhanh cũng tăng dần từ 3.1 lầnnăm 2006 lên 5.36 lần năm 2007 và 13.6 lần năm 2008 Điều này do hàng tồn khotăng không đáng kể so với khoản phải thu ngắn hạn và tiền trong đó khoản phải thungắn hạn tăng mạnh (năm 2007 tăng 442.445 ngàn đồng so với năm 2006 và năm
2008 so với năm 2007 là 4.389.424 ngàn đồng) và vốn bằng tiền năm 2008 tăng 12.3%
so với năm 2007
Thông số hoạt động
Nhìn vào bảng phân tích ta thấy vòng quay khoản phải thu khách hàng tăng dần
từ 89 vòng vào năm 2006 lên 109 vòng năm 2007 và 129 vòng năm 2008 Năm 2007